Mỗi dân tộc đều có nét đặc trng riêng của mình, xuất phát từ những điều kiện của địa bàn sinh sống, từ sản xuất, sinh hoạt hằng ngày họ đã hìnhthành nên những phong tục tập quán riêng tr
Trang 1Trờng đại học vinh
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành: địa lý tự nhiên
Giảng viên hớng dẫn: Ts đào khang
Sinh viên thực hiện: hoàng thị hà
Tôi xin đợc gửi tới thầy cô giáo trong Trờng Đại học Vinh đã dạy dỗ,giúp đỡ tôi trong suốt khoá học 2005- 2009
1
Trang 2Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Địa Lí đãtruyền đạt những kiến thức quý báu, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và cónhững ý kiến đóng góp trong thời gian tôi làm đề tài.
Tôi xin trân trọng cảm ơn tới các cơ quan chính quyền UBND huyệnKì Sơn, ban dân tộc miền núi tỉnh Nghệ An cùng nhân dân huyện Kì Sơn đãnhiệt tình giúp đỡ tôi trong việc tìm kiếm nguồn thông tin liên quan đến đềtài
Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn sát cánh bên tôi, động viên tôi trongsuốt quá trình học tập và làm đề tài này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhng do năng lực của bản thân còn nhiềuhạn chế nên đề tài còn có nhiều thiếu sót Vì vậy tôi rất mong nhận đợcnhững ý kiến đóng góp của thầy cô và bạn bè để đề tài hoàn thiện hơn
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan những thông tin trong đề tài là là sự thu thập, xử lí
từ các tài liệu và kết quả nghiên cứu từ thực địa, cha đợc công bố Kết quảnghiên cứu cha đợc công bố trên bất cứ tạp chí khoa học nào
Ngày
Ký tên: Hoàng Thị Hà
Trang 3Mục lục Trang
A mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
2 Mục đích nghiên cứu
3 Nội dung, nhiệm vụ nghiên cứu
4 Quan điểm nghiên cứu
5 Phơng pháp nghiên cứu
6 Đối tợng nghiên cứu
7 Phạm vi nghiên cứu
8 Những điểm mới, đóng góp của đề tài
9 Lịch sử nghiên cứu đề tài
10 Bố cục đề tài
B NộI DUNG
Chơng 1 Đặc điểm tự nhiên địa bàn c trú và tình hình phát triển kinh
tế - xã hội của ngời Thái ở huyện Kì Sơn tỉnh Nghệ An
1.1 Khái quát về địa bàn c trú của ngời Thái ở huyện Kì Sơn
1.2 Đặc điểm tự nhiên địa bàn c trú của ngời Thái ở huyện Kì Sơn
1.2.1 Địa hình, đất đai
Trang 41.3.2.5 Quốc phòng an ninh và trật tự xã hội
Chơng 2 Những nét đặc trng của ngời Thái ở huyện Kì Sơn tỉnh Nghệ An
2.1 Khái quát về ngời Thái ở huyện Kì Sơn tỉnh Nghệ An
2.2.2.4 Kinh tế tổng hợp vờn, ao, chuồng, rừng (VACR)
2.2.2.5 Kinh tế trang trại
2.4 Tập quán sinh hoạt
2.4.1 Sinh hoạt gia đình và dòng họ
Trang 53.1.1 Các biện pháp đối với tập quán sản xuất
3.1.2 Các biện pháp đối với tập quán c trú
3.1.3 Các biện pháp đối với tập quán sinh hoạt
3.2 Các biện pháp hạn chế những hủ tục lạc hậu của ngời Thái ở huyện KìSơn tỉnh Nghệ An
3.2.1 Các biện pháp đối với tập quán sản xuất
3.2.2 Các biện pháp đối với tập quán c trú
3.2.3 Các biện pháp đối với tập quán sinh hoạt
C Kết luận
1 Những vấn đề đã giải quyết đợc trong đề tài
2 Những vấn đề cha đợc giải quyết
3 Hớng nghiên cứu tiếp của đề tài
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
A Mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
Dân tộc là một trong những vấn đề hiện nay đợc mọi ngời quan tâm
và đặc biệt là các nhà nghiên cứu
Mỗi dân tộc đều có nét đặc trng riêng của mình, xuất phát từ những
điều kiện của địa bàn sinh sống, từ sản xuất, sinh hoạt hằng ngày họ đã hìnhthành nên những phong tục tập quán riêng trong đời sống vật chất và tinhthần
5
Trang 6Có những dân tộc biết khai thác, vận dụng, cải tạo đặc điểm tự nhiênnơi mình sinh sống để có thể phù hợp với xu hớng phát triển kinh tế của thời
đại, nhằm đảm bảo cuộc sống ổn định, đầy đủ Nhng bên cạnh đó có nhữngdân tộc vẫn duy trì tập quán cũ, cha đủ khả năng để vận dụng, sử dụng tàinguyên của dân tộc nơi mình sinh sống một cách hợp lý và có hiệu quả.Cũng nh những dân tộc thiểu số miền núi khác, dân tộc Thái ở huyện Kì Sơncòn mang đậm nét đặc trng của dân tộc mặc dù đã có một số tác động từ bênngoài nhng vẫn còn một số hủ tục đồng thời mai một đi một số nét đẹp trongbản sắc văn hoá của dân tộc mình Ngời Thái ở huyện Kì Sơn sống chủ yếu
ở vùng địa hình thấp nhất của huyện, trải qua hàng ngàn thế hệ nhng họ vẫngiữ nét đặc trng trong sản xuất đó là hoạt động làm nơng rẫy, làm ruộng nớc
và các hình thái kinh tế chiếm đoạt (săn bắn, hái lợm, đánh cá); định c trongnhà sàn tập hợp thành làng bản ở khu vực ven sông suối, hai bên đờng quốc
lộ và chân núi; họ còn duy trì những tập quán sinh hoạt trong các tín ngỡngcúng mờng, bản, các thần sông, núi, rừng, , trong cới xin, tang ma Việcbảo tồn, phát huy những thuần phong mỹ tục và hạn chế những hủ tục trongsản xuất, c trú và sinh hoạt hàng ngày là trách nhiệm không chỉ của riêng ai,trớc hết là của chính quyền địa phơng và các nhà nghiên cứu tỉnh Nghệ Annhằm góp phần giúp đồng bào dân tộc Thái ở Kì Sơn nâng cao đời sống vậtchất và tinh thần, khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý và
đảm bảo đợc cân bằng sinh thái, phát huy đợc những nét đẹp trong bản sắcvăn hoá truyền thống của dân tộc mình Là một sinh viên tôi mong muốn đ-
ợc tìm hiểu, nghiên cứu về những ảnh hởng của điều kiện tựn nhiên đến tậpquán của nhân dân và đồng thời đa ra những giải pháp để góp phần vào việctận dụng nguồn tài nguyên và khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách hợp
lí bảo đảm sự phát triển bền vững và nâng cao đời sống vật chất, tinh thầncủa đồng bào dân tộc Thái ở huyện Kì Sơn Chúng tôi đã chọn đề tài “Tìm hiểu những phong tục, tập quán của ngời Thái ở huyện Kì Sơn tỉnh Nghệ An”làm nội dung nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu phong tục tập quán của ngời Thái ở huyện Kì Sơn tỉnhNghệ An nhằm đề xuất những giải pháp góp phần hạn chế, xoá bỏ những hủtục không phù hợp và bảo tồn, phát huy những mỹ tục nhằm nâng cao cuộcsống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc Thái ở huyện Kì Sơn
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt đợc mục đích nghiên cứu trên, đề tài đi vào giải quyết nhữngnhiệm vụ cụ thể sau:
Trang 7- Tìm hiểu đặc điểm tự nhiên địa bàn sinh sống của ngời Thái ở huyện KìSơn tỉnh Nghệ An.
- Nghiên cứu một số phong tục, tập quán của ngời Thái ở huyện Kì Sơn
- Đề xuất giải pháp góp phần hạn chế hủ tục và phát huy mĩ tục, góp phầnnâng cao đời sống vật chất, tinh thần của ngời Thái phù hợp với sự phát triểncủa thời đại
4 Quan điểm nghiên cứu
Để giải quyết những mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đã nêu ở trên, đềtài đã vận dụng những quan điếm nghiên cứu sau:
- Quan điểm hệ thống
Quan điểm hệ thống vận dụng trong đề tài vào việc tìm hiểu điều kiện
tự nhiên trong phạm vi sinh sống của ngời Thái ở huyện Kì Sơn có mối quan
hệ sâu sắc đến việc hình thành những tập quán của ngời Thái
+ Cấu trúc đứng: Hệ thống tập hợp các điều kiện tự nhiên phạm vinghiên cứu mà ngời Thái đã khai thác sử dụng vào cuộc sống
+ Cấu trúc ngang: Các đơn vị lãnh thổ thành phần trong phạm vi sinhsống của ngời Thái ở huyện Kì Sơn
+ Cấu trúc chức năng: bao gồm các chức năng của môi trờng tự nhiên
và các chức năng của chính quyền, nhân dân ở địa phơng để hệ thống hoạt
động
- Quan điểm động lực - hình thái
Vận dụng vào việc dựng lại điều kiện tự nhiên và nhân văn trong quátrình hình thành nên các tập quán của ngời Thái hiện nay ở huyện Kì Sơntỉnh Nghệ An
- Quan điểm sinh thái môi trờng
Quan điểm sinh thái môi trờng đợc vận dụng vào việc đề xuất các giảiphát phát triển sản xuât trong đó giải pháp về cây trồng vật nuôi đảm bảotính thích nghi cao với môi trờng hiện tại
- Quan điểm phát triển bền vững
Quan điểm này đợc vận dụng vào việc bảo tồn các tập quán sản xuất,
c trú, sinh hoạt mới phù hợp với điều kiện tự nhiên, phát triển kinh tế-xã hộinhng không làm ảnh hởng đến môi trờng tự nhiên và không ảnh hởng xấu đếnthế hệ mai sau
Trang 8Phơng pháp nghiên cứu thực địa đợc vận dụng trực tiếp vào việcnghiên cứu điều kiện tự nhiên trong phạm vi sinh sống của ngời Thái ởhuyện Kì Sơn, thực trạng phát triển kinh tế - xã hội, các tập quán của ngờiThái huyện Kì Sơn, làm cơ sở thực tiễn và kiểm chứng những thông tin đãthu thập từ các tài liệu để từ đó có những giải pháp phù hợp với thực tế.
