1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tiểu luận PHẬT GIÁO vào VIỆT NAM THỜI kỳ bắc THUỘC môn TRIẾT học

125 59 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phật Giáo Vào Việt Nam Thời Kỳ Bắc Thuộc
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Triết Học
Thể loại tiểu luận
Thành phố TP.HỒ CHÍ MINH
Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 3,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CDV Tài chính – Ngân hàng là một ngành khá là rộng, liên quan đến tất cả các dịch vụ giao dịch, luân chuyển tiền tệ. Vì vậy có rất nhiều các lĩnh vực chuyên ngành hẹp. Ngành Tài chính – Ngân hàng chia thành nhiều lĩnh vực khác nhau: Chuyên ngành Tài chính, chuyên ngành Ngân hàng, chuyên ngành Phân tích tài chính, Quỹ tín dụng…

Trang 1

TRƯỜNG ……….

KHOA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀO VIỆT NAM THỜI KỲ BẮC THUỘC ( Bài tiểu luận môn lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam ) chủ nhiệm tiểu luận: ……….

Mssv: ……….

Lớp: ………

Niên khóa: ………

hướng dẫn Khoa học: ……….

TP.HỒ CHÍ MINH

Trang 2

PHỤ LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

NỘI DUNG CHÍNH

Chương 1 NIÊN ĐẠI VÀ CON ĐƯỜNG DU NHẬP CỦA PHẬT GIÁO VÀO VIỆT NAM THỜI

KỲ BẮC THUỘC 1.1 Niên đại và con đường du nhập của Phật Giáo vào Việt Nam thời kỳ Bắc thuộc 1.1.1 Niên đại

1.1.2 Con đường du nhập của Phật Giáo vào Việt Nam thời kỳ Bắc thuộc

1.2 Các trung tâm Phật Giáo lớn và các nhà truyền giáo tiêu biểu

1.2.1 Các trung tâm Phật Giáo lớn

1.2.2 Các nhà truyền giáo tiêu biểu

1.2.2.1.Ma Ha Kỳ Vực

1.2.2.2.Khương Tăng Hội

1.2.2.3.Chi Cương Lương

1.2.2.4.Mâu Tử

Chương 2

CÁC TÁC PHẨM LỚN VÀ NỘI DUNG TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO TRUYỀN VÀO

VIỆT NAM THỜI BẮC THUỘC 2.1 Tác phẩm Lục độ tập kinh

2.2 Tác phẩm Lý hoặc Luận

Chương 3

ĐẶC ĐIỂM QUÁ TRÌNH DU NHẬP CỦA PHẬT GIÁO VÀO VIỆT NAM THỜI KỲ

BẮC THUỘC 3.1 Quá trình du nhập và quá trình hòa bình phù hợp với tín ngưỡng người Việt

3.2 Quá trình giao lưu, cạnh tranh và kế thừa

3.3 Quá trình bản địa hóa

KẾT LUẬN

PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Lê Mạnh Thát: nghiên cứu về Thiền tuyển tập anh, Nxb.TP Hồ Chí Minh, 1999

Lê Mạnh Thát: nghiên cứu về Mâu Tử, Tu thư Đại học Vạn Hạnh, 1982

Lê mạnh Thát: Khương Tăng Hội: toàn tập, tập 1, Tu thư Đại học Vạn Hạnh, 1975

Lê Mạnh Thát: Lịch sử Phật giáo Việt Nam, từ khởi nguyên đến Lý Nam Đế, Nxb.Thuận Hóa,Huế,1975, t.1

Nguyễn Hùng Hậu (chủ biên): Đại cương lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, Nxb Đại họcquốc gia Hà Nội,2002, t.1

Nguyễn Lang: Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 1,2, Nxb Văn học, Hà Nội, 1992

Nguyễn Đăng Thục: lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập 4, Nxb Tp.HCM, 1992

Nguyễn Đăng Thục: Phật giáo Việt nam, Sài Gòn, 1974

Trần Ngọc Thêm: Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo Dục, tp.HCM, 1999

Các tài liệu của Lê Mạnh Thát

TỔNG TẬP VĂN HỌC PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam

716 Nguyễn Kiệm, Q Phú Nhuận, tp.HCM

http://www.thuvienhoasen.org/vanhocpgvn-1-01.htm

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

Đất nước ta ngay nằm ở ngã tư của lưu lộ quốc tế thuộc Đông Nam Châu Á, và là nơidừng chân của các thương buôn của vùng Địa Trung Hải Từ một vị trí địa lý thuận lợinhư thế, do đó các quốc gia trong vùng này đã thiết lập các mối quan hệ kinh tế, thươngmại, văn hóa , tôn giáo… ngay từ rất sớm Vì vậy các tôn giáo lớn, trong đó có Phật giáogặp nhiều thuận lợi du nhập vào nước ta

Như chúng ta đã biết, Phật giáo du nhập vào nước ta từ thời kỳ Bắc thuộc1.Thời kỳ nàyđược đánh dấu từ khi nhà Hán bắt đầu xâm lược nước ta vào năm 111 tr.CN và kết thúcvào năm 938, sau chiến thắng oanh liệt của Ngô quyền trên sông Bạch Đằng chống quânNam Hán xâm lược, giành lại độc lập, chủ quyền cho dân tộc Ngay khi được truyền vào,

từ thế kỷ đầu, Đạo Phật đã nhanh chóng thích nghi với lối sống của người dân Việt vàtrong quá trình hình thành và phát triển trên đất nước ta, trong đó Luy lâu, trị sở quậnGiao Chỉ, ngay từ rất sớm đã trở thành một trung tâm Phật Giáo quan trọng hàng đầu ởnước ta Luy lâu là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị và học thuật của Giao Chỉ Vớiđiều kiện rất thuận lợi, nằm giữa ngã ba giao lưu văn hóa, lại là cửa ngõ để đi vào Đại lụcTrung Hoa nên có rất nhiều thương gia người nước ngoài thường xuyên lui tới làm ăn,buôn bán tấp nập Những nghi lễ quan trọng có tính quốc gia đều diễn ra ở đây, chẳng hạnnhư lễ rước Phật Có thể nói Luy lâu là 1 đô thị lớn, một trung tâm kinh tế, văn hóa, chínhtrị và học thuật lớn nhất ở nước ta thế kỉ II-III, hơn nữa lại là trung tâm Phật giáo đầu tiên

ở nước ta Chính vì vậy, Đạo Phật đã không gặp một trở ngại nào trong việc hòa nhập vàomọi giai tầng của xã hội Việt Nam Đạo Phật đã thấm vào nền văn minh Việt Nam tựnhiên và dễ dàng như nước thấm vào đất Đạo Phật đã lan tỏa khắp hang cùng ngỏ hẻmtrên lãnh thổ Việt Nam và đã có một chỗ đứng nhất định từ cung đình cho đến làng xãViệt Nam Đạo lý của Phật giáo Việt Nam cũng đã ăn sâu vào nếp sống, nếp nghĩ củangười dân Việt và đã trở thành những giá trị tinh thần vô giá cho người Việt Trong suốtchiều dài lịch sử mười tám thế kỷ qua, Đạo Phật đã chứng minh sự hiện hữu của mìnhtrong hầu hết các lãnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… và có những đóng góp,những ảnh hưởng tích cực vào các mặt nói trên Chính vì vậy mà việc tìm hiểu niên đại vàquá trình du nhập của Phật giáo vào Việt Nam thời kỳ Bắc thuộc là một việc hết sức cầnthiết trong công cuộc xây dựng Đất nước ta hiện nay, đặc biệt là trong đời sống văn hoá,tôn giáo và tín ngưỡng của dân tộc

Bài tiểu luận này sẽ được trình bày qua ba phần:

 Chương 1: Niên đại và quá trình du nhập của Phật giáo vào ViệtNam thời kỳ Bắc thuộc

 Chương 2: Các tác phẩm lớn và nội dung tư tưởng Phật giáo truyềnvào Việt Nam thời kỳ Bắc thuộc

 Chương 3: Đặc điểm quá trình du nhập của Phật giáo vào ViệtNam thời kỳ Bắc thuộc

1 Hiện nay, có nhiều nhà nghiên cúư về sử học, tôn giáo và tư tưởng Việt Nam đều có cùng ý kiến là Phật giáo du nhập vào nước ta bắt đầu từ thời kỳ Bắc thuộc Một số các quan điểm khác sẽ được trình bày rõ hơn ở chương 1 của bài tiểu luận này.

Trang 5

Hy vọng rằng qua bài tiểu luận này sẽ giúp cho chúng ta nắm bắt được nhữngnét cơ bản về quá trình du nhập Phật giáo vào Việt Nam thời kỳ Bắc thuộc và tầmảnh hưởng của nó trong đời sống của người Việt Dù hết sức cố gắng ,nhưng chắcchắn bài tiểu luận sẽ không tránh khỏi những sơ sót, rất mong nhận được những góp

ý sâu sắc của PGS.TS Trịnh Doãn Chính và Ths Cao Xuân Long là người trực tiếphướng dẫn tác giả hoàn thành bài tiểu luận này

tề, Lương, Tùy, Đường Chúng đã kế tiếp nhau xâm lược và thống trị nước ta, đồngthời chúng thi hành các chính sách vơ vét, bóc lột nhân dân ta vô cùng tàn bạo Khôngdừng lại ở đó, trong suốt hơn 1000 năm Bắc thuộc, các thế lực phong kiến Trung Quốccòn tăng cường đồng hóa dân tộc ta, âm mưu biến nước ta thành các quận huyện củaTrung Quốc Đặc biệt trong lĩnh vực văn hóa tư tưởng, chúng đã ra sức truyền bá Nhogiáo và Hán học vào nước ta, bắt nhân dân ta phải thay đổi nề nếp, phong tục, tập quántheo người Hán: từ các ăn mặc, đến cưới hỏi, tang chay, cúng giỗ tổ tiên,…

Tuy nhiên, sự đồng hóa Nho giáo và Hán học của các thế lực phong kiến phương Bắckhông hề suôn sẻ và dễ dàng Nhân dân ta đã biết sử dụng một đối trọng khác để chốnglại sự đồng hóa đó mà đại diện là Phật giáo Ấn Độ Đánh giá về đặc điểm này, PGS.TSTrịnh Doãn Chính trong tác phẩm “Đại cương lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam”1đãkhẳng định rằng: “…trong những buổi đầu dựng nước và giữ nước vô tình hay hữu ý,ông cha ta đã biết chống lại sự đồng hóa về mặt văn hóa của Hán tộc, bằng cách đề caomột nền văn hóa khác lớn không kém gì văn hóa Trung Hoa – văn hóa Ấn Độ mà đạidiện là Phật giáo Ấn Độ Qua sự đối trọng này mà văn hóa bản địa vẫn được duy trì,giữ vững và tiếp tục đi theo con đường riêng của nó.”2

1.1.2 Các con đường du nhập Phật giáo vào Việt Nam thời kỳ Bắc thuộc

1 PGS.TS Trịnh Doãn Chính phụ trách viết phần chương IV: bàn về tư tưởng triết học Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống đồng hóa thời kỳ Bắc thuộc.

2 Nguyễn Hùng Hậu (chủ biên): Đại cương lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, t.1, tr.50.

Trang 6

Như vậy Phật giáo đã du nhập vào nước ta ngay từ rất sớm Không chỉ riêng ở nước ta màPhật giáo ở Ấn Độ truyền bá đi các nước lân cận do hai đường thủy và bộ Về đường thủy thìqua miền Trung Á như Mông Cổ, Tây Tạng và Trung Hoa; rồi từ Trung Hoa qua Cao Ly vàNhật Bản Về đường bộ thì qua đảo Tích Lan và Java truyền vào Indonésie, Đông Dương vàTrung Hoa Nước ta ở vào giữa hai con đường ấy Vậy Phật giáo truyền đến đâu và từ đời nào,

ta phải khảo lấy mấy thuyết sau này :

1 Những sách của các nhà sư Việt Nam viết từ thế kỷ thứ XIII và XIV có chép : “Chính đờinhà Hán (thế kỷ thứ II và thứ III) đã có các đạo sĩ ở Bắc như ông Ma-ha-kỳ-vực (Mârijivaka),Khương Tăng Hội (K’ang-song-hoeuei) và Mâu Bác1(Meou-pô), ngài thì do theo đường thủy,ngài thì đường bộ mà đến truyền giáo ở nước Việt Nam ta"

2 Sách Ngô Chí của Trung Hoa chép: “Sĩ Nhiếp là một vị Thứ sử có oai quyền ở Giao Châu,được dân bản xứ tôn kính, khi ra đi người ta thường nghe có tiếng kiểng lẫn tiếng trống kèn,bọn rợ Hồ đi theo thắp hương hai bên xe có từng đoàn mười người…”

Theo ông Sylvain-levi nghiên cứu, thì Hồ là một thứ tiếng riêng của người Trung Hoa về thế

kỷ thứ III dùng để chỉ bọn người phương Tây Vậy Hồ đây có lẽ là người Trung Á hay người

Ấn Độ

3 Truyện Đàm Thiên Pháp sư có chép: Vua Cao Tổ nhà Tùy bảo Pháp sư rằng : “Trẫm nghĩđạo Từ bi của đức Điều Ngự, không biết báo ơn thế nào cho phải, Trẫm lạm giữ ngôi dân chủ,muốn rộng truyền đạo Tam bảo, đã thu khắp di hài Xá-lỵ, lập được 49 ngọn Bảo tháp trongnước để làm tiêu biểu cho Đạo và làm được hơn 150 ngôi chùa rồi Bây giờ Trẫm lại muốn lậpChùa dựng Tháp khắp Giao Châu (danh hiệu nước Việt Nam từ đời Bắc thuộc) để cho đạo đứcnhuần khắp thế giới Cõi Giao Châu tuy nội thuộc nước ta mà xa xôi quá, vậy Pháp sư nêntuyển lấy các thầy Sa-môn đức hạnh, sang mà hoằng hóa cho dân ấy, để hết thảy chúng sinhđều biết đạo Bồ-đề” Pháp sư liền tâu : “Cõi Giao Châu có đường thông sang Thiên Trúc gầnhơn ta Khi Phật giáo chưa du nhập vào đất Giang Đông ta2mà ở cõi ấy đã xây dựng được hơn

20 ngọn Bảo tháp, độ được hơn 500 Tăng sĩ, dịch được 15 bộ kinh rồi Vì ở bên ấy gần nướcPhật hơn ta Bấy giờ có các vị Ma-ha-kỳ-vực, Khương Tăng Hội, Chi Cương Lương và MâuBác đến ở truyền đạo Ngài muốn bố thí một cách bình đẳng, phái Chư Tăng sang truyềnđạo, nhưng ở đó họ đã có đủ rồi, ta không cần phải sang nữa.”

4 Sách Pháp vụ thực lục chép : “Vào hồi thế kỷ thứ ba có một ông tên là Kaudra gốc ở Đông

ấn, gióng Brahmanes qua Giao Châu một lần với ông Ma-ha-kỳ- vực…”

Cứ theo mấy dẫn chứng trên đều thấy hợp nhau và cùng thấy mấy ngài Ma-ha-kỳ-vực,Khương Tăng Hội,Chi Cương Lương, Mâu Bác là bậc truyền đạo đầu tiên ở nước ta

Ta thấy bốn ngài truyền Phật đạo ấy, một ngài là người Trung Hoa (Mâu Bác) còn là người Ấn

Độ cả Và so niên đại thì ta thấy ngài Mâu Bác là người truyền Phật giáo ở đất Giao Châu sớmnhất : năm 189 sau Tây lịch kỷ nguyên Vậy ta có thể kết luận : Phật giáo du nhập vào nước tavào khoảng cuối thế kỷ thứ hai

1 Mâu Tử.

2 Phật giáo tuy truyền vào Trung Quốc từ năm 67 sau Tây lịch kỷ nguyên, nhưng lâu về sau mới phổ cập tới Giang Đông.

Trang 7

(Ngoài ra lại có thuyết nói Phật giáo truyền vào Giao Châu từ thế kỷ đầu, ngang với khi Phậtgiáo du nhập vào Trung Quốc (67 Tây lịch);[3] hoặc giả đó là do Giao Châu bấy giờ ở vàogiữa con đường của các nhà truyền đạo, hoặc khách buôn bán của ấn Độ Chi Na qua lại vớinhau, có ghé, nhưng không ở nhất định để truyền giáo, nên không còn di tích gì chăng ? Vìtheo ông Sylvain và ông Pelliot kê cứu thì Trung Quốc và ấn Độ giao hảo với nhau từ năm 245trước Thiên Chúa giáng sinh đến thế kỷ thứ bảy đều lấy đất Giao Chỉ, Giao Châu làm trunggian Bọn du khách qua lại phải đi ngang qua Bắc Kỳ bấy giờ và bể Nam Hải Như vậy ta cóthể đoán đó chỉ là những nhà đạo sĩ và những người buôn bán sùng đạo Phật mới đem tínngưỡng đến xứ này về thời ấy, chứ chưa hẳn là truyền bá giáo lý).

Ở bên Trung Hoa từ sau khi vua Hán Linh Đế mất, chính trị trong nước rối ren, những cuộcnội loạn bắt đầu sửa soạn cái loạn Tam quốc sau này, thì đất Giao Châu được yên ổn dướiquyền chính trị của Thái thú Sĩ Nhiếp (187-122)

Trong sách Mâu Tử ký chép: “Sau khi Hán Linh Đế mất, trong nước rối loạn, chỉ có đất GiaoChâu là tạm yên, nên những sĩ phu đều sang tránh loạn ở đó Nhiều nhà đạo sĩ mang truyềncác ngoại đạo như Thần đạo, Tiên đạo, Trường sanh đạo .” mà Mâu Bác lại qui y Phật giáosau khi đã khảo về Lão giáo (theo sách Mâu Tử Lý hoặc)

Vào khoảng năm 194 - 295 ông Mâu Tử sang Giao châu tự khảo Phật đạo và truyền đạo.Những người Trung Hoa khác cũng bắt chước[4]

Xét theo mấy dẫn chứng trên và trở lại dẫn chứng thứ hai đầu mục này, ta có thể biết đại kháiPhật giáo ở ta về cuối thế kỷ thứ hai và đầu thế kỷ thứ ba; hồi ấy đất Giao Châu đã có dư luận

về đạo Phật ở trong đám nhân gian bởi những người Trung Hoa và người Ấn Độ Nhưngchẳng qua đó chỉ là từng khu vực thôi, chớ sự thật vị tất dân nước đã biết hết

Nhưng theo lời Đàm Thiên (dẫn chứng thứ ba chương này) thì nước ta cũng đã dựng chùa, xâytháp đến 20 ngọn, Tăng sĩ đến 500 người và kinh dịch đã lược 15 bộ Dịch kinh thì có ngàiKhương Tăng Hội dịch chữ Phạn ra chữ Hán - thời ấy ta đã có theo học chữ Hán rồi - vào đầuthế kỷ thứ ba; bấy giờ Giao Châu nội thuộc Đông Ngô

Năm 225 - 226 cũng có một người nước Nhục Chi (Indoscythé) tên là Kalyânaruci tới GiaoChâu, dịch kinh Pháp Hoa Tam Muội

Tuy nhiên ở Giao châu từ ấy đến hết thời Bắc thuộc lần thứ 2 (43 - 544) sang đến nhà Tiền Lý(544-548) rồi đến đầu đời Bắc thuộc lần thứ ba (603-939) Phật giáo vẫn còn ở thời kỳ phôithai, tuy có Tăng sĩ, có chùa, nhưng đó mới chỉ là một điều kiện tôn giáo tín ngưỡng thôi Vìbấy giờ ta ảnh hưởng trực tiếp với Ấn Độ hơn là với Trung Hoa; bởi vậy trong một thời giankhá dài ấy, ngoài mấy người Ấn Độ thông chữ Hán dịch kinh, còn không thấy ai dịch nữa vàcũng chẳng có một ai sang Trung Hoa cầu kinh chữ Hán, nên Phật giáo trong thời ấy có lẽ chỉ

là hình thức hơn là tinh thần Cũng là bởi từ khi Phật giáo du nhập nước ta (khoảng năm 194 195) ta còn nội thuộc nước Trung Hoa đến năm 544, những nhà cầm quyền của chính phủ đô

-hộ, không chính thức nhận Phật giáo cho người bản xứ thờ làm một tôn giáo đặc biệt, nênkhông chính thức ủng hộ

Ngày nay, căn cứ các tài liệu và các lập luận khoa học của nhiều học giả,

giới nghiên cứu hầu hết đều đồng ý rằng Đạo Phật đã được truyền vào Việt

Nam rất sớm, nhất là từ cuối thế kỷ thứ II đến đầu thế kỷ thứ III Tây Lịch qua

hai con đường Hồ Tiêu và Đồng Cỏ

1 Phật Giáo du nhập qua con đường Hồ Tiêu:

Con đường Hồ Tiêu (Chemi des epices) tức là đường biển, xuất phát từ các hải

Trang 8

cảng vùng Nam Ấn rồi qua ngã Srilanka, Indonesia, Việt Nam lợi dụng đượcluồng gió thổi định kỳ vào hai lần một năm phù hợp với hai mùa mưa nắng ởkhu vực Đông Nam Á, những thương nhân Ấn đã tới các vùng này để buôn bánbằng những con thuyền buồm Trong các chuyến đi viễn dương này, các

thương nhân thường cung thỉnh một hay hai vị tăng để cầu nguyện cho thủy thủđoàn và các vị tăng này nhờ đó mà đến truyền bá Đạo Phật vào các dân tộc ởĐông Nam Á Giao Châu tiêu biểu bấy giờ là trung tâm Luy Lâu, là nơi tụ điểmnghỉ chân giao lưu của các thương thuyền Lịch sử chính thức xác nhận năm

240 trước Tây lịch, Mahoda-con vua A dục (Asoka) đã đưa Đạo Phật vào ViệtNam (2) Tư liệu trong Lĩnh Nam Chính Quái cho biết một dữ kiện chứng tỏ sự

có mặt của Đạo Phật vào đời Hùng Vương thứ 3 (triều đại thứ 18 Vua Hùng kể

từ trước công nguyên 2879-258) Đó là câu chuyện công chúa Tiên Dung, congái vua Hùng Vương thứ 3 lấy Đồng Tử Chuyện kể rằng Đồng Tử và TiênDung lập phố xá buôn bán giao thiệp với người nước ngoài Một hôm Đồng Tửtheo một khách buôn ngoại quốc đến Quỳnh Viên và tại đây Đồng Tử đã gặpmột nhà sư Ấn Độ ở trong một túp lều Nhờ đó mà Đồng Tử và Tiên Dung đãbiết đến Đạo Phật (3) Qua dữ kiện này ta thấy sự hiện diện của Phật Giáo docác tăng sĩ Ấn Độ truyền vào Việt Nam khá lâu trước Tây lịch

Một bài nghiên cứu của Ngô Đăng Lợi, viện nghiên cứu khoa học HảiPhòng viết: "Vùng Đồ Sơn mà có nhà nghiên cứu khẳng định chính là thành Nê

Lê nơi có bảo tháp của vua Asoka Nếu quả vậy thì từ thế kỷ thứ ba trước Tâylịch, Đạo Phật đã được trực tiếp truyền vào nước ta" (4) Và Thiền Uyển TậpAnh cũng ghi nhận cuộc đàm luận giữa thiền sư Thông Biện và Thái Hậu PhùThánh Linh Nhân (Ỷ Lan) (khi bà hỏi về nguồn gốc Đạo Phật Việt Nam vàodịp các cao tăng trong nước tập hợp tại chùa Khai Quốc (nay là chùa TrấnQuốc - Hà Nội) vào ngày rằm tháng 2 năm 1096) Thông Biện dẫn chứng lờipháp sư Đàm Thiên (542-607 TL) đối thoại với Tùy Cao Đế (?-604 TL): "Mộtphương Giao Châu, đường sang Thiên Trúc, Phật pháp lúc mới tới, thì GiangĐông (Trung Hoa) chưa có, mà Luy Lâu lại dựng chùa hơn 20 ngôi, độ tănghơn 40 người, dịch kinh được 15 quyển, vì nó có trước vậy, vào lúc ấy thì đã cóKhâu Đà La, Ma Ha Kỳ Vực, Khương Tăng Hội, Chi Cương Lương, Mâu Báctại đó" (5) Ma Ha Kỳ vực, Khâu Đà La (188 TL) người Ấn Độ hay Trung Á;Mâu Bác (165-170 TL) người Trung Hoa; Khương Tăng Hội (200-247 TL)người Ấn Độ; Chi Cương Lương (?-264 TL) người xứ Nhục Chi, theo sử chép

đó là các vị sư có mặt sớm nhất ở Giao Châu vào khoảng thế kỷ thứ hai đến thế

kỷ thứ ba Có lẽ đây chỉ là những vị được sử ghi lại tên tuổi, kỳ thực đây khôngphải là phái đoàn truyền bá đầu tiên đến Việt Nam, vì từ thế kỷ thứ ba trướcTây lịch đến thế kỷ thứ hai sau Tây Lịch chắn chắc đã có nhiều tăng sĩ đặt chânđến hoằng Pháp tại Việt Nam, cho nên Pháp sư Đàm Thiên chỉ dẫn phần giớihạn và căn cứ vào sự có mặt của tác phẩm Lý hoặc Luận của Mâu Bác

Qua nhiều tài liệu lịch sử và dựa vào địa lý, thiên nhiên, cư dân, lịch sử cóthể cho chúng ta một kết luận chắn chắc rằng Đạo Phật đã được truyền trực tiếpvào Việt Nam chứ không thông qua Trung Hoa bằng con đường Hồ Tiêu Tuy

Trang 9

nhiên, cũng có nhiều cứ liệu lịch sử chứng minh rằng Đạo Phật đồng thời đượctruyền vào Việt Nam qua con đường Đồng Cỏ.

