Theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị Hảo và được sự chấp thuận của Quý Tòa, tôi tham gia phiên toà hôm nay với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hả
Trang 1I TÓM TẮT NỘI DUNG
TRANH CHẤP
nii đơI TÓM TẮT I DUNG TRANH CHẤP
HỌC VIỆN TƯ PHÁP
Cơ sở Thành phố Hồ Chí Minh
BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
Môn : Kỹ Năng Cơ Bản Của Luật Sư Khi Tham Gia
Giải Quyết Các Vụ, Việc Dân Sự
Mã hồ sơ : LS.DS-07/ B3.TH2-DA1/ HNGĐ Diễn lần : 03
Ngày diễn : 07/8/2021 GVHD : Ths Nguyễn Thị Hương Giang
Họ tên học viên : NGUYỄN TẤN PHÁT
Trang 2Số báo danh : 211
TP Hồ Chí Minh ngày 07 tháng 08 năm 2021
BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
Môn: Kỹ Năng Cơ Bản Của Luật Sư Khi Tham Gia Giải Quyết Các Vụ, Việc
Dân Sự
Hồ sơ số: LS.DS-07/ B3.TH2-DA1/ HNGĐ
Nguyên Đơn: Chị Nguyễn Thị Hảo
I TÓM TẮT NỘI DUNG TRANH CHẤP VÀ YÊU CẦU CỦA NGUYÊN ĐƠN:
1.1 Tóm tắt nội dung tranh chấp
- Nguyên Đơn: Chị Nguyễn Thị Hảo
- Bị Đơn: Anh Nguyễn Văn Nguyệt
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị Thoa và Ông Nguyễn Văn Cang – có tài sản liên quan
Ngày 26/03/1999, chị Nguyễn Thị Hảo và anh Nguyễn Văn Nguyệt đăng ký kết hôn tại UBND xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách (nay là thành phố Hải Dương), tỉnh Hải Dương Việc kết hôn này dựa trên sự tự nguyện của 2 người Sau khi kết hôn và chung sống hạnh phúc được 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn, hai người sống ly thân hơn 01 năm kể từ năm 2014
- Về con chung: 02 con chung là Nguyễn Thị Nhi (sinh 04/01/2000) và Nguyễn
Đức Anh (sinh 13/06/2007)
+ Cháu Nhi có đơn đề nghị được ở với mẹ (BL 30) Kể từ khi ly thân, cháu Nhi đang sống cùng chị Hảo
+ Cháu Đức Anh có đơn dề nghị ở với mẹ, sau làm đơn đề nghị ở với bố (BL 31-32)
Kể từ khi ly thân, cháu Đức Anh sống cùng anh Nguyệt
- Về tài sản chung:
+ Chị Hảo xác định:
(1) Nhà đất có số thửa 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2 tại xã Thượng Đạt,
Trang 3thành phố Hải Dương Tài sản gắn liền trên đất bao gồm: 01 ngôi nhà 18m2 lợp ngói, 1 gian bếp và nhà vệ sinh khoảng 10m2, 1 giếng khơi, 1 bể xây gạch xi măng khoảng 1,6m3;
(2) 1965m2 đất ruộng, ao khoán có địa chỉ tại: Bãi Nam, khu 02 Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, Tp Hải Dương để sử dụng vào mục đích chuyển đổi cơ cấu cây trồng Sau đó anh Nguyệt và chị Hảo làm đơn đề nghị Tòa án không giải quyết về tài sản này
+ Anh Nguyệt xác định:
(1) Không có tài sản chung là thửa đất số 496;
(2) Tài sản chung chỉ bao gồm 01 ngôi nhà 18m2 lợp ngói, 1 gian bếp và nhà vệ sinh khoảng 10m2, 1 giếng khơi, 1 bể xây gạch xi măng khoẳng 1,6m3
- Về nợ chung:
Khoản nợ đối với ngân hàng Agribank: nợ gốc 20.000.000 và số tiền lãi phát sinh cho đến khi tất toán hợp đồng Đã hoàn thành trả vào 28/06/2016 và ngân hàng Agribank đã hoàn trả lại GCNQSDĐ đối với thửa đất 496 (BL 148-154)
1.2 Yêu cầu của nguyên đơn:
- Ly hôn với anh Nguyễn Văn Nguyệt;
- Nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh Nguyệt cấp dưỡng;
- Chia đôi tài sản chung là thửa đất 496 bằng hiện vật Không yêu cầu giải quyết các tài sản còn lại
1.3 Chứng cứ chứng minh yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Các chứng cứ ban đầu chứng minh yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ
và hợp pháp bao gồm:
- Bản sao sổ hộ khẩu gia đình số 270056469 (BL 05-07) – xác minh tư cách cá nhân của chị Hảo
- Bản sao Giấy chứng nhận kết hôn ngày 26/03/1999 (BL 02) – Hôn nhân giữa anh Nguyệt và chị Hảo là tự nguyện và đúng pháp luật;
- Bản sao Giấy khai sinh cháu Nhi số 73 quyển số 2014 và cháu Nguyễn Đức Anh
số 38 quyển số 2007 (BL 03-04) – chứng minh về con chung;
- Đơn đề nghị của cháu Nhi (BL 30 ) – chứng minh mong muốn được ở với mẹ của cháu Nhi;
- Đơn đề nghị của cháu Đức Anh (BL 31) – chứng minh mong muốn được ở với
mẹ của cháu Đức Anh;
- Bản sao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 496 đứng tên anh Nguyễn Văn Nguyệt và chị Nguyễn Thị Hảo (BL 08-11) – chứng minh về tài sản chung
II KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN TÒA:
1 Hỏi bị đơn Nguyễn Văn Nguyệt:
Trang 4III KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN TOÀ
1 Hỏi bị đơn ông Nguyễn Văn Nguyệt:
1.1 Ông cho biết hiện tại ông làm gì và thu nhập như thế nào?
1.2 Ông cho biết cuộc sống hôn nhân của ông và bà Hảo như thế nào? Hai người sống ly thân từ lúc nào?
1.3 Ông và bà Hảo phát sinh mâu thuẫn vợ chồng từ thời điểm nào? Mâu thuẫn đó
là gì?
1.4 Ông thường làm gì để giải quyết mâu thuẫn giữa hai người? Ông có chửi, hay đánh đập bà Hảo không?
1.5 Gia đình ông có biết về việc mâu thuẫn của hai người không?
1.6 Ông có thường xuyên sử dụng rượu cùng bạn bè hay không?
1.7 Ông có đóng góp cho gia đình và chăm sóc nuôi dạy các con ông hay không? 1.8 Ông có biết lý do tại sao dẫn đến hôn nhân tan vỡ như hôm là do ai gây ra không?
1.9 Ông đang sống chung với cháu Nguyễn Đức Anh đúng không? Ông kể cho cháu
Anh nghe việc mẹ cháu không cho cháu Nhi đi học đúng không?
1.10 Công việc của ông hiện tại là gì?
1.11 Ông với bà Hảo có nợ chung không? Có yêu cầu tòa án giải quyết không? 1.12 Thửa số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216 m2 là do cha mẹ ruột của ông tặng cho sau khi ông cưới bà Hảo đúng không? Ông và bà Hảo có xây dựng nhà và cải tạo lại đối với phần đất này không?
1.13 Khi Ủy ban nhân dân huyện Nam Sách cấp GCN quyền sử dụng đối với thửa đất 496 cho vợ chồng ông thì mọi người trong gia đình ông có phản đối gì không?
2 Hỏi Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hảo:
2 Hỏi nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hảo
2.1 Bà cho biết hiện tại bà làm nghề gì và thu nhập như thế nào?
2.2 Mâu thuẫn giữa hai người bắt đầu từ khi nào? Nguyên nhân mâu thuẫn là gì? Gia đình bà có biết về mâu thuẫn của hai ông bà không?