- Phơng pháp thu thập và xử lí thông tin
Phơng pháp thu thập và xử lí thông tin đơc vận dụng vào thu tập và xử
lí các thông tin còn thiếu, cha đồng bộ về điều kiện tự nhiên, thực trạng pháttriển kinh tế - xã hội và tập quán của ngời Thái ở huyện Kì Sơn tỉnh Nghệ
An để quy về thống nhất các thông tin
- Phơng pháp bản đồ
Phơng pháp bản đồ đợc vận dụng vào việc xác định địa bàn c trú của
đồng bào Thái huyện Kì Sơn trên cơ sở bản đồ hành chính của huyện
6 Đối tợng nghiên cứu
Tập quán của ngời Thái, bao gồm các tập quán: c trú, sản xuất và sinhhoạt của ngời Thái ở huyện Kì Sơn tỉnh Nghệ An
8 Những điểm mới, đóng góp của đề tài
- Hệ thống đợc những đặc điểm tự nhiên, thực trạng phát triển kinh tế - xãhội của ngời Thái ở huyện Kì Sơn
- Giải thích đợc một số phong tục tập quán của ngời Thái ở huyện Kì Sơn
9 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Theo các tài liệu nghiên cứu, dân tộc Thái có mặt ở Việt Nam từkhoảng thế kỉ VI, phân bố trên một địa bàn rộng lớn chủ yếu ở các huyệnvùng trung du và thợng du Tây Bắc cho đến miền Tây hai tỉnh Nghệ An và
Hà Tĩnh
Các dân tộc thiểu số ở huyện Kì Sơn gồm: H’Mông, Khơ Mú, Thái,Kinh Các dân tộc c trú ở những địa bàn khác nhau và có những tập quán
Trang 9khác nhau, đặc trng riêng và là đối tợng luôn đợc các nhà nghiên cứu quantâm Đã có nhiều công trình nghiên cứu và các bài viết về ngời Thái nh:
Văn hoá và lịch sử các dân tộc trong nhóm ngôn ngữ Thái Việt Nam
của tác giả Cẩm Trọng (Nhà xuất bản văn hoá thông tin năm 2002, gồm 903trang) viết về ngôn ngữ, chữ viết và các phong tục cới hỏi, tang ma, lễ hộicủa ngời Thái ở Việt Nam
Đặc trng văn hoá và truyền thống cách mạng các dân tộc ở Kì Sơn Nghệ An của các tác giả Trần Tất Chủng, Phạm Quang Hoan, Mông Văn
Nghệ, Cao Tiến Tấn, Nguyễn Ngọc Thanh, Vơng Xuân Tình, Cầm Trọng(Nhà xuất bản Chính trị quốc gia năm 1995) xuất bản vào dịp 35 năm thànhlập huyện Kì Sơn Cuốn sách có nội dung khái quát thiên nhiên và con ngờicác dân tộc thiểu số ở Kì Sơn về mặt kinh tế truyền thống, văn hoá vật chất,
tổ chức xã hội, hôn nhân và gia đình cùng các loại hình văn nghệ dân gian
Nghiên cứu ngôn ngữ dân tộc thiểu số Việt Nam của tác giả Trần Trí
Dõi (Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2000) viết về các dạngchữ viết, ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam,
Các công trình nghiên cứu và bài viết trên là nguồn t liệu tham khảo
bổ ích cho việc nghiên cứu về đặc điểm tự nhiên có ảnh hởng đến nhữngphong tục tập quán của ngời Thái ở huyện Kì Sơn
10 Bố cục và dung lợng của đề tài
Nội dung nghiên cứu của đề tài gồm có 3 phần và 3 chơng
Khoá luận gồm có 2 bản đồ, 1 biểu đồ và …hình ảnh minh hoạ và cótrang và tổng cộng có trang đánh máy trên giấy A4
…trang và tổng cộng có …trang đánh máy trên giấy A4 …trang và tổng cộng có …trang đánh máy trên giấy A4
Chơng 1 Đặc điểm địa lý tự nhiên địa bàn c trú và tình hình phát Triển kinh tế - xã hội của ngời thái ở huyện Kì Sơn tỉnh Nghệ An
1.1 Khái quát về địa bàn c trú của ngời Thái ở huyện Kì Sơn tỉnh Nghệ an
9
Trang 10Kì Sơn là một huyện miền núi rẻo cao, nằm về phía Tây Bắc tỉnhNghệ An, dọc theo Quốc lộ 7A, cách thành phố Vinh khoảng 250km Làmột trong 9 huyện nghèo nhất cả nớc, thờng xuyên phải nhận hỗ trợ chống
đói của các cấp chính quyền nhng huyện lại có vị trí địa lý hết sức quantrọng về an ninh quốc phòng, về giao lu kinh tế, văn hoá, …trang và tổng cộng có …trang đánh máy trên giấy A4với các nớctrong khu vực Trên địa bàn huyện có 4 dân tộc sinh sống: ngời Thái, ngờiKhơ - Mú, ngời Kinh và ngời Mông Ngời Thái phân bố ở khu vực 6 xã với
địa hình thấp nhất trong huyện: Chiêu Lu, Hữu Kiệm, Tà Cả, Phà Đánh vàthị trấn Mờng Xén Các xã này nằm dọc hai bên Quốc Lộ 7, dọc hai bênsông Lam, nơi đây có vị trí chiến lợc hết sức quan trọng về kinh tế, chính trị
và quốc phòng an ninh Trong đó, Mờng Xén là huyện lỵ, trung tâm kinh tế,văn hoá, chính trị của huyện Kì Sơn
1.2 Đặc điểm tự nhiên địa bàn c trú của ngời Thái ở huyện Kì Sơn tỉnh Nghệ An
1.2.1 Địa hình, đất đai
So với ngời H’Mông và ngời Khơ Mú thì ngời Thái sinh sống ở vùng
có địa hình thấp nhất của huyện Địa vùng sinh sống của ngời Thái có cấutạo địa chât bề mặt khá phức tạp Đất đai nằm trong hệ uốn nếp Trờng Sơngồm 3 đới kiến trúc địa chất Kì Sơn nằm trong đới phức hệ lồi Trờng Sơn.Quá trình hoạt động địa chất, địa mạo đã hình thành những dạng địa hìnhkhác nhau gồm núi, đồi và thung lũng Tuy nhiên ở vùng này núi, đồi vẫnchiếm diện tích chủ yếu với nhiều ngọn núi cao và độ dốc tơng đối lớn Phầnlớn núi ở đây đều đợc cấu tạo bằng đá riôlít hay granit là loại đá thờng có vỏphong hoá tơng đối dày, nhng ở chỗ nào đá đã lộ ra ngoài mặt thì rất bềnvững Các dãy núi tạo nên nhiều thung lũng nhỏ mang những yếu tố khí hậu
và tính chất đất khác nhau Ngời Thái ở đây đã tận dụng các thung lũng ởcác dải đất ven sông, suối để sinh sống, trồng lúa nớc, chăn nuôi tạo dựngcuộc sống bao đời nay
Nhìn chung đất đai ở đây tơng đối tốt có tầng dày và tỉ lệ muối vikhoáng cao Các loại đất phân bố theo đặc điểm của địa hình, cụ thể:
- Đất fealit đỏ vàng ở độ cao 200 - 300m phân bố ở xã Tà Cả Loại đất này
có thành phần cơ giới nhẹ, dễ bị trôi, giữ nớc kém, hầu hết đã qua làm rẫy,thờng bị chua, tỉ lệ hữu cơ có phèn thấp hơn các loại đất khác, nhng lân kém,nghèo kali
- Đất fealít điển hình vùng đồi phân bố chủ yếu dọc hai bên sông Nặm Nơn
và Nặm Mộ Kết cấu đất rời rạc, tầng đất mỏng, hàm lợng dinh dỡng nghèo(tỉ lệ mùn 2.4%; N:0.14%; F:0.25%)
Trang 11- Đất phù sa phân bố chủ yếu ở các xã Tà Cả, Hữu Kiệm và các thung lũngdọc theo triền khe suối.
