BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH ---LÊ THỊ HẰNG VẬN DỤNG KIẾN THỨC VỀ SO SÁNH, NHÂN HÓA TRONG DẠY HỌC VĂN MIÊU TẢ Ở TIỂU HỌC LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC Người hướng dẫn khoa
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-LÊ THỊ HẰNG
VẬN DỤNG KIẾN THỨC VỀ SO SÁNH, NHÂN HÓA TRONG DẠY HỌC VĂN MIÊU TẢ Ở TIỂU HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS PHẠM MINH DIỆU
VINH - 2010
Trang 3Lời cảm ơn
Tôi xin bày tỏ sự tri ân sâu sắc tới Tiến sĩ Phạm Minh Diệu đã luôn tận
tình chỉ dẫn, giúp đỡ và tạo cho tôi niềm hứng thú trong công việc
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các giảng viên khoaGiáo dục Tiểu học trờng Đại học Vinh, trờng Đại học Hồng Đức, phòngGD&ĐT TP Thanh Hóa, trờng Tiểu học Minh Khai I TP Thanh Hóa, đã cónhững góp ý sâu sắc và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong quá trìnhthực hiện đề tài
Vinh, tháng 12 năm 2010
Tác giả
Trang 4TV Tiếng Việt
VBT Vở bài tập
Trang 5MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU……… 1
1 Tính cấp thiết của đề tài……… 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu……… 3
3 Mục đích nghiên cứu……… 6
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu……… 6
5 Giải thuyết khoa học……… 6
6 Nhiệm vụ nghiên cứu……… 6
7 Phương pháp nghiên cứu……… 7
8 Phạm vi nghiên cứu……… 7
9 Cấu trúc của luận văn……… 7
Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc đề xuất các biện pháp vận dụng kiến thức so sánh, nhân hoá trong dạy học văn miêu tả ở Tiểu học……… 8
1.1 Cơ sở lí luận……… 8
1.1.1 So sánh, nhân hoá trong tiếng Việt……… 8
1.1.2 Văn miêu tả……… 18
1.1.3 Đặc điểm tâm – sinh lí học sinh Tiểu học khi vận dụng các phép tu từ so sánh, nhân hoá trong học văn miêu tả……… 22
1.2 Cơ sở thực tiễn……… 25
1.2.1 CT, SGK tiếng Việt phần so sánh, nhân hoá và văn miêu tả…… 25
1.2.2 Thực trạng của việc vận dụng các phép so sánh, nhân hoá trong dạy học văn miêu tả ở Tiểu học……… 40
1.3 Tiểu kết chương 1……… 46
Chương 2 Một số biện pháp vận dụng kiến thức so sánh, nhân hoá trong dạy học văn miêu tả ở Tiểu học……… 47
2.1 Các nguyên tắc của việc đề xuất biện pháp vận dụng phép so sánh, nhân hoá trong dạy học văn miêu tả ở Tiểu học……… 47
2.1.1 Nguyên tắc bám sát vào mục tiêu dạy học Tập làm văn ở Tiểu học 47
2.1.2 Bám sát đặc trưng của văn miêu tả……… 47
2.1.3 Bán sát đặc điểm, tác dụng của các phép so sánh, nhân hoá…… 48
2.1.4 Căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lí HS Tiểu học……… 48 2.2 Một số biện pháp vận dụng phép tu từ so sánh, nhân hoá trong dạy
Trang 6học văn miêu tả ở Tiểu học……… 49
2.2.1 Các biện pháp đối với giáo viên……… 49
2.2.2 Các biện pháp đối với học sinh……… 53
2.2.3 Các biện pháp của nhà trường và các cấp quản lí……… 54
2.3 Một số bài tập và biện pháp cụ thể khi vận dụng phép tu từ so sánh, nhân hoá trong dạy học văn miêu tả……… 55
2.3.1 Một số bài tập vận dụng phép tu từ so sánh, nhân hoá trong dạy học văn miêu tả ở Tiểu học……… 55
2.3.2 Một số biện pháp giúp HS cảm nhận giá trị của so sánh, nhân hoá trong văn miêu tả……… 61
2.4 Tiểu kết chương 2……… 65
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm……… 67
3.1 Khái quát về thực nghiệm……… 67
3.2 Kết quả thực nghiệm……… 71
3.3 Tiểu kết chương 3……… 73
KẾT LUẬN……… 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 76
PHỤ LỤC DANH MỤC BẢNG BIỂU Trang TT Tên bảng, biểu 1 Bảng 1.1- Phép tu từ so sánh trong phân Luyện từ và câu lớp 3… 26 2 Bảng 1.2- Phép tu từ nhân hóa trong phân Luyện từ và câu lớp 3… 32 3 Bảng 1.3- CT văn miêu tả lớp 2,3,4,5……… 34
4 Bảng 1.4- Yêu cầu dạy phép so sánh, nhân hoá trong văn miêu tả 39
5 B¶ng 1.5- §Þa ®iÓm, sè lîng GV tham gia pháng vÊn……… 41
6 B¶ng 1.6- KÕt qu¶ pháng vÊn GV……… 42
7 B¶ng 1.7- KÕt qu¶ tr¾c nghiÖm HS vÒ kh¶ n¨ng vËn dông so s¸nh, nh©n hãa 44
8 Bảng 3.1- Thống kê số lượng HS tham gia thực nghiệm………… 68
9 Bảng 3.2- Các giáo án dạy thực nghiệm………
68 10 Bảng 3.3- Tổng hợp số lượng HS tham gia thực nghiệm………… 70
11 Bảng 3.4- Tổng hợp kết quả điểm số HS tham gia thực nghiệm… 71
12 Bảng 3.5- Kết quả đánh giá hứng thú của HS……… 72
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở Tiểu học, từ CT Tiếng Việt - 2000, có 5 thể văn bản được đưa vào dạy học, gồm: miêu tả, tự sự (kể chuyện), biểu cảm, thuyết minh (giới thiệu)
và ứng dụng (Riêng văn bản nghị luận chưa dạy học ở Tiểu học) Văn miêu
tả là một trong 5 thể văn bản trên và có vị trí quan trọng, chiếm thời lượngvào loại lớn nhất trong CT của phân môn Tập làm văn, thuộc môn TiếngViệt ở Tiểu học
1.1 Về mặt lí thuyết, văn miêu tả thuộc loại hình văn bản nghệ thuật,rất cần đến “nghệ thuật ngôn từ” Đây là loại văn giàu cảm xúc, nhiều rungđộng, dồi dào sức sáng tạo Khi viết văn miêu tả, con người không chỉ thứctỉnh về mặt nhận thức, cảm nhận được vẻ đẹp, sự kì diệu, bí ẩn của thiênnhiên và con người mà còn rung động về mặt tình cảm Từ đó, nảy nở nhữngước mơ tốt đẹp, khơi dậy năng lực tiềm ẩn của mỗi cá nhân, đi đến nắm bắtnhanh, nhạy những tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm nghệ thuật Đồng thời,
Trang 8biết vận dụng cái hay, cái đẹp của văn chương và cuộc sống vào thực hànhviết văn miêu tả
Một bài văn miêu tả được đánh giá là hay, nếu người viết biết vẽ ratrước mắt người đọc thế giới sự vật sinh động, như đang xem một thướcphim Điều đó chỉ có được khi người viết biết sử dụng “nghệ thuật ngôn từ”,trong đó có việc xen lồng các biện pháp so sánh, nhân hóa…
Có nhiều biện pháp sử dụng ngôn từ có khả năng giúp cho bài văn miêu
tả đạt tới hiệu quả biểu đạt cao nhất Nhưng căn cứ vào đặc điểm của vănmiêu tả, chúng ta thấy rằng, các phép so sánh và nhân hóa bao giờ cũng có tácdụng rõ ràng nhất trong việc làm cho đối tượng miêu tả hiện lên sinh động và
có hồn Vì vậy, nghiên cứu vận dụng kiến thức so sánh, nhân hóa trong dạyhọc văn miêu tả là rất cần thiết