2 Phật Giáo du nhập qua con đường Đồng Cỏ:

Con đường Đồng Cỏ (Chemin des Steppes) tức là đường bộ còn gọi là conđường tơ lụa (6) con đường này nối liền Đông Tây, phát xuất từ vùng ĐôngBắc Ấn Độ, Assam hoặc phía Trung Á, một nhánh của đường tơ lụa đi từ Châu

Âu qua các vùng thảo nguyên và vùng sa mạc ở Trung Á tới Lạc Dương bằngphương tiện lạc đà Cũng có thể các thương nhân và tăng sĩ qua vùng Tây Tạng

và các triền sông Mekong, sông Hồng, sông Đà mà vào Việt Nam Cuốn Lịch

sử Phật Giáo Việt Nam (Hà Nội, 1988) có nói rõ: "Các thương nhân xuất phát

từ Trung Ấn có thể dùng tuyến đường bộ ngang qua đèo Ba Chùa và theo sôngKanburi mà xuống Châu Thổ Mênam, bằng tuyến đường hiện nay vẫn nối liềncảng Moulmein với thành phố Raheng, nằm trên một nhánh của con sôngMênam (…) chính tuyến đường này dẫn tới vùng Bassak ở trung lưu sôngMekong, địa bàn của vương quốc Kambijan Vương quốc này có thể là donhững di dân Ấn Độ thành lập trước công nguyên Rất có thể các tăng sĩ Ấn Độvào đầu công nguyên đã theo con đường này mà đến đất Lào, rồi từ đây vượtTrường Sơn sang Thanh Hóa hay Nghệ An"

Những dữ kiện về con đường Hồ Tiêu và con đường Đồng Cỏ có liên quanđến sự giao lưu của Việt Nam tuy chưa nhiều chứng minh có những chứng tích

mà lịch sử còn để lại, dù lịch sử truyền miệng hay thành văn, theo lịch sử PhậtGiáo Việt Nam thì vào thế kỷ thứ II trước Tây lịch, vua Ấn Độ Asoka sau cuộcđại hội kết tập kinh điển lần thứ ba, vua và trưởng lão Tissa Moggaliputta đãgởi nhiều phái đoàn Như Lai sứ giả lên đường truyền bá chánh pháp cho cácnước thuộc vùng viễn đông, trong đó có đoàn của hai vị cao tăng là Uttara vàSona được phái đến Suvana -Bhumi, xứ Kim Địa Tuy có nhiều ý kiến khácnhau về vùng Kim Địa nhưng ý kiến trong quyển lịch sử Phật Giáo Thế Giới (7)thì cho rằng vùng Kim Địa này là bán đảo Đông Dương từ Miến Điện kéo dàiđến Việt Nam Vấn đề này được sách Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam (sđđ) viết:

"sử liệu Phật Giáo Miến Điện chép rằng hai vị cao tăng đó (Uttara và Sona) đãđến Miến Điện truyền giáo nhưng sử liệu Phật Giáo tại Thái Lan cũng ghi làhai cao tăng Uttara và Sona có đến Thái Lan truyền giáo Có học giả dựa vàomột tài liệu Trung Hoa nói rằng ở Giao Châu tại thành Nê Lê, có bảo tháp củavua Asoka, và học giả đó xác định thành Nê Lê chính là Đồ Sơn hiện nay (cáchHải Phòng khoảng 12km)"

Cùng có ý kiến như trên thì GS.VS Trần Ngọc Thêm1cũng cho rằng có 2 con đường du nhậpPhật Giáo vào Việt Nam là Ấn Độ và Trung Quốc Trong đó, Phật Giáo đã được truyền trựctiếp từ Ấn Độ vào Việt Nam ngay từ đầu công nguyên; còn từ Trung Hoa, Phật Giáo đượctruyền vào Việt Nam bởi 3 tông phái lớn là Thiền Tông, Tịnh độ tông và Mật tông

a.Thiền Tông :

1 Trần Ngọc Thêm: Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, tp.HCM, 1999, tr.242.

Trang 10

Là tông phái hay đúng hơn là một pháp môn tu tập có từ thời Đức PhậtThích Ca tại Ấn Độ (trong hội Linh Sơn) rồi truyền xuống cho Tôn giả Ca Diếp,lần lượt cho đến Tổ thứ 28 Ấn Độ là Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma) Đến năm

520 Tổ Bồ Đề Đạt Ma, vốn là thái tử thứ ba của vua Kancipura, Nam Ấn, vângtheo lời thầy là Bát Nhã Đa La (Prajnatara), Bồ Đề Đạt Ma đến Trung Hoa đểhoằng dương Phật pháp Tại nơi ây, Thiền Tông đã được hình thành và nhanhchóng hưng thịnh

Thiền hay còn gọi là tĩnh lự, chủ trương tập trung trí tuệ để tìm ra chân lý

Tu theo pháp môn này đòi hỏi hành giả phải có nhiều công phu và khả năng trítuệ, do vậy chỉ phổ biến ở tầng lớp trí thức và giai cấp thượng lưu, và cũngchính nhờ họ ghi chép lại mà chúng ta ngày nay mới biết được lịch sử ThiềnTông ở Việt Nam Thời kỳ Bắc thuộc đánh dấu sự phát triển củaåmketing 2dong thiền đầu tiên ở nước ta

Dòng thiền thứ nhất: được Tổ Tỳ Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci) sáng lập.Ngài là người Nam Thiên Trúc, sang Trung Hoa học đạo và được tổ thứ bathiền tông Trung Hoa là Tổ Tăng Xán khuyên nên "mau đi về phương nam màtiếp xúc với thiên hạ, không nên ở lâu tại đây" Ngài từ biệt và đến Việt Namvào năm 580, ở tại chùa Pháp Vân (nay là Thuận Thành Hà Bắc) để hoằng pháp

và truyền cho tổ thứ hai là ngài Pháp Hiền (người Việt Nam) Đây là dòng thiền

có tích cách dân tộc Việt Nam, vừa biểu lộ được sinh hoạt tâm linh siêu việtcủa Phật Giáo vừa biểu lộ được đời sống thực tế và đơn giản của quần chúngnghèo khổ Việt Nam Dòng thiền này truyền được 19 thế hệ

Dòng thiền thứ hai: là thiền phái Vô Ngôn Thông, do thiền sư Vô NgônThông người Trung Hoa sáng lập tại chùa Kiến Sơ (Phù Đổng, Hà Bắc) vàonăm 280 Người kế nghiệp ngài là thiền sư Cảm Thành Đây là thiền phái chịuảnh hưởng Phật Giáo Trung Hoa sâu đậm, tuy nhiên vẫn rất gần gũi với đờisống xã hội, hòa nhập vào đời sống người dân trong khi vẫn duy trì được sinhhoạt tâm linh độc lập của mình Thiền phái này truyền được 17 thế hệ

Qua thời kỳ Bắc thuộc, Thiền còn phát triển qua 2 giai đoạnnữaåmketing:dòng thiền thứ ba: là thiền phái Thảo Đường, do thiền sư ThảoĐường (người Trung Hoa) sáng lậpDòng thiền này truyền được 6 đời Dòngthiền thứ tư: đó là thiền phái Trúc Lâm do vua Trần Nhân Tông (1258-1368)khai sáng thống nhất được các thiền phái tồn tại trước đó và toàn bộ Giáo HộiPhật Giáo đời Trần về một mối

b.Tịnh Độ Tông:

Khác với Thiền Tông, Tịnh Độ Tông chủ trương phải dựa vào tha lực tức

sự giúp đỡ từ bên ngoài Thật ra, Thiền hay Tịnh Độ cũng chỉ là những phápmôn tu tập thích hợp cho nhiều đối tượng khác nhau do Đức Phật truyền giáo ra.Chính Đức Phật Thích Ca đã nhờ vào tự lực của mình để đến giác ngộ thì cầnphải giúp đỡ họ, sự trợ lực hay tha lực này rất quan trọng Điều này gợi cho tín

đồ liên tưởng đến một cõi Niết Bàn cụ thể đó là cõi Tịnh Độ hay thế giới CựcLạc do Đức Phật A Di Đà làm giáo chủ Sự giúp đỡ đó còn cho thấy bản thâncủa người tín đồ cần thường xuyên đi chùa dâng hương, cúng dường, bố thí,làm những điều thiện, tránh các điều ác và thường xuyên niệm danh hiệu Đức

Trang 11

Phật A Di Đà để đạt đến nhất tâm bất loạn và muốn đạt đến chỗ nhất tâm bất

loạn này, hành giả trong lúc niệm Phật phải hình dung, quán tưởng về thế giới

cực lạc để tâm mình hướng tới

Nhờ cách thức tu tập đơn giản như vậy nên Tịnh Độ Tông là tông phái phổ

biến khắp đất nước Việt Nam Đâu đâu ta cũng gặp người dân tụng Kinh A Di

Đà và niệm danh hiệu của Đức Phật A Di Đà Tượng Phật A Di Đà cũng thuộc

loại tượng Phật lâu đời và phổ biến ở Việt Nam Điển hình là pho tượng Phật A

Di Đà bằng đá, cao gần 2m,thờ tại chùa Phật Tích, huyện Tiên Du, Tỉnh Bắc

Ninh, được tạo tác dưới triều Lý Thánh Tông năm 1057 Đây là một bằng

chứng đánh dấu sự ảnh hưởng Tịnh Độ Tông đầu tiên ở Việt Nam

c.Mật tông:

Là một tông phái chủ trương sử dụng hình ảnh cụ thể và những mật ngữ,

mật chú để khai mở trí tuệ giác ngộ Tương truyền Mật Tông do Phật Đại Nhật

chủ xướng và có hai bộ kinh chính là Kinh Đại Nhật và Kinh Kim Cương Mật

tông truyền vào Việt Nam không còn độc lập như một tông phái riêng mà

nhanh chóng hòa vào tín ngưỡng dân gian, pha trộn với các truyền thống như

chẩn tế, cầu đồng, dùng pháp thuật, yếm bùa trị tà ma và trị bệnh Mật tông

không có dấu hiệu phát triển rõ ràng ở Việt Nam, chỉ tuỳ thuộc vào sự thọ trì

của từng chùa và của mỗi cá nhân có cơ duyên đến với tông phái này

Như vậy từ quan điểm này, chúng ta có thể thấy rằng, thậm chí Phật Giáo Ấn Độ đã đượctruyền vào Việt Nam sớm hơn cả Trung Quốc: “Phật giáo truyền vào Trung Hoa chưa phổ cậpđến Giang Đông mà sứ ấy (Giao Châu) đã xây Luy Lâu jơn 20 bảo tháp, độ hơn 500 vị tăng vàdịch được 15 bộ kinh rồi Thế là sứ ấy theo Đạo Phật trước ta.”1Nhà Nghiên cứu Phật học LêMạnh Thát lại cho rằng Phật giáo du nhập vào nước ta ngay từ thời các vua Hùng (thế kỉ III-Itr.CN) Theo ông, nhà truyền giáo đầu tiên vào nước ta là Phật Quang (có bản ghi là NgưỡngQuang) Ngài truyền phép cho Chử Đồng Tử (nhân vật trong truyền thuyết) Chử Đồng Tử sau

đó giảng lại đạo Phật cho vợ mình là Tiên Dung Hai người giác ngộ, bỏ phố phường, cơnghiệp tìm theo thầy học Đạo

Còn theo nghiên cứu của tập thể tác giả cuốn “Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam”2thì cónhiều học giả cho rằng Phật Giáo đã du nhập vào nước ta từ khoảng thế kỉ thứ I tr.CN: năm 43khi Hai Bà Trưng thắng trận, một trong các nữ tướng của hai bà là Bát Nàn phu nhân đã xuấtgia

Nói chung căn cứ theo các tư liệu trên thì chúng ta có thể khẳng địng rằng Phật Giáo

truyền vào Việt Nam khoảng đầu kỷ nguyên Tây lịch bằng những phương tiện hòa

bình và vì thế không một giọt máu nào đã chảy, không một giọt lệ nào rơi vì sự truyền

bá Đạo Phật vào Việt Nam

1.2 Các trung tâm Phật giáo lớn và các nhà truyền giáo tiêu biểu thời

kỳ Bắc thuộc

1.2.1 Các trung tâm Phật giáo lớn thời kỳ Bắc thuộc

Khi bàn đến các trung tâm Phật giáo đầu tiên ở nước ta thì hầu hết các học giả đầu cho

rằng vào thời Sỹ Nhiếp (187-226) Phật giáo đã không chỉ có mặt, mà còn hưng thịnh ở

1 Trần Ngọc Thêm: Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, tp.HCM, 1999, tr.242.

2 Nguyễn Hùng Hậu: sđd, tr.42

Trang 12

nước ta Khi đó ở nước ta đã có một trung tâm Phật giáo nổi tiếng là Luy Lâu, được

thành lập do sự viếng thăm củaåmketing các thương gia và tăng sĩ Ấn Dộ trực tiếp

bằng đường biển chứ không phải từ Trung Hoa truyền xuống1

Có thể nói, nếu Cổ Loa (Đông Anh – Hà Nội) là đô thị sớm nhất trong lịch sử nước ta, thì LuyLâu đã đứng hàng thứ hai Nhưng có lẽ không có thành thị cổ nào ở nước ta thời Phong Kiếnlại có sự phát triển thăng trầm như Thành Luy Lâu

Luy lâu là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị và học thuật của Giao Chỉ Với điều kiện rấtthuận lợi, nằm giữa ngã ba giao lưu văn hóa, lại là cửa ngõ để đi vào Đại lục Trung Hoa nên

có rất nhiều thương gia người nước ngoài thường xuyên lui tới làm ăn, buôn bán tấp nập.Những nghi lễ quan trọng có tính quốc gia đều diễn ra ở đây, chẳng hạn như lễ rước Phật.Luy lâu là cửa ngõ thương mại vào đại lục Trung Hoa Hàng năm các sứ thần ở các nước phíaNam, trước khi đến kinh đô Trung Hoa thì đều dừng chân lại 1 thời gian ở Luy lâu để họcthem văn hóa, ngôn ngữ, phong tục, tập quán của người Trung Hoa mặt khác các tăng sĩ

Trung Quốc khi muốn xuống các nước phía Nam cũng đều dừng chân ở Luy Lâu để học ngônngữ, văn hóa bản địa Có thể nói Luy lâu là 1 đô thị lớn, một trung tâm kinh tế, văn hóa, chínhtrị và học thuật lớn nhất ở nước ta thế kỉ II-III Nhận xét về Luy Lâu, PGS.TS Doãn Chínhkhẳng định: như khâu trung gian tối cần thiết để giao lưu kinh tế, văn hóa, thương mại giữaTrung Hoa đại lục với các nước phía Nam, đặc biệt với đại lục Ấn Độ, nó là cầu nối giữa haiđại lục”2

Thành Cổ Luy Lâu còn có tên gọi khác là Siêu Loại, Lũng Khê, thuộc xã Thanh Khương,huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh Ngôi thành gắn liền với thời kỳ giặc phương Bắc xâmlược nước ta từ Tây Hán nhà Đường Chúng xây dựng Luy Lâu thành một trung tâm chính trị,văn hoá, kinh tế, tôn giáo nhằm xâm lược thôn tính lâu dài, áp bức bóc lột đồng hoá nhân dân

ta, dân tộc ta

Song chính nơi đây đã ghi dấu những chiến công chói ngời của nhân dân ta chống giặcphương Bắc từnhững năm đầu công nguyên (Khởi nghĩa Hai Bà Trưng đã phá tan ách thốngtrị của quân Nam Hán)

Thành Luy Lâu có cấu trúc dạng hình học chữ nhật quy mô lớn với luỹ, hào, cửa, vọnggác với diện tích khoảng (3000mx 200m) nằm hơi chếch theo hướng Tây Nam Phía đôngthành nằm trọn trong thôn Lũng Khê Phía Tây và một phần phía Bắc thành giáp xã Trí Quả,Phía Nam giáp xã Thanh Khương, phía Tây và Nam thành có con sông Dâu lại là một ngoạihào tự nhiên bao bọc toà Thành, đồng thời là đường giao thông thuỷ rất quan trọng Trước đây,

4 góc thành có 4 trạm gác gọi là ' Tứ trấn", ở đoạn giữa phần quay ra sông Dâu có một ngôinàh nhỏ gọi là Vọng Giang Lâu với lối kiến trúc thời Lê Mạt

Để tìm hiểu các đoạn tường thành được đắp qua các thời đại, các nhà khảo cổ học đã cắt mộtđoạn thành còn tương đối nguyên vẹn ở giữa góc Tây Nam dài hơn 13m, rộng 2m, sâu 6m đãcho thấy: từ mặt xuống sâu 1,5m chỉ gặp đồ gốm sứ có niên đại Lý - Trần, ở độ sâu 1,5 xuống4,5m thấy nhiều di vật kiến trúc như đầu ngói ống có trang trí hoa văn, gạch xây dựng có trangtrí văn chám đơn, chám lồng có niên đại từ thời Lục Triều - Tuỳ Đường Đến lớp cuối cùng

1 1 Nguyễn Hùng Hậu (chủ biên): Đại cương lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội,

2002, t.1, tr.42.

2 Nguyễn Hùng Hậu sđd, tr.36.

Trang 13

tìm thấy nhiều mảnh nồi, vò bát, xương động vật và than tro, những di vật mang đặc trưng sảnphẩm của thời Đông Hán muộn, thời kỳ mà Sỹ Nhiếp có mặt tại đây.

Với những giá trị lịch sử to lớn đó, thành Luy Lâu đã sớm được nhà nước đầu tư, nghiên cứu,bảo vệ và xếp hạng từ ngày 13/1/1964 theo quyết định số 29/VHQĐ công nhận di tích lịch sửcấp quốc gia

Tuy nhiên, toà thành hiện nay chỉ còn lại một bãi đất trống với một đoạn tường thành còn sótlại, những di tích mộ táng, khu cư trú, hào sâu, thành đất cao tất cả đều đã và đang bị conngười xâm hại

Luy Lâu (hay Liên Lâu) là toà thành đầu tiên mà Phật Giáo từ Ấn Độ đã truyền bá sangtrên phần đất Quận Giao Chỉ Vào thế kỷ thứ II sau Công Nguyên, những đoàn buôn Ấn Độđầu tiên đã đến buôn bán tại Luy Lâu; đi theo họ còn có những tăng lữ Phật Giáo, để rồi conđường buôn cũng trở thành con đường truyền giáo Đạo Phật theo con đường phía Nam đã vàoViệt Nam (ngõ Ấn Độ) sớm hơn con đường từ Trung Quốc cũng vì lý do kể trên; như vậy,trung tâm Phật Giáo đầu tiên của nước ta cũng là thành Luy Lâu

Người ta biết được những di tích, tài liệu và sự kiện chung quanh thành Luy Lâu, vì tạitrung tâm nầy cũng như những di chỉ tại chùa Dâu đã khẳng định những giá trị liên hệ Hiệnvật là một toà thành cổ; trong thành có đền thờ của Sĩ Nhiếp Mặt khác, quanh vùng nầy cònnhiều di tích về đình chùa, bi ký

Đáng lưu ý hơn là Phật tích trong chùa Dâu; cuốn "Cổ Châu Phật Bản Hạnh" được ấn hành, đãxác định nhiều chi tiết cho biết: đây là đô thị trung tâm của những thế kỷ II, III Xa hơn bêncạnh đền Sĩ Nhiếp, lại còn có điện thờ tại vùng Tam Á; những tài liệu chứng minh thêm cho vịtrí thủ phủ của Sĩ Vương (theo Trần Văn Giáp)

Long Biên: Những sách sử cũ thường nhắc đến một toà thành cổ có tên là Long Biên,tồn tại vào những thế kỷ Bắc thuộc nằm trong vùng đất nầy Nhiều cuộc nghiên cứu thực địacho biết: Long Biên chính là thành Luy Lâu Trong sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư có đoạnchép liên hệ đến thời kỳ nầy như sau:

" ( ) Sĩ Nhiếp được đổi đến làm quan Thái Thú đất Giao Châu (tức Giao Chỉ), phong là Long

Độ Đình Hầu, đóng đô tại thành Liên Lâu (Luy Lâu), tức là thành Long Biên " Cho tới năm

210, khi Ngô Tôn Quyền cử Bộ Chất đến nhậm chức Thứ sử đất Giao châu, thì Sĩ Nhiếp đemanh em ra đón và vâng theo mệnh lệnh của viên thứ sử mới nầy Ngô Tôn Quyền đã phongcho làm Tả Tướng Quân Sau nầy, nhờ những công lao đã dụ được bọn thổ hào trong vùng đấtÍch Châu trở về quy thuận với nhà Ngô cho nên đã được thăng chức Vệ tướng quân, đồng thờicủa được phong Long Biên Hầu

Danh xưng Long Biên có nghĩa như thành Luy Lâu Cả đến thời gian sau nầy thì Sĩ Nhiếp vẫnlưu lại thành Luy Lâu Tước Long Biên Hầu được phong cho Sĩ Vương, cũng để nhấn mạnhđược thêm hai địa danh cũng chỉ là một mà thôi

Khi bàn đến giai đoạn nầy, sử gia Ngô Sĩ Liên đã viết trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nhưsau: Người tại địa phương nầy vẫn cho Sĩ Nhiếp là thần (!), làm miếu để thờ, gọi là "Tiên SĩVương" (Đền thờ ở thành Long Biên) Hiện nay những di tích về ngôi đền nầy vẫn còn một

số vết tích của thành cổ Luy Lâu Luy lâu chính là Long Biên cũ vậy

Kiến trúc thành Luy Lâu

Vì được xây trong thời kỳ Đông Ngô cho nên thành Luy Lâu có những tính chất nhưnhững thành cổ trước đây, trên nhiều địa hạt Thành nầy là trú khu về hành chánh cũng như vềquân sự của những viên quan lại cai trị Tàu

Trang 14

Theo quy hoạch, thành Luy Lâu là một toà thành có hình chữ nhật; có chiều dài khoảng