Địa hình ở đây khá phức tạp nhiều đồi núi, sông suối, giao thông cha
đợc đảm bảo, đồng thời lũ lụt, sạt lở đất là kết quả của đốt, phá rừng làm n
-ơng rẫy nên gây rất nhiều khó khăn trong việc thông th-ơng với các xã và vớinhững vùng bên ngoài
1.2.2 Khí hậu
Nằm trong vùng chịu ảnh hởng của khí hậu Trung Lào và khí hậu củavùng Bắc Trung Bộ nên vùng mang tính chất khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa,thờng xuyên bị sơng mù bao phủ vào lúc sáng sớm
Khí hậu có hai mùa, mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 5 nămsau, mùa ma thờng đến muộn (tháng 6) và kết thúc sớm (tháng 9)
Lợng ma thấp nhất trong toàn miền Bắc, bình quân lợng ma
1000-1400 mm / năm (trong khi đó lợng ma trung bình chung của Nghệ An là1600mm / năm) Giữa các tiểu vùng có sự chênh lệch về lợng ma, ở thị trấnMờng Xén chỉ 651mm/ năm (thấp nhất cả nớc)
Nhiệt độ tơng đối cao, trung bình từ 23- 25oC, cao nhất (tháng 6, 7) là
Nhìn chung khí hậu của vùng có nhiều bất lợi và khắc nghiệt đối vớisản xuất và sinh hoạt của nhân dân Mùa đông quá ẩm ớt, mùa hạ quá khônóng thêm vào đó là gió Tây, sơng muối, lũ lụt,…trang và tổng cộng có …trang đánh máy trên giấy A4 Mặt khác sản xuất nôngnghiệp chủ yếu là nơng rẫy, độ dốc lớn ảnh hởng lớn đến năng suất, sản lợngcây trồng và vật nuôi Đây chính là thách thức lớn đối với ngời dân nơi đây
1.2.3 Thuỷ văn
Cấu trúc địa chất, địa hình kết hợp với điều kiện khí hậu đã ảnh hởngsâu sắc đến sự hình thành hệ thống thuỷ văn, mạng lới sông suối và chế độdòng chảy Hệ thống sông suối trên địa bàn sinh sống của ngời Thái ở KìSơn khá dày đặc với hệ thống sông Cả (với hai nhánh sông chính là NặmNơn và Nặm Mộ) và hàng trăm khe suối nhỏ Hệ thống sông suối ở đây vừa
là nguồn cung cấp nớc phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt, vừa có giá trị về
11
Trang 12phát triển công nghiệp thuỷ điện ví dụ nhiều con suối nhỏ ở bản Tà Cánh, xã
Tà Cả
Sông ở đây vừa ngắn lại vừa dốc, lòng sông hẹp, nớc chảy xiết, lắmthác nhiều ghềnh nên vào mùa kiệt mực nớc sông xuống thấp, gây tình trạngthiếu nớc, mùa lũ dễ gây sạt lở đất, úng lụt, làm ách tắc giao thông Đâycũng là một trở ngại lớn trong việc phát triển về sản xuất, sinh hoạt, đặc biệt
là về giao thông của vùng
1.2.4 Sinh vật
Rừng và thảm thực vật ở vùng tơng đối phong phú Ngoài các loài cónguồn gốc bản địa, còn có các yếu tố di c từ bắc xuống, từ nam lên hoặc xahơn từ Himalaya, Hoa Nam, Malaysia, inđônêsia, … tới
Rừng là nơi phân bố của nhiều loại có giá trị kinh tế cao nh đinh, lim,táu, lát, chò chỉ, mọc thành những quần thể có diện tích rộng hoặc mọc xen
kẽ nhau Ngoài các loại cây gỗ quý đó rừng còn cho các loại lâm sản phi gỗ
nh nứa, mét, tre, song, mây, giang và các loại cây dợc liệu quý mọc tự nhiên.Ngoài ra rừng còn là nguồn cung cấp thức ăn hàng ngày nh măng rừng,nấm, …cho ngời dân nơi đây
Mặc dù tài nguyên rừng phong phú và có giá trị kinh tế cao nhng hiệnnay việc khai thác rừng còn nhiều bất cập Hiện tợng khai thác rừng bừa bãi,quản lí rừng cha chặt chẽ, cùng với hiện tợng đốt, phá rừng làm nơng rẫy,khai thác gỗ cha đến tuổi đã làm cho diện tích và chất lợng rừng giảmxuống
1.3 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của ngời Thái ở huyện Kì Sơn tỉnh Nghệ An
Trang 13Mỗi năm diện tích gieo trồng, sản lợng đều tăng lên đặc biệt là cây
l-ơng thực có hạt Các sản phẩm thu đợc từ trồng trọt chủ yếu nh lúa, lạc, đậu,
bí, ngô, từ hoạt động sản xuất nơng rẫy Bên cạnh sản xuất nơng rẫy, sảnxuất ruộng nớc ở các thung lũng cũng đợc chú trọng phát triển Trong sảnxuất ruộng nớc ở một số vùng đã làm hai vụ lúa trong một năm và đầu t máymóc nh sử dụng máy cày vào sản xuất nhng năng suất vẫn cha cao
Vùng còn khai thác đợc thế mạnh để phát triển chăn nuôi gia súc, giacầm đặc biệt là phát triến mạnh về đàn bò, đàn trâu Bình quân mỗi hộ có2,5 con bò, 0,6 con trâu và 2,4 con lợn Hình thức chăn nuôi thả rông, hộ cáthể vẫn còn phổ biến
Tốc độ tăng trởng và sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi trongnông nghiệp còn chậm Diện tích sản xuất nông nghiệp trên đầu ngời cònthấp, bình quân khoảng 550m2/ ngời Hệ thống thuỷ lợi còn tạm bợ, h hỏngnhiều nên hiệu quả tới tiêu còn hạn chế
Trong phát triển nông nghiệp, ngời Thái ở huyện Kì Sơn đã xây dựngcác trang trại để phát triển kinh tế Các trang trại thờng sản xuất tổng hợp:Trồng lúa, bí, ngô, lạc xen kẽ kết hợp với chăn nuôi gia súc, gia cầm Diệntích trang trại nhỏ bình quân 4,5 ha / trang trại, trang trại lớn nhất 183,5 ha/trang trại, trang trại nhỏ nhất 2 ha / trang trại Các trang trại ở đây đợc hìnhthành một cách tự phát, chủ nông hộ tự đốt phá rừng, chiếm đất để lập trangtrại Đờng giao thông vào các trang trại gặp nhiều khó khăn vì không có đ-ờng mòn, chủ yếu phân bố trên vùng đồi núi nên không có phơng tiện đểchuyên chở, chủ yếu tận dụng sức ngời Các sản phẩm thu đợc từ trang trạihiện tại cũng chỉ mới tự cấp tự túc trong phạm vi gia đình, cha tạo ra đợc sảnphẩm hàng hoá trao đổi
- Lâm nghiệp
Trong tổng diện tích rừng, diện tích rừng tự nhiên chiếm 98,9%( trong
đó rừng giàu và rừng trung bình chiếm tỉ lệ thấp), diện tích rừng trồng chiếm
tỉ lệ nhỏ 1,1%
Hiện nay, diện tích và chất lợng rừng đang có xu hớng giảm xuống đó
là kết quả của hiện tợng phá rừng, đốt rừng làm nơng rẫy bừa bãi đang làhiện tợng phổ biến bởi tập quán canh tác du canh và kinh tế tự cung tự cấp.Nguyên nhân sâu xa làm cho cho diện tích và chất lợng rừng giảm xuống làcha giao đất rừng cho nhân dân, năng lực cán bộ quán lí rừng còn hạn chế,công tác bảo vệ và quản lí tài nguyên rừng cha đi vào nề nếp
- Ng nghiệp
Ngành nuôi trồng thuỷ sản của ngời Thái ở huyện Kì Sơn còn kémphát triển, chỉ chiếm 1,5% trong cơ cấu nghành nông- lâm- ng Các sản
13
Trang 14phẩm thu đợc chủ yếu là đánh bắt các thủ công ở sông suối nhằm đảm bảobữa ăn hàng ngày của mỗi gia đình.
1.3.1.2 Công nghiệp - xây dựng
Khu vực kinh tế công nghiệp - xây dựng của vùng cha phát triển Tốc
độ tăng trởng bình quân giai đoạn 2005-2007 là 13,75%
Vùng cha xây dựng đợc khu công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tậptrung mà chỉ phát triển theo truyền thống từng ngành nghề, từng địa phơng,gia đình Sản phẩm thu đợc chủ yếu từ ngành thủ công truyền thống: dệt thổcẩm, đan lát, nhng chỉ sản xuất với phơng thức tự cung, tự cấp, tự trang trảitrong phạm vi gia đình hoặc trao đổi trong phạm vi bản với quy mô nhỏ lẻ,phân tán
Cả địa bàn sinh sống của ngời Thái ở huyện Kì Sơn có 5 làng nghề:Bản Cầu Tám (Tà Cả), bản Piêng Phô (Phà Đánh), bản Na, bản Xốp Thập(Hữu Kiệm) chuyên dệt thổ cẩm
Hiện nay cả địa bàn c trú của ngời Thái chỉ có một chợ trung tâm tạithị trấn Mờng Xén, hàng hoá chủ yếu là thực phẩm và hàng tạp hoá, 4 cửahàng xăng dầu đặt tại thị trấn Mờng Xén và xã Tà Cả Bộ phận nhà hàngdịch vụ ăn uống, nhà nghỉ ở thị trấn Mờng Xén và hệ thống Kiốt dịch vụ dọctheo đờng 7
Mặc dù có quốc lộ 7 đi qua nhng do ảnh hởng của địa hình nên giaothông nội vùng gặp nhiều khó khăn, phơng tiện vận chuyển hàng hoá đếnngời tiêu dùng còn thô sơ, hơn nữa tập quán của ngời Thái là sản xuất tự cấp,
tự túc, lợng khách qua lại từ ngoài vào ít nên sức mua, trao đổi hàng hoákhông đáng kể
- Hoạt động dịch vụ tổng hợp khác
Hoạt động ngân hàng: sống ở huyện miền núi cao biên giới, đời sốngnhân dân còn gặp nhiều khó khăn nên trong hoạt động ngân hàng chủ yếu ở
Trang 15huyện Kì Sơn là cho vay vốn sản xuất từ ngân hàng nông nghiệp và ngânhàng chính sách.