1.2 Về mặt thực tiễn, qua khảo sát, chúng tôi thấy, việc dạy học vănmiêu tả nói riêng và các văn bản có tính nghệ thuật nói chung hiện nay cònnhiều hạn chế, trong đó có sự hạn chế về dạy học “nghệ thuật ngôn từ”, đặcbiệt, là việc vận dụng kiến thức về các phép tu từ như so sánh, nhân hóa vàothực hành viết văn miêu tả Nhiều khi các em học máy móc và viết cũng máymóc, thiếu sáng tạo Nhiều em không biết nói gì? viết gì? không biết sử dụngkiến thức đã học để tạo ra cái mới Các em chưa có khả năng phát hiện ra cáihay, cái đẹp của từ ngữ, ý thơ, câu văn…trong một văn bản cụ thể Dẫn đến,khả năng dùng từ, diễn đạt ý trong thực hành viết văn miêu tả của HS cònnghèo nàn, lủng củng, rườm rà, khô khan Nhiều khi GV dùng cái đầu củangười lớn rồi áp đặt lên đầu trẻ thơ mà không tính đến đặc điểm tâm lí lứatuổi, thế giới xung quanh qua lăng kính trẻ thơ rất ngộ nghĩnh và đáng yêu
Văn học là một loại hình “nghệ thuật ngôn từ” Trong đó, các phép tu
từ so sánh, nhân hóa góp một phần không nhỏ làm lên điều này
Trang 9Một mặt, so sánh, nhân hóa có khả năng khắc họa hình ảnh và gây ấntượng mạnh mẽ làm nên một hình thức miêu tả sinh động, mặt khác so sánh,nhân hóa còn có tác dụng làm cho lời nói rõ ràng, cụ thể sinh động, diễn đạtđược mọi sắc thái biểu cảm, làm cho thế giới sự vật sống động hơn, như chínhcuộc sống của con người
Nhờ những hình ảnh bóng bảy, ước lệ, dùng cái này để đối chiếu cái kia
và những hình ảnh rất người của sự vật được sử dụng phổ biến trong thơ ca,đặc biệt là thơ viết cho thiếu nhi So sánh, nhân hóa giúp các em hiểu và cảmnhận được những bài thơ, bài văn hay, từ đó góp phần mở mang tri thức làmphong phú về tâm hồn, tạo hứng thú khi viết văn, rèn luyện ý thức, yêu quýtiếng Việt, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt cho HS
Việc sử dụng kiến thức về các phép tu từ so sánh, nhân hóa vào thựchành viết văn miêu tả sẽ giúp cho bài văn của HS trở nên hay hơn, câu vănsinh động, giàu cảm xúc, giàu hình ảnh hơn, sự vật, hiện tượng trong bài văntrở nên có hồn, có sức sống hơn
Do đó, dạy học văn miêu tả có sử dụng kiến thức về các phép tu từ sẽgiúp tăng thêm hứng thú cho HS và nâng cao chất lượng dạy học
1.3 Ngoài ra, theo quan điểm tích hợp của môn Tiếng Việt, chúng tôicũng thấy rằng, vận dụng kiến thức về các phép tu từ vào dạy văn miêu tảtrong phân môn Tập làm văn đạt hiệu quả rất cần đến việc hỗ trợ của phânmôn khác Nếu như phân môn Tập đọc cung cấp ngữ liệu là những tác phẩmnghệ thuật đạt giá trị Thông qua phần đọc hiểu, HS cảm nhận cái hay, cái đẹpcủa nội dung cũng như nghệ thuật tác phẩm; phân môn Luyện từ và câu thiên
về cung cấp và thực hành kiến thức về từ, câu sao cho gọn gàng, trau chuốt,giàu hình ảnh; phân môn Tập làm văn, HS có điều kiện tái hiện lại những kiếnthức đã học, đã cảm nhận từ văn chương và cuộc sống Từ đó, sáng tạo ranhững ngôn bản đạt giá trị, nhất là khi biết vận dụng có hiệu quả phương tiện
Trang 10nghệ thuật Như vậy, HS là người trực tiếp lĩnh hội và sản sinh văn bản theocách riêng của cá nhân trên cơ sở kế thừa những giá trị nhân văn, thẩm mĩ củathế hệ đi trước giúp trẻ bồi dưỡng tình cảm, tâm hồn, hình thành nhân cách
mà xã hội yêu cầu
Từ những lí do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Vận dụng kiến thức về
so sánh, nhân hóa trong dạy học văn miêu tả ở Tiểu học”.
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Nghiên cứu về “nghệ thuật miêu tả”, trong đó, có nghệ thuật sử dụngngôn từ trong miêu tả là một vấn đề có lịch sử nghiên cứu lâu đời Việc vậndụng kiến thức về phép tu từ so sánh, nhân hóa trong dạy học văn miêu tả đã
có rất nhiều công trình nghiên cứu Tuy nhiên những công trình nghiên cứugần nhất, sát thực nhất có liên quan tới đề tài có thể tính đến các tác giả như:
Nguyễn Trí trong Dạy tập làm văn ở trường Tiểu học [41] đã giới thiệu
về văn miêu tả, đặc điểm của văn miêu tả, giới thiệu quy trình làm các kiểubài làm văn miêu tả cũng như phương pháp dạy các kiểu bài đó Mặc dù, sách
đã đề cập đến vấn đề văn miêu tả, những nét đặc sắc của sự vật, hiện tượngkhi miêu tả, song cũng chỉ nói qua, chưa hình thành và chưa đề cập đến cácphép tu từ so sánh, nhân hóa và việc vận dụng chúng vào viết văn miêu tả
Cuốn Bài tập luyện viết văn miêu tả ở tiểu học của Vũ Khắc Tuân [45]
đi sâu vào giới thiệu các bài tập thuộc các loại bài của văn miêu tả và một sốkinh nghiệm của các nhà văn trong việc làm văn miêu tả, một số giai thoạitrong việc dùng câu chữ khi viết văn Tuy nhiên, tác giả cũng không dànhnhiều trang để đề cập sâu về việc vận dụng các biện pháp so sánh, nhân hóatrong viết văn miêu tả
Hai tác giả Lê Phương Nga - Nguyễn Trí có công trình Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học [34] Phần đầu cuốn sách bàn về những vấn đề
chung của dạy tiếng Việt ở tiểu học và sau đó đi sâu vào các phương pháp dạy
Trang 11học các phân môn cụ thể Công trình này cũng bàn nhiều về phương pháp dạyvăn miêu tả, đề cập đến những tồn tại và đưa ra những kiến nghị trong dạyhọc văn miêu tả Tuy nhiên, những kiến nghị và giải pháp mà công trình đưa
ra còn ở góc độ khái quát, chưa vận dụng được vào thực tiễn dạy - học vănmiêu tả ở nhà trường tiểu học hiện nay
Các nhà văn Vũ Tú Nam, Phạm Hổ, Bùi Hiển, Nguyễn Quang Sáng
trình bày kinh nghiệm viết văn miêu tả trong cuốn sách Văn miêu tả và kể chuyện [31] Về cấu trúc, sách gồm hai phần:
Phần 1- Giới thiệu những bài viết của các nhà văn về suy nghĩ, kinhnghiệm của bản thân khi viết văn miêu tả và kể chuyện
Phần 2- Là những đoạn văn tả và kể chọn lọc của nhiều cây bútkhác nhau
Cũng như những công trình nghiên cứu ở trên, công trình này chỉ mới
đề cập những nét chung nhất của một bài miêu tả, những vấn đề đưa ra vấncòn là trừu tượng đối với giáo viên và học sinh Vì thế, giáo viên rất khó vậndụng vào quá trình dạy - học văn miêu tả ở bậc tiểu học
99 phương tiện và biện pháp tu từ trong tiếng Việt của Đinh Trọng Lạc
[29] đề cập đến các biện pháp tu từ và các phương tiện diễn đạt, trong đó cóphép tu từ so sánh Tuy nhiên, công trình này chỉ nghiên cứu về mặt lí thuyếtchứ chưa chỉ ra sự vận dụng của phép tu từ này vào dạy- học văn miêu tả ở
Tiểu học Cũng vậy, cuốn Phong cách học Tiếng Việt của tác giả [28] cũng
dừng lại ở vấn đề lí thuyết, thực hành nhận diện các biện pháp tu từ mà chưa
đi sâu cách vận dụng
Cuốn Văn miêu tả trong nhà trường phổ thông của Đỗ Ngọc Thống
(chủ biên) và Phạm Minh Diệu [39] đề cập đến nhiều vấn đề cơ bản củavăn miêu tả Theo đó, so sánh và nhân hóa được coi là một trong nhữngvấn đề của ngôn ngữ và hành văn trong văn miêu tả Do phải đề cập nhiều
Trang 12nội dung nên vấn đề vận dụng kiến thức so sánh và nhân hóa ở đây chỉđược nói tới sơ lược.