600 mét; chiều rộng hơn 300 mét Trong giai đoạn còn thiếu thốn nguyên vật liệu, thành nầychỉ được đắp lên bằng đất Với tính quân sự phòng ngự, bốn góc của thành có bốn hoả hồi,được đắp rộng nhô ra về phía ngoài Về cổng thành chính, cũng được đắp nhô ra thêm phíatrước để xây toà canh gác về phía trên của mặt thành Phía trước thành có con sông Dâu, trởthành một loại ngoại hào thiên nhiên che chở rất tốt cho toàn thành

Di tích: Những di tích của thành cổ Luy Lâu trải qua 18 thế kỷ qua cho nên chẳng đượcđược là bao nhiêu Trong những kiến trúc, chỉ có đền thờ của Sĩ Nhiếp được xây dựng vàtrùng tu lại vào đời nhà Lê (?), cho nên đến nay vẫn còn được gần như nguyên vẹn

Trong thời gian vừa qua, đã có nhiều cuộc khai quật của những nhà khảo cổ học trong vàngoài nước, tiến hành những đường cắt để nghiên cứu, kết quả đã tìm được nhiều kết luậnquan trọng về thành cổ nầy Khi khai quật ở độ sâu 1,5 mét, đã tìm thấy nhiều bếp lửa đặt kềnhau và những vật liệu nấu nướng vẫn còn lưu được

Tìm kiếm trong những lớp tro than, còn thấy được những chiếc chông củ ấu nấu bằng đất

đã được nung non lửa, màu đỏ gạch Với niên đại thế kỷ II - III, người ta đã thấy rằng toàthành Luy Lâu trong giai đoạn nầy đã có độ nung nóng vật liệu độ khá cao Những vũ khíđược tạo ra trong giai đoạn nầy cũng được nung đỏ với nồng độ tương tự như thế

Những di tích về bếp nung trong thành Luy Lâu cũng xác định thêm nhiều giá trị khác vềcông nghệ, chế tạo và cách xây đắp thành cổ loại nầy Qua những lớp khai quật thì thành LuyLâu cũng được tu bổ nhiều lần, cho đến giai đoạn sau cùng, bị suy thoái cho đến những vếttích còn lưu lại như ngày nay

Văn hoá: Đô thị cổ Luy Lâu còn có nhiều giá trị trên các mặt Trong thời gian Sĩ Nhiếpcầm quyền tại Luy Lâu suốt trong vòng 40 năm, đúng vào lúc tại Trung Quốc có nhiều biếnđộng tranh bá đồ vương, nhưng tại đất Giao Chỉ thì đang trong thời kỳ mở mang, thịnhvượng Không ít những quan lại, dân chúng Trung Hoa đã chạy sang lánh nạn tại Giao Chỉ,quanh thành Luy Lâu; tất nhiên không ít người lập nghiệp vững vàng chung quanh vùng đấtnầy

Cũng trong thời gian nầy, Luy Lâu nằm trên trục giao thông từ miền Tây Á và nhữngthuyền buôn từ Ấn Độ theo đường biển sang đất Giao Chỉ, vào buôn bán tại Luy lâu Thành cổnầy cũng mở mang thêm Quanh thành Luy Lâu có những con sông Cầu, sông Đuống, sôngHồng, lên ngược, xuống xuôi, giao thông đường thủy đều tiện lợi

Cư dân và sinh hoạt tại thành Luy Lâu

Vị thế: Trên vùng đất của xứ Giao Chỉ, suốt trong một thời kỳ dài từ cuối thế kỷ thứ IIcho đến thế kỷ thứ IX, thành cổ Luy Lâu là vị trí quan trọng, bành trướng, không thua kém vaitrò của một đô thị lớn nhất của bất cứ vùng nào trong tình trạng tương tự

Những tư liệu về thành nầy đến nay vẫn còn hiếm; chẳng hạn, các nhà dân tộc học đãchưa thể có được một thống kê dân số chính xác trong vùng thời đó, tuy nhiên, với sức pháttriển và vai trò quan trọng, nhất định là có mật độ cao

Thành phần cư dân ở nơi đây cũng rất phong phú Trước hết là người Việt bản điạ trongvùng nầy, đa số đều tập trung sinh sống tại trị sở Luy lâu và những vùng phụ cận, ngoài ranhững những Trung Hoa sang đây làm ăn hay lánh nạn cũng là con số không nhỏ Trong sốnhững người Trung Hoa đến đây sinh sống tạm thời hay vĩnh viễn, có những thương gia, quanlại bất mãn hay hưu trí cùng gia quyến, binh sĩ đào ngũ; ngoài ra, cũng có những thợ thủ côngnghệ, dân nghèo đưa đưa sang để phục dịch cho những người lắm tiền, nhiều của ở Luy Lâu

Trang 15

Chính bầu không khí nhộn nhịp và cảnh quan sầm uất gia tăng đã thay đổi dần dà khuônmặtcủa thành Luy Lâu.

Giao lưu: Vì nằm trên trục giao thông tiện lợi trong vùng cho nên tại Luy Lâu đã cónhững giao lưu văn hoá, tôn giáo, thành cổ nầy trở nên cửa ngõ của nền văn minh bản địatrong giai đoạn đó Càng ngày, theo đà bành trướng cũng như âm mưu đồng hoá củangười Trung Hoa ngày càng gia tăng; nhưng âm mưu đó có thành tựu hay không, lại là vấn đềkhác

Như đã nói, ngoài người Trung Hoa, lại còn người Ấn Độ Họ là những thương nhân vàtăng sĩ "trên con đường lụa thứ hai" nầy Trong những toán người từ Tây Á sang có đủ loại:tiểu thương, chuyển vận, tu sĩ, người chữa bệnh, bán thuốc, kể cả những kẻ giang hồ bấtchính Mức độ sầm uất lên rất nhanh "khiến cho phương Bắc quan tâm nhiều" (Lê Quý Đôn -Phủ Biên Tạp Lục- 1776)

Nhiều nhà nghiên cứu dân tộc học thường đề cập đến sự kiện nầy Họ nhận định: Ở giữamột vùng đất chuyên về nông nghiệp, tập trung trồng lúa nước, kinh tế phát triển chậm, bỗngnhiên một đô thị bành trướng theo đà vượt bực như Luy Lâu, mà trong đó, nhiều thành phầnmới đã tạo nên khuôn mặt sinh hoạt đa dạng, dùng làm kiểu mẫu cho sự phát triển đồng bộ,giữa nông thôn và thành thị (Theo Madrolle- Vùng đất Bắc Kỳ thời cổ - 1954)

Vùng trung tâm: Với người Trung Hoa trong giai đoạn đó, dưới quyền cai trị của SĩNhiếp và những người kế nhiệm, Luy Lâu là một trung tâm hành chánh quan trọng, thủ phủcủa một châu quận phương Nam được đặc biệt lưu ý đến Họ đã tổ chức một guồng máy điềuhành, cai trị tại đây khá lớn lao, quy củ; chẳng hạn như vị quan đứng đầu trong vùng là viênThái Thú, mà lại còn được phong tước Hầu nữa

Trong thời kỳ Trung Hoa gặp cảnh loạn lạc, đất Giao Châu (Giao Chỉ) thì lại ở tậnphương xa, cho nên những quan Thái Thú trở thành "vua một cõi" Thành Luy Lâu trở thànhmột thủ phủ quan trọng "chẳng khác gì kinh đô của một nước" (Giao Châu Ký Vực)

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép về những nghi vệ của Sĩ Nhiếp như sau:

"Vương (tức Sĩ Nhiếp) cũng được tôn làm Sĩ Vương, khi ra vào thành thì gióng chuônggióng khánh lên, uy vệ đủ hết, kèn sáo thổi vang, xe ngựa đầy đường; những người Hồ theohầu đi sát vào bánh xe, để đốt hương trầm Đi theo hầu thường có mấy mươi người, vợ cả, vợ

lẽ đi xe được che kín lại; các con em thì cỡi ngựa đi theo binh lính, được xem là quý trọngđương thời" (trang 101)

Một đoạn khác cũng ghi thêm:

"Sĩ Nhiếp độ lượng, khoan hậu, khiêm tốn, kính trọng kẻ sĩ, người trong nước yêu mến,thường gọi là "Vương" Những danh sĩ nhà Hán tránh nạn trong nước cũng đã sang đây nươngtựa, có đến hàng trăm người" (trang 103)

Tổ chức: Để tổ chức bảo vệ an nguy cho gia đình cũng như những người tùy tùng, SĩNhiếp đã tổ chức thành Luy Lâu trở thành một cứ điểm quân sự Toà thành được đắp vữngchắc, kiên cố, có tường cao, hàosâu, trạm canh bốn phía, ra vào thành có kiểm soát; đội quânthường trực chăm lo việc canh gác Luy Lâu rất nghiêm nhặt

Những viên tướng cầm quân đội tại đây được phong đến chức Tả Tướng quân, Vệ tướngquân Những binh sĩ trú đóng trong ngoài thành Luy Lâu có cả người Tàu lẫn người Việt Tất

cả đều theo quy chế, ngạch trật (Đại Thanh Nhất Thống chí - Tập 12 - trang 132)

Trang 16

Theo Đại Việt Sử Ký, thì: Sĩ Nhiếp đã cho ban hành hàng loạt những luật lệ được nghiêncứu kỹ, để tiện việc cai trị, đề phòng những phản loạn cũng như những biến động Nhữngngười mới đến cũng như dân bản địa được kiểm soát chặt chẻ (Hậu Hán Thư).

Qua những công trình khảo cổ gần đây (1989 và 1996) người ta khai quật được nhiều loạikhí giới tinh xảo, đầy sáng tạo; chẳng hạn như việc sáng chế ra những "mũi chông củ ấu bằngđất nung" trong việc phòng thủ Luy Lâu Tính ra có đến hàng vạn mũi chông phòng thủ đượcrắc kín những nơi hiễm yếu, che chở cho thành Luy Lâu, trở thành vũ khí phòng ngự quantrọng, còn được phát triển ở những thời kỳ sau Luy Lâu

Văn hoá: Luy Lâu cũng là một trung tâm văn hoá Trước đó, có một thứ chữ riêng củangười dân bản địa mà nhiều nhà khảo cổ tìm thấy Sĩ Nhiếp cho truyền bá chữ Hán, đồng thờitruyền bá Nho Giáo

Luy Lâu cũng là đất nẩy mầm đầu tiên của những hạt giống đạo Phật Những ngôi chùaPháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện, tuy kiến trúc còn thô sơ, nhưng cũng đủ chứng tỏsức phát triển Phật Giáo trong khuôn thành Luy Lâu và ngoại vi

Đạo Phật và đạo Nho trong thời kỳ này đã chọn chung một trung tâm để phát triển;màngay trong buổi đầu đã được địa phương hoá, bắt rễ trong quần chúng Những điều nầy đãminh chứng về một giai đoạn phát triển toàn diện nền văn hoá ban đầu của nước ta

1.2.2 Các nhà truyền giáo tiêu biểu

Không bao lâu khi Phật Giáo được truyền vào Việt Nam, nhờ sự nổ lực hoạt động truyền giáocủa các tăng sĩ Ấn Độ, tại Luy Lâu, thủ phủ của Giao Chỉ lúc bấy giờ đã trở thành một trungtâm Phật Giáo lớn nhất trong vùng Tại đây, với những sinh hoạt hoằng pháp của ngài Khâu

Đà La1 đã xuất hiện một mô hình Phật Giáo Việt Nam hóa đầu tiên qua hình tượng ThạchQuang Phật và Man Nương Phật Mẫu (hình tượng Phật Nữ) Một chứng liệu lịch sử quantrọng khẳng định Phật Giáo Việt Nam đã bắt rễ sớm ở Giao Châu là sự việc ngài Mâu Tử (sinhcuối thế kỷ thứ II) theo mẹ từ Trung Quốc sang Giao Châu khi ngài còn rất trẻ, rồi lớn lên, tạiđây ngài đã viết bài "Lý hoặc Luận" và dịch một số kinh sách, chứng tỏ ngài đã học Phật giáotại Giao Châu và như thế Phật Giáo Giao Châu đã phát triển khá mạnh, ít nhất là vào nữa đầuthế kỷ thứ III Tây Lịch

Sang thế kỷ thứ III, có ba nhà truyền giáo nước ngoài đến hoằng Pháp tại

Giao Châu là các ngài Khương Tăng Hội (gốc người Sogdiane, Khương Cư);

ngài Chi Cương Lương Tiếp (người xứ Nhục Chi) và ngài Ma Ha Kỳ Vực

(người Ấn Độ)

Đến thế kỷ thứ V, có hai thiền sư xuất hiện, là Đạt Ma Đề Bà

(Oharmadeva,) và Huệ Thắng (người Việt) Thiền sư Đạt Ma Đề Bà là người

Ấn Độ đến Giao Châu vào giữa thế kỷ thứ V để giảng dạy về phương pháp

thiền học Thiền sư Huệ Thắng là người địa phương là một trong những học trò

của ông

Cũng do được truyền bá trực tiếp từ Ấn Độ vào Việt Nam ngay từ đầu kỷ

nguyên Tây lịch, nên danh xưng Buddha (Bậc Giác Ngộ) tiếng Phạn đã được

phiên âm trực tiếp sang tiếng Việt là Bụt (Trung Hoa dịch là Phật) Điều này

trùng hợp với danh từ Bụt được xuất hiện trong nhiều truyện cổ tích Việt Nam

1 ông là người Ấn Độ đến Luy Lâu khoảng năm 168-169

Trang 17

Theo từ điển Phật học Việt Nam, (Minh Châu và Minh Chi, Hà Nội 1991) có

ghi: "Tiếng Bụt phổ biến hơn trong văn học dân gian và là dấu hiệu chứng tỏ

Đạo Phật truyền vào nước ta sớm lắm" Phật Giáo ở Giao Châu lúc ấy mang

màu sắc Nam phương, nhưng trong con mắt của nền văn minh nông nghiệp,

người Việt Nam lại hình dung Đức Phật như là một vị thần toàn năng có mặt ở

khắp nơi, sẵn sàng xuất hiện để cứu độ mọi người

Bước sang thời kỳ thế kỷ thứ VI đến hết thế kỷ thứ IX, Phật tử Việt Nam

lại tiếp nhận thêm những đoàn truyền giáo của Trung Quốc Không bao lâu sau

đó, Phật Giáo Bắc phương (Trung Quốc) đã chiếm ưu thế và đã thay đổi chổ

đứng của Phật Giáo Nam Truyền vốn có từ trước Từ Buddha được dịch thành

chữ Phật, và từ đây Phật dần dần thay thế cho chữ Bụt và chữ Bụt chỉ còn giới

hạn trong ca dao, tục ngữ, truyện cổ tích mà thôi

Do khuôn khổ có hạn của bài tiểu luận nên ớ phần này tác giả chỉ tìm hiểu

sâu về 4 nhà truyền giáo đầu tiên

1.2.2.1 Ma Ha Kỳ Vực

Trong sách Cao Tăng truyện có chép : "ông Ma-ha- kỳ-vực gốc ở Ấn Độ, đi du lịch các nướcbắt đầu từ Ấn Độ đến Founan theo đường Giao Châu và Quảng Châu (Bắc kỳ và Quảng Đôngbây giờ); qua nơi nào ngài cũng làm phép lạ Khi đến Tương Dương, muốn qua đò, nhưngngười lái đò thấy ngài quần áo rách rưới không cho xuống, đến khi đò ngang cặp bến thì mọingười đều lấy làm lạ thấy ngài đã ở bên này sông rồi.”

Cuối đời Huệ Đế nhà Tấn (290- 306) nước Trung Hoa có loạn, ngài lại trở về Ấn Độ, Ngàimất năm nào không rõ

Trong sách Phật tổ lịch đại thống tải chép: “Ông Ma-ha-kỳ-vực đến Lạc Dương vào niên hiệuthứ tư đời Tấn Huệ Đế (294 sau Tây lịch).” Trước khi đến Lạc Dương, ngài có qua Giao Châu

và Quảng Châu

Trong Thiền uyển tập anh, Thông Biện dẫn lời của Đàm Thiên nói lúc Phất pháp mới đếnTrung Quốc thì "đã có Khâu Đà La, Ma Ha Kỳ Vực, Khương Tăng Hội, Chi Cương Lương,Mâu Bác tại Giao Châu" Cổ châu Pháp Vân Phật bản hạnh ngữ lục nói Khâu Đà Là và KỳVực đã cùng nhau đến Luy Lâu trị sở của Sĩ Nhiếp vào cuối đời Hán Linh Đế, tức khoảngnhững năm 168 - 189 Vị sư tên Kỳ Vực đây của tài liệu nước ta sống và làm gì, ta khôngđược bảo rõ ràng Chỉ biết rằng khi đến Giao Châu thì Khâu Đà Là đã ở lại, còn Kỳ Vực thì ra

đi tiếp Chi tiết cuối cùng này lại phù hợp với tiểu sử của Kỳ Vực trong Cao Tăng truyện 9 tờ388-16-c5, theo đó thì trước khi tới Trung Quốc, Vực đã có đi qua Giao Châu Nhưng ta gặpphải khó khăn là vấn đề niên đaị Kỳ Vực của ta thì đến đời Hán Linh đế, còn của Cao Tăngtruyện thì xảy ra thời Tấn Huệ đế tức giữa những năm 290 - 306 Phải chăng có hai Kỳ Vựckhác nhau ? Đây là một có thể Nhưng cũng có thể chỉ có một Kỳ Vực thôi, và sự lầm về niênđại thì hoặc do tại quá trình truyền thừa văn bản về phía ta, hoặc về phía Trung Quốc Trongtình trạng tư liệu hiện tại, dù không phải không ý thức, sự có thể sai lầm của những niên đại doCao Tăng truyện ghi lại, một điều thức sự đã xảy ra Chúng tôi tạm thời căn cứ vào những gìHuệ Hạo viết để bàn cải về vị sư Kỳ Vực ở đây

"Kỳ Vực người Thiên Trúc, đi khắp Trung Quốc và các xứ mán mọi, không có chỗ ở thường,nhưng thong dong thần kỳ, theo tính khác tục, hành tích không thường, người đương thờikhông thể làm sao đo lường được Phát xuất từ Thiên Trúc, rồi đến Phù Nam, trãi qua các bờ

Trang 18

biển, bèn tới Giao và Quảng, đều có linh dị Khi tới Tương Dương, muốn chở người qua sông,người chèo thuyền thấy Sa - môn Ấn Độ, áo quần xấu xí, khinh mà không chở Thuyền đến bờbắc thì đã thấy Vực vuợt qua rồi Đi tới trước, thấy hai con hổ rung tai vẫy đuôi, Vực lấy tayxoa đầu, cọp liền xuống mé mà đi Người hai bên bờ thấy, theo nhau thành bọn.

Đến cuối đời Tấn Huệ đế, Vực tới Lạc Dương Các vị sư ra làm lể, Vực cũng quì xuống lặng

lẽ, nhan sắc không đổi thay Bấy giờ bèn nói tiền thân của từng người đã trãi qua Vực bảo ChiPháp Uyên đến từ loài trâu, Trúc Pháp Hưng đến từ loải người Lại chê chúng Tăng, nói họ áoquần hoa lệ, không đúng phép sạch Thấy cung thành Lạc Dương, bèn bảo nó phảng phấtgiống cung trời Đao Lợi, chỉ việc tự nhiên và nhân sự là không giống nhau Vực bảo Sa - môn

Kỳ Xà Mạt: "Thợ xây cung ấy là từ trời Đao Lợi, nên thật sự bèn phải về bề trên, dưới ngóitrên nóc nhà phải có 1500 đồ dùng" Mọi người bấy giờ đều nói: "Xưa nghe người thợ đó thiệt

có đem đồ dùng để dưới ngói" Lại nói: "Sau cung thành bổng nhiên sẽ bị hoại"

Bấy giờ thái thú Bạch Dương là Đặng Vĩnh Văn từ Nam Dương đang ở Lạc Dương, trú ngụtại chùa Mãn Thuỷ, mắc bệnh kinh niên không bớt, hai chân co quắp lại, không thể đứng đậy

mà đi Vực đến thăm, nói: "Ngài có muốn được lành bệnh không ?" Nhân đó lấy một chénnước trong và một cành dương liễu, đem cành dương liễu dùng nước đưa tay hướng Vĩnh Văn

mà đọc chú Như vậy ba lần, nhân thế lấy tay xoa hai đầu gối Vĩnh Văn, bảo đứng dậy Vănliền đứng dậy, đi đứng như xưa Trong chùa có cây tư duy vài mươi cành đã khô chết Vực hỏiVĩnh Văn cây ấy đã chết lâu chưa Văn đáp: "Lâu lắm rồi" Vực tức hướng cây đọc chú, nhưđọc chú cho Vĩnh Văn, cây bỗng nhiên mọc lá cành sum sê tươi tốt Trọng Thử ở ThượngPhương có người bệnh trướng sắp chết, Vực lấy bình bát để trên bụng người bệnh, vải trắngphủ hết, chú nguyện vài ngàn lời, tức có khí thổi xông nặc cả nhà Người bệnh nói: "Tôi sốngrồi" Vực sai người dở tấm vải thì trong bình bát có thứ như bùn đen vài thăng, thối không thểgần được Người bệnh bèn sống

Khi Lạc Dương binh loạn, bèn từ giã về Thiên Trúc Bấy giờ tại Lạc Dương có Sa-môn TrúcPháp Hành là vị sư cao đạo, người đương thời chịu vui nghe theo, nhân xin Vực nói: "Thượngnhân là vị sư đã đắc đạo, xin lưu lại một lời để mãi mãi làm lời răn" Vực đáp: "Nên họp hếtmọi người ".Khi mọi người đã họp, Vực lên toà giảng nói: "Giữ miệng, nhiếp thân ý, cẩn thậnchớ phạm ác, tu hành hết thảy thiện, như vậy được độ đời" Nói xong, bèn lặng lẽ nhập định.Hành lại xin: "Nguyện thượng nhân nên truyền cho điều chưa từng được nghe Còn như nghĩacâu ấy thì con nít tám tuổi cũng đọc thuộc lòng rồi, chẳng phải là điều mong cầu ở bậc đắcđạo" Vực cười đáp: "Tám tuổi tuy đọc, trăm tuổi không hành, thì đọc ích gì Mọi người aicũng biết kính trọng người đắc đạo, nhưng không biết làm để tự mình đắc đạo Đáng thươngthay ! Lời ta tuy ít, người làm, lợi càng nhiều"

Rồi bèn từ giã bỏ đi Vài trăm người ai cũng mời Vực trưa tới ăn nhà mình Vực đều hứa hết.Sáng mai 500 nhà mỗi nhà đều có một Vực Ban đầu ai cũng nói vực chỉ đến nhà mình, nhưngsau hỏi lại nhau, mới biết Vực phân thân giáng xuống khi đã đi, các nhà tu hành đưa Vực đếnthành Hà Nam Vực đi chầm chậm, mà người đuổi theo không kịp Vực bèn lấy gậy vẽ xuốngđấy nói: "Từ biệt ở đây" Ngày đó có người từ Trường An đến, nói thấy Vực tại chùa ấy Lại

có khách buôn Hồ Thấp Đăng tức vào ngày đó ngặp Vực lúc sắp tối ở sa mạc, kể ra đã đi hơn

9000 dặm Khi đã trở về Thiên Trúc, không biết mất ở đâu"

Đó là hành trạng của Kỳ Vực trong Cao Tăng truyện Mặc dù chúng chứa đựng nhiều yếu tốkhó tính có tính chất mê hoặc, chúng tôi vẫn dịch hết và công bố ra đây, nhằm cho thấy phầnnào những gì Kỳ Vực đã có thể làm khi ông tới nước ta Không những thế, bản tiểu sử đó chứa