1.3.2 Các vấn đề xã hội
1.3.2.1.Giáo dục đào tạo
Giáo dục- đào tạo của huyện Kì Sơn hiện nay đã có nhiều tiến bộ.Chất lợng dạy và học ngày càng tăng, tỉ lệ học sinh đậu tốt nghiệp các cấptăng lên hàng năm, số học sinh giỏi ở các cấp cũng tăng lên đáng kể, tỉ lệhọc sinh trong độ tuổi đến trờng khá cao 96% (2007)
Hệ thống trờng lớp: hầu hết tại các xã đều có trờng mầm non, tiểu học
và trung học cơ sở
Hiện nay, trên địa bàn sinh sống của ngời Thái ở Kì Sơn đã xây dựngmột cơ sở dạy nghề với 5 phòng học nhng do mới thành lập nên cơ sở vậtchất còn hạn chế Cơ sở gồm có các loại hình đào tạo sau:
- Nghề may mặc, mây tre đan, sữa chữa xe máy
- Nghề dệt thổ cẩm, cơ khí điện dân dụng mộc, lái xe
- Xuất khẩu lao động
Số học sinh theo học ở cơ sở hàng năm tăng 100 - 120 học sinh
Số giáo viên cơ sở cha đáp ứng đợc về số lợng (2 giáo viên)
Ngoài cơ sở dạy nghề, huyện còn xây dựng một trung tâm chính trịgồm một nhà hai tầng với 3 phòng học diện tích 120 m2 và 74m2 nhà ở giáoviên Trung tâm chính trị gồm có các lọai hình đào tạo:
- Trung cấp chính trị và liên kết đào tạo chuyên môn
- Bồi dỡng công tác đảng cho cán bộ
- Bồi dỡng công tác chính quyền cho cán bộ xã
Số học viên tham gia theo học trung tâm hàng năm:1500 lợt ngời.Tổng số giáo viên của trung tâm cha đảm bảo (3 giáo viên)
ở các cấp học hiện tợng bỏ học của học sinh vẫn còn diễn ra nhiều
Đây là vấn đề đáng đợc quan tâm Học sinh bỏ học do nhiều lí do: gia đìnhkhó khăn bỏ học để phụ giúp gia đình, nhiều học sinh nhỏ tuổi không muốn
xa mẹ, sợ bạn bè đánh, lời học, đờng xa trắc trở nên không muốn đi, thíchchơi,
Đội ngũ giáo viên ở các cấp về căn bản tơng đối đầy đủ và phần lớn
đều đã đợc đào tạo cơ bản nhng do giảng dạy ở những địa bàn xa xôi hẻolánh, ít có điều kiện để học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ nênnăng lực chuyên môn của một số giáo viên bị mai một dần
1.3.2.2 Y tế và chăm sóc sức khỏe cộng đồng
Mạng lới các cơ sở y tế cơ bản đợc đầu t và phân bố đều ở các vùng.Tuy phần lớn trang thiết bị của các cơ sở y tế còn thiếu thốn nhng nhiều năm
15
Trang 16qua các cơ sở y tế đã thực hiện việc khám chữa các bệnh thông thờng chongời dân, thực hiện khá tốt y tế dự phòng, tiêm chủng mở rộng nên đã đẩylùi đợc các dịch bệnh lớn, hiểm nghèo nh: bệnh bại liệt, phong, sốt rét,…trang và tổng cộng có …trang đánh máy trên giấy A4Giảm tỉ lệ trẻ em suy dinh dỡng từ 55% (2005) xuống còn 20% (2007), trẻ
em dới 10 tuổi không còn mắc bệnh bớu cổ
1.3.2.3 Văn hoá thông tin, phát thanh truyền hình
Các hoạt động văn hoá thông tin của ngời Thái đã có nhiều nét khởisắc Lực lợng văn hoá thông tin tuy còn nhiều hạn chế nhng hoạt động thực
sự có hiệu quả, đã truyền tải các chủ trơng chính sách, đờng lối của Đảng,nhà nớc tới bản xa xôi hẻo lánh Đây chính là động lực góp phần thực hiệnthành công chơng trình xoá bỏ cây thuốc phiện, ổn định trật tự an ninh Tuynhiên, cơ sở vật chất, hạ tầng của các cơ sở văn hoá còn thiếu thốn, cácphong trào văn nghệ chủ yếu là tự phát, cha phát triển thành phong trào
Hiện nay, lĩnh vực hoạt động phát thanh truyền hình đã có nhiều vợtbậc 98% hộ gia đình đợc nghe phát thanh Chơng trình truyền thanh bằngtiếng dân tộc đã phát triển và có chất lợng
1.3.2.4 Thể dục thể thao
Trong những năm gần đây, hoạt động thể dục thể thao đợc phát triểnthành phong trào nhất là bóng chuyền, bóng đá, cầu lông Các xã có độibóng đoạt giải cụm trở lên ngày càng tăng, các môn học nâng cao sức khoẻ
đã đợc đa vào hầu hết các trờng học
1.3.2.5 Quốc phòng an ninh và trật tự xã hội
Quốc phòng an ninh và trật tự xã hội ngày càng đợc giữ vững Các vụviệc mua bán ma tuý lớn đều đợc phát hiện kịp thời và có các giải pháp xử línghiêm minh và đúng pháp luật Đó là kết quả của sự phối hợp chặt chẽ giữacác lực lợng quốc phòng, an ninh trên địa bàn với chính quyền cơ sở, cùngvới việc phát huy tốt công tác tuyên truyền vận động sức mạnh của quầnchúng nhân dân Tình trạng du c cơ bản đã không còn tồn tại nhng hiện tợng
du canh đốt phá rừng làm nơng rẫy đang là vấn đề đáng quan tâm
Trang 17Chơng 2 Những nét đặc trng của ngời Thái ở huyện Kì Sơn tỉnh Nghệ An
2.1 Khái quát về ngời Thái ở huyện Kì Sơn tỉnh Nghệ An
Sinh sống lâu đời trên vùng miền núi cao, hiểm trở xen lẫn thunglũng, sông, suối và kế thừa một nền văn minh cổ truyền của cha ông, ngờiThái đã đóng góp không nhỏ vào kho tàng văn hoá chung của dân tộc ViệtNam
Hiện nay ngời Thái ở huyện Kì Sơn khá đông 17931 ngời (chiếm27,14% tổng số dân ở huyện Kì Sơn - 2008), c trú ở địa bàn 6 xã vùng thấp:Chiêu Lu, Tà Cả, Hữu Kiệm, Hữu Lập, Phà Đánh và Thị trấn Mờng Xén
Nguồn gốc của ngời Thái ở địa bàn huyện Kì Sơn hiện nay ngoài cdân bản địa (có mặt cách đây khoảng hơn hai thiên niên kỷ) còn có sự di c,hoà nhập của ngời Thái đến từ nam Trung Quốc và miền Tây Bắc
Trong giao tiếp hàng ngày ngời Thái sử dụng song ngữ: Ngôn ngữ mẹ
đẻ (ngôn ngữ Thái) đợc vận dụng trong giao tiếp giữa ngời Thái với nhau.Bên cạnh ngôn ngữ mẹ đẻ không đảm bảo đợc sự phát triển t duy và trí tuệtrong việc giao tiếp mở rộng nên họ còn sử dụng ngôn ngữ Việt để giao tiếpvới những ngời Việt trong quá trình buôn bán và giao tiếp hàng ngày
Là c dân nông nghiệp, ngời Thái thờng tìm đến định c gần nguồn nớcven sông, suối, ven đờng giao thông, ven chân rừng với cuộc sống trồng lúanớc và phát nơng làm rẫy, săn bắt, hái lợm, đánh cá Phụ nữ Thái rất khéoléo với các nghề thủ công nh kĩ thuật trồng bông, dệt vải, thêu thùa, namgiới rất giỏi việc đan chài, đánh cá
Ngời Thái c trú trong nhà sàn, tập trung thành từng nhóm gọi là bản,tính cộng đồng trong bản rất cao thể hiện trong việc giúp đỡ lẫn nhau trongcuộc sống hàng ngày mỗi khi dựng nhà, đám cới, lễ tang, …
Ngời Thái có nhiều nét văn hoá đa dạng, mang đậm đà bản sắc dântộc Với nhiều truyện thơ, dân ca tuy khuyết danh nhng có giá trị nghệ thuậtcao
Ngời Thái còn nổi tiếng về múa (đặc biệt là múa xoè), hát giao duyên,tục uống rợu cần, đã góp phần làm giàu nghệ thuật dân gian cổ truyền
Ngày nay trải qua bao nhiêu biến động của lịch sử, xã hội ngời Thái
đã có một số biến đổi trong quan hệ xã hội, đời sống ngày càng đợc cải thiệnhơn và ứng xử đối với tự nhiên có phần nào đó khác hơn so với những thế hệ
17
Trang 18trớc nhng bên cạnh đó họ còn vẫn giữ lại nhiều nét đặc trng riêng của dântộc mình
Dân số các dân tộc ở huyện Kì
Sơn
kinhtháikhơ - múmông
tế sản xuất hạy (nơng rẫy), tông na (ruộng đồng) làm trục sản xuất chính, là
điểm tựa để mọi hoạt động kinh tế khác nh chăn nuôi, nghề phụ gia đình,săn bắt, hái lợm, đánh cá, mò cua, bắt ốc, tồn tại
Hình thái sản xuất chiếm đoạt: gồm các hoạt động hái lợm, săn bắt, và
đánh cá sẵn có trong tự nhiên Hình thức này còn chiếm một vị trí quantrọng trong đời sống của ngời dân vì con ngời còn dựa vào các nguồn thức
ăn có sẵn trong tự nhiên
Hình thái kinh tế sản xuất: đánh dấu trình độ phát triển ở mức độ caohơn Kinh tế sản xuất có nhiều loại hình khác nhau, trong đó sản xuất nơngrẫy là phơng thức sản xuất chủ yếu Loại hình kinh tế này gắn liền với việc
du canh định c của ngời Thái Bên cạnh sản xuất nơng rẫy là loại hình sảnxuất ruộng nớc
Trang 19Loại hình sản xuất phù hợp nhất đối với vùng núi cao, độ dốc tơng đốilớn là nơng rẫy Không chỉ riêng ngời Thái ở huyện Kì Sơn mà hầu hết cácdân tộc thiếu số sống ở vùng có địa hình miền núi cao đều xem hoạt độngsản xuất nơng rẫy là đối tợng sản xuất chính, nguồn cung cấp lơng thựcchính và đợc đặt lên hàng đầu trong nền kinh tế.