Khóa luận tốt nghiệp Một số biện pháp hướng dẫn học sinh lớp 3 luyện tập về phép tu từ nhân hóa trong giờ tập đọc và Tập làm văn với đề tài của
Trịnh Thị Hạnh [53] đã nghiên cứu về phép tu từ nhân hóa vân dụng trongphân môn tập đọc và tập làm văn ở khối lớp 3 Công trình chỉ dừng lại ở việcthực hành nhận diện, vận dụng kiến thức nhân hóa, chưa ứng dụng vào sảnsinh một văn bản miêu tả để thấy hết được vai trò của biện pháp
Luận văn thạc sỹ Quy trình hướng dẫn học sinh lớp 4,5 luyện tập về phép tu từ so sánh trong Tập làm văn miêu tả” của Lê Thị Bích Hợi [54] đã
đề cập đến việc vận dụng phép tu từ so sánh vào viết văn miêu tả Tuy nhiênvẫn chưa đi sâu vào việc vận dụng các biện pháp so sánh, nhân hóa vào viếtvăn miêu tả Việc vận dụng các phép tu từ này sẽ lầm cho bài văn miêu tảsinh động và lôi cuốn người đọc rất nhiều
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về phép tu từ so sánh và nhânhóa chỉ mới dừng lại ở nghiên cứu lý thuyết hoặc vận dụng một vài biện pháp
tu từ nhất định trong dạy văn miêu tả một cách chưa chuyên sâu Vì vậy, việcnghiên cứu vận dụng pháp tu từ so sánh và nhân hóa trong văn miêu tả ở bậcTiểu học cần được tiếp tục, nhằm nâng cao chất lượng dạy học Tập làm vănnói chung và văn miêu tả nói riêng
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu nhằm tìm các biện pháp vận dụng kiến thức vềcác phép tu từ như so sánh, nhân hóa vào dạy văn miêu tả trong phân mônTập làm văn ở Tiểu học, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn TiếngViệt, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 13Các biện pháp vận dụng kiến thức so sánh, nhân hóa để viết văn miêu tả
ở Tiểu học
4.2 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học Tập làm văn, phần văn miêu tả ở Tiểu học
5 Giả thuyết khoa học
Nếu trong quá trình dạy học văn miêu tả, GV chú ý vận dụng kiến thức
so sánh, nhân hóa một cách hợp lí thì chất lượng dạy học sẽ được nâng lên
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài có các nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đề xuất các biện pháp vậndụng kiến thức nhân hóa, so sánh trong dạy học văn miêu tả ở Tiểu học
- Đề xuất các biện pháp vận dụng kiến thức so sánh, nhân hóa để dạyviết văn miêu tả
- Tổ chức dạy học thử nghiệm để kiểm tra tính khả thi và tính hiệu quảcủa những đề xuất trên
7 Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí luận: nhằm thu thập các thôngtin lí luận có liên quan đến đề tài nghiên cứu
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn nhằm: điều tra thựctrạng dạy học các phép tu từ trong văn miêu tả ở Tiểu học để phát hiện nhữngvấn đề cần nghiên cứu, cần tìm ra giải pháp
- Nhóm phương pháp phân tích thống kê nhằm xử lí những số liệu thuđược từ thử nghiệm sư phạm
8 Phạm vi nghiên cứu
- Về khảo sát lý thuyết, đề tài không bàn tới các vấn đề thuộc đặctrưng của văn miêu tả hay của các phép tu từ so sánh, nhân hóa Chúng tôi
Trang 14chỉ dựa vào một số tài liệu đã phổ biến để vận dụng trong dạy học văn miêu
tả ở Tiểu học
- Về khảo sát thực tế và thực nghiệm, đề tài mới chỉ tiến hành trongphạm vi một số trường Tiểu học trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa là: Minh Khai1,2; Đông Vinh, Lý Tự Trọng…
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,luận văn được trình bày trong các chương sau:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Các biện pháp vận dụng kiến thức về các phép tu từ so
sánh, nhân hóa vào dạy văn miêu tả ở Tiểu học.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
Theo nhiều nhà ngôn ngữ học, so sánh là phương thức diễn đạt tu từ khi
đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác miễn là hai sự vật có nét tương đồng nào đó để gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức của người đọc, người nghe [28- tr.9].
So sánh là đặt hai hay nhiều sự vật hiện tượng vào các mối quan hệnhất định nhằm tìm ra sự giống nhau và khác biệt giữa chúng Cơ sở của phép
so sánh tu từ chính là tính khác biệt về chất và về loại của các sự vật hiệntượng
Trang 15Cũng có thể diễn đạt theo cách khác:
So sánh tu từ là biện pháp tu từ ngữ nghĩa trong đó người ta đối chiếu hai đối tượng khác loại của thực tế khách quan không đồng nhất với nhau hoàn toàn mà chỉ có một nét giống nhau nào đó, nhằm diễn tả hình ảnh một lối tri giác mới mẻ về đối tượng.
So sánh tu từ được dùng phổ biến trong các phong cách của tiếng Việt,nhưng chỉ trong việc sản sinh các văn bản có tính nghệ thuật hay thể loại vănmiêu tả nó mới có thể biểu hiện đầy đủ nhất những khả năng tạo hình - diễn
cảm của nó Ví dụ: Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng
- So sánh logic: a=b vậy b=a; a hơn b vậy b kém a…
Ví dụ: Cái lưng còng của ông cụ sao giống lưng ông nội thế.
(Tiếng Việt 3 t.1, tr.55)
Ta có thể nói: Cái lưng còng của ông nội giống ông cụ thế.
Như vậy, cơ sở của phép so sánh logic dựa trên tính đồng chất, đồngloại của các sự vật, hiện tượng và mục đích của sự so sánh là xác lập sự tươngđương giữa hai đối tượng
Nhưng với so sánh tu từ:
Nhà ấy, con cũng giỏi như bố.
Ta rất ít khi nói: Nhà ấy, bố cũng giỏi như con.
Như vậy, cơ sở của phép so sánh tu từ dựa trên tính hình tượng, biểucảm, dị loại
Trang 16Tóm lại, so sánh tu từ khác với so sánh logic ở tính hình tượng, tínhbiểu cảm và tính dị loại của sự vật Nếu như giá trị của so sánh logic là xáclập được sự tương đương giữa hai đối tượng thì giá trị của so sánh tu từ là ở
sự liên tưởng, sự phát hiện và gợi cảm xúc thẩm mĩ ở người đọc, người nghe
Xét về mô hình cấu tạo:
Hình thức đầy đủ nhất của phép so sánh tu từ gồm 4 yếu tố:
Trong đó:
- Yếu tố (1) là cái so sánh, yếu tố này có thể vắng mặt trong câu.
- Yếu tố (2) là cơ sở so sánh, đây là yếu tố chỉ tính chất sự vật hay trạng
thái của hành động được nhìn nhận theo một cách nào đó có vai trò nêu rõphương diện so sánh Yếu tố này vẫn có thể vắng mặt trong câu
-Yếu tố (3) là mức độ so sánh (so sánh ngang, hơn, bằng) Ở Tiểu học
gọi các từ này là từ chỉ sự so sánh gồm: “như”, “tựa”, “tựa như”, “giống như”, “là”, “như là”, “như thể”, “hơn”, “là”, có trường hợp nó vắng mặt
trong câu, thay bằng dấu “-”
- Yếu tố (4) là cái được so sánh tức là cái đưa ra để làm chuẩn so sánh.
Khi xem xét phép so sánh, có thể dựa vào mặt cấu trúc hoặc dựa vàomặt ngữ nghĩa của nó
Tùy từng trường hợp, mà trật tự các yếu tố thay đổi hoặc bớt một sốyếu tố trên mô hình Sự vắng mặt của một trong các yếu tố trên tạo thành cáckiểu so sánh tu từ:
Kiểu 1: Có đầy đủ 4 yếu tố.
Đây là dạng so sánh chuẩn vì nó có đầy đủ cả 4 yếu tố và trật tự sosánh: cái so sánh - cơ sở so sánh - mức độ so sánh - cái được so sánh
Trang 17Ví dụ: Ông hiền như hạt gạo
3 4 3 4 (Ca dao)
mạ, xanh lam, xanh nước biển…nhanh như sóc, nhanh như cắt, nhanh như tênbắn, nhanh như ngựa phi, nhanh như gió thổi, nhanh như điện…vui như tết,vui như hội, vui như mở cờ trong bụng…
Trang 18Kiểu 5: Bớt từ so sánh.
Ví dụ: Gái thương chồng, đương đông buổi chợ
1 2 4
Kiểu 6: So sánh vắng yếu tố (2) và yếu tố (3)
Đây là một dạng so sánh không đầy đủ, chỉ có cái so sánh và cái được
so sánh Yếu tố (2) và (3) được thay thế bằng chỗ ngắt giọng, dấu gạch nganghoặc là hình thức đối chọi
Ví dụ: Thân dừa bạc phếch tháng năm
Quả dừa - đàn lợn con nằm trên cao
Đêm hè hoa nở cùng sao Tàu dừa - chiếc lược chải vào mây xanh
(Tiếng Việt 3 t.1, tr.43)
Ngoài ra, còn có trường hợp yếu tố (1) và yếu tố (4) đổi chỗ cho nhau,còn gọi là so sánh đổi chỗ
Ví dụ: Trên trời mây trắng như bông
Ở giữa cánh đồng bông trắng như mây
Ví dụ: Đất Ê-ti-ô-pi-a là cha, là mẹ, là anh em ruột thịt của chúng tôi.