2.3 Khi xảy ra mâu thuẫn ông Nguyệt có chửi, đánh đập bà và các con không?
Có ai chứng kiến biết việc này không?
2.4 Những lúc ông Nguyệt chửi và đánh đập bà thì bà có báo chính quyền địa phương giúp đỡ không?
2.5 Ông Nguyệt có đóng góp gì phụ bà để chăm lo gia đình và các cháu hay
không?
2.6 Từ lúc sinh cháu Đức Anh thì ai là người trực tiếp chăm sóc cháu?
2.7 Theo như trong lời khai của bà thì hai vợ chồng thực tế đã sống li thân
khoảng 01 năm nay đúng không?
2.8 Bà có lường trước những khó khăn nếu sau khi được ly hôn một mình phải gánh vác nuôi 2 con nhỏ, nuôi dạy chăm lo cho con ăn học trở thành người có ích cho xã hội?
Trang 52.9 Bà có ý kiến gì thêm trong phiên tòa hôm nay không?
3 Hỏi người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan – bà Thoa:
1) Bà có biết việc anh Nguyệt và chị Hảo được cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số
496 không?
2) Việc vợ chồng anh chị Nguyệt – Hảo xây nhà trên thửa đất số 496, bà có ý kiến
gì không?
3) Từ lúc vợ chồng anh chị Nguyệt – Hảo được cấp GCNQSDĐ đến trước khi ly thân, bà có ý kiến gì không?
4) Từ năm 1999 đến nay, bà có thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đất đối với thửa đất này không?
4 Hỏi người làm chứng:
a Hỏi ông Bích – công chức địa chính xã Thượng Đạt:
- Sau khi vợ chồng anh chị Nguyệt – hảo được cấp GCNQSDĐ, UBND xã có nhận được bất kỳ ý kiến, thư khiếu nại nào không?
- Ông cho biết, có tranh chấp gì đối với thửa đất số 496 không?
b Hỏi ông Tư – cán bộ tư pháp xã Thượng Đạt:
Ông cho biết, việc anh Nguyệt đánh và không cho cháu Đức Anh gặp chị Hảo có được nhiều người biết không?
III BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ CHO NGUYÊN ĐƠN:
IV LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CHO NGUYÊN ĐƠN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc
Kính thưa HĐXX,
Thưa vị đại diện VKS,
Thưa vị Luật sư đồng nghiệp,
Tôi là luật sư Nguyễn Tấn Phát – Thuộc văn phòng Luật sư LS23 thuộc Đoàn Luật
sư thành phố Hồ Chí Minh Theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị Hảo và được sự chấp thuận của Quý Tòa, tôi tham gia phiên toà hôm nay với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hảo trong vụ án dân sự
“tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản” với bị đơn là ông Nguyễn Văn Nguyệt hôn, nuôi con, chia tài sản” với bị đơn là ông Nguyễn Văn Nguyệt
Theo đơn khởi kiện ghi ngày 02/01/2016 gửi Tòa án nhân dân thành phố Hải
Dương thì nội dung vụ kiện như sau:
Nguyên đơn bà Hoàng Thị Hảo (địa chỉ Thôn Nam Giàng, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương) khởi kiện ly hôn với chồng là ông Nguyễn Văn Nguyệt (địa chỉ Thôn Thượng Triệt I, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương)
Trang 6Nội dung khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
* Vấn đề thứ nhất: về quan hệ hôn nhân.