Nơng rẫy của ngời Thái ở huyện Kì Sơn phổ biến thuộc loại hình sảnxuất nông nghiệp dùng cuốc hay dùng tay Loại nơng rẫy này có từ thời kỳ
xa xa, thời kỳ nguyên thuỷ khi con ngời biết trồng trọt đầu tiên và duy trìcho đến ngày nay Các nơng rẫy đều phải trải qua các biện pháp thô sơ liênhoàn: chọn đất, phát rừng, đốt rừng, phơi đất, trỉa hạt, chăm sóc và thuhoạch
- Chọn đất: Chọn đất làm nơng là công việc của đàn ông trong gia đình Để
có nơng tốt việc chọn đất rừng là quan trọng nhất, ngời Thái thờng chọnrừng già, vì đất tơi xốp, màu mỡ, có lớp lá mục rơi rụng nhiều năm Ngờitrong dân bản có kinh nghiệm sản xuất lâu năm cho biết: cứ đào thử xuốngchỗ nào thấy đất đen dày 20 - 30 cm, mềm và ẩm ớt thì là đất tốt Sau khi đãchọn đợc đất làm nơng phù hợp, họ cắm một cây gỗ làm mốc và phát xungquanh khoanh vùng phạm vi nơng
- Phát nơng: sau khi đã chọn đợc đất rẫy, khoảng đến cuối tháng 4 tận dụngthời tiết nắng nóng, hanh khô để cây sau khi phát đợc phơi khô, họ bắt đầuphát nơng Ngời Thái thờng phát cây bằng dao, đối với những cây to họdùng rìu để chặt Theo tập quán, ngời Thái thờng phát nơng từ chỗ thấp lênchỗ cao Phát nơng xong ngời ta để cây cối tại chỗ
- Đốt rẫy để lấy tro mùn, ngời Thái thờng đốt nơng vào buổi tra để lợi dụngtrời nắng to, có gió Lào và đốt từ nơi thấp theo chiều gió để đảm bảo câykhô cháy sạch, dọn sạch sau đó phơi khô đất khoảng 15 ngày
- Trỉa hạt: Sau khi phơi khô đất và có ma xuống, ngời dân bắt đầu trỉa hạt.Công cụ dùng để trỉa hạt là dao, gậy để chọt lộng Gậy có đầu bằng sắt cótra cán gỗ, loại gậy này đợc sử dụng lâu năm, hết vụ ngời ta tháo ccán gỗ,giữ lại lỡi sắt Khi trỉa hạt, họ dàn hàng ngang tiến từ chân nơng lên đỉnh n-
ơng, một ngời đi trớc chọt lỗ, còn một ngời theo sau bỏ hạt vào lỗ đó, rồi lấychân gạt nhẹ Để việc trỉa hạt đợc tiến hành nhanh và không lãng phí đất, ng-
ời ta thờng đổi công cho nhau Nếu trỉa lúa thì khoảng trên dới 15 ngời, cònnếu trỉa ngô, đậu, bí, lạc thì số lợng phải ít hơn vì trỉa tha hơn Sau khi trỉaxong, họ dùng những hình ngời đợc làm từ rơm và quần áo rách để xua đuổichim trong rừng
- Chăm sóc: sau khi trỉa hạt đợc hơn một tháng, khi lúa cao bằng gang taythì họ tiến hành làm cỏ, đợt làm cỏ này rất quan trọng, nếu không làm sạch
19
Trang 20cỏ thì nó sẽ ăn phần chất hữu cơ có trong đất Ngời Thái thờng dùng nhữngphơng tiện thô sơ: tay, cuốc để làm cỏ Ngời Thái không sử dụng phân hoáhọc, thuốc trừ sâu, trừ cỏ hay một biện pháp khoa học kĩ thuật nào vào hoạt
động canh tác nơng rẫy
- Thu hoạch: thu hoạch phải đợc tiến hành nhanh gọn, để tránh những ngày
ma kéo dài Để thu hoạch lúa nơng ngời Thái thờng dùng liềm để gặt, saukhi gặt ngời Thái dùng nẹp để đập lúa, phơi ở nơng cho khô rồi dùng gùi vậnchuyển lúa về nhà, lúa đợc cất giữ trong chòi
Bản chất làm nơng rẫy của ngời Thái huyện Kì Sơn theo hình thức luân canhtheo một chu kỳ khép kín, mỗi nơng rẫy, ngời dân chỉ gieo trồng một vụ, rồi
bỏ hoang cho rừng tái sinh, tiếp tục canh tác trên nơng rẫy mới, sau 4-5 nămmới quay trở lại gieo trồng ở đám nơng ban đầu Cứ mỗi năm ngời dân phátrẫy một lần vào khoảng tháng 4 - 5 Hình thức nơng rẫy nh thế đã tạo cho
đồng bào Thái có đặc điểm riêng biệt, không gian sinh sống luôn thu nhỏtrong một điểm tự nhiên cố định, không gian sản xuất luôn mở rộng Nơngcủa ngời Thái thờng cách xa nơi c trú khoảng 2-5 km
Hình số 1 Hệ thống nơng - bản của ngời Thái ở huyện Kì Sơn
Theo lối làm nơng truyền thống của ngời Thái, có những loại nơngchuyên canh kết hợp nơng xen canh nh:
Trang 21Hình thức sản xuất nơng rẫy du canh đốt phá rừng bừa bãi đang có xuhớng phát triển Hoạt động này không những huỷ diệt môi sinh một cách vô
ý thức, không thơng xót, gây ra nhiều hiện tợng nh: xói mòn, sụt lở đất,giảm diện tích, chất lợng rừng đặc biệt là rừng đầu nguồn, làm h hại đến hệthống giao thông, gây ra hiện tợng lũ lụt, phá vỡ cân bằng sinh thái mà còngây ảnh hởng xấu đến sản xuất và sinh hoạt của ngời dân Làm nơng rẫy gắnliền với du canh sẽ làm cho hoạt động kinh tế - xã hội mất đi tính ổn định
Với dụng cụ sản xuất nơng rẫy chỉ là cái cuốc, con dao là những vậtdụng rất thô sơ phù hợp với địa hình dốc, giảm đợc hiện tợng bóc mòn đất,rửa trôi và bạc màu cho đất nhng kéo dài thời gian làm việc của ngời dântrên một diện tích nhất định Việc đầu t mua phân bón, giống cây trồng,thuốc trừ sâu và máy móc sử dụng trong sản xuất nơng rẫy là một khó khănlớn đối với họ dẫn đến năng suất, sản lợng cây trồng đạt hiệu quả thấp, chỉ
đảm bảo cuộc sống tạm thời qua ngày, không có của ăn của để
Để nâng cao sức sản xuất trong hoạt động nơng rẫy và đảm bảo chấtlợng cuộc sống của đồng bào Thái, đồng thời không làm ảnh hởng xấu đếnmôi trờng tự nhiên cần có những biện pháp thích hợp để khắc phục nhữnghạn chế trong hoạt động sản xuất này
2.2.2.2 Canh tác ruộng nớc
Với địa bàn c trú trên miền vùng núi không có vùng lòng chảo lớnbằng phẳng mà chỉ có những thung lũng nhỏ, những khe hẹp, trải qua nhiềunăm sinh sống nơi đây, ngời Thái đã xây dựng bản của mình trên lu vựcsông Nặm Mộ, Nặm Nơn hợp thành sông Cả, trên những thung lũng dọcchân triền núi Với điều kiện tự nhiên nh thế ngời Thái huyện Kì Sơn đãnhận thức và chọn đối tợng canh tác mang nét đặc trng riêng, không hoàntoàn giống nh đặc điểm canh tác của ngời Thái ở các vùng đất khác của ViệtNam Với ngời Thái ở Tây Bắc (địa bàn c trú có nhiều thung lũng lòng chảolớn) họ luôn coi đồng ruộng là đối tợng sản xuất chính, then chốt và giữ vịtrí số một trong đời sống sản xuất riêng Còn đối với ngời Thái ở huyện KìSơn coi làm ruộng nớc chỉ giữ vị trí thứ hai sau canh tác nơng rẫy, đó chính
là sự quy định của tự nhiên Tuy ruộng đồng không đóng vai trì chủ đạotrong nền sản xuất nông nghiệp nh đặc trng của dân tộc mình nhng lại định
21
Trang 22hình trong tâm thức Xuất phát từ tập quán ăn uống nên trong sản xuất ruộngnớc ngời Thái chủ yếu là trồng cây lúa nếp (chiếm 90% diện tích ruộng), lúagạo rất ít (chiếm 10% diện tích ruộng nớc).