(Tiếng Việt 3 t.1, tr 85) Xét về phạm vi sử dụng:
So sánh sử dụng trong lời ăn tiếng nói hằng ngày: chậm như rùa, sắcnhư dao cạo, nhanh như cắt…
Trang 19So sánh được sử dụng trong văn chính luận, có sức gợi hình gợi cảm.Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu của chúng ta đã sử dụng so sánh trong văn
chính luận như một vũ khí sắc bén: Chủ nghĩa thực dân là con dĩa hai vòi…
Trong lời nói nghệ thuật, so sánh thể hiện khả năng tạo hình, gợi cảm
rất cao: Tình ta như hàng cây, đã qua bao mùa bão gió…qua bao sóng gió của
cuộc đời tình yêu, tình người vẫn vững trãi như hàng cây có rễ cắm sâu vàolòng đất
Quả thực, so sánh nghệ thuật là đôi cánh giúp chúng ta bay vào thế giới của cái đẹp [28- tr 194].
Trang 20Đây là dạng so sánh dùng để khẳng định một việc gì đó theo cách nhìnnhận, cách đánh giá riêng của người so sánh.
Ví dụ: Tháp mười đẹp nhất bông sen
Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ
Cũng có thể so sánh bậc cao nhất được thể hiện bằng câu hỏi tu từ:
Ví dụ: Gì sâu bằng những trưa thương nhớ
Hiu quạnh bên trong một tiếng hò?
(Tố Hữu)Những ví dụ trên cho ta thấy các đối tượng được đưa ra để so sánh khácnhau về bản chất Nhưng do một cách nhìn đặc biệt, các đối tượng vốn làkhác loại, khác bản chất có thể chuyển hóa được cho nhau, có những đặcđiểm, những nét giống nhau Một so sánh đẹp là một so sánh phát hiện, pháthiện ra những gì nhiều người không nhìn ra, không nhận thấy
Như vậy, so sánh tu từ là “một biện pháp tu từ ngữ nghĩa, trong đó người ta đối chiếu hai đối tượng khác loại của thực tế khách quan không đồng nhất với nhau hoàn toàn mà chỉ có một nét giống nhau nào đó, nhằm diễn tả bằng hình ảnh một lối tri giác mới mẻ về đối tượng” [28- tr.154].
Ngoài ra, cần thấy rằng, so sánh tu từ khác với so sánh trong lô-gíc học:trong lô-gíc học, so sánh không có ý nghĩa biểu cảm; trái lại trong so sánh tu
từ học, sắc thái biểu cảm là một đặc trưng
b- Tác dụng của so sánh tu từ
Sử dụng so sánh trong viết văn thể hiện sự chính xác sâu sắc của người
sử dụng và tăng cường nhận thức cho người tiếp nhận về sự vật, hiện tượngtrong thực tế khách quan Trên cơ sở của sự khám phá, phát hiện tinh tế về nétđặc thù, tiêu biểu, tương đồng giữa các đối tượng Biện pháp so sánh làm tăng
sức gợi cảm, gợi hình cho sự diễn đạt Bằng sự so sánh “hoa muống rồng bụ bẫm, thơm như mùi mít chín” nhà văn Duy Khánh đã thể hiện sự chiêm
Trang 21nghiệm thực tế của mình, đồng thời liên tưởng cho người tiếp nhận về mùithơm của một loài hoa, khiến mùi thơm như hiện thực hóa.
Trong văn miêu tả, sử dụng so sánh là một biện pháp tạo hình, khiến sựvật được so sánh trở nên đẹp đẽ, sinh động, hấp dẫn, cụ thể lôi cuốn sự chú ý
và dễ gợi liên tưởng cho người đọc, người nghe So sánh có giá trị gợi âmthanh, hình ảnh Sử dụng so sánh trong văn miêu tả còn là cách làm đẹp ngôn
từ Trong văn miêu tả có rất nhiều hình ảnh so sánh giản dị, mộc mạc gần gũivới cuộc sống con người Nhưng cũng có nhiều so sánh đẹp, bóng bẫy giàutính gợi hình, gợi cảm những con vật bình thường được khoắc lên vẻ đẹp
diệu kì nhờ so sánh tu từ : “Trưa hôm nay, dưới giàn mướp, các chị gà cùng
về dự tiệc Chị nào cũng đẹp, chị nào cũng xinh Chị mái mơ khắp mình hoa đốm trắng Chị mái vàng lông óng như màu nắng.” (bài viết của HS) Miêu tả
hình ảnh con gà mái, bạn học sinh đặc tả màu sắc của bộ lông qua việc sosánh với hoa đốm trắng và màu nắng Chính sự so sánh đó đã làm tăng vẻ đẹpcủa chị gà mái lên gấp bội
1.1.1.2- NHÂN HÓA TU TỪ
a Nhân hóa tu từ là gì?
Trong cuộc sống hàng ngày ta thường nghe nói: “Điếu cày kêu sòng sọc, gió rít từng đợt, gió thì thầm, con đường lượn vòng quanh, đá đổ mồ hôi, cái bụng muốn đi mà cái chân không muốn bước, cái ghế kê chân lên bàn, sách nằm trên nóc tủ…” những sự vật vô tri, rất đỗi bình thường lại trở nên sống động trước mắt ta là nhờ lối nhân hóa Vậy thế nào là phép tu từ nhân hóa?
Nhân hóa (còn gọi là nhân cách hóa) là những ẩn dụ, khi chuyển đổi từ những vật vô sinh sang hữu sinh, hoặc là thế giới vật chất sang thế giới ý thức của con người” [28- tr.13] Nhờ có nhân hóa mà các sự vật vốn vô tri, vô
Trang 22giác lại trở nên sinh động có hồn hơn, có suy nghĩ và hành động của conngười có ý thức.
Nhân hóa là một phương tiện tu từ, gọi tả sự vật bằng những từ ngữ vốndùng để gọi hoặc tả con người Làm cho sự vật trở nên gần gũi hơn, biểu thịđược suy nghĩ, tình cảm của con người
Quan niệm dưới đây về nhân hóa của tác giả Đinh Trọng Lạc đượcnhiều người lựa chọn hơn cả: “Nhân hóa là một biến thể của ẩn dụ, trong đóngười ta lấy những từ ngữ biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của con người để biểuthị thuộc tính, dấu hiệu của đối tượng không phải là con người nhằm làm chođối tượng miêu tả trở nên gần gũi, dễ hiểu hơn, đồng thời làm cho người nói
có khả năng bày tỏ kín đáo tâm tư, thái độ của mình” [28- tr.14]
Việc vận dụng phép tu từ nhân hóa vào viết văn miêu tả đạt thành cônghơn cả phải kể đến các nhà thơ, nhà văn lớn mà các thế hệ HS cần học tập
Trong văn xuôi của Nguyễn Tuân, người đọc bắt gặp thế giới kì diệu vàsinh động của thiên nhiên Qua ngòi bút của ông dường như mỗi sự vật lànhững con người có linh hồn, có tâm trạng: “Phối hợp với đá, nước thác reo
hò làm thanh viện cho đá, những hòn đá bệ vệ, oai phong lẫm liệt Một hòn ấytrông nghiêng thì như là đang hất hàm hỏi cái thuyền xưng tên tuổi trước khigiao chiến Một hòn khác lùi lại và thách thức cái thuyền có giỏi thì cứ tiếnvào… Mặt nước hò la vang dậy quanh mình mà bẻ gãy cán chèo vũ khí trêntay mình Sóng nước như thế liều mạng vào sát nách mà đá trái, mà thức gối
vào bụng, vào hông thuyền ” (Người lái đò Sông Đà) Người đọc như đang
chứng kiến một cuộc hỗn chiến ác liệt từ thế giới đá và thác nước Khả năngvận dụng phép tu từ vào viết văn miêu tả của Nguyễn Tuân đạt tới trình độbậc thầy
Nhà văn Phong Thu cũng đã rất thành công khi vận dụng biện phápnhân hóa để tả không khí của bến cảng: “Bến cảng lúc nào cũng đông vui
Trang 23Tàu mẹ, tàu con đậu đầy mặt nước Xe anh, xe em tíu tít nhận hàng về và chởhàng ra Tất cả đều bận rộn”
- Về mặt hình thức, nhân hóa được tổ chức bằng 3 cách:
(a) Dùng các từ xưng hô để gọi tên đối tượng không phải là con ngườinhư bác kim giờ, anh kim phút, bé kim giây…
(b) Dùng các tính từ, các động từ hành vi của con người để khoác lêncác đối tượng không phải là người
Ví dụ: Nấm mang ô đi hội
Tới suối nhìn mê say:
Ơ kìa, anh cọn nước Đang chơi trò đu quay!
Tôi yêu vẫn thường gọi
Mặt trời xanh của tôi
(Tiếng Việt 3 tập 2, tr.125)
Ví dụ: Lá đào, lá na, lá sói vẫy tai run rẩy
(Tiếng Việt 3 tập 1, tr 31)
Ví dụ: Núi cao chi lắm núi ơi?
Núi che mặt trời chẳng thấy người thương
(Ca dao)
- Về mặt nội dung, cơ sở để tạo nên nhân hóa là sư liên tưởng, nhằm
phát hiện những nét giống nhau giữa người và đối tượng không phải là người(những nét giống nhau giữa hai đối tượng khác loại) Đây cũng là cơ sở để tạo
ra phép so sánh Nhưng nhân hóa khác so sánh ở chỗ chỉ có một vế còn vế kia
Trang 24ngầm thừa nhận và nó khác ẩn dụ ở chỗ nó là phương tiện để trực tiếp miêu tảcác đối tượng không phải là con người, còn ẩn dụ là cách gọi tên khác cho đốitượng miêu tả.