Vấn đề thứ nhất: về quan hệ hôn nhân
Bà và ông Nguyệt kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách, nay là thành phố Hải Dương ngày 26/3/1999 Sau khi kết hôn bà và ông Nguyệt sống hạnh phúc được khoảng 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn Bà Hảo và ông Nguyệt sống ly thân hơn 01 năm nay Theo như lời trình bày của cả hai bên thì quan hệ hôn nhân của vợ chồng anh Nguyệt và chị Hảo đã mâu thuẫn đến mức đỉnh điểm, không thể hòa giải được Hai anh chị đã ly thân từ ngày 14/12/2014 Từ đó đến nay, chị Hảo xác định tình cảm
vợ chồng không còn, hai vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nữa Vì vậy, chị Hảo xin ly hôn với anh Nguyệt Anh Nguyệt cũng xác nhận không còn tình cảm vợ chồng và đồng ý yêu cầu ly hôn của chị Hảo Yêu cầu xin ly hôn của bà Hảo là có căn cứ pháp luật cụ thể tại Điều 51, Điều 54, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm
2014 Qua các bằng chứng, lời khai của các đương sự cho thấy tình trạng của vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được Cụ thể tại các bút lục số 17, 18, 19, 20, 24,61, 64, 81, 83, 84, 92, 104, 108,
115 thì sau khi cưới được khoảng thời gian 02 năm thì ông Nguyệt và bà Hảo phát sinh mâu thuẫn do anh Nguyệt thường xuyên tụ tập ăn chơi, và đánh, chửi mẹ con chị Hảo, vợ chồng tính tình không hợp nhau, không hợp cả về lối sống và sinh hoạt Khi xảy ra mâu thuẫn thì ông Nguyệt thường đánh, chửi và đuổi chị Hảo ra khỏi nhà Gia đình ông Nguyệt cũng biết chuyện mâu thuẫn giữa hai người Đồng thời, theo như lời khai của chị Hảo và có sự chứng kiến của những người trong xóm đều chứng kiến việc anh Nguyệt đánh, chửi mẹ con chị Vợ chồng ông bà hiện nay đã sống ly thân nhau từ cuối năm 2014, không còn quan tâm giúp đỡ gì đến nhau, tình cảm vợ chồng không còn
Do vậy, tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình 2014 (Luật HNGĐ 2014) và các chứng cứ tại hồ sơ cũng như tại phiên tòa hôm nay, chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyệt và chị Hảo
* Vấn đề thứ hai: về con chung.
Vấn đề thứ hai: về con chung
a Về việc nuôi dưỡng cháu Nhi
Cháu Nguyễn Thị Nhi sinh ngày 04/01/2000, là con chung của anh Nguyệt và chị Hảo trong thời kỳ hôn nhân
Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyệt và chị Hảo đã đạt được thỏa thuận về việc chị Hảo sẽ tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nhi, thể hiện tại các biên bản hòa giải (BL 148-152, 175-177)
Đồng thời, cháu Nhi cũng có đề nghị được ở với mẹ thông qua Đơn đề nghị (BL 30) và khả năng kinh tế cũng như các yếu tố khác của chị Hảo có thể đáp ứng tốt việc nuôi dạy cháu Nhi
Trang 7b Về việc nuôi dưỡng cháu Đức Anh
Cháu Nguyễn Đức Anh sinh ngày 13/06/2007, là con chung của anh Nguyệt và chị Hảo trong thời kỳ hôn nhân, tính đến thời điểm hiện tại cháu Đức Anh đã trên 07 tuổi
Thứ nhất, theo đơn đề nghị (BL 31) và Biên bản lấy lời khai (BL 167-168), có thể