Trang 19

nhiều liên hệ với bản tiểu sử của Vu Pháp Lan và Vu Đạo Thúy, mà chúng ta đã thấy trên.Những liên hệ ấy chủ yếu qui về tên những vị sư có tiếp xúc với Kỳ Vực Chúng sẽ giúp chothấy tại sao Vu Pháp Lan và Vu Đạo Thúy đã tìm đến nước ta để đi Ấn Độ và đã bỏ mình.Vậy thì, Kỳ Vực đã làm những gì cho nước ta, mà Cao Tăng truyện cho là "đều có linh dị"?Giảp đáp câu hỏi này ta hiện không có những trả lời trực tiếp Nhưng cứ vào những hành độngcủa Vực tại Lạc Dương, ta có thể biết phần nào những hoạt động của Vực tại Giao Châu.Trước khi tới Lạc Dương, Vực đã vượt sông mà không cần đò Đến Lạc Dương, ông chứng tỏ

có thể biết chuyện đời trước của mọi người là thế nào và việc sắp xảy ra trong tương lai Ông

có thể bảo lai lịch của các vị sư Pháp Hưng và Pháp Uyên không những của đời này, mà thậmchí về tới cả đời trước nữa Ông cũng đã tuyên đoán thành phố Trường An sẽ bị hủy hoại Ông

đã chữa bệnh cho những người nguy kịch sắp chết và kinh niên không lành, chủ yếu bằngnhững phương pháp chú thuật thần thông của mình Ông đã chữa cho Đằng Vĩnh Văn kinhniên liệt giường không đi được, và cho người bị bệnh trướng bụng sắp chết, chỉ cần giơ tayđọc chú Không những thế, ông còn cùng một lúc phân thân đi ăn tại năm trăm nhà khác nhau.Ông có thể đi chầm chậm, mà người ta đuổi theo mãi cũng không kịp

Hoạt động của Vực tại Trương An là như thế Chúng rõ ràng chứng tỏ Vực có "kỹ thuật biếnhóa để mê hoặc tai mắt của thường dân", "có uy to thế lớn để chỉnh thẳng trụt trồi của bọnnhỏ", như Tập Tạc Xỉ đã ám chỉ xa gần Nhưng đồng thời chúng cũng xác định Vực là hiệnthân trọn vẹn của quan niệm Phật giáo quyền năng Người đắc đạo của quan niệm đó phải là

kẻ "muốn làm gì cũng được, bay lượn trên không, đạp nước mà đi, phân thân tán thể, biến hóamuôn cách, vào ra không ngại, còn mất tự do, ( ) biết chúng sanh đổi thay khi chưa có trờiđất, lòng người trong mười phương hiện tại đang nghĩ những việc chưa manh nha", nhưKhương Tăng Hội đã mô tả trong Lục đô tập kinh 7 tờ 39b 16-23

Như một hiện thân của quan niệm Phật giáo quyền năng và tại Lạc Dương, Vực đã có nhữngthành tích trên, thì tại nước ta Vực chắc cũng thi thố những quyền năng tương tự đối với ngườiGiao Châu, để cho Hạo đã nhận xét là "đều có linh dị" Viết nhận xét đó, Hạo chắc chắn phải

có đọc được những tư liệu có ghi chép thành tích của Vực một cách chi tiết ở tại nước ta Rấttiếc là ngày nay ta hiện không có những tư liệu ấy, và Hạo chỉ bằng lòng chép chuyện của Vực

từ lúc đến Tương Dương trở đi mà thôi

Qua tiểu sử trên, Kỳ Vực là người Ấn Độ, đã đi tới nhiều nước Ông đã qua Phù Nam rồi mentheo ven biển tới nước ta Ông đến vào lúc nào ? Hạo nói ông đến Lạc Dương khoảng nhữngnăm 306 Vậy chắc chắn ông đã đến Giao Châu cũng khoảng năm 300 hay sau đó không lâu,

vì ông còn phải trải qua thời gian ở Quảng Châu và Tương Dương trước khi lên kinh đô nhàTấn Tại nước ta, ông hẳn đã sống ở thủ phủ Long Biên hay tại một ngôi chùa nào gần đó Cứ

Cổ châu Pháp vân Phật bản hạnh ngữ lục thì Vực đã sống chính tại chùa Pháp Vân Việc Vựcđến nước ta đáp ứng đúng yêu cầu của tình trạng văn hóa và tín ngưỡng thời bấy giờ Đó là sựxuất hiện thực sự của những quyền năng mà phương pháp Phật giáo do Khương Tăng Hộitruyền thụ hứa hẹn Nhưng rồi Kỳ Vực cũng đã ra đi như muốn để lại những nuối tiếc chonhững nười hâm mộ ở bản xứ

1.2.2.2 Khương Tăng Hội

Khương Tăng Hội (K’ang-seng-houei) – Trong sách Lương Cao Tăng truyện của Huệ Haochép : “Một người nước Khương tên là Tăng Hội, gốc ở Khương Cư (Soadiane), mấy đời tổtiên ngụ ở Thiên Trúc Phụ thân ngài có qua buôn bán ở Giao Châu Ngài mồ côi cha mẹ từthuở lên mười Sau thời kỳ cư tang, ngài xuất gia, chăm lo học tập kinh điển đã trở nên một

Trang 20

đạo sĩ khá cao thời ấy Ngài tính tình chân thật, hòa nhã và rất thông minh; không những ngàithông hiểu Tam tạng lục kinh, mà ngài còn nghiên cứu cả toán số, thiên văn đến văn chương

và chính trị

Bấy giờ về đời Ngô Tôn Quyền (229 - 252) Phật giáo mới truyền vào Đông Ngô, nhưng chưađược phát triển mạnh, ngài tới đó liền hết sức tuyên dương Phật pháp khắp miền Giang Tả;ngài thường cầm gậy tầm xích đi hành hóa khắp phía Đông Niên hiệu Xích Ô năm thứ hai đờinhà Ngô (247), ngài đến thành Kiến Nghiệp (Nam Kinh bây giờ) làm một túp lều ở đó tu trì vàthiết trường giảng dạy Vua Ngô Tôn Quyền thấy ngài thi nhiều phép lạ lấy làm ngạc nhiên,đem lòng tín phục và xây tháp dựng chùa ngài ở gọi là chùa Kiến Sơ, chỗ ngài ở thì gọi làPhật-da-lý Từ đó Phật giáo mới thạnh hành trong miền Giang Tả

Nếu lịch sử văn học và văn hóa thành văn thời Hùng Vương còn để lại cho đến nay qua mộtbài "Việt ca" duy nhất đang bàn cãi[60][60] thì lịch sử văn học và văn hóa Việt Nam sau thờiHai Bà Trưng và trước Lý Nam Đế có thể được nghiên cứu qua một loạt những tác gia lớnnhư Mâu Tử Bác, Khương Tăng Hội, Đạo Thanh (còn gọi là Đạo Hinh), Đạo Cao, Pháp Minh

và Lý Miễu, trong đó người để lại nhiều dịch phẩm và tác phẩm nhất là Khương Tăng Hội.Khương Tăng Hội sinh ra, lớn lên và bắt đầu biên soạn một số tác phẩm của mình tại nước tatrong một giai đoạn khi dân tộc ta lần đầu tiên xây dựng xong một nhà nước thực chất độc lập

và tồn tại trong một thời gian dài nửa thế kỷ, tức là từ năm 180 đến 228 sdl Nhà nước nàyđược hình thành qua một quá trình đấu tranh gian khổ khốc liệt, sau sự tan vỡ của nhà nướcHùng Vương năm 42 khi cuộc kháng chiến vệ quốc do Hai Bà Trưng lãnh đạo thất bại Quânthù, dưới bàn tay chỉ huy của Mã Viện (17 tdl-44 sdl), đã tiến hành một chuỗi các biện phápvới ý đồ không những xóa sạch mọi tàn dư của một nhà nước Hùng Vương độc lập, mà cònhủy diệt một cách có hệ thống những thành tựu to lớn của nền văn minh và văn hóa Lạc Việt,nhằm mục đích đồng hóa và sau hết kết thúc sự tồn tại của nhóm người Việt cuối cùng ở phíanam như một dân tộc

Chúng cho vây bắt toàn bộ những người lãnh đạo Việt Nam, mà chúng gọi là "chủ soái", đưa

đi đày đọa ở Linh Lăng Chúng thâu gom hết các trống đồng, một biểu tượng quyền uy củatầng lớp quý tộc Việt Nam, đem về Trung Quốc để nấu chảy lấy đồng đúc "ngựa pháp" dángchừng để kỷ niệm chiến thắng Chúng nghiên cứu luật lệ Việt Nam, phát hiện Việt luật có

"hơn mười điều" trái với Hán luật và tuyên bố hủy bỏ chúng

Song song với việc tiến hành hủy diệt có hệ thống sự tồn tại của dân tộc Việt Nam như mộtchủ thể độc lập có nền văn minh văn hóa riêng, có một nhà nước và cơ chế pháp luật riêng,chúng còn đưa vào Việt Nam nền văn minh văn hóa Hán, thiết lập một bộ máy cai trị và luậtpháp thep quan niệm người Hán, với mục tiêu, nếu không xóa bỏ, thì nô dịch lâu dài dân tộc ta.Thế là một cuộc đọ sức bi hùng, khốc liệt, không cân xứng đã nổ ra Nó nổ ra không chỉ trênmặt trận chính trị và quân sự nhằm dành lại chủ quyền đất nước, mà còn trên mặt trận văn hóahọc thuật, để khẳng định bản lĩnh và bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam, làm tiền đề cho sựsống lâu dài và vĩnh viễn của một nhà nước Việt Nam độc lập

Bắt đầu với cuộc khởi nghĩa Tượng Lâm năm 101, hơn ba mươi năm, sau anh hùng Khu Liên

đã xây dựng thành công một vùng Việt Nam tự do làm hậu phương vững chắc cho các phongtrào vận động độc lập ở Cửu Chân của Châu Đạt năm 158, và ở Giao Chỉ của Lương Longnăm 177 Để đến khoảng năm 180 một chính quyền độc lập hình thành dưới sự lãnh đạo của

Sĩ Nhiếp Tới những năm 187 Chu Phù tuyên bố "bỏ điển huấn của tiền thánh, vứt pháp luậtcủa Hán gia" để đi theo Phật giáo và kết hợp với Sĩ Nhiếp củng cố chính quyền độc lập do anh

Trang 21

hùng Khu Liên mở đầu Chính quyền này về danh nghĩa tuy chưa xưng đế xưng vương gì,nhưng về thực chất là một chính quyền Việt Nam độc lập có tính Phật giáo, bởi vì hệ thốngđiển huấn Trung Quốc và cơ chế pháp luật nhà Hán đã bị vứt bỏ Thế vào chỗ đó tất nhiên có

hệ thống điển huấn và cơ chế pháp luật của Việt Nam

Vậy là cuộc đọ sức không cân xứng trên đến đây đã tới hồi ngã ngũ Chiến thắng đã thuộc vềdân tộc ta Một nhà nước Việt Nam hồi sinh Đồng thời với sự hồi sinh của một nhà nước ViệtNam độc lập trên mặt trận chính trị quân sự, là sự hồi sinh mạnh mẽ của hệ thống điển huấnpháp luật Việt Nam trên mặt trận văn hóa học thuật Chính trong cao trào hồi sinh này mà đãsản sinh ra những khuôn mặt anh tài như Mâu Tử với tác phẩm Lý hoặc luận nổi tiếng viếtnăm 198, mạnh mẽ khẳng định bản lĩnh văn hóa Việt Nam và nghiêm khắc phê phán tư tưởngĐại Hán nô dịch

Sinh ra trong bầu không khí tươi sáng của một nền độc lập mới hồi sinh, lại thừa hưởng đượcmột học phong Việt Nam và Phật giáo dưới sự dìu dắt tận tình của những vị thầy như Mâu Tử,Khương Tăng Hội đã tiến hành công tác học thuật và truyền giáo của mình với những dấu ấnViệt Nam cực kỳ rõ nét Ông là người đầu tiên đã sử dụng các kinh sách Phật giáo tiếng Việt

để dịch sang tiếng Trung Quốc, mà hiện nay ta còn được hai bộ Đó là Lục độ tập kinh và Cựutạp thí dụ kinh Chính trong các bộ kinh này, mà một phần nào truyền thống văn hóa điển huấncủa dân tộc ta đã được bảo lưu

Truyền thuyết trăm trứng của lịch sử khởi nguyên dân tộc ta[61][61] Khương Tăng Hội đãgiữ lại khi dịch Lục độ tập kinh tiếng Việt qua tiếng Trung Quốc Những lời thầy giảng choHội đã được Hội ghi lại trong Cựu tạp thí dụ kinh Trong các bản dịch này một số cấu trúctiếng Việt cổ đã xuất hiện sẽ giúp ta nghiên cứu tiếng nói của cha ông mình cách đây gần2.000 năm Không những thế, Lục độ tập kinh và Cựu tạp thí dụ kinh chứa đựng một hệ thốngđiển huấn bao gồm những chủ đề tư tưởng lớn của dân tộc như nhân nghĩa, trung hiếu, đấtnước v.v làm cột sống cho chủ nghĩa nhân đạo và truyền thống văn hóa Việt Nam

Ngoài ra, với An ban thủ ý kinh chú giải hiện còn, nó cho ta biết khá nhiều mặt Thứ nhất, đây

là một trong những tác phẩm viết trên đất nước ta được biết sớm nhất sau Lý hoặc luận đangtồn tại Thứ hai, nó giúp ta hiểu cách lý giải kinh điển Phật giáo của người nước ta vào nhữngthế kỷ đầu của Phật giáo tại Việt Nam Thứ ba, nó làm chứng cho một nền giáo dục Việt Nam

và Phật giáo Việt Nam phát triển tới mức đã đào tạo được những người con xứng đáng với dântộc và nhân loại Thứ tư, nó cung cấp những tư liệu cần thiết để nghiên cứu cụ thể tư tưởng,quan điểm và văn phong của chính Khương Tăng Hội

Khương Tăng Hội có một vị trí xung yếu như vậy trong lịch sử dân tộc ta, chứ không phải chỉtrong lịch sử Phật giáo Việt Nam và Trung Quốc Thế mà, cho đến nay chưa có một nỗ lựcnghiên cứu nghiêm chỉnh nào về cuộc đời và sự nghiệp của ông Cũng chưa có một nỗ lực tậphợp đầy đủ nào về những tác phẩm và dịch phẩm của ông hiện còn, nhằm cung cấp tài liệu choviệc tìm hiểu nhiều mặt về Khương Tăng Hội, thông qua đó, tìm hiểu tình hình học thuật vàvăn hóa của dân tộc ta và Phật giáo thời ông Chính vì chưa có những nỗ lực như thế, nênnhững phát biểu sai lầm này khác về Khương Tăng Hội vẫn tiếp tục

Kể từ ngày Trần Văn Giáp dẫn lời Thông Biện trong Thiền uyển tập anh để giới thiệu mộtcách sai lầm Khương Tăng Hội như một trong những nhà truyền bá Phật giáo đầu tiên ở nướcta[62][62], những người viết về lịch sử Phật giáo Việt Nam tiếp theo đã lặp lại sai lầm ấy.Người thì nói Hội là một trong bốn nhà truyền bá đạo Phật đầu tiên của Việt Nam[63][63] Kẻthì bảo ông là “sáng tổ của thiền học Việt Nam”[64][64] Bởi có quá nhiều sai lầm về sử kiện,

Trang 22

dẫn đến những luận giải thiếu chính xác Thậm chí có tác phẩm của Hội hiện đang còn như Anban thủ ý kinh chú giải thì ghi “nay không còn” (***) Rồi những gì do Khương Tăng Hội viết,

mà người ta đọc được, lại bị chấm câu sai, dẫn đến những giải thích lầm lạc

Chẳng hạn, câu đầu của bài tựa Pháp kính kinh tự trong Xuất Tam tạng ký tập 6 ĐTK 2145 tờ46b29 và Pháp kính kinh ĐTK 322 tờ 15a3 đọc: “Phú âm giả, chúng pháp chi nguyện, tạng bỉchi căn” Bản in Đại chính ngày nay có chấm câu rõ ràng và đúng đắn như thế, vậy mà cóngười hoặc thiếu cẩn thận hoặc hiếu sự đã chấm câu thành “Phù tâm giả, chúng pháp chinguyên tạng”, rồi dịch thành “Tâm là kho tàng căn bản của các pháp” (!!!) và giải thíchKhương Tăng Hội “chịu ảnh hưởng tư tưởng duy thức” (***).Ai cũng biết "tạng bỉ" là một từđược rút từ bài thơ Ức của thiên Đại nhã Kinh thi mà Khương Tăng Hội rất quen thuộc trongMao thi chính nghĩa 18/1 tờ 10a11-12 qua những câu:

Và ngay từ thời Trịnh Huyền (127-200) người ta đã biết nó có nghĩa là “thiện ác”

Vì vậy, cần có một nỗ lực tập hợp hết tất cả những tư liệu liên quan đến cuộc đời và sự nghiệpcủa Khương Tăng Hội cùng các tác phẩm, dịch phẩm hiện còn của ông nhằm cung cấp dữ kiệnkhông những cho những người nghiên cứu lịch sử Phật giáo Việt Nam, mà còn cho nhữngngười công tác trong lĩnh vực khoa học nhân văn và xã hội nói chung từ sử học, văn học, chođến ngữ học, dân tộc học v.v Khương Tăng Hội toàn tập đang nằm trong tay các bạn là mộtthể hiện cụ thể nỗ lực ấy Nó gồm 2 tập Tập I bao gồm một nghiên cứu của chúng tôi vềKhương Tăng Hội và Lục độ tập kinh cùng nguyên bản và bản dịch tập kinh đó Tập II chứađựng những nghiên cứu của chúng tôi về Cựu tạp thí dụ kinh, An ban thủ ý kinh chú giải vàPháp kính kinh giải tự cùng nguyên bản và bản dịch chúng Chúng tôi cũng cho in kèm theoTạp thí dụ kinh cùng một nghiên cứu ngắn gọn về nó để làm tài liệu nghiên cứu bổ sung

4 SỰ NGHIỆP PHIÊN DỊCH VÀ TRƯỚC TÁC

Không chỉ làm công tác truyền giáo, Khương Tăng Hội còn tiến hành sự nghiệp phiên dịchtrước tác Như đã thấy, ông dịch Lục độ tập kinh vào năm Thái Nguyên thứ nhất (251) đờiTôn Quyền và Đạo phẩm vào đời Tôn Lượng (252 - 258) Cứ Xuất Tam tạng ký tập 2 ĐTK

2145 tờ 7a27-b1, Khương Tăng Hội đã phiên dịch hai bộ kinh là Lục độ tập kinh 9 quyển vàNgô Phẩm 5 quyển “vào đời Ngô chúa Tôn Quyền và Tôn Lượng” Xuất Tam tạng ký tập làmột bản kinh lục xưa nhất hiện còn đáng tin cậy, vì khi viết nó, Tăng Hựu có tham khảo vớibản kinh lục của Đạo An và một số kinh lục khác Tuy nhiên, trong bản tiểu sử của KhươngTăng Hội ở Xuất Tam tạng ký tập 13 ĐTK 2145 tờ 97a13-16, Tăng Hựu lại viết: “Hội ở chùaKiến Sơ dịch kinh pháp (như) A nan (?) niệm di kinh, Kính diện vương, Sát vi vương, Phạmhoàng vương kinh, Đạo phẩm và Lục độ tập kinh, đều khéo được thể kinh, văn nghĩa doãnchính Lại chú thích ba kinh là An ban thủ ý, Pháp kính và Đạo Thọ, cùng viết lời tựa cho cáckinh ấy, lời lẽ đẹp đẽ, nghĩa lý vi diệu, đều được hậu thế kính trọng”

Thế thì, không chỉ dịch Lục độ tập kinh và Ngô Phẩm hay Đạo phẩm, Khương Tăng Hội còndịch các kinh A ly niệm di, Kính diện vương, Sát vi vương và Phạm hoàng vương Kinh A ly

Trang 23

niệm di, mà Xuất Tam tạng ký tập và Cao tăng truyện đều viết thành A nan niệm di, ngày nay

có mặt trong Lục độ tập kinh Các kinh Kính diện vương, Sát vi vương và Phạm hoàng vươngđều cũng thế Hiện chúng cùng kinh A ly niệm di đã tạo nên bộ phận cuối cùng của Lục độ tậpkinh Vậy phải chăng tự nguyên thủy Lục độ tập kinh không có các kinh này? Xuất Tam tạng

ký tập 4 ĐTK 2145 tờ 25b8-9 trong mục tân Tập tục soạn thất dịch tạp kinh lục đã ghi “Kínhdiện vương kinh 1 quyển xuất từ Lục độ tập kinh, Sát vi vương kinh 1 quyển xuất từ Lục độtập” Thế thì, tự nguyên thủy Lục độ tập kinh tự bản thân đã có các kinh đó, rồi sau mới táchrời ra thành từng bản đơn hành

Một kiểm soát sơ bộ chính Xuất Tam tạng ký tập cũng cho thấy, ngoài hai kinh vừa nói, Lục

độ tập kinh còn có 20 kinh lưu hành dưới dạng đơn kinh bản, mà Tăng Hựu ghi rõ xuất phát từ

nó Cụ thể là Di liên kinh (tờ 16b25), Tát hòa đàn vương kinh (tờ 17c6), Mật phong vươngkinh (tờ 17c23), Phật dĩ tam sự tiếu kinh (22a26), Nho đồng bồ tát kinh (22c18), Bồ tát dĩminh ly quỉ thệ kinh (23a25), Điều đạt giáo nhân vi ác kinh (23c18), Kiệt tham vương kinh(25b11), Sát thân tế cổ nhân kinh (26c25), Sát long tế nhất quốc nhân kinh (26c26), Bồ tátthân vi cáp vương kinh (27b5), Tước vương kinh (27b10), Trung tâm chính hạnhkinh (29a12), Già la vương kinh (34a6), Càn di vương kinh (34a11), Thái tử Pháp thí kinh(34a23) Tiên thán kinh (34b9), Bồ tát tác qui bản sự kinh (34c29), Bồ tát vi ngư vương kinh(35a2), Bố thí độ vô cực kinh (36a11)

Sau năm 251 đến năm 258, Khương Tăng Hội dịch Đạo phẩm Đạo phẩm, mà Xuất Tam tạng

ký tập 2 gọi là Ngô phẩm, vì nó được dịch ở triều Ngô của Tôn Quyền, thực chất là bộ kinhBát nhã tám ngàn kệ, đúng như Cao tăng truyện đã nói là Khương Tăng Hội dịch Tiểu phẩm.Tiểu phẩm đây là Tiểu phẩm bát nhã tám ngàn kệ, mà Kumarajìva dịch về sau Vào thời TăngHựu viết Xuất Tam tạng ký tập, Đạo phẩm đang còn lưu hành Đến khi Phí Trường Phònghoàn thành Lịch đại tam bảo ký, nó đã thất lạc Cho nên, Đại đường nội điển lục và Khainguyên thích giáo lục đã xếp nó vào loại khuyết bản

Như thế, theo Tăng Hựu sự nghiệp dịch thuật Khương Tăng Hội chỉ giới hạn vào Lục độ tậpkinh và Đạo phẩm Và vì Đạo phẩm thất lạc sớm, nên hiện nay chỉ còn Lục độ tập kinh Tuynhiên, theo Huệ Hạo, Khương Tăng Hội còn dịch Tạp thí dụ kinh Xuất Tam tạng ký tập 42ĐTK 2145 hiện có bốn mục ghi Tạp thí dụ kinh, nhưng không ghi là dịch giả Ở quyển 4 tờ21c11, nó ghi dưới mục Tân tập tục soạn thất dịch tạp kinh lục: “Tạp thí dụ kinh 6 quyển,hoặc gọi là Chư Tạp thí dụ kinh” Cũng dưới mục ấy ở tờ 22a5 ghi: “Tạp thí dụ kinh 2 quyển”.Rồi ở tờ 31a11, nó ghi: “Tạp thí dụ kinh 1 quyển, phàm 11 việc An pháp sư chép Trúc Pháp