Tóm lại, “nhân hóa là một biến thể của ẩn dụ, trong đó người ta lấy
những từ ngữ biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của con người để biểu thị thuộctính, dấu hiệu của đối tượng không phải là con người, nhằm làm cho đốitượng được miêu tả trở nên gần gũi, dễ hiểu hơn, đồng thời làm cho người nói
có khả năng bày tỏ kín đáo tâm tư, thái độ của mình” [ 29- tr 63]
Ngoài ra, cần nhấn mạnh thêm rằng, nhân hóa trong tu từ học khác vớinhân hóa trong từ vựng học: trong từ vựng học, nhân hóa là sự chuyển nghĩa,mang tính phổ biến và hết tác dụng biểu cảm; trái lại, trong tu từ học, nhânhóa là hiện tượng chuyển nghĩa trong ngữ cảnh, mang màu sắc biểu cảm
b- Tác dụng của nhân hóa tu từ
Nhân hóa là biện pháp miêu tả sinh động, hấp dẫn, lí thú các sự vật,hiện tượng của hiện thực khách quan làm cho đối tượng tuy không phải conngười nhưng lại mang dấu hiệu, thuộc tính của con người
Nhân hóa là cách nói hình ảnh về sự vật hiện tượng Qua nhân hóa cácđối tượng không phải là con người nhưng có cuộc sống của con người, biếtcảm nhận, biết suy nghĩ và hành động như con người Biện pháp nhân hóa làcon đường thú vị và ngắn nhất đưa những vấn đề trừu tượng và khô khan đếnnhận thức của con người Khi sử dụng nhân hóa, người viết thả sức vùng vẫy,lựa chọn ngôn từ để tăng thêm sự uyển chuyển, mềm mại, trữ tình trong diễnđạt Khi miêu tả hàng cây, có HS sử dụng biện pháp nhân hóa khiến hàng cây
cũng biết mộng mơ, biết đau khổ, yêu thương:“Tạm biệt mái trường chúng tôi về nghỉ hè, cây đứng im lìm buồn chia li” hay “những buổi sáng đến trường, hàng cây xanh rì rào, vui đón bước chân em”.
Trang 25Nhờ có nhân hóa là biện pháp tu từ hữu hiệu trong viết văn miêu tả, nóvừa gợi hình, vừa biểu cảm, đồng thời tăng sự nhận thức của con người về cácđối tượng trong hiện thực khách quan.
1.1.2 VĂN MIÊU TẢ
1.1.2.1 Thế nào là văn miêu tả?
Trong cuộc sống hàng ngày muốn mọi người cùng hiểu những điềumình đã thấy, đã biết chúng ta phải miêu tả Trong văn học, các câu chuyện,các truyện ngắn, các cuốn tiểu thuyết đã sử dụng khá nhiều đoạn miêu tả.Ngay đến văn nghị luận hay viết thư nhiều lúc người ta cũng chen vào cácđoạn miêu tả Vì thế, có thể nói rằng miêu tả có một vị trí quan trọng trongmọi lĩnh vực cuộc sống Vậy thế nào là văn miêu tả?
Có nhiều quan niệm về văn miêu tả
Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên định nghĩa: “Miêu tả là dùng
ngôn ngữ hoặc một phương tiện nghệ thuật nào đó làm cho người khác có thểhình dung được cụ thể sự vật, sự việc hoặc thế giới nội tâm của con người”[61- tr 628] Miêu tả là “lấy nét vẽ hoặc câu văn để biểu hiện cái chân tướngcủa sự vật ra” [60- tr 97]
Trong văn miêu tả, người ta không đưa ra những lời nhận xét chungchung, những lời đánh giá trừu tượng về sự vật Nếu như trong hội họa đểgiúp con người nhận thức về sự vật, họa sĩ dùng bút, hộp màu vẽ ra và thểhiện cái “hồn” của sự vật thì văn miêu tả vẽ ra các sự vật, sự việc, hiện tượng,con người bằng ngôn ngữ một cách sinh động, cụ thể Người thưởng thức cóthể cảm nhận cả những thứ vô hình như âm thanh, tiếng động, hương vị hay
tư tưởng tình cảm thầm kín của con người mà trong hội họa không có được
Văn miêu tả giúp người đọc nhìn rõ chúng, tưởng như mình đang xemtận mắt, bắt tận tay Tuy nhiên, hình ảnh một cánh đồng, một dòng sông, mộtcon vật, một con người do văn miêu tả tạo nên không phải là bức ảnh chụp
Trang 26lại, sao chép lại một cách đơn thuần Nó là sự kết tinh của sự quan sát tinh tế,những rung cảm sâu sắc ở người viết: “Miêu tả là khi đọc những gì chúng tabiết, người đọc như thấy được cái đó hiện ra trước mắt mình: một con người,một con vật, một dòng sông, người đọc còn có thể nghe được cả tiếng nói,tiếng kêu, tiếng nước chảy, thậm hí còn ngửi thấy mùi hôi, mũi sữa, mùihương hoa hay mùi rêu, mùi ẩm mốc…nhưng đó chỉ mới là miêu tả bênngoài Còn sự miêu tả bên trong nữa nghĩa là miêu tả tâm trạng vui, buồn,yêu, ghét của con người, con vật và cả cỏ cây” [31- tr 9] Miêu tả nêu lên cácđặc điểm của sự vật, hiện tượng bằng cách làm cho các sự vật, hiện tượnghiện lên trực tiếp hoặc tái hiện trước mắt ta một cách cụ thể, sinh động nhưthật khiến ta có thể nhìn, nghe, ngửi, sờ mó được.
Tóm lại, miêu tả “là vẽ lại bằng lời những đặc điểm nổi bật của cảnh,của người, của vật để giúp người nghe, người đọc hình dung được các đốitượng ấy” [12- tập 1]
1.1.2.2 Đặc điểm của văn miêu tả
a- Văn miêu tả là thể văn sáng tác có tính liên cá nhân
Trong làm văn miêu tả, cùng một đối tượng miêu tả nhưng mỗi người
có cách nhìn riêng thông qua lăng kính chủ quan của mình Mỗi bài văn miêu
tả là một sáng tác rất riêng của người viết Nếu không có sự cái riêng thì miêu
tả mới chỉ dừng lại ở mức độ miêu tả khoa học
Cùng miêu tả về trăng, nhưng nhà thơ Ê-xê-nhin ((Nhà thơ Nga thế kỉ
XX) lại có những gì rất thân thuộc, mộ mạc nhưng cũng hết sức thú vị: Mặt trăng đã ló qua mái rạ / Giống như con chó nhỏ yêu thương, với Hàn Mặc
Tử, trăng lại gắn với hình ảnh mang tính nhục thể: Trăng nằm sóng soải trên cành liễu / Đợi gió đông về lã lơi… Trong Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn
Minh Châu trăng hiện lên với nét vẽ tinh tế, trong sáng và đầy lãng mạn:
Mảnh trăng khuyết đứng yên ở cuối trời, sáng trong như một mảnh bạc…
Trang 27Như vậy, muốn miêu tả hay người viết phải luôn luôn tìm tòi sáng tạo đểtìm ra cái mới, cái riêng cho chính mình Tuy vậy, cái mới, cái riêng phải đượcgắn với cái chân thật vốn có của sự vật, hiện tượng.