- Thứ nhất, theo đơn đề nghị (BL31) và biên bản lấy lời khai (BL167-168), có thể
thấy được nguyện vọng của cháu Đức Anh, nếu hai bố mẹ ly hôn, cháu muốn được
ở với mẹ Hiện nay cháu Đức Anh đã được 10 tuổi Đây là độ tuổi khá nhạy cảm
về dễ bị ảnh hưởng về tâm lý và tính cách Trong bối cảnh cha mẹ ly hôn, việc cháu được ở cùng với mẹ và chị gái 16 tuổi sẽ tốt hơn cho cháu và bản thân cháu cũng đã thể hiện nguyện vọng được ở với mẹ tại biên bản lấy lời khai của Quý tòa ngày 05/07/2016 (BL 167-168) có sự chứng kiến của bà Nguyễn Thị Thoa là bà nội của cháu
Thứ hai, về vấn đề kinh tế và khả năng nuôi dưỡng, hiện nay, chị Hảo đang sống ở
-Thứ hai, về vấn đề kinh tế và khả năng nuôi dưỡng, hiện nay, chị Hảo đang sống
ở nhà mẹ đẻ và có công việc với mức lương khá và nơi ở ổn định, cùng với đó là
sự giúp đỡ của mẹ ruột chị trong việc nuôi dạy các cháu Điều này thể hiện ở phần xét hỏi tại phiên tòa ngày hôm nay, biên bản lấy lời khai của chị Hảo (BL 108-109) Nói cách khác, chị Hảo hoàn toàn có đủ điều kiện để nuôi dưỡng cháu Đức Anh
Ngoài ra, trong thời gian qua khi cháu Đức Anh ở với bố, anh Nguyệt đã không cho
Ngoài ra, trong thời gian qua khi cháu Đức Anh ở với bố, anh Nguyệt đã không cho chị Hảo gặp cháu, nếu chị Hảo gặp thì anh Nguyệt sẽ đánh cháu Điều này chính quyền và bà con hàng xóm láng giềng đều biết và ông Đỗ Văn Tư - cán bộ tư pháp xã Thượng Đạt cũng đã xác nhận thực tế này thông qua biên bản xác minh ngày 09/03/2016 (BL 73-74) Như vậy, nếu như anh Nguyệt được giao nuôi cháu Đức Anh thì sau khi ly hôn, quyền được thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đức Anh của chị Hảo theo khoản 2 Điều 83 Luật HNGĐ 2014 không được bảo đảm
Ngoài ra, hai cháu Nguyễn Thị Nhi và Nguyễn Đức Anh đều có nguyện vọng muốn được ở chung với mẹ ghi nhận tại Bút lục số 30, 166 Chính vì những lẽ trên nên sau khi ly hôn bà Hảo được trực tiếp nuôi dạy hai con là hoàn toàn có căn cứ, phù hợp với nguyện vọng của con và vì lợi ích của các con của bà Hảo và ông Nguyệt
Như vậy, việc chị Hảo yêu cầu nuôi cả 2 con chung là cháu Nhi và cháu Đức Anh và
* Vấn đề thứ ba: về tài sản
Vấn đề thứ ba: về tài sản
-Thứ nhất, vợ chồng anh chị Nguyệt – Hảo được ông bà Cang – Thoa cho thửa đất
Trang 8số 496 để xây nhà và sinh sống Chị Hảo và anh Nguyệt đều thống nhất rằng anh chị đã được bố mẹ chồng là bà Nguyễn Thị Thoa và ông Nguyễn Văn Cang cho vợ chồng xây dựng nhà và công trình phụ để ra ở riêng từ năm 1999 sau khi kết hôn Điều này cũng đã được thể hiện qua Biên bản lấy lời khai của ông Ông Đỗ Văn Tỏ (BL 69-70), là anh em trong họ với anh Nguyệt xác nhận cùng với Biên bản lấy lời khai của ông Nguyễn Văn Giới (BL 67-68) và một số thợ khác đã xây nhà và công trình phụ cho hai vợ chồng năm 1999
Thứ hai, thửa đất này đã được cấp GCNQSDĐ cho hai vợ chồng chị Hảo và anh