Hộ kinh mục có Thí dụ kinh 300 chuyện 25 quyển, xen lẫn không có danh mục, khó có thểphân biệt Bản mới soạn vừa có được đều liệt định các quyển để người xem hiểu Tìm hiểu cácbản này phần lớn xuất phát từ các kinh lớn, có lúc mất tên người dịch, nhưng bản Hộ cũngdịch ra, hoặc có ở trong đó”

Ba bản Tạp thí dụ kinh, mà Tăng Hựu vừa liệt kê, đó là các “tân tập mới được, nay đều có bảncủa chúng, tất cả đều ở kinh tạng” (tờ 32a1-7) Cũng ở quyển 4 tờ 32a3-4, dưới mục Điều tânsoạn mục lục khuyết kinh, Tăng Hựu viết: "Tạp thí dụ kinh 80 quyển Cựu lục có ghi" BảnTạp thí dụ kinh này Tăng Hựu bảo là “chưa thấy kinh văn” của nó

Trong Đại Chính đại tạng kinh đang lưu hành hiện nay, có một bản Cựu tạp thí dụ kinh 2quyển thượng hạ, ghi là do Khương Tăng Hội dịch Vậy, trong bốn bản Tạp thí dụ kinh doTăng Hựu kể trên, phải chăng bản 2 quyển là bản của Khương Tăng Hội? Câu hỏi này hiệnkhông thể trả lời dứt khoát được, vì Tăng Hựu làm việc khá nghiêm túc, và ông đã không biết

Trang 24

ai là dịch giả của bản 2 quyển ấy Dẫu thế, ngày nay nếu căn cứ vào nội dung và văn phongcủa chính bản Cựu tạp thí dụ kinh hiện còn, ta vẫn có thể kết luận nó là do Khương Tăng Hộidịch, đặc biệt trong đó có dấu vết của các câu tiếng Việt cổ, mà cụ thể là chữ “thần thọ”, tứcthần cây, như ta đã gặp trong Lục độ tập kinh Sự nghiệp dịch thuật của Khương Tăng Hội,như vậy, ngoài bản Đạo phẩm đã mất, hiện đang tồn tại trong Lục độ tập kinh và Cựu tạp thí

dụ kinh

Bản Cựu tạp thí dụ kinh này có thể là một bản phác thảo, chứ không phải là một bản phiêndịch thực thụ, bởi vì nếu phân tích kỹ, một số truyện ta thấy chúng được giản lược tối đa, vàcuối truyện có khi Khương Tăng Hội ghi lại lời bình luận của vị thầy của ông qua câu “Thầynói” (sư viết) Điều này chứng tỏ ông có thể đã nghe thầy ông giảng những chuyện ấy và ôngghi lại trong khi ở Việt Nam Đến lúc qua Kiến Nghiệp, trong những thời gian rãnh rỗi, ôngđem ra nhuận chính và tổ chức lại bản phác thảo ấy và biến thành Cựu tạp thí dụ kinh Có lẽ vìtính chất phác thảo này, nên cho đến thời Tăng Hựu nó vẫn chưa được thừa nhận là một dịchphẩm của Khương Tăng Hội Phải đợi hơn ba mươi năm sau, khi Huệ Hạo viết Cao tăngtruyện, tính kinh điển của nó và tác quyền của Khương Tăng Hội mới được thừa nhận

Với tư cách một bản phác thảo được nhuận chính, Cựu tạp thí dụ kinh chắc hẳn phải đượchoàn thành trong một thời gian dài Điều này có nghĩa nó đã được ghi chép ở Việt Nam rồi sau

đó qua Trung Quốc mới nhuận chính Và việc nhuận chính chắc chắn phải xảy ra sau năm 258cho đến khi Khương Tăng Hội mất vào năm 280, bởi vì những năm trước đó ông còn lo phiêndịch Lục độ tập kinh và Đạo phẩm

Không những phiên dịch, cả Tăng Hựu lẫn Huệ Hạo đều nói Khương Tăng Hội còn viết chúthích cho ba kinh An ban thủ ý, Pháp kính và Đạo thọ cùng lời tựa cho chúng Trong ba bảnnày, ngày nay bản chú thích cho kinh An ban thủ ý đang còn, còn hai bản kia đã thất lạc Vềphần ba bài tựa, hiện được bảo lưu hai bài trong Xuất Tam tạng ký tập 6 ĐTK 2145 tờ 42c29-43c3 và tờ 46b19-c11

Hai bài tựa này cùng An ban thủ ý kinh chú giải có thể nói chắc chắn được biết rất sớm trongtoàn bộ sự nghiệp trước tác của Khương Tăng Hội với những lý do sau: Thứ nhất, An ban chú

tự của Đạo An (314-385) do Tăng Hựu sưu tập lại trong Xuất Tam tạng ký tập 6 ĐTK 2154 tờ43c22-23 nói: “Ngụy sơ, Khương Hội viết chú nghĩa cho (kinh) Nghĩa hoặc ẩn mà chưa rõ

An trộm không tự lượng dám nhân người trước, viết giải thích vào dưới”

Nhà Ngụy do Tào Phi thành lập năm 221 và chấm dứt năm Hàm Hy thứ nhất (265) củaNguyên đế Tào Hoán, kéo dài được 45 năm Cho nên, nếu Đạo An nói Khương Tăng Hội viết

An ban thủ ý kinh chú giải vào “đầu đời Ngụy” (Ngụy sơ), thì dứt khoát Hội không thể viết nósau năm 247 được Bởi vì từ năm 247 trở đi không thể gọi là “Ngụy sơ” được mà phải gọi là

“Ngụy mạt” Đây chắc là lý do tại sao Tăng Hựu đã tõ ra do dự khi nói về thời điểm dịch Lục

độ tập kinh và Ngô Phẩm trong Xuất Tam tạng ký tập 2 ĐTK tờ 7a27-b1 với câu: “Thời NgụyMinh đế (228-240) sa môn Khương Tăng Hội dịch ra vào đời Ngô chúa Tôn Quyền (222-252)

và Tôn Lượng (253-258)”

Và không chỉ chú giải kinh An ban thủ ý Đạo An còn là một nhà kinh lục đầu tiên có uy tíncủa lịch sử kinh lục Trung Quốc, mà Tăng Hựu trong Xuất Tam tạng ký tập 1 ĐTK tờ 1a27-b1

đã ca ngợi là người “đem tài lớn thấy sâu, soạn viết kinh lục, đính chính thấy nghe, phân biệt

rõ ràng” Huệ Hạo trong Cao tăng truyện 5 ĐTK 2059 tờ 352a27-b1 thì viết: “Từ Hán Ngụyđến Tấn, kinh đến càng nhiều., mà tên tự người truyền dịch kinh chẳng chép Người sau tìm

Trang 25

hiểu, không biết niên đại An bèn Tổng tập danh mục, ghi lại thời đại và tên người, chép phẩmmới cũ, soạn làm kinh lục Các kinh có chứng, thật do công của An”.

Bản kinh lục của Đạo An mà Huệ Hạo vừa đề cập và Tăng Hựu xử dụng để viết nên Xuất Tamtạng ký tập, chính là Tổng lý Chúng kinh mục lục Phí Trường Phòng trong Lịch đại tam bảo

ký 8 ĐTK 2034 tờ 76b13, Đạo Tuyên trong Đại đường nội điển lục 3 ĐTK 2149 tờ 251a2 vàTrí Thăng trong Khai nguyên thích giáo lục 10 ĐTK 2104 tờ 572c29-573a6 đã ghi lại và nhậnxét nó “đủ để lại mẫu mực cho người sau” Cho nên, những gì Đạo An phát biểu về An banthủ ý kinh chú giải không phải chỉ với tư cách của một nhà chú giải, mà còn với tư cách mộtnhà kinh lục có tầm cở và uy tín, một nhà kinh lục sống không cách thời Khương Tăng Hộibao nhiêu Hội mất năm 280 Ba mươi bốn năm sau Đạo An ra đời

Vì thế, khi An nói Khương Tăng Hội viết An ban thủ ý kinh chú giải vào thời Ngụy Sơ, thì đó

là một mẫu tin có độ tin cậy cao Và nó hoàn toàn phù hợp với những gì chính Hội viết trongbài tựa cho bản chú giải ấy, mà Tăng Hựu “sao soạn” lại trong Xuất Tam tạng ký tập dưới tên

An ban thủ ý kinh chú tự Chẳng hạn, khi nói An Thế Cao đến Trung Quốc, Hội viết: “Bèn ởkinh sư” Kinh sư đây chỉ Lạc Dương, mà cả nhà Hán lẫn Ngụy đều lấy làm thủ đô Do đó,không thể có việc Khương Tăng Hội đã viết bài tựa ấy sau năm 247, khi đang sống tại TrungQuốc, bởi vì lúc ấy Tôn Quyền đã xưng đế và kinh sư là Kiến Nghiệp chứ không thể là LạcDương

Một khi viết An ban thủ ý kinh chú giải và An ban thủ ý kinh tự vào thời "Ngụy sơ", tứckhoảng những năm 221-230, thì cũng có khả năng Khương Tăng Hội đã soạn Pháp kính kinh

tự và Pháp kính kinh giải tử chú vào cùng giai đoạn đó Pháp kính kinh giải tử chú ngày nay

đã mất, nên ta không thể bàn gì thêm Nhưng Pháp kính kinh tự hiện còn do Tăng Hựu chéplại trong Xuất Tam tạng ký tập Khi nói về tình cảm của mình đối với các vị thầy, Hội viết:

“Táng sư lịch tải, mạc do trùng chất, tâm sảng khẩu bồi, đình bút sảng như, truy viễn mộ thành,thế tứ tinh lưu” Đọc những dòng này, ta thấy phảng phất giống như câu Hội viết trong An banthủ ý kinh chú tự: “ Tam sư điêu táng, ngưỡng chiêm văn nhật, bi vô chất thọ, quyện ngôn cốchi, san nhiên xuất thế” Do tính nhất quán trong tình cảm và ngôn từ của hai đoạn vừa dẫn, ta

có thể giả thiết Pháp kính kinh tự viết không cách xa An ban thủ ý kinh tự bao nhiêu Vì vậyPháp kính kinh giải tử chú có khả năng hoàn thành vào khoảng những năm 221-230 ở nước ta.Cần nói thêm là những lời tựa bạt do Tăng Hựu chép lại trong Xuất Tam tạng ký tập đã chịumột quá trình "sao soạn", như Huệ Hạo đã nhận xét trong truyện của Tăng Hựu ở Cao tăngtruyện 11 ĐTK 2059 tờ 402c29 - 403a1: "Xưa khi Hựu đã tập hợp tạng kinh xong, bèn saingười sao soạn yếu sự làm Tam tạng ký, Pháp uyển ký, Thế giới ký, Thích Ca phổ và HoằngMinh tập v.v đều lưu hành ở đời" Quá trình sao soạn này đã làm mất đi bao nhiêu diện mạothực của các văn bản, ta hiện nay không thể xác định được một cách chính xác Tuy nhiên, cứvào những gì đang có trong tay, ta có thể nói Tăng Hựu đã ít nhiều cải đổi bộ mặt của văn bản,

mà ông cho người “sao soạn”

Chỉ cần đọc lại Lý hoặc luận trong Hoằng Minh tập 1 ĐTK 2102 tờ 1a28-7a22 và các tríchdẫn của Kinh Khê đại sư Trạm Nhiên trong Ma ha chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết vàHoằng quyết ngoại điển sao thì thấy ngay Trong trường hợp An ban thủ ý kinh tự ở đây, tamay mắn có một câu trích của Huệ Hạo trong truyện của An Thế Cao ở Cao tăng truyện 1ĐTK 2059 tờ 324a27 - b1, nói rằng: “Chú An ban thủ ý kinh tự của Khương Tăng Hội nói:Kinh này do Thế Cao dịch ra, lâu bị chìm che, may có Hàn Lâm từ Nam Dương, Văn Nghiệp

từ Dĩnh Xuyên, Trần Huệ từ Cối Kê, ba vị hiền này tin đạo dốc lòng, Hội cùng họ thỉnh thọ,

Trang 26

nên Trần Huệ chú nghĩa, tôi giúp châm chước” Rõ ràng bản An ban thủ ý kinh tự hiện naykhông có hai câu “kinh này do Thế Cao dịch ra, lâu bị chìm che”.

Dẫu sao đi nữa, ta ngày nay vẫn ít nhiều có được hai bài tựa viết cho kinh An ban thủ ý vàkinh Pháp kính, cùng với bản chú thích kinh An ban thủ ý Bản chú thích kinh An ban thủ ýnày hiện nay gây không ít khó khăn, vì có sự nhập nhằng giữa lời chú của Khương Tăng Hội

và lời giải của Thích Đạo An, mà An ban chú tự dẫn trên đã nói tới Tuy vậy, dù có khó khănnhập nhằng, điều may mắn là nó đã tồn tại và sẽ là đối tượng nghiên cứu của chúng ta, để tìmlại những gì mà thầy của Khương Tăng Hội đã truyền cho ông, và từ đó xác định hệ tư tưởngnơi vị thày này cũng như của Phật giáo Việt Nam thời Hội

Ngoài việc viết ba bản chú thích và ba bài tựa vừa bàn, Cao tăng truyện còn nói Khương TăngHội “lại truyền lời bối Nê hoàn réo rắt trầm buồn, làm mô thức cho một thời” Tiểu sử củaKhương Tăng Hội trong Xuất Tam tạng ký tập 13 không ghi sự kiện này Nhưng quyển 12ĐTK 2145 tờ 92b3, khi chép lại nội dung Pháp uyển tạp duyên nguyên thỉ tập mục lục, có ghiKhương Tăng Hội truyền Nê hoàn bối ký Điều này chứng tỏ Tăng Hựu có biết việc truyền bá

Nê hoàn bối của Khương Tăng Hội, nhưng đã không ghi vào tiểu sử Có thể Tăng Hựu cho Nêhoàn bối tự bản thân là một bài ca bày tỏ tình cảm về sự viên tịch của đức Phật, nên khôngxứng đáng để vào sự nghiệp trước tác của Khương Tăng Hội Thêm vào đó, tiểu truyện trongcác quyển 13, 14 và 15 của Xuất Tam tạng ký tập đều xoay quanh chủ đề phiên dịch và chúthích kinh điển Cho nên, có lẽ Tăng Hựu thấy nó không hợp để ghi vào tiểu truyện một tácphẩm âm nhạc Cao tăng truyện của Huệ Hạo ngược lại đã dành hẳn một mục gọi là kinh sư,

để ghi lại những cao tăng giỏi về lễ nhạc Phật giáo Trung Quốc Cho nên, Huệ Hạo ghi Nêhoàn bối như một tác phẩm của Khương Tăng Hội là điều tự nhiên

Khi nói về lịch sử của nền lễ nhạc này, Huệ Hạo trong Cao tăng truyện 13 ĐTK 2059 tờ415b23-29 đã viết: “Khỉ nguyên của Phạn bối vốn bắt nguồn từ Trần Tư Vương khởi đầu viếtThái tử tụng và Thiệm tụng Sau đó cư sỹ Chi Khiêm cũng truyền Phạn bối ba bài đều maimột không còn Chỉ Khương Tăng Hội sáng tạo Nê hoàn Phạn bối đến nay vẫn truyền, tứcKính yết một bài, lời lấy từ bản kinh Nê hoàn hai quyển, nên gọi là Nê hoàn bối” Rồi khi cangợi lễ nhạc của Chi Đàm Thược là tuyệt vời ở tờ 413c11-12, Huệ Hạo lại nói: “Tuy có Đông

A (tức Tào Thực) bắt đầu ở trước, Khương Hội sáng tạo về sau, đầu cuối tiếp nhau, cũng chưa

có ai tuyệt vời như Thược”

Bối hay Phạn bối là một loại nhạc bản dùng trong lễ nhạc Phật giáo Chính Huệ Hạo đã phânbiệt nhạc và bối khác nhau như thế nào ở tờ 414c22-28: “Cho nên lời tựa Kinh thi nói: ‘Tìnhđộng ở trong, thì biểu hiện thành lời nói, lời nói không đủ, nên vịnh ca’ Song lời ca của ĐôngQuốc là kết vận để thành vịnh, còn tán của phương Tây là làm kệ để hòa thanh Tuy ca tánkhác nhau, nhưng đều lấy việc hiệp hài chung luật, phù hợp cung thương thì mới nên hay hothấm thía Cho nên, tấu ca vào kim thạch thì gọi nhạc, diễn tán bằng ống dây thì đặt tên là bối”

Rõ ràng, nói đến bối hay Phạn bối phải giả thiết người ta biết xử dụng nhạc lý và nhạc cụ, phảihiểu khả năng diễn xuất và tiết tấu của từng nhạc khí, vì “diễn tán bằng ống dây thì đặt tên làbối” Ống đây là các loại tiêu, địch, kèn, tù và v.v Và dây đây là các loại đàn từ một dây, nhưđàn độc huyền, mà Soạn tập bách duyên kinh đã nói tới, cho tới nhiều dây như tranh, nguyệt,

tỳ bà, mà ta thấy khắc trên bệ đá chùa Phật Tích[80][80]

Cho nên, Nê hoàn bối có thể nói là một phổ nhạc lời ai điếu của chư thiên trong kinh Niếtbàn bản hai quyển Lời văn như thế không phải là một sáng tạo của chính Khương Tăng Hội.Điểm Khương Tăng Hội sáng tạo là biến nó thành một bản nhạc, và trở thành Nê hoàn bối Nê

Trang 27

hoàn bối còn có tên Kính yết Gọi là Kính yết hẳn ám chỉ đến việc đến yết kiến đức Phật.Nhưng vì yết kiến Ngài qua xá lợi còn để lại, nên có lẽ Khương Tăng Hội mới làm bài Nêhoàn bối, diễn tả tình cảm nhớ thương vô hạn của những người con Phật về sau khi chiêmngắm di cốt của Ngài qua xá lợi Nếu giả thiết này đúng, thì có thể Nê hoàn bối là một trongnhững sáng tác phẩm đầu tiên được viết ở Trung Quốc của Khương Tăng Hội, khoảng nhữngnăm sau khi cầu được xá lợi, tức từ năm 247 đến năm 251.

Vậy, viết Nê hoàn bối, Khương Tăng Hội chứng tỏ không những ông là một trong nhữngngười đặt nền móng cho nền lễ nhạc Phật giáo Trung Quốc, mà còn là một thành tựu kiệt xuấtcủa nền âm nhạc và giáo dục âm nhạc Việt Nam và Phật giáo Việt Nam Lịch sử và truyềnthống âm nhạc Việt Nam trước năm 939 khi Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán, không phảihoàn toàn trống vắng, như trước đây nhiều người đã lầm tưởng[81][81] Với những thành tựunhư Khương Tăng Hội, ta thấy giả thiết về một nền giáo dục Việt Nam và Phật giáo Việt Namhoàn chỉnh, đa dạng và khai phóng ở trên là hoàn toàn có thể biện minh và đúng đắn Chínhnền giáo dục hoàn chỉnh đa dạng cởi mở đó đã tạo nên được những thiên tài có những đónggóp nhất định cho dân tộc và nhân loại

Về mặt lịch sử, Khương Tăng Hội, thông qua Lục độ tập kinh, là người bảo lưu đầu tiên hiệnbiết của truyền thuyết trăm trứng của dân tộc ta Truyền thuyết chắc hẳn đã lưu hành rộng rãivào thời Lục độ tập kinh trong nhân dân người Việt để giải thích cho nguồn gốc Bách Việt của

họ Rồi trong quá trình Việt hóa Phật giáo, những trí thức Phật giáo Việt Nam đã dựa vào đểcải biên Đến sau này khi phiên dịch Lục độ tập kinh ra tiếng Trung Quốc, Khương Tăng Hộivẫn bảo lưu tình tiết một trăm trứng này, dù chắc chắn ở Kiến Nghiệp hồi bấy giờ đã biết tớitruyện một trăm người con từ một trăm cục thịt do Chi Khiêm dịch trong Soạn tập bách duyênkinh vào khoảng từ 222 đến 253[82][82]

Về mặt ngôn ngữ, Lục độ tập kinh cùng với Tạp thí dụ kinh đã để lại cho ta một loạt nhữngcấu trúc tiếng Việt cổ quý giá, mà từ đó tham khảo thêm bài Việt ca do Lưu Hướng chép lạitrong Thuyết uyển[83][83], ta có thể phục chế lại một phần nào diện mạo của tiếng nói dân tộccách đây hai nghìn năm Đây phải nói là một đóng góp vô giá đối với khoa ngữ học lịch sửtiếng Việt

Về mặt tư tưởng, những phạm trù và quan hệ xã hội cơ bản đã được thiết định theo nhân quanngười Việt và Phật giáo một cách minh nhiên trong Lục độ tập kinh, đồng thời tiến hành phêphán hệ tư tưởng người Hán, mà đại biểu cụ thể ở nước ta thời bấy giờ là các tay Nho cở nhưLưu Hy, Hứa Tỉnh, Tiết Tôn, Ngu Phiên v.v Những phạm trù nhân nghĩa, trung hiếu, thànhtín v.v những quan hệ vua tôi, cha con, vợ chồng, thầy trò này được thổi vào một nội dungmới, dựa trên cơ sở những thành tựu của nền văn hóa Việt Nam và tiếp thu những đóng gópcủa hệ tư tưởng Phật giáo[84][84] Chính xuất phát từ những lý luận mới được thiết định này,dân tộc ta phản công lại các luận điệu vu vơ do các tay ấy tung ra với ý đồ nô dịch lâu dài, nếukhông là đồng hóa vĩnh viễn dân tộc ta

Về mặt văn học, những cống hiến của sự nghiệp dịch thuật và trước tác của Khương Tăng Hộicàng khởi sắc, vì ở đây Khương Tăng Hội đã bảo lưu cho chúng ta một số các tác phẩm vănhọc dân tộc, mà sau này đã trở thành loại hình văn học dân gian vô danh không niên đại.Truyện người mù rờ voi, truyện giết rồng cứu một nước của Lục độ tập kinh chẳng hạn, haytruyện cò đem rùa đi chơi của Tạp thí dụ kinh là những thí dụ điển hình Chúng sẽ là đốitượng nghiên cứu của khoa lịch sử văn học Việt Nam, nhằm xác định lại quá trình hình thành

Trang 28

và phát triển của lịch sử văn học dân tộc Lịch sử văn học dân tộc ta như vậy không phải bắtđầu với Trần Nhân Tông và Nguyễn Trãi, hay xa hơn với Từ Đạo Hạnh với bài thơ mở đầutuồng chèo, thậm chí với cả Đạo Cao, Pháp Minh, Lý Miễu Nó đã bắt đầu với các truyện củaLục độ tập kinh, nếu không là bài Việt ca do Lưu Hướng ghi lại trong Thuyết uyển.