Dù chỉ với diện tích không đáng kể trong đời sống sản xuất của ngờiThái nói chung nhng ruộng đồng vẫn đợc xem là điểm tựa để con ngời cóthể bám trụ trên mảnh đất quê hơng của mình Chính vì thế trong hình thức
c trú cũng nh sản xuất lúa nớc ngời Thái ở Kì Sơn luôn giữ hình thức địnhcanh định c
Trớc đây hầu hết các gia đình đều chỉ sản xuất một vụ lúa trong năm
và hiện tại một số nông hộ vẫn còn duy trì tập quán sản xuất đó Sản xuấtmột vụ từ tháng 5 đến tháng 11, từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau ruộng th-ờng để hoang do thiếu nớc hạn chế sự sinh trởng và phát triển của cây lúa.Các điều kiện tự nhiên không thuận lợi đã ảnh hởng rất lớn đến việc làmruộng nớc nh khí hậu khắc nghiệt, ma tập trung một mùa từ tháng 6 đếntháng 9, địa hình dốc, cha có công trình thuỷ lợi để giữ nớc
Đến nay, ở nhiều nơi trong năm, sản xuất lúa nớc đã tăng lên hai vụlúa, đây chính là kết quả của việc đầu t xây dựng đợc một số công trình thuỷlợi đáp ứng việc tới tiêu và đợc đầu t giống lúa lai ngắn ngày
Phơng tiện canh tác ruộng nớc còn thô sơ, chủ yếu dùng cày, và tậndụng sức ngời, sức trâu, bò Năng suất và sản lợng của sản xuất phụ thuộchoàn toàn vào thiên nhiên bởi lẽ họ không sử dụng thuốc trừ sâu, phân hoáhọc, cha ứng dụng khoa học - kỹ thuật vào trồng lúa nớc
Thu hoạch lúa: khi lúa chín, ngời Thái dùng liềm để gặt, rồi dùng gùivận chuyển lúa từ ruộng về Hiện nay, ở một số vùng mỗi bản đã có mộtmáy tuốt lúa nhng phần đa số là dùng nẹp để đập lúa Sau khi lúa đợc phơikhô, dự trữ lúa trong một chiếc chòi đợc làm trong vờn cách nhà mộtkhoảng Thu hoạch lúa của ngời Thái mất rất nhiều thời gian
Định c trong những vùng đất màu mỡ, ven sông suối, ngời Thái lànhững c dân nông nghiệp canh tác lúa nớc từ lâu đời nên đồng bào Thái cókinh nghiệm trong việc đào mơng, đắp phai, làm các con nớc, guồng để dẫnnớc vào ruộng Với hệ thống thuỷ lợi đó rất thích hợp với địa hình vùngthung lũng, ven sông, suối miền núi Với bất cứ đất xếp thế nào, địa hìnhkhông bằng phẳng, ruộng nớc không tập trung, chia theo ô nhỏ, với độ dốckhá lớn ngời dân ở đây đã dẫn đợc các dòng chảy tự nhiên đổ vào các conmơng tự đào của mình Phai- trong một vùng tập trung ngời Thái đắp đậpchặn nớc bằng cách ken gỗ, tre, nứa, đất dể mực nớc sông suối dẫn vào conmơng
2.2.2.3 Chăn nuôi
Trang 23Chăn nuôi của ngời Thái chủ yếu còn mang tính tự chất tự cung, tựcấp bên cạnh đó cũng đợc dùng để làm hàng hoá trao đổi nhng rất ít Các vậtnuôi chủ yếu là:
- Trâu: khi nói tới loại hình chăn nuôi của ngời Thái không ai không nghĩngay tới việc nuôi trâu Đây là gia súc vừa để ăn thịt, làm sức cày kéo vừa là
lễ hiến sinh trong nghi thức tôn giáo và tin ngỡng Việc nuôi trâu bắt nguồn
từ loại hình săn thú đàn ở bãi lúa dại mọc ở nơi lầy lội ven sông, suối của cdân nguyên thuỷ miền nhiệt đới gió mùa ẩm ớt của Đông Nam á Đến khicây lúa dại trở thành lúa trồng thì trâu rừng cũng đợc thuần chủng để cùngvới con ngời hình thành loại hình văn hoá ruộng nớc
- Bò: bò đợc nuôi theo hình thức nửa chăn thả trong tự nhiên, nửa chăm sóc,
bò nuôi dùng để ăn thịt, cày trong làm ruộng nớc
- Lợn: hầu hết các gia đình nuôi lợn theo hình thức thả rông Đàn lợn th ờngtiếp xúc với chủ trong một hoặc hai bữa, rồi tự kiếm ăn trong thiên nhiên.Những con lợn hay phá hoại mùa màng thờng bị ngời dân đeo gông Lợn nái
đến kì sinh nở thờng vào rừng tự làm ổ, chủ phải lần theo dấu vết để tìm, lợncon mới sinh thờng đợc chủ chặt hết răng nanh Do nuôi lợn theo phơngpháp tự nhiên nên lợn thờng chậm lớn, nhỏ Một số gia đình khác, do cơ chếthị trờng tác động đã xây dựng chuồng nuôi theo phơng pháp mới
- Chó: chó đợc nuôi trong nhà không những để giữ nhà, đi săn, ăn thịt, vậthiến sinh trong nghi thức cúng ma rừng mà còn đợc mổ khi có bà con trongbản làm hộ nhhững việc nh làm nhà, làm cỏ, cấy, thu hoạch lúa ở nơng,ruộng
- Gà: ngời Thái nuôi gà ở nơng rẫy với tác dụng làm thức ăn hoặc làm vậttrao đổi Gà đợc ngời Thái xem là vật hiến sinh trong các nghi lễ tôn giáo tínngỡng, hội hè, làm nhà mới, cới xin, ma chay
- Vịt: vịt đợc nuôi hầu hết ở vùng gần sông suối
- Cá: cá đợc nuôi phổ biến ở nhiều bản cạnh sông suối
Phơng thức chăn nuôi phổ biến của ngời Thái theo lối chăn thả tựnhiên, tức thả rông ở bãi trong rừng, thỉnh thoảng ngời ta mới đến thămnom, ở một vài nơi dân xây dựng chuồng trại chăn nuôi để hạn chế sự pháhoại mùa màng
2.2.2.4 Kinh tế tổng hợp vờn, ao, chuồng, rừng (VACR)
Kinh tế nông nghiệp của ngời Thái vùng này là hệ thống sản xuấtphức hợp Ngoài canh tác nơng rẫy, ruộng nớc hiện nay đã xuất hiện môhình kinh tế VACR
Tuy loại hình sản xuất này cha thật phát triển nhng địa bàn c trú củangời Thái vốn dĩ thấp hơn các đồng bào dân tộc khác nên ảnh hởng của ngời
23
Trang 24Kinh đã xâm nhập vào hoạt động sản xuất của họ Họ đã học hỏi, ứng dụng
và bớc đầu đã xây dựng mô hình kinh tế mới VACR Nhiều hộ gia đình thựchiện mô hình VACR thoát khỏi cảnh đốt, phá rừng làm nơng rẫy, chất lợngcuộc sống của gia đình đợc cải thiện hơn
Chẳng hạn nh anh Kha Văn Nhn bản Kẹo Lực, xã Phà Đánh Khisống cùng gia đình anh chỉ biết đến cái gùi lên rẫy, lên nơng, kiếm củi,măng rừng, săn bắt thú, đời sống còn nhiều khó khăn thiếu thốn Đến khianh lập gia đình, anh cùng vợ khai hoang 1,5ha đất đồi trồng lúa rẫy cho thuhoạch khoảng 90 kg một mùa, chăn nuôi thêm gia súc, gia cầm nh bò và 2
ao cá trắm cỏ, rô phi nhằm phục vụ cho cuộc sống Nhìn cảnh đồi núi hoangsơ mà đất đai màu mỡ, anh đã quyết biến đồi, rừng thành mảnh đất phục vụ
đời sống gia đình Anh đã trồng 700 cây chủ lực là xoan đâu, kết hợp ơmgiống cây Píc – niệng, một cây chủ để thả cánh kiến đỏ kí sinh trên câyPíc- niệng tạo nhựa làm sơn mài, vecni Năm 2007 anh đã bóc tách và ơmthành công 2000 cây giống Píc- niệng, đến năm 2008 tăng lên 3000 cây, chỉsau 3 tháng chăm sóc anh nhập cho phòng nông nghiệp huyện 4000 đồng/cây, thu nhập 12 triệu đồng
Dù không thoát ly nông nghiệp (vẫn giữ sản xuất ruộng nớc) nhng vẫn
có nguồn thu nhập khác cần thiết, không lo thiếu thóc nh nếp nghĩ theo
truyền thống xa nay “dác khẩu, dác chu xi, mi khẩu mi chu dơng” (nghĩa là
thiếu thóc thiếu đủ điều, có gạo, có mọi thứ)
Tuy nhiên, số hộ gia đình thực hiện mô hình kinh tế nh anh Nhn vẫncòn ít Đây là một mô hình kinh tế phát triển theo hớng kinh tế thị trờng,tránh sự phụ thuộc lớn vào kinh tế tự nhiên, đem lại hiệu quả kinh tế cao
2.2.2.5 Mô hình kinh tế trang trại
Hiện nay, mô hình kinh tế trang trại là hình thức kinh tế mới của ngờiThái ở huyện Kì Sơn
Để có trang trại để làm, chủ hộ gia đình phải tìm kiếm nơi xây dựng,chọn đất, phá rừng, dọn sạch, xây dựng các chuồng trại chăn nuôi đơn giản
Hoạt động làm mô hình trang trại đã đa lại hiệu quả kinh tế cao hơn,tuy nhiên đây vẫn còn là hiện tợng đốt, phá rừng Khác với nơng rẫy trangtrại sản xuất tổng hợp hơn và sử dụng lâu dài hơn, khoảng 2-3 năm sau mớithay đổi vị trí trang trại
Trang trại thờng đợc xây dựng ở vùng rừng núi lng chừng, có độ dốcvừa phải, đợc trồng trọt và chăn nuôi trong thời gian cả năm Chủ yếu làtrồng cây công nghiệp ngắn ngày nh đậu, ngô, lạc, cây lơng thực nh lúa, câyrau màu và chăn nuôi nh trâu, bò, lợn, gà Trong đó trâu là con vật đợc ngờiThái quý trọng đợc sử dụng làm sức kéo và cúng lễ
Trang 25Kinh tế trang trại giúp cho ngời dân đảm bảo cuộc sống tốt hơn, thờngcác sản phẩm không chỉ tự cấp, tự túc trong gia đình mà còn là những sảnphẩm hàng hoá.