b- Văn miêu tả mang tính thông báo, thẫm mĩ, chứa đựng tình cảm của người viết
Đối tượng của văn miêu tả rất đa dạng và phong phú Dù là tả một cáibút, một chú mèo, một cây hoa hồng, một dòng sông, một con người hay mộtchợ huyện…, bao giờ người viết cũng thể hiện quan điểm thẫm mĩ, cũng gửivào bài viết ít nhiều tình cảm hay ý kiến đánh giá, bình luận riêng của mình
Do vậy, từng chi tiết của bài miêu tả đều mang ấn tượng cảm xúc chủ quan.Chính đặc điểm này đã làm nên sự khác biệt giữa miêu tả trong khoa họcthưởng thức với miêu tả trong làm văn Nếu miêu tả trong khoa học đòi hỏi sựchính xác đặc điểm bên ngoài của đối tượng thì miêu tả trong văn học bao giờcũng sống động, nắm bắt đặc điểm nổi bật, đặc sắc của sự vật được nhìn nhậntrong cảm quan của người viết Cùng tả về trăng, có người nhìn trăng rằmtròn như quả bóng, có người nhìn trăng tròn như chiếc đĩa bạc, có người nhìntrăng tròn như khuôn mặt cô thôn nữ đang độ tuổi xuân thì
c- Văn miêu tả có tính sinh động và tạo hình
Đây là một đặc trưng khá quan trọng của văn miêu tả Khi miêu tả,chúng ta cần chú ý không nên đưa vào bài quá nhiều chi tiết, làm cho bài văntrở nên rườm rà theo kiểu liệt kê đơn điệu Cần phải biết gạt bỏ đi những chitiết thừa, không có sức gợi tả hay gợi cảm để làm cho bài văn miêu tả gọn vàgiàu chất tạo hình Muốn làm được điều này người viết không chỉ biết quansát mà phải biết quan sát có chọn lọc, thu lượm, tích luỹ những kinh nghiệmsống trong cuộc sống hàng ngày
Một bài miêu tả được coi là sinh động, tạo hình khi các sự vật, hiệntượng trong thế giới hiện thực được miêu tả hiện lên qua từng câu, chữ như
Trang 28trong cuộc sống vốn có của nó, tưởng như có thể cầm, nắm, "sờ mó" Đó lànhững chi tiết sống, gây ấn tượng mà thiếu nó bài miêu tả sẽ trở nên mờnhạt, khô khan Những chi tiết sinh động ấy phải được óc quan sát tinh tế, sựnhạy cảm, nhạy bén và kinh nghiệm sống của bản thân người viết Đó phải
là những chi tiết có giá trị mà nhờ đó người đọc không thể lẫn lộn các sự vậtvới nhau
Tuốc-ghê-nhi-ép đã từng nói: “Khi tôi mô tả cái mũi nâu đỏ hay mái tócmàu sáng, thì quả nhiên mái tóc ấy màu sáng, cái mũi ấy màu đỏ thật và điều
ấy không có cách gì bác bỏ được Để tôi có thể viết ra được một cái gì đấy, tôicần thường xuyên lẫn lộn với những con người, nắm được họ trong trạng tháisống" Điều này nghĩa là chỉ qua miêu tả người ta có thể thấy một thế giớisống động đang hiện ra trước mắt ta Mặc dù về mặt cấu tạo nhiều sự vật sẽgiống nhau, nhưng bản thân chúng đều có sự khác biệt riêng
Thật đúng như một nhà văn Pháp có nói một câu nổi tiếng mà nhà văn
Tô Hoài của chúng ta đã trích dẫn trong Một số kinh nghiệm viết văn miêu
tả của ông: “Một trăm thân cây bạch dương giống nhau cả trăm, một trăm
ánh lửa giống nhau cả trăm Mới nhìn tưởng thế, nhưng nhìn kĩ thì thân câybạch dương nào cũng khác nhau, ngọn lửa nào cũng khác nhau Trong đời
ta gặp bao nhiêu người, phải thấy ra mỗi người mỗi khác nhau, không một
ai giống ai”
Chính đặc điểm của văn miêu tả đã tạo nên đặc trưng của nó mang tính,
cụ thể, sinh động, tạo hình, chân thực Đồng thời, cũng tạo nên chất ngôn ngữgiàu cảm xúc và hình ảnh
Như vậy, một bài văn miêu tả bao giờ cũng mang đầy đủ các đặc điểmtrên Thiếu đi các đặc điểm đó thì ngôn ngữ trong văn miêu tả sẽ trở nên khôkhan, thiếu cảm xúc cũng như thiếu hình ảnh, không thể trở thành văn miêu
tả được
Trang 29(Các đặc điểm của văn miêu tả trên đây dựa theo tác giả NguyễnTrí [41])
1.1.3- ĐẶC ĐIỂM TÂM – SINH LÍ HỌC SINH TIỂU HỌC KHI VẬN DỤNG CÁC PHÉP TU TỪ SO SÁNH, NHÂN HÓA TRONG HỌC VĂN MIÊU TẢ
Hiện nay văn miêu tả được đưa vào CT phổ thông ngay từ các lớp đầubậc Tiểu học Từ lớp 2, khi tập quan sát tranh, bài viết để trả lời câu hỏi, các
em đã bắt đầu làm quen với văn miêu tả Tại sao lại cho HS học văn miêu tảsớm như vậy? Có thể nêu nhiều lí do: văn miêu tả phù hợp với tâm lí tuổi thơ,(ưa quan sát, thích nhận xét, sự nhận xét thường thiên về mặt cảm tính );góp phần nuôi dưỡng mối quan hệ và tạo nên sự quan tâm của các em với thếgiới xung quanh, trong đó quan trọng nhất là với thiên nhiên, góp phần giáodục tình cảm thẫm mĩ, lòng yêu cái đẹp, góp phần phát triển ngôn ngữ ở trẻ Học văn miêu tả, HS có thêm điều kiện để tạo nên sự thống nhất giữa tư duy
và tình cảm, ngôn ngữ và cuộc sống, con người với thiên nhiên, với xã hội, đểkhêu gợi ra những tình cảm, cảm xúc, ý nghĩ cao thượng, đẹp đẽ Xu-khôm-lin-xki, nhà giáo dục Xô- viết từng cho rằng: việc HS tiếp xúc với thiên nhiên,việc dạy các em miêu tả cảnh vật nhìn thấy, nghe thấy là con đường có hiệuquả nhất để giáo dục và phát triển ngôn ngữ ở trẻ
Tuy nhiên, đối với HS Tiểu học, khả năng vận dụng các phép tu từ sosánh, nhân hóa để viết văn miêu tả cũng gặp nhiều hạn chế
Đặc biệt là lớp 2,3 các em mới bước đầu làm quen với ngôn ngữ nghệthuật, những câu văn miêu tả của các em hoàn toàn do bắt chước Năng tư duy
cụ thể của các em nhiều hơn khả năng khái quát hoá; các em rất nhạy cảm với
vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước, các em dễ xúc động và bắt đầu biết mơ ước
có trí tưởng tượng phong phú, thích nghi lại các vấn đề mà mình đã quan sátđược Song do vốn sống và môi trường tiếp xúc của các em cũng hạn chế nên
Trang 30vốn ngôn ngữ của các em chưa phong phú, sắp xếp ý chưa có hệ thống vàdiễn đạt cũng thiếu mạch lạc Do đó, việc miêu tả của các chủ yếu là thôngqua trả lời các câu hỏi
Đến lớp 4,5 HS có thay đổi rõ nét về tâm hồn và trí tuệ L.Vưi-gốt-xkigọi đó là "Những giai đoạn khủng hoảng trong đời sống con người, những thời
kỳ chuyển tiếp và cấu tạo lại cơ thể luôn tràn đầy những phản ứng cảm xúc và
đời sống tình cảm" (Tưởng tượng và sáng tạo ở tuổi thiếu niên, Mat-xcơ-va
1967) Tình trạng dâng cao cảm xúc khiến trẻ em tuổi này có một sự thay đổiđáng kể là: Các em thích quan sát, thích nhận xét đánh giá, thường thì nhữngnhận xét này mang tính trực quan cảm tính, các em đã thay hoạt động sángtạo yêu thích là vẽ ở trước giai đoạn trước tuổi đến trường và đầu Tiểu họcbằng hình thức sáng tạo ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết So với vẽ, và đặc biệt
là những bức vẽ trẻ em còn chưa hoàn thiện, thì “Lời nói cho phép diễn đạt dễdàng hơn rất nhiều lần những quan hệ phức tạp, những tính chất bên trong,những sự vận động, lôgíc, sự phức tạp của sự kiện”
Tuy nhiên, đối với việc vận dụng các phép tu từ so sánh, nhân hóa đốivới HS Tiểu học cũng gặp nhiều khó khăn Phần đông HS khi được hỏi các
em có thích nghe phân tích cái hay, cái đẹp trong văn học không? Các em trảlời là “thích” nhưng hỏi các em có thích học Tập làm văn không? Thì nhiều
em đều trả lời “không thích” vì “khó học”
HS thích đọc truyện tranh hơn đọc sách báo nên vốn từ để miêu tả ít,dùng từ thường thiếu sự chính xác hoặc câu văn quá ngắn gọn
HS không biết tự lập dàn ý dẫn đến việc viết câu văn, đoạn văn không