-Thứ hai, thửa đất này đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hai vợ
chồng chị Hảo và anh Nguyệt từ năm 2005 một cách hợp pháp và trong suốt thời gian đó đến này không hề phát sinh bất kỳ tranh chấp nào
+ Ngày 31/12/2005, UBND huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương đã cấp cho ông Nguyễn Văn Nguyệt và bà Nguyễn Thị Hảo GCNQSDĐ đối với thửa đất số 496,
tờ bản đồ số 1, diện tích 216m2 tại xã Thượng Đạt Công văn ngày 10/6/2016 của Phòng Tài nguyên và Môi trường UBND TP Hải Dương (BL 133-134) đã xác nhận với Quý tòa về việc cấp GCNQSDĐ cho thửa số 496 nói trên cho anh Nguyệt
và chị Hảo trong khuôn khổ cấp đồng loạt cho cả 30 hộ dân trong xã Thượng Đạt bảo đảm đúng quy định của pháp luật và không chấp nhận yêu cầu hủy GCNQSDĐ này của anh Nguyệt, bà Thoa và ông Cang
+ Tại buổi hòa giải ngày 19/5/2016 do Quý tòa thực hiện (BL 115-120) , bà Thoa nêu rằng đã biết việc anh Nguyệt và chị Hảo được cấp GCNQSĐ và bà Thoa và mọi người trong gia đình không ai có ý kiến phản đối hay thắc mắc gì, không ai tranh chấp gì Bên cạnh đó, tại biên bản xác minh ngày 23/6/2016 (BL 163-164) ông Bích cán bộ địa chính xã Thượng Đạt xác nhận kể từ khi được cấp GCNQSDĐ đến nay anh Nguyệt và chị Hảo sử dụng đất ổn định không có tranh chấp với các
hộ giáp danh cũng như với ông Cang, bà Thoa và các thành viên khác trong gia đình anh Nguyệt
+ Công văn ngày 10/6/2016 (BL 133-134) nói trên của Phòng Tài nguyên và Môi trường cũng nêu rõ ông Cang, bà Thoa đã biết việc anh Nguyệt chị Hảo được cấp GCNQSDĐ nhưng tất cả đều không có ý kiến về việc cấp GCNQSDĐ nêu trên và các thành viên trong gia đình ông Cang, bà Thoa không ai có tranh chấp hay ý kiến phản đối gì
Như vậy, các tài liệu và chứng cứ nêu trên cho thấy rõ ràng rằng bà Thoa và ông
Như vậy, các tài liệu và chứng cứ nêu trên cho thấy rõ ràng rằng bà Thoa và ông
Cang đã giao lại toàn bộ thửa đất số 496 cho vợ chồng chị Hảo và anh Nguyệt sau khi hai người kết hôn năm 1999 Hai vợ chồng đã xây dựng một nhà 18m2
lợp ngói kiên cố, 1 gian bếp và nhà vệ sinh, 1 giếng khơi và 1 bể xây gạch xi măng trên thửa đất này Bà Thoa, ông Cang và các thành viên trong gia đình anh Nguyệt đều biết việc xây dựng nàyvà không ai có ý kiến gì
Vì vậy, phần đất trên thuộc quyền sở hữu hợp pháp của vợ chồng ông Nguyệt bà Hảo, là tài sản chung của vợ chồng tạo lập hợp pháp trong thời kỳ hôn nhân Căn
Trang 9cứ Điều 38, khoản 2 Điều 59 Luật hôn gia và gia đình năm 2014 thì tài sản chung của vợ và chồng được chia đôi
-Thứ ba, trong thời gian sống trên thửa đất số 496, chị Hảo góp công tôn tạo cho
thửa đất cùng anh Nguyệt
Lúc ban đầu thửa đất này là đất thùng vũng sâu (đất ao) mới chỉ được san lấp được một phần để xây nhà và công trình phụ Hai vợ chồng chị Hảo và anh Nguyệt hàng năm đã bỏ công sức và tiền ra tôn tạo mảnh đất mới được như hiện nay.Vì vậy, cần xem xét công sức đóng góp giữ gìn tài sản của bà Hảo cũng như xét đến lợi ích của các con chưa thành niên mà cân nhắc phán quyết hợp tình, hợp lý