Chẳng hạn nh ông Lơng Văn Vĩ ở xã Hữu Kiện từ năm 2007 đã thựchiện mô hình kinh tế trang trại với diện tích trang trại 7,0 ha Trong đó ông
đã trồng lúa, ngô, bí, đậu và kết hợp với chăn nuôi 5 con bò, trâu, 5 con lợnmạ và 50 con gà Ngoài tự túc lơng thực, thực phẩm cho gia đình, hàng nămthu đợc giá trị sản lợng hàng hóa là 15 triệu đồng
Trang trại tuy đã đợc hình thành ở một số gia đình nhng phơng tiệnvật dụng canh tác còn thô sơ, trang trại không ổn định mà vẫn theo hình thức
du canh nên vẫn duy trì việc huỷ hoại rừng đồng thời các phơng thức chănnuôi trong trang trại một phần còn mang tính chất nguyên thuỷ, phụ thuộcvào tự nhiên, đó là việc thả rừng các vật nuôi sẽ làm mất đi một lợng phânhữu cơ lớn tận dụng vào trồng trọt Trang trại cha sử dụng các biện phápkhoa học - kỹ thuật trong chăn nuôi nh: nguồn thức ăn bổ sung, các chuồngtrại còn kém chất lợng, điều kiện chăm sóc cha đợc đảm bảo Bên cạnh chănnuôi trong trang trại tơng ứng với việc trồng trọt Trồng trọt cha có biệnpháp chăm sóc cây trồng thích hợp, cha sử dụng giống mới Cần có nhữngbiện pháp để phát triển kinh tế trang trại một cách có hiệu quả đảm bảo pháttriển kinh tế theo hớng kinh tế thị trờng mà không làm ảnh hởng xấu đếnmôi trờng tự nhiên, tránh tình trạng phá rừng, di c trang trại
2.2.2.6 Nghề thủ công
Do đặc điểm tự cung tự cấp nên mỗi gia đình ngời Thái làm khá nhiềunghề thủ công
- Nghề dệt: dệt là nghề thủ công lâu đời và đặc sắc của đồng bào Thái Trớc
đây, hầu nh các cô gái đến tuổi cập kê đều đợc bà mẹ dạy cho cách se sợi,cách nhuộm, dệt thành những tấm thổ cẩm rực rỡ, đầy màu sắc Bởi theo tậptục, các cô gái phải tự dệt thổ cẩm để may chăn, váy, áo, khăn, làm của hồimôn khi về nhà chồng đến 13 tuổi các cô gái đều biết dệt thổ cẩm Do có sựchuyên ngay từ khi còn nhỏ nên phụ nữ Thái thờng rất thông thạo với việcdệt vải, thổ cẩm và thêu thùa với nhiều sản phẩm tinh xảo, mang sắc thái vớinhững hình lãnh tụ nhiều màu Biết dệt vải “nhinh hụ dệt vải” là sự kiện
đánh dấu sự trởng thành của ngời con gái Thái huyện Kì Sơn Ngời Tháixem đây là “thớc đo đạo làm ngời” của phụ nữ Thái Họ quan niệm rằng,nếu một ngời con gái rất chăm chỉ làm việc đồng áng nhng lại không biếtdệt vải thì đợc xem là biếng nhác, các chàng trai Thái khi lấy vợ đều chọnnhững cô gái Thái biết thêu dệt đẹp Ngoài dệt thổ cẩm để trang trải cho bảnthân, thổ cẩm còn đợc sử dụng vào việc làm chăn, gối, rèm và phục vụ cho
25
Trang 26cới xin, cúng tế hoặc tang ma Bên cạnh dệt vải để tự túc, đây còn là sảnphẩm để bán nh váy thổ cẩm, túi thổ cẩm Thời gian để tạo ra sản phẩm thổcẩm khá dài Chị Lơng Thị Vi (bản Xiêng Thù, xã Chiều Lu)cho biết: trongnhững ngày rảnh rỗi không lên nơng rẫy chị ở nhà dệt, thêu thổ cẩm Để làmhoàn thành một cái váy thổ cẩm, chị làm trong thời gian 1 tháng, với giá trịmột váy là 250.000 đ
Đến nay, do tiếp xúc nhiều với ngời Kinh, giao thông từ miền xuôilên thuận lợi nên trang phục của ngời Thái đã thay đổi so với trớc kia, họ đã
sử dụng quần áo hiện đại và các sản phẩm dệt từ miền xuôi đa lên vì thếkhông mấy ai còn hào hứng với việc làm thổ cẩm, làm cho nghề truyềnthống ở đây mai một dần, chỉ còn tồn tại ở một số nơi và một số vùng
- Nghề đan lát và nghề mộc là những nghề mà hầu hết đàn ông đều biết Sản
phẩm làm ra từ nghề đan lát là những dụng cụ để hái lợm, săn bắt, đánh cá,làm đồng áng và nơng rẫy, nhiều ngời còn biết chế tác các nhạc cụ nh khèn,sáo, đàn, … bằng mây, tre, nứa Sản phẩm đặc sắc của nghề mộc là thuyền
độc mộc, thuyền đuôi én dùng để chuyên chở hàng hoá dọc các sông, suối,thác gềnh
Nghề thủ công truyền thống của ngời Thái mang nét đặc trng riêng,
đậm đà bản sắc dân tộc, tạo ra các sản phẩm độc đáo, có tính thẫm mĩ cao
nh trang phục Thái, khèn, sáo, vừa phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt hàngngày vừa có giá trị là hàng hoá Nếu đợc đầu t phát triển thì nó sẽ trở thànhnhững mặt hàng đợc a chuộng trên thị trờng Vì thế cần phải khôi phục vàphát huy các ngành ngề thủ công truyền thống nhằm tạo việc làm cho ngờilao động, tăng thu nhập, cải thiện đời sống, cũng nh quảng bá đợc giá trị củadân tộc Mở lớp dạy nghề cũng nh đầu t xây dựng cơ sở sản xuất thu hút lao
động đồng thời phát huy đợc nghề truyền thống của dân tộc
2.2.2.7 Hoạt động kinh tế "tớc đoạt"
Sống trong khuôn khổ kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc, ở vùng ven sôngsuối, rừng núi ngời Thái vẫn còn bảo lu và duy trì mức tối đa các hoạt động háilợm, săn bắt, đánh cá Đây là một hoạt động mà con ngời chỉ cần bỏ công sức
ra để thu lợm các sản phẩm có trong tự nhiên mà không cần phải nuôi dỡng,chăm sóc
- Hái lợm
Nhìn chung ngời Thái cũng nh nhiều tộc ít ngời khác, đều có kinhnghiệm hái lợm, họ nắm vững từng loại cây và thời vụ hái Theo tính chấtphân công lao động thì hoạt động hái lợm là của phụ nữ và trẻ em từ xa đếnnay
Trang 27Công cụ hái lợm đơn giản chỉ có con dao, cái giỏ thì có thể kiếm đợcrau rừng để ăn, củi để nấu Ngoài ra, ngời Thái còn khai thác tre, nứa, mây
và các loại gỗ quý để xây dựng nhà cửa, đóng bàn ghế, đan lát
- Săn bắn
Sản phẩm của hoạt động săn bắn hết sức phong phú, không chỉ làchim, những con thú nhỏ nh gà rừng, chuột, chồn, cáo mà còn là những conthú lớn nh lợn rừng Trớc đây săn bắn là hoạt động diễn ra thờng xuyên nhng
đến nay do số lợng thú ít đi và chính sách của nhà nớc nên hoạt độngơsawnbắn có giảm xuống Dụng cụ săn bắn của ngời Thái có hai loại: súng kíp và
nỏ (đều tự tạo) Mùa cây khô rụng là mùa săn bắn vì mùa này lộc cây bắt
đầu mọc và phát triển nên làm nhiều chim muông và thú rừng c trú, tìmkiếm thức ăn
- Đánh cá
Trong khoa học, khi nghiên cứu về cái ăn của ngời Thái Ngô ĐứcThịnh đã cho rằng cơ cấu lơng thực, thực phẩm mang đặc trng Thái là ăncơm + rau + cá Còn trong ba hoạt động “tớc đoạt” của ngời Thái thì hoạt
động đánh cá là hoạt động quan trọng hơn cả Ngời Thái coi cá ngang với
gạo “Pin pa Nậm Mộ” là ăn cá trên sông Nậm Mộ biểu hiện “của ngon vật
Mặc dù sử dụng những dụng cụ rất thô sơ nhng hoạt động kinh tế tớc
đoạt là những hoạt động làm mất cân bằng sinh thái Ngời dân thờng hái lợmnhững loại củ, quả, rau rừng và các loại lộc non, hạn chế việc phát triển độdày của rừng, giảm độ che phủ của rừng và giảm độ ẩm của đất rừng đồngthời gây nhiều hiện tợng thiên tai Săn bắn là hoạt động làm động vật trongrừng có nguy cơ tuyệt chủng kể cả những động vật quý, hiếm Cần phải cóbiện pháp thích hợp đối với tình trạng săn bắn, hái lợm, đánh cá để khắcphục trạng thái “nghèo vẫn hoàn nghèo” và giảm thiểu tối đa đến việc làmmất cân bằng sinh thái, huỷ hoại tài nguyên của vùng Việc đề xuất nhữngbiện pháp là việc rất cần đến sự quan tâm của chính quyền địa phơng
2.3 Tập quán c trú
2.3.1 Vị trí c trú
27
Trang 28Nơi c trú ngời Thái gọi là bản (tơng đơng với làng của ngời Kinh).