đủ ý cần diễn đạt HS thiếu sự tưởng tượng, ít cảm xúc về đối tượng miêu tả,không biết vận dụng các biện pháp tu từ nên câu văn, đoạn văn thiếu hìnhảnh, thiếu cảm xúc
Trang 31Một số em khi viết văn miêu tả thường thể thiện tính bắt trước rất cao.Khi các em học các phân môn khác thông qua một mẫu văn nào đó miêu tả về
sự vật mà các em cần tả, các em sẵn sàng bê kiến thức đó vào bài văn miêu tảcủa mình, dẫn tới văn mang tính sáo mòn, khô khan và công thức Khi GVyêu cầu miêu tả con bướm nhất định HS sẽ kể ra các bộ phận thân, đầu, mìnhgần như giống nhau mà không biết rằng mỗi loài bướm có đặc điểm riêng cầnphát hiện các đặc điểm riêng khi miêu tả Nếu GV biết cách định hướng, đưa
ra các biện pháp để HS nhìn nhận và sử dụng các phép tu từ so sánh, nhân hóakhi viết văn miêu tả, sẽ làm cho bài văn trở sinh động, hấp dẫn hơn Khi đó,các em sẽ không sợ viết văn nữa, sẽ say mê với hoạt động sáng tạo, phù hợpvới đặc điểm lứa tuổi
1.2- CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1- CT, SGK TIẾNG VIỆT PHẦN SO SÁNH, NHÂN HÓA VÀ VĂN MIÊU TẢ 1.2.1.1- Phép so sánh trong CT Tiếng Việt ở Tiểu học
a- Nội dung CT và SGK liên quan đến phép so sánh
Ngay từ lớp 2, trong phân môn Luyện từ và câu đã giới thiệu sơ lược vềhình ảnh so sánh, thành ngữ so sánh với dạng bài tập làm theo mẫu hoặc lựachọn từ điền vào chỗ trống:
Ví dụ 1: Chỉ ra hình ảnh so sánh
M: đẹp đẹp như tiên (đẹp như tranh)
Cao…., khỏe…., nhanh…., chậm… , hiền…., trắng… , xanh…., đỏ…M: Mắt con mèo nhà em tròn… Mắt con mèo nhà em tròn như hòn
bi ve
Toàn thân nó phủ đầy lớp lông màu tro, mượt…
Hai tai nó nhỏ xíu…
(VBT Tiếng Việt 2 t.1, tr.71)
Trang 32Ví dụ 2 : Hãy chọn và viết tên con vật thích hợp vào chỗ trống :
A- Dữ như… C- Khỏe như…
B- Nhát như… D- Nhanh như…
(thỏ, voi, hổ, sóc)
(VBT Tiếng Việt 2 t2, tr.23)
Tuy nhiên, mục tiêu vẫn là bước đầu cho HS làm quen với hình ảnh sosánh Kiến thức về so sánh thực sự được cung cấp trong Phân môn luyện từ vàcâu lớp 3 và lên lớp 4,5 các em có điều kiện vận dụng vào viết văn
Thống nhất với mục tiêu của CT Tiếng Việt ở Tiểu học, mục tiêu củaviệc dạy biện pháp tu từ so sánh ở lớp 3 là rèn luyện kĩ năng Thông qua việcgiải bài tập, HS nhận diện phép tu từ so sánh, nhân hóa tức là chỉ ra được hìnhảnh, chi tiết được sử dụng trong bài đồng thời hiểu được tác dụng của phép tu
từ so sánh, nhân hóa
Ngoài việc nắm được dấu hiệu và hiểu được giá trị biểu cảm của phép
tu từ so sánh, nhân hóa, CT còn yêu cầu HS biết vận dụng phép tu từ so sánh,nhân hóa v o vi c nói vi t, nh bi t dùng nh ng hình nh so sánh, nhânào việc nói viết, như biết dùng những hình ảnh so sánh, nhân ệc nói viết, như biết dùng những hình ảnh so sánh, nhân ết, như biết dùng những hình ảnh so sánh, nhân ư biết dùng những hình ảnh so sánh, nhân ết, như biết dùng những hình ảnh so sánh, nhân ững hình ảnh so sánh, nhân ảnh so sánh, nhânhóa sinh động trong giao tiếp, trong làm văn ng trong giao ti p, trong l m v n ết, như biết dùng những hình ảnh so sánh, nhân ào việc nói viết, như biết dùng những hình ảnh so sánh, nhân ăn
1 Măng non Làm quen với phép tu từ so sánh
3 Mái ấm - Tìm các hình ảnh so sánh.
- Nhận biết các từ chỉ so sánh
5 Tới trường So sánh hơn kém, thêm các từ so sánh vào những
câu chưa có từ so sánh
7 Cộng đồng So sánh con vật với con người
10 Quê hương So sánh âm thanh với âm thanh
12 Bắc-Trung- Nam So sánh hoạt động với hoạt động
15 Anh em một nhà Luyện đặt câu có hình ảnh so sánh
Bảng 1.1- Phép tu từ so sánh trong phân Luyện từ và câu ở lớp 3
b- Nhận xét và giải trình thêm nội dung CT, SGK về phép so sánh
Trang 33b.1- Về mặt thời lượng, CT đã dành 7 tiết (7 bài) dạy toàn bộ phần phép
tu từ so sánh- chiếm 1/35 tổng số thời gian của môn Tiếng Việt, 1/5 tổng thời gian của môn Luyện từ và câu.
b.2- Về mặt nội dung, ở lớp 3 dạy học phép tu từ so sánh có cả lý thuyết
và thực hành:
- Về nội dung lý thuyết, so sánh tu từ được đưa vào giảng dạy trong CT
lớp 3 ở phân môn Luyện từ và câu Toàn bộ CT Tiếng Việt 3 tập 1 đã dạy về
so sánh gồm 8 bài với các mô hình sau:
VD: Cây pơ- mu đầu dốc
Im như người lính canh.
(Tiếng Việt 3 tập 1, tr 58)
Mô hình 3- So sánh: Hoạt động - Hoạt động
- Con trâu đen chân đi như đập đất
- Tàu cau vươn như (tay) vẫy
Mô hình 4- So sánh: Âm thanh - Âm thanh
VD: Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa
(Tiếng Việt 3 tập 1, tr 80)
Ngoài ra các em còn được làm quen với các dạng so sánh gồm so sánhngang bằng và so sánh bậc hơn kém
Trang 34Có thể nói, nội dung dạy học phép tu từ so sánh ở lớp 3 được biên soạnmột cách logic, khoa học vừa phù hợp với đặc điểm tâm lí, trình độ nhận thứccủa HS Cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản, cần thiết về phép so sánh.Tạo cơ sở vững chắc giúp HS phát triển kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ.
- Về nội dung thực hành, CT và SGK Tiếng Việt 3 đưa ra 2 loại bài
tập về so sánh :
+ Bài tập nhận biết phép tu từ so sánh
Đối với loại bài tập này thường đưa ra các ngữ liệu như: Câu văn, câuthơ, khổ thơ, đoạn văn Trong đó, người ta sử dụng phép tu từ so sánh Vànhiệm vụ của học sinh là chỉ ra được các hình ảnh so sánh, các sự vật được sosánh, các vế được so sánh, các từ được so sánh, các đặc điểm so sánh trongngữ liệu ấy Trong loại bài tập này người ta chia ra các dạng bài cụ thể như:
Dạng 1: Tìm những sự vật được so sánh
Với loại bài tập này giúp học sinh nắm được cấu trúc của phép so sánh.VD: Tìm những sự vật được so sánh vói nhau trong các câu thơdưới đây
Ơ, cái dấu hỏi Trông ngồ ngộ ghê, Như vành tai nhỏ Hỏi rồi lắng nghe
Trang 35Dạng bài tập không chỉ yêu cầu HS tìm những sự vật được so sánh vớinhau một cách riêng lẻ mà còn phải tìm cả hình ảnh so sánh Tức là, các emphải tìm cả cấu trúc có thể đầy đủ hoặc không đầy đủ của phép so sánh.Những hình ảnh so sánh này sẽ đem lại cho các em những cảm xúc tốt đẹp,những cách nhìn mới mẻ về sự vật, về cuộc sống xung quanh.
Ví dụ: Tìm hình ảnh so sánh trong câu văn dưới đây:
Những đêm trăng sáng, dòng sông là một đường trăng lung linh dát vàng.
(Tiếng Việt 3 t.1, tr.24)
Dòng sông vào những đêm trăng sáng thì không còn là một dòng sôngnữa, nó đã biến thành một con đường lung linh bởi được tạo nên từ thứ ánhsáng trên cao tưởng chừng như được dát vàng kia Một hình ảnh so sánh kì ảo
và cũng rất đẹp
Dạng 3: Tìm các từ so sánh
Trong phép tu từ so sánh có rất nhiều những từ dùng để so sánh như:
là, tựa, giống, như thể, như là, như, hơn, chẳng bằng, Để giúp các em
nhận ra được sự phong phú, đa dạng cũng như sự tinh tế của so sánh tu từ,SGK đã cung cấp cho các em dạng bài tập tìm các từ so sánh
Ví dụ: Hãy ghi lại các từ chỉ sự so sánh trong những câu sau
a, Bế cháu ông thủ thỉ:
- Cháu khỏe hơn ông nhiều
Ông là buổi trời chiều
Cháu là ngày rạng sáng
Phạm Cúc
b, Những ngôi sao thức ngoài kia
Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con
Đêm nay on ngủ giấc tròn
Mẹ là ngọn gió của con suốt đời.