Về mặt khoa học kỹ thuật, Lục độ tập kinh, và Tạp thí dụ kinh sẽ cung cấp cho ta các dữ kiệntrong các lĩnh vực khoa học tự nhiên, xã hội, và kỹ thuật, giúp ta không những hiểu được trình

độ khoa học kỹ thuật của dân tộc ta thời bấy giờ, mà còn giúp ta xây dựng lại lịch sử khoa học

kỹ thuật Việt Nam Những tri thức khoa học tự nhiên như quá trình phát triển thai nhi, thờigian hoàn tất mỹ mãn quá trình v.v những hiểu biết về khoa học xã hội như quan hệ hônnhân, tập tục cưới xin, những kiến thức kỹ thuật như rèn, đúc, làm gốm với trình độ ngàynay, phải nói đã đạt được một sự chính xác khá cao đáng khâm phục

Về mặt nghệ thuật âm nhạc, với sự xuất hiện của các tượng Phật và Nê hoàn bối, ngày nay tabiết lịch sử nghệ thuật và âm nhạc Việt Nam không trống vắng, vào những thế kỷ đầu củacuộc đấu tranh một mất một còn với kẻ thù phương Bắc, như trước đây nhiều người đã lầmtưởng Đặc biệt về âm nhạc Việt Nam và lễ nhạc Phật giáo Việt Nam, bây giờ ta có thêm têntuổi của một nhạc sỹ tầm cỡ, từng làm “khuôn mẫu cho một thời”, đó là Khương Tăng Hội, dùKhương Tăng Hội chỉ làm công tác “truyền”, chứ không phải sáng tác loại nhạc Phạn bối đó.Như vậy, sự nghiệp phiên dịch trước tác của Khương Tăng Hội không chỉ giới hạn vào việchoằng dương chính pháp ở Trung Quốc, mà đối với lịch sử dân tộc ta đã để lại nhiều cống hiếnquý báu Tất nhiên, đối với lịch sử Phật giáo Trung Quốc, Khương Tăng Hội có một vị trí vàảnh hưởng lớn lao, mà những nhân vật lớn của nền lịch sử ấy không ai là không nhắc tới TừĐạo An cho đến Huệ Duệ, từ Tăng Hựu cho đến Huệ Hạo, từ Tôn Xước cho đến Phí TrườngPhòng, từ Đạo Tuyên cho đến Trí Thăng, họ đã dành cho Khương Tăng Hội một niềm kínhtrọng sâu xa và một lòng ngưỡng mộ thắm thiết

Còn đối với lịch sử Việt Nam và Phật giáo Việt Nam, vị thế của Khương Tăng Hội nằm ở chỗđây là lần đầu tiên Phật giáo nước ta đã thành công thực hiện nghĩa vụ hoằng pháp của mìnhđối với thế giới và dân tộc ta đã khẳng định mạnh mẽ bản lĩnh văn hóa ưu việt của mình quaviệc đông du khai hóa của Khương Tăng Hội Dĩ nhiên, Khương Tăng Hội không phải làngười duy nhất đi ra khỏi nước để làm nhiệm vụ truyền giáo Sau ông có Huệ Thắng, ĐạoThiền, rồi Đại Thừa Đăng v.v Điểm lôi cuốn là vào cuối thế kỷ thứ hai đầu thế kỷ thứ ba,dân tộc ta thông qua và kết hợp chặt chẽ với Phật giáo đã xây dựng xong bức tường thành vănhóa có khả năng chận đứng mọi âm mưu xâm lược và đồng hóa của kẻ thù, mà Khương TăngHội là một cột mốc trong bức tường thành đó

Sự nghiệp phiên dịch và trước tác của Khương Tăng Hội đáng cho ta nghiên cứu nghiêm túchơn nữa để làm rõ thêm những thành tựu mà dân tộc ta đã đạt được trong những ngày thángđầu tiên đấu tranh đầy cam go và khốc liệt, nhưng cũng đầy hào hùng và hoành tráng ấy

1.2.2.3 Chi Cương Lương

Chi Cương Lương (Tche-kiang-leang) : Trong một bài khảo về bản dịch “Thập nhị du kinh”của ông Pelliot có dẫn lời ông Phí Trường Phòng trong sách Lịch đại tam bảo ký rằng: “Đờivua Võ Đế nhà Tấn (265 - 290) có ông Cương Lương Lâu Chí dịch kinh Chân Hỷ ở đất Quảngchâu vào khoảng niên hiệu Thái Thụy (266).”

Lại trong một bản Kinh Tịch chí, ông Nanjio có dẫn đến một ông tên là Chi Cương Lương tiếpdịch kinh ở đất Giao Châu Theo ông Pelliot kê cứu thì hai ông ấy chỉ là một người Cương

Trang 29

Lương Lâu Chí chữ Phạn viết Kalyana ruci, theo sự khảo cứu của Trần Văn Giáp tiên sanhtrường Bác Cổ Viễn Đông[2]

Cuối cùng, vị sư Chi Cương Lương Tiếp với chữ Chi đi đầu biểu thị nguồn gốc dân tộc Scyth,một dân tộc ở phía Tây Bắc Ấn Độ, dịch là xứ Nguyệt Chi Còn tên "Cương Lương Tiếp", tađược biết tiếng Hán dịch là Chính Vô Úy Chữ Cương Lương có thể tái thiết lại là Kalyàna, và

từ này trong tiếng Hán cũng thường được dịch là chánh chơn, chơn thiện, chơn thật v.v Còn

"tiếp" thì có thể tái thiết, tiếng Phạn lại là siva, mà tiếng Hán thường dịch là an ổn, cát tường,v.v Cương Lương Tiếp như vậy có tên tiếng Phạn là Kalyàna'siva, chư không phải nhưBagchi1 đã đề nghị là Kàla'siva Tuy nhiên, Phí Trường Phòng trong Lịch đại tam bảo ký 6 tờ65a8-11 có ghi là một "Sa-môn ngoại quốc tên Cương Lương Lâu Chí, tiếng Tấn gọi là Chân

Hỉ, vào năm Thái thủy thứ 2 (266) từ Quảng Châu" dịch Thập nhị du kinh, và nói là căn cứvào Thủy hưng lục và Bảo xướng lục Mẫu tin này, sau đó Đại Đường nội điển lục 3 tờ 243b6-9; Cổ kim dịch kinh đồ ký 2 tờ 354a 26-28; Đại Châu san định chúng kinh mục lục 9 tờ 431a

11 - 13; Khai Nguyên Thích giáo lục 2 tờ 497b18-22 và Trinh nguyên tân định Thích giáomục lục 4 tờ 794c6-10 đã chép lại Cho nên Pelliot trong bản nghiên cứu về Thập nhị du kinh

2 đã đồng nhất Chi Cương Lương Tiếp với Cường Lương Lâu Chí Điều này đã dẫn Trần VănGiáp ghi nhận sự có mặt của Cương Lương Lâu Chí tại nước ta và sau đó những người viếtlịch sử Phật giáo Việt Nam đều lập lại sai lầm này Zurcher 3 cũng muốn đồng nhất hai ngườinày với nhau, nhưng vì có tộc danh Chi (ethnikon) đứng trước Cương Lương Tiếp và vì nghĩacủa hai tên Cương Lương Tiếp và Cương Lương Lâu Chí khác nhau nên cũng không biết giảiquyết ra sao

Chúng tôi nghĩ rằng Cương Lương Tiếp và Cương Lương Lâu Chí là hai nhân vật khác nhau.Một nhân vật sống tại nước ta vào khoảng những năm 256 tên Chi Cương Lương Tiếp, mà chữPhạn là Kalyàna'siva, còn nhân vật Cương Lương Lâu Chí sống tại Quảng Châu 10 năm sau

đó (266) có tên chữ Phạn là Kalyànaruci Dù cho bản in đời Nguyên và Minh của Đại Đườngnội điển lục 2 tờ 226c10 có Cương Lương Tiếp viết thành Cương Lương Lâu và Đại Châu sanđịnh mục lục có Cương Lương Lâu dịch kinh Pháp Hoa tam muội, thì toàn bộ các kinh lụckhác từ Lịch đại tam bảo ký cho đến Trinh nguyên tân định Thích giáo mục lục cũng như cácbản in của những kinh lục này từ Cao Lệ, Tống cho đến Nguyên, Minh, trong đó gồm có bản

in đời Tống và Cao Lệ của Đại Đường nội điển lục, đều nhất trí ghi tên Cương Lương Tiếp đãcùng với Đạo Thanh dịch Pháp Hoa tam muội kinh Cương Lương Tiếp và Cương Lương LâuChí do thế dứt khoát là hai nhân vật khác nhau

Vì Cương Lương Tiếp, Kalyàna'siva, có tộc danh là Chi, cho nên quan hệ giữa Đạo Thanh và

vị Sa-môn này không phải là quan hệ thầy trò mà chỉ là một quan hệ hợp tác trong việc dịchthuật Ta biết điều này bởi vì các kinh lục đều ghi Đạo Thanh với tư cách là Sa-môn ĐạoThanh hay Sa-môn Thích Đạo Thanh, như Lịch đại tam bảo ký và Đại Đường nội điển lục ghi,trong khi đó Cổ kim đồ thư ký, Khai Nguyên Thích giáo lục và Trinh nguyên tân định Thíchgiáo mục lục đều nhất trí ghi là Sa-môn Trúc Đạo Thanh Với tộc danh Trúc đứng trước tênmình, Đạo Thanh dứt khoát phải là đệ tử của một nhà sư Ấn Độ tại nước ta vào thượng bán thế

kỷ III sdl Ai có thể là vị thầy này của Đạo Thanh? Trong số những nhà sư Phật Giáo có mặttại nước ta trong thượng bán thế kỷ III này, ngoài Mâu Tử, Khương Tăng Hội, mà cả haingười đều không có họ Trúc được, ta có vị sư Thiên Trúc nổi tiếng Khâu Đà La (Ksudra).Trong chương trên, ta đã ghi nhận là Khâu Đà La mất khi đã hơn 90 tuổi, và niên đại ông cóthể rơi vào khoảng những năm 160 - 255 Và nhà sư này cứ vào Cổ châu Pháp Vân Phật bản

Trang 30

hành ngữ lục là người Tây Thiên Trúc và đã có một quan hệ mật thiết với trung tâm Phật giáoLuy Lâu, đặc biệt với sự hình thành truyền thống Phật giáo Tứ Pháp của chùa Dâu Có khảnăng rất lớn là Đạo Thanh đã học tiếng Phạn với Khâu Đà La, để sau này có thể bút thọ PhápHoa tam muội kinh với Cương Lương Tiếp.

Bút thọ là một hiện tượng dịch kinh đặc thù của Phật giáo nước ta và sau này của Trung Quốc.Trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc , hiện tượng bút thọ đầu tiên được ghinhận là xảy ra vàongày rằm tháng 5 năm Nguyên Khương thứ nhất (291) ở tại chùa Thủy Nam, đất Thương Viêncủa Trần Lưu, khi Sa-môn Moksala người Vu Điền (Khotan) cầm bản Phạn, Ưu-bà-tắc TrúcThúc Lan khẩu truyền, còn Chúc Thái Huyền và Chu Huyền Minh bút họ Hiện tượng bút thọxảy ra là do sự không thông hiểu lắm tiếng bản dịch của người dịch, cho nên cần một trunggian vừa hiểu tiếng của bản văn cần dịch vừa hiểu tiếng bản địa để có thể truyền đạt và ghichép lại ý nghĩa của bản văn cần dịch ra tiếng bản địa Ở nước ta, khi Đạo Thanh bút thọ PhápHoa tam muội kinh thì điều này có nghĩa Cương Lương Tiếp không rành tiếng Hán cho lắm

Và về bản thân Đạo Thanh thì ông phải một phần nào biết chữ Phạn và một phần nào biết chữHán để có thể bút thọ bản kinh này Bản kinh này dứt khoát là phải được ghi bằng chữ Hán vìsau này nó đã xuất hiện ở Trung Quốc để được ghi vào Ngụy thế lục mục Ngoài ra, cũng vìhiện tượng bút thọ này ta có thể giả thiết hoặc là Cương Lương Tiếp mới đến nước ta cho nênkhông rành tiếng Hán, và phải nhờ sự trợ giúp bút thọ của Đạo Thanh Hoặc cũng có thểCương Lương Tiếp đã đến nước ta lâu ngày, sống trong các ngôi chùa Việt, rành tiếng Việtnhưng không rành tiếng Hán, vì thế đến lúc do yêu cầu chính trị của việc dịch kinh điển Phậtgiáo ra tiếng Hán, Đạo Thanh đã giúp Chi Cương Lương Tiếp, bút thọ Pháp Hoa tam muộikinh Giả thiết này không phải là hoàn toàn vô bằng, khi ta chú ý đến sự xuất hiện của PhápHoa tam muội kinh trong Ngụy thế lục mục

1.2.2.4 Mâu Tử

Mâu Bác (Méou-pô) : Theo ông Pelliot khảo cứu trong sách Mâu Tử lý hoặc thì Mâu Bác hayMâu Tử cũng là một Ngài người quận Thương Ngô tức Ngô Châu bây giờ Sau khi vua HánLinh Đế mất (189) ngài theo mẹ qua ở Giao Châu Bấy giờ nước Trung Hoa rối loạn, các sĩphu tránh qua đất Giao Châu rất đông, có nhiều người theo đạo Lão học phép tiên

Ngài thường cùng đạo sĩ biện luận, nhiều khi họ không trả lời được những nghi vấn của ngài;ngài liền phát tâm theo Phật giáo Theo ông Pelliot kê cứu thì ngài Mâu Bác sanh vào khoảngnăm 165 - 170 Tây lịch

Trong phần mở đầu Lý hoặc luận, Mâu Tử có nói ít nhiều về quá trình học tập và chuyểnhướng theo Phật giáo của mình, đồng thời trình bày lý do tại sao mình lại viết Lý hoặc luận.Phần này các nhà nghiên cứu thường gọi là phần tự truyện

Phân tích phần này sẽ cho chúng ta những cột mốc niên đại khá chính xác về cuộc đời củaMâu Tử, và từ đó của Lý hoặc luận Bắt đầu giới thiệu, Mâu Tử viết:

“Mâu Tử đã đọc kinh truyện chư tử, sách không kể lớn nhỏ, không sách gì là không thích Tuykhông ưa binh pháp, mà vẫn đọc nó Tuy đọc sách thần tiên bất tử, ông dẹp đi không tin, cho

là dối trá

Thời ấy, sau khi Linh đế băng hà, thiên hạ nhiễu loạn, chỉ có Giao Châu tạm yên Người lạphương Bắc đều đến để ở, phần lớn luyện phép tịch cốc trường sinh của thần tiên Người bấygiờ phần nhiều là kẻ có học Mâu Tử thường đem năm kinh vặn hỏi Đạo gia thuật sĩ không aidám đáp, ví ông với Mạnh Kha cự lại Dương Chu, Mặc Địch

Trang 31

Trước thời ấy, Mâu Tử đem mẹ tránh nạn ở Giao Chỉ Năm 26 tuổi về Thương Ngô cưới vợ.Thái thú nghe tiếng học giỏi, đến thăm và mời làm quan Bấy giờ tuổi mới lớn, chí ham việchọc, lại thấy đời loạn, nên không có ý làm quan, nên rốt cuộc không đến Lúc ấy, các châuquận nghi nhau, cách trở không thông, thái thú cho ông học rộng biết nhiều, sai đi Kinh Châudâng lễ Mâu Tử cho vinh trước dễ nhượng, nhưng sứ mệnh khó từ Bèn chuẩn bị lên đường,thì gặp lúc châu mục ưu văn đãi sỹ, bổ làm quan Ông lại cáo bệnh, không đến.

Người em châu mục làm thái thú Dự Chương bị trung lang tướng Trức Dung giết Bấy giờchâu mục sai kỵ đô úy Lưu Ngạn đem binh đến đó, nhưng sợ cõi ngoài nghi ngờ, quân khôngtiến được Châu mục mới mời Mâu Tử, nói: “Em tôi bị nghịch tặc ám hại, nỗi đau cốt nhục uấtphát tim gan, phải sai kỵ đô úy Lưu đi, sợ cõi ngoài nghi nan, người đi không thông Ngài văn

võ gồm đủ, có tài chuyên đối Nay muốn dẹp bỏ, mượn đường Linh Lăng, Quế Dương để chothông lộ, thì thế nào?" Mâu Tử nói: “Chịu nghĩa, thụ ân đãi ngộ lâu ngày, liệt sĩ quên mình,hứa chắc đi được” Bèn chuẩn bị ra đi, thì gặp mẹ mất bất ngờ, nên không đi được

Lâu rồi, rút lui nghĩ: “Mình vì giỏi biết mà được giao sứ mạng Đời nay nhiễu nhương, chẳngphải lúc làm rõ mình” Rồi than: “Lão Tử dứt thánh bỏ trí, tu thân giữ chân, vạn vật khôngngăn chí ông, thiên hạ không đổi niềm vui ở ông, thiên tử không được bề tôi, chư hầu khôngđược người bạn Nên gọi là quí”

Do thế ông dốc chí vào đạo Phật, gồm ngâm Lão Tử năm ngàn chữ, ngậm huyền diệu làmrượu ngon, chơi năm kinh làm đàn sáo Bọn thế tục phần nhiều cho là không phải, bảo là bỏnăm kinh mà theo đạo khác Muốn cãi thì không phải đạo, mà muốn im thì không thể, nên đãlấy bút mực, gọn dẫn lời thánh hiền để chứng giải, đề tên Mâu Tử lý hoặc

Qua những lời tự sự vừa dịch ta thấy trong số các nhân vật liên hệ với cuộc đời của ông, Mâu

Tử nêu rõ tên hai người, đó là trung lang tướng Trức Dung[36][36], và kỵ đô úy Lưu Ngạn

Về trung lang tướng Trức Dung, đây là một nhân vật lịch sử có tiếng tăm thời Hán mạt Tiểu

sử của Trức Dung hiện được ghi kèm trong truyện Đào Khiêm của Hậu Hán thư 103 tờ

11a3-12 và truyện Lưu Do của Ngô chí 4 tờ 2a10-b8 Hai bản tiểu sử này chủ yếu thống nhất vớinhau, nhưng so ra bản của Ngô chí đầy đủ chi tiết hơn, nên chúng tôi cho dịch lại ở đây để tìmhiểu về Trức Dung

“Trức Dung người Đan Dương, ban đầu họp chúng được mấy trăm người, đến dựa vào châumục Từ châu Đào Khiêm Khiêm sai coi vận tào Quảng Lăng Bành Thành, bèn phóng túng tự

do giết hại, ngồi quyết đoán việc bỏ hay thu thuế ba quận, để tự đem vào cho mình Rồi dựnglớn chùa Phật, lấy đồng đúc làm người, vàng ròng thếp mình, mặc dùng gấm màu, treo mâmđồng chín từng, dưới làm lầu đôi có bao lơn, có thể chứa tới hơn ba nghìn người Tất cả từngbuổi đọc kinh Phật, khiến người trong quận mình và các quận bên có ai thích Phật giáo, chophép đến theo đạo, tha hết các phu dịch khác để lôi kéo họ Nhờ vậy, xa gần, trước sau, ngườiđến hơn năm nghìn hộ người Mỗi lễ tắm Phật, thì phần nhiều dọn cơm rượu, trải chiếu giữađường, dài mấy chục dặm Người dân đến xem và tới ăn cả vạn người, phí tổn kể cả ức Tàocông đánh Đào Khiêm, đất Từ tao động Dung đem trai gái một vạn khẩu, ngựa ba nghìn con,chạy đến Quảng Lăng Thái thú Quảng Lăng và Triệu Dục lấy khách lễ đối đãi Trước đó,tướng Bành Thành là Tiết Lễ bị Đào Khiêm ép qua đóng Mạt lăng Dung lợi dụng dân chúngQuảng Lăng nhân say rượu, giết Dục, thả lính cướp sạch, nhân đó chở đi, qua giết Lễ, rồi saugiết Hạo”

Sau câu cuối "giết Hạo" này, Hậu Hán thư thêm: “Vào chiếm thành của Hạo, sau bị thứ sửDương châu Lưu Do đánh phá, chạy vào trong núi, bị người ta giết” Chi tiết này Ngô chí 4 tờ

Trang 32

2a3-10 truyện Lưu Do nói rõ hơn: “Tôn Sách vượt sông về đông, đánh Trương Anh và PhànNăng v.v Lưu Do chạy tới Đan Đồ, rồi qua sông về nam giữ Dự Chương, đóng ở BànhTrạch Trức Dung đến trước, giết thái thú Chu Hạo, vào ở trong quận Do tiến quân đánhDung, bị Dung đánh bại, lại tập hợp các huyện thuộc mình đánh Dung, Dung bại, chạy vào núi,

bị dân giết”

Việc Lưu Do chạy về giữ Dự Chương, Hán kỷ của Viên Hoằng do Bùi Tùng Chi dẫn trongNgô chí 4 tờ 2a3-6 nói: “Lưu Do sắp chạy qua Cối Kê Hứa Tử Tương nói: ‘Cối Kê giàu có, làchỗ Sách tham Hơn nữa, nó nằm kẹt ở góc biển, không thể đến được Không chi bằng DựChương, bắc giáp đất Dự, tây tiếp Kinh Châu, nếu thu được quan dân, sai sứ cống hiến thì cóthể liên lạc vào Tào Duyện châu Tuy có Viên Công Lộ nằm cách ở giữa, nhưng người này sàilang, không thể tồn tại lâu Túc hạ lại nhận lệnh vua, Mạnh Đức và Cảnh Thăng tất phải đếncứu’ Do làm theo”

Khi đến Dự Chương, đóng tại Bành Trạch, theo Hiến đế Xuân thu của Viên Việp, mà BùiTùng Chi dẫn trong Ngô chí 4 2a7-8 thì: “Năm đó Do đồn Bành Trạch, lại sai Dung giúp Hạođánh Gia Cát Huyền do Lưu Biểu dùng Hứa Tử Tương bảo Do: ‘Trức Dung ra quân, khôngquan tâm đến chính nghĩa Chu Văn Minh khéo suy sự thành thật để tin người Nên sai lén đềphòng’ Dung đến, quả giết Hạo, thay nắm việc quận”

Giang biểu truyện do Bùi Tùng Chi dẫn trong truyện Tôn Sách của Ngô chí 4 8a4-10 kể rõhơn quan hệ Tôn Sách, Lưu Do, Trức Dung và Tiết Lễ như sau: “Sách vượt sông đánh doanhNgưu Chữ của Do, lấy sạch kho lương gạo chiến cụ Năm ấy là năm Hưng Bình thứ 2 (195).Bấy giờ tướng Bành Thành là Tiết Lễ, tướng Hạ Bì là Trức Dung, dựa Do làm minh chúa Lễcứu thành Mạt Lăng Dung Đồn huyện nam Sách trước đến đánh Dung Dung ra quân giaochiến Sách chém được 500 thủ cấp Dung bèn đóng cửa không dám hành động Sách nhân đóvượt sông đánh Lễ Lễ bỗng bỏ chạy Nhưng Phàn Năng, Vu My v.v lại tập hợp lính, tậpkích, đoạt lại đồn Ngưu Chữ, Sách nghe trở về, đánh phá được Năng v.v bắt được trai gáihơn vạn người, lại trở xuống đánh Dung, bị tên bắn trúng thương bắp vế, không thể cưỡi ngựa,nhân đó tự trở về doanh Ngưu Chữ Hoặc có kẻ phản báo Dung: ‘Chàng Tôn bị tên đã chết’.Dung rất mừng, liền sai tướng đi nghe ngóng Sách Sách sai bộ kỵ mấy trăm khiêu chiến, đặtmai phục ở sau Giặc ra đánh, gươm dao chưa chạm nhau thì giả bỏ chạy Giặc đuổi theo vàotrong chỗ mai phục, bèn đánh lớn, chém hơn một ngàn thủ cấp Sách nhân đó đi đến dướidoanh của Dung, ra lệnh cho tả hữu hô lớn: ‘Chàng Tôn cuối cùng thế nào rồi?” Giặc do thếkinh sợ, ban đêm trốn đi Dung nghe Sách vẫn còn, càng xây dựng hào sâu, lũy cao, sửa soạn

đê giữ Sách cho thế đất chỗ Dung Đồn hiểm trở, vững chắc, bèn bỏ đi đánh một tướng kháccủa Do ở Hải Lăng, rồi chuyển qua đánh Hồ Thục, Giang Thừa đều hạ cả”

Qua những tư liệu vừa dẫn, ta thấy tự truyện của Mâu Tử nói tới “người em của châu mục làmthái thú Dự Chương, bị trung lang tướng Trức Dung giết”, thì người em này không ai kháchơn là Chu Hạo Truyện Chu Tuấn trong Hậu Hán thư 101 tờ 11a10-11 xác nhận Hạo là concủa Tuấn “cũng có tài hạnh làm quan tới thái thú Dự Chương” Hiến đế Xuân thu ghi thêm tênChu Văn Minh Văn Minh như vậy là tự của Hạo Tạ thị Hậu Hán thư bổ di 5 nhận xét: “(Hạo)đức hạnh thuần tốt, văn học xuất sắc”

Thế thì Trức Dung giết Chu Hạo vào thời điểm nào? Truyện Gia Cát Lượng trong Thục chí 5

tờ 1a6-12 viết: “Lượng sớm mồ côi, tùng phụ Huyền được Viên Thuật bổ làm thái thú DựChương Huyền đem Lượng và em Lượng là Quân đến chỗ làm quan Gặp lúc triều Hán lạichọn Chu Hạo thay Huyền, Huyền vốn có quen biết cũ với Kinh Châu mục Lưu Biểu, đến dựa

Trang 33

vào Biểu” Ở đây, Bùi Tùng Chi dẫn Hiến đế Xuân thu nói: “Trước đó thái thú Dự Chương làChâu Thuật bệnh chết Lưu Biểu dâng sớ cử Gia Cát Huyền làm thái thú Dự Chương đóng ởNam Xương Triều Hán nghe Châu Thuật chết, sai Chu Hạo thay Huyền Hạo theo thái thúDương châu Lưu Do xin lính đánh Huyền Huyền rút về đóng Tây thành Hạo vào NamXương Tháng giêng năm Kiến An thứ 2 (197) dân Tây thành phản, giết Huyền, đưa đầu đếnDo”.