Kính thưa HĐXX,
Với những căn cứ, nhận định nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Hảo như sau:
1 Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Hảo;
2 Giao hai cháu Nguyễn Thị Nhi, Nguyễn Đức Anh cho bà Hảo trực tiếp nuôi dưỡng;
3 Xác định việc phân chia nhà đất tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, thửa
số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216 m2 là tài sản chung của bà Hảo và ông
Nguyệt, dành phần ưu tiên nhiều hơn vì lợi ích của người vợ và các con chưa thành niên theo tinh thần tại khoản 2 Điều 59 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Xin cảm ơn HĐXX đã chú ý lắng nghe phần trình bày Bản bảo vệ của tôi
V NHẬN XÉT DIỄN ÁN
IV NHẬN XÉT DIỄN ÁN :
1- Thẩm phán – Đinh Thế Kết
- Về trang phục: Lịch sự
- Về tác phong: nghiêm chỉnh
- Về nét diễn: to, rõ ràng, tốt
2- Hội Thẩm – Trần Thanh Tân
- Về trang phục: Lịch sự
- Về tác phong: nghiêm chỉnh
- Về nét diễn: to, rõ ràng, tốt
3- Hội Thẩm – Chiếng Chánh Lệ
- Về trang phục: Lịch sự
- Về tác phong: nghiêm chỉnh
- Về nét diễn: to, rõ ràng, tốt Đã có những câu hỏi quan trọng đề cập về vấn đề cấp dưỡng và tài chính để nuôi dưỡng các con
Trang 104- Kiểm sát viên – Lê Hồng Hải Yến
- Về trang phục: Lịch sự
- Về tác phong: nghiêm chỉnh
- Về nét diễn: to, rõ ràng, tốt Tuy nhiên chưa có nhiều câu hỏi mang tính xây dựng cũng như làm nổi lên vai trò của kiểm sát viên.
- Phần quan điểm: đã đưa ra được các nhận xét và luận điểm bám sát nội dung vụ
án để đảm bảo đúng tinh thần pháp luật.
5- Thư ký phiên tòa- Nguyễn Hồng Diệp
- Về trang phục: Lịch sự
- Về tác phong: nghiêm chỉnh
- Về nét diễn: to, rõ ràng, tốt
6- Nguyên đơn
- Về trang phục: Lịch sự
- Về tác phong: nghiêm chỉnh
- Về nét diễn: to, rõ ràng, tốt
- Tạo hình nhân vật ổn, hợp với nhân vật của vụ án nhưng phông nền lại để
“người khởi kiện” thay vì “nguyên đơn” đối với vụ án dân sự.
7- Luật sư bảo vệ nguyên đơn:
Luật sư: Lê Thị Kim Yến:
- Về trang phục: Lịch sự
- Về tác phong: nghiêm chỉnh
- Về nét diễn: to, rõ ràng, nghiên cứu kỹ hồ sơ
Phần xét hỏi: Luật sư có những câu hỏi đúng vào trọng tâm vụ án để chứng minh quyền lợi cho nguyên đơn.
Phần tranh luận: Luật sư có sự đối đáp rõ ràng, mạch lạc và đúng trọng tâm, chỉ ra các điểm vô lý mà phía luật sư bị đơn tranh luận nêu ra các vấn đề về tố tụng Bước vào phần nêu quan điểm, Luật sư đã chỉ rõ được các căn cứ bảo vệ nguyên đơn cụ thể là chứng minh về tài chính, điều kiện để chăm sóc con cái cũng như các chứng cứ để bảo vệ quyền lợi nguyên đơn về chia tài sản, những chứng cứ phản bác bị đơn (ví dụ tính cách bạo lực, thu nhập ).
Luật sư: Trần Tây Sơn
- Về trang phục: Lịch sự
- Về tác phong: nghiêm chỉnh
- Về nét diễn: Luật sư trần tay sơn không nghiên cứu kỹ hồ sơ nên hầu như chỉ