Trang 36Trần Quốc Minh
c, Mắt hiền sáng tựa vì sao
Bác nhìn đến tận Cà Mau cuối trời
(Tiếng Việt 3 t.1, t.43)
Dạng 4: Tìm các đặc điểm so sánh
So sánh tu từ không chỉ là đối chiếu 2 đối tượng khác loại của thực tế
khách quan mà đối tượng của so sánh tu từ có thể là đối tượng cùng loại: âmthanh với âm thanh, hoạt động với hoạt động điều quan trọng tất cả những
so sánh này đều gợi lên những cảm xúc thẩm mĩ, đều là kết quả của sự liêntưởng, sự phát hiện mà không phải ai cũng nhìn ra và nhận thấy Đây là dạngbài tập tìm hiểu thêm về đặc điểm của phép so sánh với những kiểu so sánhkhác nhau Chẳng hạn: so sánh âm thanh với âm thanh, so sánh hoạt động vớihoạt động…
+ Bài tập vận dụng phép tu từ so sánh
Trong loại bài tập này gồm 2 dạng bài tập nhỏ: Bài tập nhận biết tácdụng của phép tu từ so sánh; Bài tập đặt câu có dùng phép tu từ so sánh
Dạng 1: Bài tập nhận biết tác dụng của phép tu từ so sánh.
Để nhận biết được tác dụng của phép so sánh, bài tập đã mở ra cho HSmột hướng tiếp nhận mới đó là tự mình đưa ra những đánh giá, những nhậnxét của riêng mình dưới dạng như phát biểu cảm nghĩ
Ví dụ: Trong những hình ảnh so sánh ở bài tập, em thích hình ảnh nào?
Vì sao?
a Hai bàn tay em Như hoa đầu cành.
b Mặt biển sáng trong như tấm thảm khổng lồ bằng ngọc thạch.
c Cánh diều như dấu “á
Ai vừa tung lên trời
Trang 37d Ơ, cái dấu hỏi Trông ngồ ngộ ghê,
Dạng 2: Bài tập đặt câu có dùng phép tu từ so sánh
Đây là dạng bài tập đòi hỏi sự sáng tạo Nếu như lớp 2 là dạng bài tậplàm theo mẫu thì lớp 3 yêu cầu cao hơn, đòi hỏi các em phải có sự quan sáttinh tế và kết hợp với sự hiểu biết của bản thân, để tạo ra hình ảnh so sánhphù hợp
Ví dụ: Tìm những từ ngữ thích hợp với mỗi chỗ trống:
a Công cha nghĩa mẹ được so sánh như , như
b Trời mưa, đường đất sét trơn như
(Tiếng Việt 3 t.1, tr.126) Tóm lại, qua khảo sát nội dung CT, SGK chúng tôi nhận thấy, CT và SGK Tiếng Việt đã cung cấp cho HS nội dung dạy học phép tu từ so sánh phù
hợp với trình độ nhận thức của HS Ngữ liệu đưa ra để dạy phép so sánh thểhiện tính linh hoạt và sinh động phù hợp với tâm lí lứa tuổi HS Tiểu học.Những kiến thức đưa ra để dạy về phép tu từ so sánh ở mức độ cơ bản và sơgiản, chưa đi sâu vào dạy chúng như một lý thuyết về tu từ Mặt khác, nộidung về phép tu từ so sánh được xây dựng theo quan điểm tích hợp Các nộidung kiến thức không chỉ được dạy trong phân môn Luyện từ và câu ở lớp 3
mà còn được lồng ghép trong tất cả những phân môn của môn Tiếng Việt
Trang 38Đây là cơ sở vững chắc để HS phát triển kĩ năng sử dụng biện pháp tu từ ởlớp 4,5.
1.2.1.2- Phép nhân hóa trong CT Tiếng Việt ở Tiểu học
a- Nội dung CT và SGK Tiếng Việt Tiểu học liên quan đến phép nhân hóa
Mặc dù những kiến thức về nhân hóa được dạy cho HS lớp 3 song kiếnthức này đã xuất hiện khá nhiều trong các đoạn văn ngắn ở lớp 2, lên lớp 4,5
HS trở thành những chủ thể sáng tạo, vận dụng kiến thức một cách sáng tạotrong mỗi bài viết của mình
Nội dung về phép tu từ nhân hóa được dạy học kì II, trong phân mônLuyện từ và câu lớp 3
19 Bảo vệ tổ quốc Nhận biết các hiện tượng nhân hóa, các cách nhân
Nhận diện các hình ảnh nhân hóa, các sự vật, con vậtđược nhân hóa Nhận xét về cách gọi và tả các sự vật,con vật đó
28 Thể thao
Nhận diện sự vật và cây cố được nhân hóa (Sự vật vàcây cối xưng hô như con người,) Nêu tác dụng củacách xưng hô ấy
33 Bầu trời và mặt
đất
Nhận diện các sự vật được nhân hóa, cách nhân hóa.Nói lên suy nghĩ, cảm xúc về hình ảnh nhân háo trongbài (Em thích hình ảnh nào trong bài ? Vì sao?)
Viết đoạn văn ngắn (4-5 câu) trong đó sử dụng phép
Trang 39nhân hóa.
Bảng 1.2- Phép tu từ nhân hóa trong phân Luyện từ và câu ở lớp 3
b- Nhận xét nội dung CT và SGK về phép nhân hóa
b.1- Kiến thức về phép nhân hóa
- Nội dung CT và SGK về nhân hóa phù hợp với trình độ nhận thức của
HS HS Tiểu học có tâm hồn trong sáng, bay bổng, các em quen với thế giới
cổ tích của bà, của mẹ Trong thế giới đó, sự vật là những nhân vật có tínhcách và suy nghĩ của con người Khi học về phép tu từ nhân hóa, các em lạinhư khẳng định hơn có tồn tại một thế giới loài vật rất đáng yêu như anh gàtrống, cô mèo mướp…là những sự vật gần gũi và thân thuộc bên trẻ nhỏ Việc
sử dụng phép nhân hóa trong viết văn sẽ gợi nên một một thế giới sự vật sốngđộng và có hồn, không còn là những vật vô tri, vô giác nữa
- CT đã cung cấp kiến thức cơ bản về phép tu từ nhân hóa Trong bàihọc, HS theo những câu dẫn có thể xác định được đối tượng nhân hóa, cáchnhân hóa, từ đó cảm nhận được cái hay, cái đẹp của hình ảnh nhân hóa xuấthiện trong đoạn văn Giúp các em có ý thức sử dụng biện pháp để tạo ra lờinói hay trong lời nói hằng ngày và trong viết văn Sẽ đáng yêu biết bao,nếu trẻ luôn trân trọng những đồ dùng bên mình và xem nó như người bạn,biết nâng niu, giữ gìn chúng
- Nội dung phép tu từ nhân hóa được xây dựng theo quan điểm tíchhợp Kiến thức được lồng ghép vào các phân môn khác, đặc biệt là phânmôn Tập làm văn HS có điều kiện rèn luyện kĩ năng thường xuyên, khắcsâu kiến thức, và có thói quen sử dụng câu văn giàu hình ảnh
Chính những lí do trên tạo thuận lợi tổ chức cho HS vận dụng phép tu
từ nhân hóa vào viết văn, đặc biệt là văn miêu tả - Một mảnh đất mầu mỡ đểrèn kĩ năng, thói quen sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu cảm xúc
Trang 40b.2- Bài tập về phép nhân hóa
HS nhận biết về phép nhân hóa thông qua hệ thống bài tập, gồmhai loại:
- Bài tập nhận biết phép nhân hóa
Loại bài tập này thường nêu ra ngữ liệu là những câu văn, câu thơ,
đoạn văn, đoạn thơ có sử dụng phép tu từ nhân hóa Nhiệm vụ của học sinh
là chỉ ra các đối tượng được nhân hóa (có thể là các sự vật, cây cối, con vật ),chỉ ra cách thức nhân hóa, chỉ ra hình ảnh nhân hóa… trong các ngữ liệu đãcho Loại bài tập này có thể được chia thành các dạng nhỏ là nhận diện đốitượng nhân hóa và nhận biết cách nhân hóa
- Bài tập vận dụng phép nhân hóa
Loại bài tập này yêu cầu HS nhận xét được cái hay khi sử dụng phép
tu từ nhân hóa, đồng thời biết dùng hình ảnh nhân hóa trong đặt câu, viếtđoạn văn Loại bài tập này được chia thành hai dạng nhỏ: nhận biết tácdụng của phép tu từ nhân hóa và viết đoạn văn ngắn có sử dụng phép tu từnhân hóa
1.2.1.3 Văn miêu tả trong CT Tiếng Việt ở Tiểu học
Nếu như ở lớp 1,2 HS chỉ bước đầu làm quen với các đoạn văn bảnngắn có tính nghệ thuật thì đến lớp 3 các em được học kiến thức về nghệ thuậtngôn từ Tuy nhiên, ở lớp 3, CT học các văn bản giới thiệu mà ít có tính miêu
tả Đến lớp 4,5 CT tập trung dạy văn miêu tả với thời lượng lớn
CT SGK dạy hiện hành, theo quyết định 16/2006/QĐ- BGDĐT ngày05/5/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, đối với văn miêu
tả ở Tiểu học được dạy trong phân môn Tập làm văn:
Líp 2