Vậy, theo Giang biểu truyện, Tôn Sách vượt sông đánh Lưu Do vào năm Hưng Bình thứ 2(195), Lưu Do mới chạy đến Dự Chương, vì ngoài lời khuyên của Hứa Tử Tương còn có liên

hệ với Chu Hạo, khi Hạo xin Do quân để đánh Gia Cát Huyền Việc xin quân này chắc chắnphải xảy ra trước khi Tôn Sách vượt sông vào năm 195, tức trước năm 195 này Vì năm 195 lànăm Tôn Sách vượt sông đánh Do, cho nên Do không thể đưa quân chi viện cho Hạo, vây Hạophải xin Do vào khoảng năm 193-194, nhân đó, Do sai Trức Dung đem quân đến giúp ChuHạo Nhưng khi tới, Dung đã giết Hạo và nắm lấy quận Dự Chương Chính vì thế mà Ngô chíviết khi Lưu Do “qua sông về nam giữ Dự Chương đóng Bành Trạch, Trức Dung đã đến trước,giết thái thú Chu Hạo, vào ở trong quận”

Việc Trức Dung giết Chu Hạo chắc phải xảy ra trước năm 195 Nhưng Trức Dung xuất thân làcấp dưới của Đào Khiêm Truyện của Dung dẫn trên nói khi Tào Tháo đến đánh Khiêm, Dung

đã “đem trai gái một vạn khẩu, ngựa nghìn con, chạy đến Quảng Lăng” Bản kỷ của Tào Tháotrong Ngụy chí 1 tờ 7a3 và 7a12 ghi Tào Tháo đem quân đánh Khiêm 2 lần Một lần vào mùathu năm Sơ Bình thứ 4 (193) và một vào mùa hè năm Hưng Bình thứ 1 (194) Truyện ĐàoKhiêm cũng trong Ngụy chí 8 tờ 7a10-9a9 nói "năm đó Khiêm bệnh chết, thọ 63 tuổi" Thế thì,Trức Dung có đến thờ Lưu Do làm minh chúa cùng với Tiết Lễ, như Giang biểu truyện đã ghi,việc này ít lắm cũng phải xảy ra vào mùa thu năm 193 và mùa hè năm 194, khi Tào Tháo bắtđầu đánh Từ Châu và Đào Khiêm chết, nếu không phải từ mùa hè năm 194 trở đi[37][37].Hơn nữa, khi Lưu Do được bổ làm thứ sử Dương Châu, thì châu lỵ ở Thọ Xuân đã bị ViênThuật chiếm Cho nên, theo truyện Tôn Sách trong Ngô chí 1 tờ 7b5-11, Do đã vượt sông quađóng ở Khúc A Truyện Lưu Do ở Ngô chí 4 tờ 1b11-12 nói cậu của Sách là Ngô Cảnh và anhchú bác Tôn Bí đã đón Do vào Khúc A, nhưng khi đến rồi, Do cho Cảnh và Bí là người củaViên Thuật, bèn đuổi đi Cảnh, Bí rút về Lịch Dương Do sai Phàn Năng, Vu My, Trần Hoànhđóng ở Giang Tân (hay Giang Biên), Trương Anh đóng ở Dương lợi khẩu, Cảnh và Bí đánhPhàn Năng, Trương Anh cả năm hơn vẫn không thắng Cho đến năm 195, Tôn Sách vượt sôngđánh dẹp Năng và Anh, Lưu Do mới qua Dự Chương Vậy Chu Hạo có đến xin quân của Do,cũng phải đến lúc Do đang đóng ở Khúc A, tức trước năm 195 Có thể việc xin quân đã xảy ranăm 193 và chắc chắn năm 194 Trức Dung đã được Lưu Do gởi qua giúp cho Hạo Và Dung

đã giết Hạo vào năm 194 này, để đến năm 195 khi Lưu Do chạy đến Dự Chương, thì Hạo đãchết, và Do phải đem quân trừng phạt Dung

Khi nghe tin Trức Dung giết Chu Hạo ở Dự Chương, châu mục Giao Châu vì "nỗi đau cốtnhục" đã "sai kỵ đô úy Lưu Ngạn đem binh đến đó Nhưng sợ cõi ngoài nghi ngờ, quân khôngđến được, nên châu mục mới mời Mâu Tử, nói: “Em tôi bị bọn nghịch tặc giết, nỗi đau cốtnhục dằn vặt tâm can, nay sắp sai Lưu kỵ đô úy đi, lại sợ cõi ngoài nghi nan, người đi khôngthông Ngài văn võ gồm đủ, có tài đối đáp, nay muốn dẹp bỏ nghi ngờ, để mượn đường thông

lộ qua Linh Lăng, Quế Dương, ngài nghĩ thế nào?” Mâu Tử đã hứa đi

Nhân vật kỵ đô úy Lưu Ngạn là người thứ hai, mà Lý hoặc luận nêu rõ tên Truyện Tiết Tôntrong Ngô chí 8 tờ 7b7-10, khi ghi lại lá sớ của Tôn viết cho Tôn Quyền về việc chọn người

Trang 34

gởi qua cai trị Giao Châu, có đoạn: “Lại cố thứ sử Chu Phù đất Cối Kê phần lớn dùng ngườicùng quê là bọn Ngu Bào, Lưu Ngạn, phân làm trưởng lại, xâm lược bá tánh, ép thuế lên dân.Một con cá vàng, thâu thuế gạo một hộc Bá tánh oán phản, giặc núi cùng nổi lên, đánh châuphá quận Phù chạy vào biển, lưu lạc chết mất”.

Như thế, kỵ đô úy Lưu Ngạn là một thuộc hạ của thứ sử Giao Châu Chu Phù Chu Phù do vậy

là anh một cha của Chu Hạo và là con của Chu Tuấn Truyện Tuấn trong Hậu Hán thư 101 tờ7b1-9 nói năm Quang Hòa thứ 1 (178) Tuấn được bổ làm thứ sử Giao Châu, và ghi Hạo là concủa Tuấn, nhưng không ghi Phù

Truyện Giả Tôn trong Hậu Hán thư 6/1 tờ 14a1-b1 nói: “Năm Trung Bình thứ nhất (184) đồnbinh Giao Chỉ nhân bắt thứ sử và thái thú Hiệp phố, tự xưng Thiên trụ tướng quân, Linh đế ralệnh đặc biệt cho ba phủ tinh tuyển quan có năng lực Hữu ty đề cử Tôn làm thứ sử Giao Chỉ”.Truyện Sỹ Nhiếp trong Ngô chí 4 tờ 7a5-11 chép: “Em (Nhiếp) là Nhất trước làm đốc bưu củaquận Thứ sử Đinh Cung được gọi về kinh đô, Nhất hầu hạ đưa tiễn ân cần Cung cảm động.Đến khi chia tay, gọi bảo: ‘Thứ sử nếu được đãi làm tam công, thì sẽ bổ nhiệm cho’ Sau Cunglàm tư đồ, bèn bổ nhiệm Nhất Nhất vừa đến, Cung đã miễn quan Hoàng Uyển thấy Cung làm

tư đồ, đãi ngộ Nhất rất có lễ Đổng Trác làm loạn, Nhất trốn về quê Thứ sử Giao Châu ChuPhù bị giặc mọi giết Châu quận nhiễu loạn, Nhiếp dâng biểu xin cho Nhất giữ thái thú HiệpPhố, em kế Từ vâng lệnh Vỹ giữ thái thú Cửu Chân, và em Vỹ là Vũ giữ thái thú Hải Nam”.Vậy, Chu Tuấn được bổ làm thứ sử Giao Châu năm 178, thì người kế nhiệm là Giả Tôn rồiĐinh Cung Và Đinh Cung làm thứ sử cho tới khoảng năm 187, thì ông trở về Lạc Dương làm

tư đồ Sau Cung chắc hẳn phải là Chu Phù Dẫu sao đi nữa, cho đến năm 193-194, Chu Phùđang làm châu mục Giao Châu Nên khi được tin Chu Hạo bị Trức Dung giết, Chu Phù vì lý

do cốt nhục, đã cử Lưu Ngạn đem quân đi trả thù Nhưng do đường sá cách trở, Chu Phù đãnhờ đến Mâu Tử, một con người "văn võ kiêm bị, lại có tài ăn nói"

Mâu Tử đồng ý giúp Chu Phù, và chuẩn bị ra đi, thì gặp lúc mẹ mất, nên chuyến đi khôngthành Việc Chu Phù nhờ Mâu Tử như vậy phải xảy ra trong khoảng những năm 194-195.Năm 195 này cũng chắc chắn là năm mất của mẹ Mâu Tử Sau biến cố mẹ mất này, Mâu Tử

“lâu rồi rút lui nghĩ: ‘Mình vì giỏi giang, hiểu biết, mà bị sai khiến Nay đời nhiễu nhương,chẳng phải lúc làm rõ mình’ Rồi than: ‘Lão Tử dứt thánh bỏ trí, tu thân giữ chân, vạn vậtkhông ngăn chí mình, thiên hạ không đổi niềm vui mình, thiên tử không có được bề tôi, chưhầu không có được người bạn, nên mới gọi là quí’” Từ đó, ông dốc chí học Phật, nghiềnngẫm thêm Lão Tử và ngũ kinh Khi ông dốc chí như thế, “bọn thế tục phần lớn cho ông bỏnăm kinh, mà theo đạo khác” Cho nên, ông đã viết Lý hoặc luận để trả lời

Rõ ràng, việc viết Lý hoặc luận xảy ra không lâu sau đám tang của mẹ Mâu Tử, có thể khoảngnăm 198, vì Mâu Tử với tư cách một người con có hiếu chắc chắn phải dành 3 năm cư tangcho mẹ mình Cho nên, khi tự truyện viết: “Lâu rồi rút nghĩ” (cửu chi thối niệm), chữ "lâu"trong câu ấy hẳn để chỉ thời gian cư tang vừa nói Sự thực, đúng theo tập tục thời đó, mà tathấy qua trường hợp của Ngu Phiên ở Ngô chí 12 tờ 1a8-9 Mâu Tử phải dành một thời gianmặc áo tang cho mẹ mình Vì thế, hẳn không có việc viết sách tranh luận với người khác,trong lúc cư tang Do vậy, Lý hoặc luận khó mà ra đời trước năm 198 vừa nói được

Tất nhiên, không phải đến khi mẹ mất, Mâu Tử mới biết Phật giáo Ông đã biết Phật giáo từtrước, và biến cố ấy tạo cơ hội cho ông "dốc chí vào đạo Phật", sau khi đã quyết định là thờibuổi nhiễu nhương không ra làm quan nữa Căn cứ vào tự truyện, Mâu Tử là người hiếu học,

“sách không kể lớn nhỏ, không gì là không đọc”, đọc cả sách quân sự và thuật thần tiên trường

Trang 35

sinh bất tử Đối với thuật thần tiên này, điều 31 của chính Lý hoặc luận ghi lại lời tự thuật củaMâu Tử nói: “Tôi lúc chưa hiểu đạo lớn, cũng thường học phép tịch cốc có mấy ngàn trămthuật, thực hành thì không hiệu nghiệm, làm theo thì không kết quả, nên tôi bỏ Xem ba ôngthầy tôi theo học, mỗi ông hoặc tự xưng 700, 500, 300 tuổi Nhưng tôi theo họ học chưa đầy 3năm, thì mỗi một ông đã tự chết Sở dĩ như vậy là do tuyệt cốc không ăn, mà lại đi ăn trăm thứtrái cây, nhậu thịt nướng thì nhiều mâm, uống rượu thì nhiều vò Tinh thần hôn loạn, cốc khíkhông đủ, mắt tai lầm lạc, dâm bậy không cấm Tôi hỏi lý do vì sao, thì được đáp: ‘Lão Tửbảo bớt đi lại bớt, cho đến vô vi, trò phải ngày một bớt’ Nhưng tôi thấy ngày chỉ một thêmchứ không bớt Vì thế, họ mỗi người không đến tuổi tri thiên mạng (50 tuổi) mà đã chết Vả lại,Nghiêu Thuấn Châu Khổng không một ai có thể sống tới trăm tuổi Thế mà, đời sau ngu hoặclại muốn ăn uống tịch cốc để tìm tuổi thọ vô cùng Thương thay!”.

Thế thì, trước khi "hiểu" Phật giáo, Mâu Tử đã từng học sách thần tiên, tịch cốc thần tiên bất

tử 3 năm Thời điểm xảy ra việc học này chắc chắn phải trước năm 26 tuổi, khi Mâu Tử trở vềThương Ngô lấy vợ Phần tự truyện viết: “Thời ấy sau khi Linh đế băng hà, thiên hạ nhiễuloạn, chỉ Giao Châu tạm yên Người tài phương Bắc đều đến để ở, phần lớn học phép tịch cốctrường sinh của thần tiên Người bấy giờ phần đông là có học Mâu Tử thường đem năm kinhlại hỏi Đạo gia thuật sỹ không ai dám trả lời, sánh ông với Mạnh Kha cự Dương Chu MặcĐịch Trước thời ấy, Mâu Tử đem mẹ qua lánh nạn ở Giao Chỉ Năm 26 tuổi về Thương Ngôcưới vợ”

Hán Linh đế băng hà vào năm Trung Bình thứ 6 (189) Vào năm này xảy ra một loạt các biến

cố, đó là loạn Thập thường thị, dẫn đến cái chết của Hà Tiến, rồi Đổng Trác vào kinh đô, sau

đó tư đồ Vương Doãn nhờ Điêu Thuyền giết Đổng Trác năm 192, và sự xuất hiện trên vũ đàichính trị Trung Quốc 3 nhân vật sau này thành lập 3 triều đại kình chống nhau, đó là Tào Tháo,Lưu Bị và Tôn Quyền Đây là thời, mà Mâu Tử gọi là "thiên hạ nhiễu loạn" Thời này, nhữngngười tài (dị nhân) phương Bắc đổ dồn về sống ở Giao Chỉ Tiểu sử của Sỹ Nhiếp trong Ngôchí 4 tờ 7a12-13 viết: “Nhiếp tính khí khoan hậu, khiêm hư hạ sỹ, sỹ nhân Trung Quốc đếndựa tị nạn kể cả số trăm” Trong số này có những người đã làm nên sự nghiệp lớn ở TrungQuốc như Tiết Tôn, Hứa Tỉnh, Hứa Từ v.v Điểm đặc biệt họ là những người có học và quanước ta lại "học thuật thần tiên trường sinh bất tử”

Bản thân Mâu Tử "khi chưa hiểu đạo lớn" (Phật giáo) cũng từng bỏ ba năm học phép tịch cốc

Và Thần tiên truyện của Cát Hồng, mà Bùi Tùng Chi dẫn trong Ngô chí 4 tờ 7b11-12 truyện

Sỹ Nhiếp kể: “Nhiếp thường bệnh, chết đã 3 ngày Tiên nhân Đổng Phụng đem cho một viênthuốc, lấy nước ngậm uống, dở cổ lên lắc lắc Uống một lúc, thì mở mắt động tay, nhan sắcdần dần phục hồi Nửa ngày thì có thể đứng lên ngồi xuống Bốn ngày thì nói năng lại được,rồi trở nên bình thường Phụng, tự là Quân Dị, người Hầu quan”

Thần tiên truyện 6 hiện còn kể rõ thêm: “Sỹ Nhiếp được sống, nhân đó đứng dậy tạ ơn nói:

‘Rất đội ơn lớn, biết lấy gì đền đáp’ Bèn dựng cho Phụng một tòa lầu trong sân Như vậy hơnmột năm, Phụng từ biệt Nhiếp mà đi Nhiếp khóc lóc giữ lại không được Phụng chết, Nhiếplấy hòm tẩn liệm đem chôn 7 ngày sau, phá quách mở hòm xem, chỉ còn một giải lụa, mộtmặt vẽ hình người, một mặt viết chữ đỏ làm bùa”

Đổng Phụng, người Hầu quan, tức huyện Mân Hầu, tỉnh Phúc Kiến bây giờ, đã sang sống ởnước ta, để chữa bệnh cho Sỹ Nhiếp và sau đó được Sỹ Nhiếp chôn cất lúc chết Trong khi còn

ở Trung Quốc, Phụng đã từng dạy dỗ cho Bạch Hòa, như truyện Bạch Hòa trong Thần tiêntruyện 7 chép Tam động châu nang 1 nói rõ thêm: “Can quân người Bắc Hải mắc ung thư

Trang 36

mấy chục năm, trăm thứ thuốc không thể chữa lành, thấy trong chợ một ông bán thuốc, họBạch, tên Hòa Can quân đến hỏi Ông nói: ‘Bệnh anh có thể chữa Anh nếu muốn được lành,ngày mai lúc gà gáy, đến gặp dưới cây lan lớn phía bắc cầu lớn, ta sẽ dạy anh’ Ngày mai gàgáy, Can quân đến chỗ hẹn, thì ông Bạch đã ở đó trước, giận nói: ‘Không muốn lành bệnh ư,sao lại đến sau?’ Lại hẹn nửa đêm ngày mai Do thế, Can quân lúc mặt trời lặn đến chỗ hẹn.Chốc lát ông đến đem Tố thư 2 quyển trao cho Can quân Can quân vái hai vái nhận sách.Ông Bạch lại nói: ‘Anh trở về chép sách này thành 150 quyển’ Can quân nghĩ được ý ôngBạch, trong để trị thân dưỡng tánh, ngoài để tiêu tai cứu bệnh, không ai là không chữa lành ”Tiên uyển biên châu quyển trung do Vương Tùng Niên đời Hậu đường (thế kỷ thứ 10) dướimục thiên sư chánh nhất Can Cát Thái bình cũng kể lại truyện Can Cát được Thái bình kinh.Nhưng câu "Về chép sách này thành 150 quyển", thì nó sửa thành "Về chép sách này thành

170 quyển" Và thêm câu "Đến nay có núi Thái Bình và khe Can ở đó"

Chí lâm của Ngu Hỷ do Bùi Tùng Chi dẫn trong Ngô chí 1 tờ 12a12 nói: “Xưa thời Thuận đế,Cung Sùng đất Lang Nha đến kinh đô dâng Thần thơ do thầy mình là Vu Cát được ở TuyềnThủy của Khúc Dương, giấy trắng bìa son, gọi là Thái bình thanh lĩnh đạo phàm trăm quyểnhơn” Biện chính luận 6 ĐTK 2110 lại chép: “Đời Hác vương, Thiên Thất vì tật bệnh, cảm tớiLão quân dạy 180 giới cùng Thái bình kinh một trăm bảy mươi thiên” Thiên Thất đây là viếtlộn của Can Thất, mà Hỗn nguyên thánh kỷ 7 của Tạ Thủ Hạo đời Nam tống nói: “Can Thất,sau đổi tên Cát[38][38] Truyện Cung Sùng của Thần tiên truyện 10 chép: Thiên tiên trao choCát Thái bình kinh 10 bộ lụa xanh chữ đỏ” Vân kíp thất thiêm 1 dưới điều Tam động kinhgiáo bộ tứ phụ viết về Thái bình kinh chính kinh ghi: “Quyển số nó hoặc có chỗ không giốngnhau Nay giáp ất 10 bộ, hợp làm 170 quyển, nay thì còn lưu hành” Theo Chính nhất kinh nói:

“Có Thái bình động cực một trăm bốn mươi quyển Nay kinh này đã trôi mất đến gần hết”.Mạnh An Bài đời Lương viết Đạo giáo nghĩa xu 2, sau câu vừa dẫn, nói thêm: “Đến thời HánThuận đế, Cung Sùng đến kinh đô dâng thần thơ một trăm mười quyển do thầy ông là Can Cáttìm được gọi là Thái bình kinh Vua không tin, kinh ấy bèn ẩn”

Vậy, tiên nhân Đổng Phụng sống và chết ở nước ta đã có một liên hệ mật thiết với Bạch Hòa,thầy của Can Cát Và Can Cát là người truyền bá thần thơ Thái bình kinh 170 quyển Giangbiểu truyện do Bùi Tùng Chi dẫn trong truyện Tôn Sách của Ngô chí 1 tờ 12a5-11 kể chuyệnSách giết Can Cát Sứu thần ký cũng do Bùi Tùng Chi dẫn trong Ngô chí 1 tờ 13b10-12 lạiviết: “Sách đã giết Vu Cát Mỗi khi ngồi một mình thì phảng phất thấy Cát ở phải trái mình,lòng rất ghét Sau trị vết thương mới lành, đem gương soi mình, thấy Cát trong gương, nhìn

kỹ thì không thấy Như thế ba lần Nhân đó vứt gương, kêu lớn Vết thương đều vỡ ra, chốc látthì chết”

Tôn Sách chết tháng tư năm Kiến An thứ 5 (200) Vậy Can Cát chắc cũng bị Sách giết vàonăm này Cả Chí lâm lẫn Đạo giáo nghĩa xu 2 đều nói học trò của Can Cát là Cung Sùng đemthần thơ Thái bình kinh của Cát hơn một trăm quyển dâng cho vua Thuận đế nhà Hán trongkhoảng những năm 130 Điều 29 của Lý hoặc luận cũng nhắc tới "Thần thơ một trăm bảy chụcquyển" Việc này chứng tỏ một trong những văn kiện chính yếu của đạo giáo là Thái bình kinh

đã lưu hành rộng rãi ở nước ta, khi Mâu Tử viết Lý hoặc luận Có thể chính Thái bình kinh làmột trong các "sách thần tiên bất tử" mà Mâu Tử đọc và "dẹp đi mà không tin cho là dối trá".Như thế, "khi chưa hiểu đạo lớn", Mâu Tử đã từng đọc sách vở đạo giáo và bỏ ra ba nămluyện phép tịch cốc Nhưng do không có hiệu quả, Mâu Tử sau đó đi đến kết luận các sách vở

ấy là "dối trá" Tuy nhiên phần lớn, "người tài" Trung Quốc sang tị nạn tại nước ta lại theo học

Trang 37

đạo đó Cho nên Mâu Tử đã đem "năm kinh" Nho giáo ra vặn hỏi Đám "đạo gia thuật sỹ"không ai dám trả lời Dầu vậy, cần chú ý là dù họ không trả lời, không có nghĩa họ khuất phục.