Đặc điểm của bản là không lấy vờn tợc, đồi nơng để quy định đờng đi lối lạicủa mình mà lấy thế đất làm điểm trung tâm khai mở cho tổ ấm
Với địa hình phức tạp vùng rừng núi cao kết hợp đồi, xen lẫn sôngsuối và thung lũng nên nơi c trú của ngời Thái không tập trung một nơi màphân tán theo cụm nhỏ Khi tìm hiểu về vị trí c trú của ngời Thái có ba địa
điểm mà ngời Thái chọn thế dựng bản:
- Hai bên đờng quốc lộ
Hình số 2 Hệ thống làng bản ven đờng Quốc lộ của ngời Thái huyện Kì Sơn
- Lấy sông suối địa thế khoáng đãng để đặt hớng và thế đất làm địa điểm ctrú Trong đó tất cả các nhà sàn đều quay chiều đòn nóc xuôi theo chiềudòng chảy
Hình số 3 Hệ thống làng bản ven sông của ngời Thái huyện Kì Sơn
- Lấy thế đất chạy theo ven núi để đặt hớng, trong đó tất cả các nhà sàn đềuquay nóc theo phơng uốn lợn của thế chân núi
Đ ờng quốc lộ
Bản
Sông, suối
Trang 29Hình số 4 Hệ thống làng bản của ngời Thái dới chân núi
Trong phạm vi đất bản, có phạm vi đất đai riêng gọi là đin bản Đinbản thờng có ruộng, suối, sông, rừng
2.3.2 Quần c
Trong quan niệm của ngời Thái nếu bản làng luôn di chuyển thì ngôinhà luôn phải dựng mới, do đó cũng có nghĩa là gà cha kịp lớn đã phải mổ, ủrợu cha đủ tuổi đã phải cất để có thức để dọn mâm mời bà con đến giúpdựng, còn nếu không thì ngôi nhà sẽ trở thành vĩnh cửu, bản làng đợc cắmtrên đất lâu đời Do đó hình thức c trú của ngời Thái là định c
Đồng bào Thái ở huyện Kì Sơn đợc tổ chức theo mô hình thiết chếbản có bản lớn, bản nhỏ Mỗi bản có trởng bản đứng đầu, điều hành mọihoạt động của bản, có phạm vi đất đai, vùng thiên nhiên và luật lệ riêng
Bản là một cụm dân c định c, một đơn vị cộng đồng ngời, tập hợpnhững thành viên có chung một vùng đất đai, trong đó hầu hết diện tíchdành cho việc khai thác và một phần chuyên dùng Mỗi thành viên đều tổhợp thành những gia đình riêng biệt của mình Mỗi đơn vị gia đình hạt nhânhay mở rộng đều có một nếp nhà sàn riêng Các nóc nhà ấy tập hợp thànhbản
Mỗi bản thờng có 40 đến 50 nóc nhà, bản lớn có khoảng trên dới 90 nócnhà
Đồng bào ngời Thái ở huyện Kì Sơn sống phân tán trên nhiều nơi
khác nhau Để phân biệt nơi “chôn rau cắt rốn” họ đặt cho bản mình một cái
tên riêng, có thể lấy tên con sông, suối, rừng, rú, cảnh quan địa lý, địa thế
đất đai, cây cỏ hay một hiện tợng xã hội đặt tên cho bản Chẳng hạn nh bản
29
Trang 30Piêng Pô “Piêng” (Piêng: là vùng đất bằng, Pô: cây đa) hoặc theo các hiện
tợng xã hội nh xã Tà Cả (Tà: bến sông, Cả: buôn bán) trớc đây đã có ngờiHoa buôn bán
Trong bản mối quan hệ thân tộc và thích tộc do hôn nhân mang lạiluôn ràng buộc và chi phối tập quán tơng trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong lúchoạn nạn, khó khăn
2.3.3 Nhà cửa
Nhà cửa thể hiện chức năng cơ bản là bảo vệ con ngời chống lại mọi
ảnh hởng từ bên ngoài Những tác động về mặt tự nhiên, xã hội làm cho nhàcửa mang nhiều nội dung và có sự thay đổi theo điều kiện kinh tế- xã hội,tâm lí của từng tộc ngời, địa bàn c trú
Cũng nh ngời Thái nói chung, ngời Thái ở huyện Kì Sơn hầu hết sốngtrong nhà sàn Đây là nhà đợc ngời Thái kiến thiết bằng những chất liệuthiên nhiên, gần gũi với nơi họ sinh sống: gỗ, ván hoặc gianh, tre, nứa Sở dĩngời Thái thờng làm nhà sàn để sinh sống là do địa bàn c trú ở vùng rừng núi
để tránh thú giữ, tránh đợc lũ lụt vào mùa ma và tiết kiệm nguyên vật liệuvới thiết kế có gầm sàn nơi cất giữ các vật liệu trong gia đình và nơi nhốt giacầm, gia súc nhỏ
Khi tìm hiểu các kiểu nhà sàn ngời Thái ở huyện Kì Sơn, hiện nay còntồn tại 2 kiểu nhà sàn: kiểu cổ truyền và kiểu cái tiến
- Kiểu cổ truyền: đó chính là cách chắp nối các cầu kiện bằng những nguyênvật liệu rời, không tạo vì cột, vì kèo và một thắt bằng dây, lạt buộc
- Kiểu cải tiến: kiểu này có hình dáng của kiểu nhà truyền thống nhng hoàntoàn đợc đóng bằng gỗ ca, xẻ, bào, mái đợc lợp bằng ngói
Tuy hình dáng các kiểu nhà sàn bên ngoài đều có đôi chút khác nhaunhng về cấu trúc cơ bản giống nhau, gồm 12 phần chính:
Hình số 5 Kiến trúc nhà sàn của ngời Thái ở huyện Kì Sơn
1 Xau hóng: là cột chính của nhà Khi xây dựng nhà thì việc đầu tiên
là phải dựng đợc xau hóng Cột này còn đợc gọi là xau phi hơn (ma nhà) Do
Trang 31phía trong nhà (6) gần chỗ cột ngời ta đặt một bàn thờ tổ tiên (hóng: là nơi
thờ tổ tiên)
2 Xau khăn: gọi là cột hồn Cột này đợc dùng để thờ khi vợ chết Đây
là cột đối xứng với cột xau hóng (thờ nam) Sự đối lập này xuất phát từ sự tín
ngỡng phồn thực của dân sống bằng nghề trồng trọt, cây lúa nớc giữ vị tríchủ đạo
3 Đay: gọi là cầu thang Nhà sàn của ngời Thái thờng có một cầu
thang chính để lên xuống phía bên phải Số bậc thang thờng là số 7 ứng với
7 vía, ngời Thái kiêng làm cầu thang chẵn
4 Cỏi: gọi là sàn Đây là hiên đầu hồi có cầu thang lên xuống Sàn
làm khá rộng rãi, thoáng đãng, có thể dùng để tiếp khách
5 Tu cơi: là cửa chính để vào trong nhà, có hớng trổ ra phía đầu hồi,
không mở cửa chính chiều ngang nh nhà ngời Kinh
6 Gian hóng: đây là nơi thờ tổ tiên, nơi này có thể dùng để tiếp
khách, mọi ngời có thể ra vào bình thờng, tuy nhiên ở một số bản nh XiêngPhằn thì phụ nữ không đợc vào kể cả con gái và con dâu
7 Xuôn: gọi là buồng ngủ Buồng ngủ của ngời Thái thờng có thng
vách xung quanh
8 Bòn non: là giờng nằm của vợ chồng gia chủ.
9 Tau phi: gọi là bếp Tuỳ từng gia đình có thể làm một bếp hoặc hai
bếp Một bếp dùng để tiếp khách, sởi ấm và sử dụng trong một số luật tụckhác còn một bếp thì dùng để nấu ăn Phía trên bếp thờng có giàn để các loạilơng thực cần sấy khô
10 Tu xan: cửa ra vào bếp.
11 Xan nọc: còn gọi là xà phơi Đây là nơi để quần áo của ngời Thái.
12 Đây xan: là cầu thang ở đầu hồi gác lên sàn phơi đợc làm phía bên
trái Đây là nơi lên xuống riêng của ngời trong gia đình Nó tơng đơng vớilối đi cửa sau của ngời Kinh Tuy không kiêng nhng khách ít khi đi bằng cầuthang này Ngời trong gia đình cũng chỉ lên xuống khi cần lấy quần áo lao
động hay những lúc đi làm về trong trạng thái lam lũ
Mái nhà sàn thờng đợc làm thấp để chống gió
Tuy nhiên, ngời Thái ở đây vẫn theo tập quán sinh sống cũ rất mất vệsinh: Trên sàn là ngời ở,sinh hoạt còn gầm sàn là nơi giã gạo, nhốt gia cầm,gia súc và cất giữ các đồ gia dụng trong gia đình
2.4 Tập quán sinh hoạt
Phong tục tập quán không chỉ đợc quy định bởi điều kiện tự nhiên địabàn nơi họ sinh sống mà còn đợc quy định bởi những yếu tố văn hoá trongcách nhìn của mỗi dân tộc
31