Do đó, đến khi đã theo Phật giáo và viết Lý hoặc luận, Mâu Tử phải dành 9 trong 37 điều củatác phẩm ấy để kích bác đám "đạo gia thuật sỹ" và những thuật "tịch cốc trường sinh bất tử"của họ, biểu thị một mối quan tâm đặc biệt đối với học thuyết và phương thức tu hành của đámấy

Sự kiện Mâu Tử đem "năm kinh" ra vặn hỏi đám này chứng tỏ họ không những là những

"người có học" như Lý hoặc luận ghi, mà còn là những kẻ theo Nho giáo, những sỹ nhân, nhưtruyện Sỹ Nhiếp của Ngô chí đã chép Thời điểm xảy ra sự kiện ấy Mâu Tử nói là sau khi HánLinh đế băng hà, tức sau năm 189, một thời điểm hoàn toàn phù hợp với những tư liệu hiện có.Ngụy chí 1 tờ 36b9-11 dưới mục bản kỷ của Tào Tháo viết: “Trước đó Viên Trung làm tướngđất Hải thường muốn dùng luật trị Thái tổ Hoàn Thiện nước Bái cũng khinh Đến khi ởDuyện Châu, Biên Nhượng đất Trần Lưu ăn nói nhiều lần rất đụng chạm Thái tổ Bèn giếtNhượng, tru di cả gia đình Trung và Thiện đều tị nạn ở Giao Châu Thái tổ sai sứ đến thái thú

Sỹ Nhiếp đều giết hết Hoàn Thiện được đầu thú, ra vái tạ trong sân, Thái tổ bảo: ‘Quỳ màđược thoát chết sao?’ Bèn giết đi Tào Tháo được bổ làm thứ sử Duyện Châu năm Sơ Bình thứ

1 (190), Viên Trung và Hoàn Thiện phải chạy đến nước ta năm đó”

Truyện Trung trong Hậu Hán thư 75 tờ 7a10-b4 chỉ nói: “Sau Tôn Sách phá Cối Kê, Trungv.v vượt biển về nam đến Giao Chỉ Hiến đế đóng đô ở Hứa, trưng làm vệ úy, chưa đến thìmất” Vậy, chưa hẳn Trung đã đến khoảng năm 190 và bị Sỹ Nhiếp giết Viên Trung do thế đãsống ở nước ta một thời gian

Nếu Hoàn Thiện không may mắn thì Hoàn Việp may mắn hơn Việp là chắt của Hoàn Vinh,thầy học của Minh đế Hậu Hán thư 67 tờ 7b1-12 ghi truyện Việp: “Việp tự là Văn Lâm, mộttên là Nghiêm, rất giữ ý chí Cô là phu nhân của tư không Dương Tứ Khi Loan (cha của Việp)chết, cô đi điếu Sắp đến (nhà) thì nghỉ ở quán trọ, chỉnh đốn lại những người đi theo, rồi saumới vào Lòng Việp cho là không phải, đến cô hỏi thăm Việp rốt cuộc không nói một lời, chỉkhóc lóc mà thôi Tứ sai quân lính dâng đồ cúng, nhân ra huyện lấy chén dĩa Việp cự khôngnhận Sau mỗi khi đến kinh, chưa từng đến ở nhà họ Dương Kiên trinh là thế Khách khứa đitheo đều khâm phục chí hạnh ông Một bữa ăn không nhận ở người khác Làm quan đến quậncông tào Sau cử hiếu liêm hữu đạo phương chính mậu tài Tam công bổ ra làm quan, đềukhông nhận Trong khoảng Sơ Bình (190-193) thiên hạ loạn lạc, lánh nạn Cối Kê, rồi vượtbiển đến ở khách Giao Chỉ Người Việt thay đổi khí tiết ông, đến xóm làng không hay tranhcãi Ông bị người tù vu cáo, bèn chết ở ngục Hợp Phố”

Hoàn Việp tuy may mắn đến được nước ta, nhưng cuối cùng cũng chết trong ngục Hợp Phố.Hứa Tỉnh may mắn hơn Truyện Hứa Tỉnh trong Thục chí 8 tờ 195-b9 nói: “Linh đế băng hà,Đổng Trác nắm quyền, Hứa Tỉnh cùng Châu Bí đề cử Hoàn Phức làm châu mục Ký châu, LưuĐại làm thứ sử Duyện châu v.v Khi đến nhậm chức rồi, Phức cùng những người khác đemquân về đánh Trác Trác giận chém Bí Hứa Tỉnh cùng tùng huynh Hứa Dương chạy đến thứ

sử Dự Châu là Khổng Do Do chết lại qua nhờ thứ sử Dương châu Trần Vỹ Vỹ chết, HứaTỉnh lại đến chỗ quen biết trước là đô úy Ngô quận Hứa Cống và thái thú Cối Kê Vương Lãng.Tôn Sách vượt sông về đông, họ đều chạy đến Giao Châu để tỵ nạn Tỉnh ngồi trên bờ, trướccho chở bà con thân sơ theo đi hết, rồi sau mới theo đi Đương thời ai thấy không ai là khôngkhen ngợi Khi đến Giao Chỉ, thái thú Sỹ Nhiếp kính đãi nồng hậu Viên Huy đất Trần quốc đãngụ cư Giao Châu Huy viết thư cho thượng thơ lệnh Tuân Úc, nói: Hứa Văn Hưu anh tài vỹ

Trang 38

sỹ, trí lược đủ để gánh vác công việc, từ ngày lưu lạc đến nay đã cùng đám sỹ phu theo nhau.Mỗi có hoạn nạn thường trước giúp người, sau mới lo mình, cùng chín họ trong ngoài cùngđói, rét, kỷ cương với đồng loại, nhân thứ trắc ẩn, đều có kết quả, không thể đem một hai việcnói hết được”.

Tôn Sách vượt sông về đông năm Hưng Bình thứ 2 (195), nên Hứa Tỉnh cũng phải chạy quanước ta năm ấy Và chạy qua năm ấy không phải một mình Hứa Tỉnh, mà còn có Viên Bái,Đặng Tử Hiếu, Từ Nguyên Hiền v.v ngoài bà con thân thuộc của Tỉnh, như lá thư của Tỉnhviết cho Tào Tháo năm 205 trong Thục chí 8 tờ 2a3-3b8 đã nói Điểm đáng ghi nhận là khiTỉnh đến nước ta năm 195, thì Viên Huy đã có mặt Truyện Viên Hoán trong Ngụy chí 11 tờ3b6-10, chỉ nói Huy gặp thiên hạ loạn, tỵ nạn Giao Châu nhưng không nói năm nào Bây giờ

ta biết là phải trước năm 195 Hẳn Huy qua một đợt với Hoàn Việp vào năm 190

Ngoài Hứa Tỉnh, Viên Huy, Viên Bái Thục chí 12 tờ 4a5-b4 còn ghi: “Hứa Từ tự Nhân Đốc,người Nam Dương, thờ Lưu Hy làm thầy, giỏi môn học họ Trịnh, trị Dịch, Thượng thư, Tam

lễ, Mao thi, Luận ngữ Trong khoảng Kiến An (196-220) cùng Hứa Tỉnh v.v đều tự GiaoChâu vào Thục” Ngô chí 8 tờ 4b8-10 lại chép: “Trình Bỉnh, tự Đức Xu, người Nam Đốn, NhửNam, vốn thờ Trịnh Huyền, sau tỵ nạn Giao Châu, cùng Lưu Hy khảo luận đại nghĩa, nên bácthông năm kinh Sỹ Nhiếp bổ làm trường sử Tôn Quyền nghe tiếng danh nho, dùng lễ trưngBỉnh Bỉnh đến, phái làm thái tử thái phó” Cũng Ngô chí 8 tờ 6a7-4 chép thêm: “Tiết Tôn, tựKỉnh Văn, người Trúc ấp, Bái quận, nhỏ theo người bà con, tỵ địa Giao Châu, theo Lưu Hyhọc Sỹ Nhiếp đã theo Tôn Quyền, mời Tôn làm ngũ quan trung lang, rồi thái thú Hợp Phố,Giao Chỉ”

Thế thì, ngoài những người kể trên, ta còn có ba người học trò của Lưu Hy là Hứa Từ, TrìnhBỉnh và Tiết Tôn, và bản thân người thầy là Lưu Hy Trình Bỉnh trở về Trung Quốc, chắc chắntrước năm Hoàng vũ thứ 4 (225) khi Tôn Quyền lấy con gái của Chu Du cho Tôn Đăng làm vợ,

và Bỉnh với tư cách thái tử thái phó đã răn dạy Đăng Còn Tiết Tôn được triệu về Trung Quốc,khi Sỹ Nhiếp về theo phe Tôn Quyền vào năm Kiến An thứ 15 (210), như truyện Sỹ Nhiếp củaNgô chí 4 tờ 8a8 đã ghi Về Hứa Từ, vì theo Hứa Tỉnh lên Thục, mà Hứa Tỉnh năm Kiến An

16 (211) từ thái thú Ba quận chuyển làm thái thú Thục quận, và năm Kiến An thứ 10 (205)đang còn ở Giao Châu viết thư cho Tào Tháo Cho nên, Hứa Từ đã rời Giao Chỉ vào khoảnggiữa những năm 205-210

Do vậy, tuy ngày nay ta không biết chính xác Lưu Hy qua tỵ nạn nước ta vào năm nào Điềuchắc chắn là phải trước những năm 200 sdl Nghiêm Khả Quân trong Toàn Hậu Hán văn 86 vàDiệp Đức Huy sau đó trong Chấp Mạnh Tử Lưu Hy chú đã nghiên cứu sự tích và công trìnhtrước tác của Hy khá tường tận Đặc biệt là Diệp Đức Huy đã viết Lưu Hy sự tích khảo vàchép vào trong tác phẩm vừa kể Kết quả là Lưu Hy “trong khoảng Trung bình trưng làm bác

sỹ, bỗng bổ làm An Nam thái thú, sau tránh giặc ở Giao Châu, nên Trình Bỉnh, Tiết Tôn, Hứa

Từ cùng theo để học Hy chết phải vào năm Xích Ô của nhà Ngô”

Niên hiệu Trung Bình của Hán Linh đế bắt đầu vào năm 184 đến 189 Nếu trong khoảngnhững năm này Lưu Hy được trưng làm bác sỹ, thì việc tránh nạn sang nước ta cũng có thểxảy ra sau năm 189, tức như Mâu Tử nói, “sau khi Linh đế băng hà, thiên hạ nhiễu loạn, chỉGiao Châu tạm yên, người tài phương Bắc đều đến để ở” Sự thật, ngay từ khi Linh đế đangsống, tức trước năm 189, một số người Trung Quốc đã muốn đến tỵ nạn Giao Châu TruyệnLưu Yên trong Thục chí 1 tờ 1a9-12 đã chép: “Yên thấy chính trị Linh đế suy khuyết, nhà vuanhiều nạn, bèn kiến nghị nói thứ sử thái thú dùng tiền của hối lộ để làm quan, nên cắt lột bá

Trang 39

tánh, làm cho họ ly phản, vậy nên chọn trọng thần tiếng tốt để làm mục bá, trấn an đất nước.Yên bên trong xin làm châu mục Giao Chỉ, muốn tránh nạn đời”.

Rõ ràng, không chỉ sau năm 189, mà trước đó những "dị nhân" phương Bắc đã tìm về nước ta

Và sau năm ấy, dòng chảy "dị nhân" về phương Nam càng dồn dập hơn Số "dị nhân" này đếnnước ta, theo Mâu Tử, "phần lớn thực hành thuật thần tiên tịch cốc trường sinh" Mâu Tử đãdùng "ngũ kinh" để vặn hỏi và họ đã "không dám trả lời"

Trước năm 189, Mâu Tử nói ông đem mẹ qua tỵ nạn ở Giao Chỉ, năm 26 tuổi về Thương Ngôcưới vợ Việc đem mẹ qua nước ta và việc trở về Thương Ngô lấy vợ như thế chắc chắn xảy ratrước năm 189 Giả như năm 189, ông về cưới vợ, thì Mâu Tử phải sinh vào khoảng năm 165,tức năm Diên Hy thứ 7 đời Hán Hoàn đế Tuy nhiên, vì Mâu Tử nói "trước thời đó", tức trướcthời Linh đế băng hà năm 189, nên có khả năng Mâu Tử phải sinh vào khoảng những năm 160,tức Diên Hy thứ 2, và trở về Thương Ngô cưới vợ khoảng năm 186 Lý do cho giả thiết thờiđiểm này sẽ nói sau

Khi về Thương Ngô cưới vợ, Mâu Tử kể tiếp là ông được "thái thú (Thương Ngô) nghe tiếngông học giỏi, mời đến thăm và bổ làm quan Nhưng "lúc ấy tuổi đang cường tráng, chí lămviệc học, lại thấy đời loạn, Mâu Tử không có ý làm quan", nên Mâu Tử từ chối không nhận.Tuy không nhận quan tước với thái thú Thương Ngô, song khi ông này nhờ ông đi Kinh Châu

"trí kỉnh", Mâu Tử đã nhận lời Truyện Sỹ Nhiếp trong Ngô chí 4 tờ 7a13-8a10 ghi nhận quan

hệ giữa Thương Ngô và Kinh Châu như sau:

“Chu Phù chết, Hậu Hán sai Trương Tân làm thứ sử Giao Châu Tân sau đó lại bị tướng củamình là Khu Cảnh giết, mà châu mục Kinh Châu Lưu Biểu sai Lại Cung đất Linh Lăng thayTân Lúc ấy, thái thú Thương Ngô Sử Hoàng chết, Biểu lại sai Ngô Cự thay Hoàng, cùngCung đi đến Nhà Hán nghe Trương Tân chết, ban tỉ thơ cho Nhiếp nói: ‘Giao Châu đất xa,nam tiếp sông biển, ân trên không tuyên, nghĩa dưới ùn tắc, biết nghịch tặc Lưu Biểu lại saiLại Cung dòm ngó đất nam Nay cho Nhiếp làm Tuy nam trung lang tướng, đổng đốc bảyquận, giữ thái thú Giao Chỉ như cũ’ Sau Nhiếp lại sai lại Trương Văn dâng cống đến kinh đô.Lúc ấy thiên hạ tán loạn, đường sá cắt đứt, mà Nhiếp không bỏ chức cống, nên đặc biệt lại hạchiếu phái làm An viễn tướng quân, phong Long độ đình hầu Sau Cự với Cung mất lòng nhau

Cự đem quân đuổi Cung Cung chạy về Linh Lăng Năm Kiến An 15 (210) Tôn Quyền sai BộChất làm thứ sử Giao Châu Chất đến, Nhiếp đem anh em vâng nhận sự điều khiển, nhưngNgô Cự có dị tâm Chất chém Cự”

Qua lời sớ của Tiết Tôn và truyện Sỹ Nhiếp dẫn trước, ta biết Chu Phù đã sử dụng đám

"hương nhân" của mình là Ngu Bào và Lưu Ngạn đi "xâm ngược bá tánh", nên bị nhân dân ta,

mà Trần Thọ gọi là "giặc mọi" (di tặc) giết Giết vào năm nào? Chắc chắn là sau năm 194,năm Chu Hạo bị Trức Dung giết và Chu Phù nhờ Mâu Tử đi mở đường Chu Phù cô thế bị giếtnăm 195 trở đi cho đến 197

Sau khi Phù bị giết, triều Hán cử Trương Tân qua làm thứ sử Giang biểu truyện do Bùi TùngChi dẫn trong Ngô chí 1 tờ 12a5-11 nói: “Bấy giờ có đạo sỹ Vu Cát đất Lang nha, ngụ cưphương đông, đi lại Ngô Hội, lập tinh xá, đốt hương, đọc sách đạo, chế làm nước bùa (phùthủy) để trị bịnh Người Ngô Hội phần nhiều thờ ông Sách thường ở trên lầu cửa thành quận,tập họp khách khứa các tướng Cát bèn ăn mặc xum xoe, chống gậy nhỏ[39][39] sơn vẽ gọi làgậy người tiên, đi qua dưới cửa Khách khứa các tướng hai phần ba xuống lầu đón lạy Quanchưởng tân cấm la, cũng không thể ngăn Sách liền hạ lệnh bắt Cát Những người thờ Cát sai

vợ con gái vào gặp mẹ Sách xin cứu Cát Bà mẹ gọi Sách nói: ‘Vu tiên sinh cũng giúp quân

Trang 40

làm phước, chữa giúp tướng sỹ, không nên giết’ Sách nói: ‘Tên này yêu vọng, có thể huyễnhoặc lòng người, xa khiến các tướng không còn quan tâm đến lễ nghĩa vua tôi, đều bỏ Sách,xuống lầu lạy nó, không thể không trừ nó’ Các tướng lại liên danh trình bày sự việc xin tha.Sách nói: ‘Xưa Trương Tân đất Nam Dương làm thứ sử Giao Châu, vứt điển huấn thánh trước,

bỏ pháp luật nhà Hán, thường mặc áo đỏ, bịt đầu, đánh đàn, đốt hương, đọc sách đạo tà tục,bảo để giúp giáo hóa, cuối cùng bị mọi nam giết Điều đó rất vô ích, các vị chỉ chưa hiểu thôi.Nay tên này đã ở trong sách quỉ, đừng tốn thêm giấy bút với nó’ Liền lôi ra chém, treo đầu ởchợ Những người thờ Cát vẫn không nói là chết, mà bảo là thi giải, rồi cúng vái cầu phước”.Ngu Hỷ viết Chí lâm dẫn trong Ngô chí 1 tờ 12b1-3 đã nhận xét: “Hỷ khảo cứu Hoàn vươngchết ngày 4 tháng 4 năm Kiến An thứ 5 (200) Lúc ấy Tào, Viên đánh nhau chưa có thắng bại

Cứ thơ của Hạ Hầu Nguyên Nhượng viết cho Thạch Uy Tắc sau khi phá Viên Thiệu, thơ nói:

‘Đem Trường Sa trao cho Tôn Bí, lấy Linh Quế làm cơ nghiệp cho Trương Tân’ Điều này làchỉ Hoàn vương mất nước, Trương Tân chết sau, không được tương nhượng, nói vì ý Tânchết”

Bùi Tùng Chi trong Ngô chí 1 tờ 12b3-4 nói rõ ra là Giang biểu truyện sai, khi bảo TrươngTân chết trước Tôn Sách: “Theo Giao Quảng nhị châu xuân thu do đại trung chính QuảngChâu Vương Phạm dâng lên vào năm Thái Khương thứ 8 (287), thì Kiến An năm thứ 6 (201)Trương Tân còn làm châu mục Giao Châu Giang biểu truyện sai, như Chí lâm đã nói”

Fukui[40][40] bình luận về báo cáo của Giang biểu truyện, dẫn thêm Địa lý chí hạ của Tấn thơ

15 nói Trương Tân làm thứ sử Giao Châu năm Kiến An thứ 8 (203), mà Hồ Tam Tỉnh đã tánđồng khi chú thích Tử trị thông giám 66, rồi kết luận: “Trương Tân làm thứ sử Giao Châutrong khoảng năm Kiến An thứ 6 (201), còn năm Chu Phù bị giết là trước năm Kiến An thứ 5(200)” Điểm đáng ngạc nhiên là trong khi nhận ra nhân vật, mà Tôn Sách dẫn ra trên, dứtkhoát không phải Trương Tân, vì Tân còn làm thứ sử Giao Châu sau khi Sách chết, thế màFukui vẫn bình luận tiếp về lối sống “vứt điển huấn thánh trước, bỏ pháp luật Hán gia, thườngmặc áo đỏ gạch, bịt đầu, đánh đàn, đốt hương, đọc sách đạo tà tục” là của Trương Tân, màkhông tìm thử xem người sống lối sống đó là ai

Theo chúng tôi, thứ nhất, ngoài chứng cứ của Chí lâm, Giao Quảng nhị châu xuân thu và Tấnthơ địa lý chí, xác nhận Trương Tân còn làm thứ sử Giao Châu, sau khi Tôn Sách chết vàonăm 200, ta còn có lá thư của Hứa Tỉnh viết cho Tào Tháo vào năm 205, mà truyện Hứa Tỉnhtrong Thục chí 8 tờ 203-3b7 đã chép lại, nói: “Đường đời gai góc, họa loạn cùng hợp, khủngkhiếp lén sống, tự trốn mọi rợ, thành hết mười năm Lại có Trương Tử Vân xưa ở kinh đô,chí phò vương thất, nay tuy đến cõi hoang, không được tham dự bản triều, thì cũng là phiêntrấn của quốc gia, ngoại viện của túc hạ ” Sau câu vừa dẫn, Bùi Tùng Chi chua: “Tử Vân,tên Tân, người Nam Dương, làm thứ sử Giao Châu Xem Ngô chí”

Vậy, sau khi Hứa Tỉnh đến Giao Châu năm 195 và ở đó "thành hết mười năm", mới viết thưcho Tào Tháo, và trong thư có nhắc đến vai trò của Trương Tân đang còn sống đối với Tháo,thì rõ ràng đến năm 205, khi lá thư viết, Trương Tân đang còn là thứ sử Giao Châu Như thế,nhân vật mà Tôn Sách nêu ra trong lời nói của ông trong Giang biểu truyện dứt khoát khôngphải là Trương Tân đất Nam Dương Ấy thì, người đó là ai?

Đây là điểm thứ 2 chúng tôi muốn đề cập tới Thật ra, người đó không ai xa lạ hơn là Chu Phù.Đáng lẽ, Giang biểu truyện phải viết Cối Kê Chu Phù, thay vì Nam Dương Trương Tân, mớihợp với cái chết của Tôn Sách vào năm 200 Lý do cho chúng tôi nghĩ nhân vật ấy là Chu Phùgồm hai yếu tố Một là Hậu Hán thư im lặng không nói tới quan hệ của Chu Phù với Chu Tuấn

Ngày đăng: 15/09/2021, 09:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh phái đồn Phật giáo Việt Nam đã đáp chuyến bay sang Thái Lan ( nhiếp ảnh) Phước Huệ - Bài tiểu luận PHẬT GIÁO vào VIỆT NAM THỜI kỳ bắc THUỘC môn TRIẾT học
nh ảnh phái đồn Phật giáo Việt Nam đã đáp chuyến bay sang Thái Lan ( nhiếp ảnh) Phước Huệ (Trang 112)
HÌNH ẢNH VÀ TIN TỨC VÊ ĐẠI LỄ PHẬT ĐẢN LIÊN HỆP QUỐC TẠI BANGKOK - THÁI LAN - Bài tiểu luận PHẬT GIÁO vào VIỆT NAM THỜI kỳ bắc THUỘC môn TRIẾT học
HÌNH ẢNH VÀ TIN TỨC VÊ ĐẠI LỄ PHẬT ĐẢN LIÊN HỆP QUỐC TẠI BANGKOK - THÁI LAN (Trang 112)
Cĩ một điều gì đĩ thật là hiền hịa, thanh tịnh khi gắn kết hình ảnh hoasen với sự Đản sanh của Đức Phật - Bài tiểu luận PHẬT GIÁO vào VIỆT NAM THỜI kỳ bắc THUỘC môn TRIẾT học
m ột điều gì đĩ thật là hiền hịa, thanh tịnh khi gắn kết hình ảnh hoasen với sự Đản sanh của Đức Phật (Trang 115)
Trong đời sống tâm linh của người dân ta, dù theo tơn giáo nào, hình ảnh gần gủi hơn cả chính là Phật Bà Quán Thế Âm - Bài tiểu luận PHẬT GIÁO vào VIỆT NAM THỜI kỳ bắc THUỘC môn TRIẾT học
rong đời sống tâm linh của người dân ta, dù theo tơn giáo nào, hình ảnh gần gủi hơn cả chính là Phật Bà Quán Thế Âm (Trang 119)
Mái cong đầu đao Đình Bảng - Bài tiểu luận PHẬT GIÁO vào VIỆT NAM THỜI kỳ bắc THUỘC môn TRIẾT học
i cong đầu đao Đình Bảng (Trang 121)
Bắc Ninh cịn là nơi phát tích nhà Lý với Đền Đơ nằ mở phía đơng nam làng Đình Bảng. Đền thờ 8 vị vua thời Lý (từ 1009 tới 1224) nên cịn cĩ tên là đền Lý Bát Đế - Bài tiểu luận PHẬT GIÁO vào VIỆT NAM THỜI kỳ bắc THUỘC môn TRIẾT học
c Ninh cịn là nơi phát tích nhà Lý với Đền Đơ nằ mở phía đơng nam làng Đình Bảng. Đền thờ 8 vị vua thời Lý (từ 1009 tới 1224) nên cịn cĩ tên là đền Lý Bát Đế (Trang 122)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w