Hàng thủ công mỹ nghệ là một trong 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của đất nước năm 2000, hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam đứng thứ tám về kim ngạch xuất khẩu, đạt 235 triệu USD đã trải qua
Trang 1LUẬN VĂN
“Nhật Bản - Thị trường tiềm năng cho thủ công mỹ nghệ
Việt Nam”
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG I 6
TỔNG QUAN VỀ 6
HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ CỦA VIỆT NAM 6
I/ GIỚI THIỆU HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ VIỆT NAM 6
1 Vài nét về ngành thủ công mỹ nghệ truyền thống của Việt Nam 6
2 Các mặt hàng thủ công mỹ nghệ chủ yếu của Việt Nam 11
3 Đặc điểm của hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam 16
II VAI TRÒ CỦA HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN 18
1 Giải quyết công ăn việc làm cho người lao động 19
2 Sử dụng có hiệu quả nguồn nguyên liệu sẵn có trong nước 20
3 Tăng thu ngoại tệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước 21
4 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa-hiện đại hóa 22
5 Duy trì bản sắc văn hoá dân tộc 23
CHƯƠNG II 23
TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN: 23
THỰC TRẠNG VÀ TRIỂN VỌNG 23
I TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ Ở VIỆT NAM 23
1 Tình hình xuất khẩu thời gian qua 23
2 Thị trường chủ yếu 26
3 Dự báo về thị trường thủ công mỹ nghệ thế giới và định hướng công tác thị trường của Việt Nam 30
II/ XUẤT KHẨU HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ VIỆT NAM SANG NHẬT BẢN 32
1 Những thuận lợi và khó khăn của việc xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ sang thị trường Nhật Bản 32
2 Tình hình xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam sang Nhật Bản.35 III/ TRIỂN VỌNG XUẤT KHẨU HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ CỦA VIỆT NAM SANG NHẬT BẢN TRONG NHỮNG NĂM TỚI 37
1 Khả năng sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ của Nhật Bản 37
2 Nhu cầu nhập khẩu hàng năm 38
CHƯƠNG III 40
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ VIỆT NAM SANG 40
NHẬT BẢN 40
I/ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 40
Trang 3II/ MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG
NHẬT BẢN 41
1 Các giải pháp vĩ mô 41
2 Các giải pháp vi mô 48III MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ VIỆT NAM VÀO THỊ TRƯỜNGNHẬT BẢN 55KẾT LUẬN 60TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
-1 Sự cần thiết của đề tài
Việt Nam trở thành một trong những nước thành công nhất trong công tác giảm nghèo Từ giữa những năm 80 đến cuối những năm 90, tỷ lệ phần trăm những người nghèo đã giảm từ 70% xuống khoảng 1/3 Theo nghiên cứu đáng tin cậy về tình trạng nghèo đói thì “hầu như không một nước nào khác trên thế giới giảm nghèo nhanh bằng trong một thời gian ngắn như vậy” (Ngoại trừ Trung Quốc và Indonesia trong những năm 80) (Báo cáo phát triển Việt Nam 2000, "Attacking poverty" 1999)
Một trong những yếu tố thường được nói đến cho sự thành công xuấtkhẩu của Việt Nam của những năm đầu của thập kỷ 90 là nỗ lực mạnh mẽ của chính phủ trong chuyển dịch chính sách kinh tế từ việc thay thế nhập khẩu sang hướng vào xuất khẩu, tự do hóa kinh tế và đi theo nền kinh tế thịtrường Bên cạnh những thay đổi quan trọng trong chính sách kinh tế là việc chính phủ Việt Nam đã áp dụng cách tiếp cận có hệ thống và năng động đối với phát triển xuất khẩu với một phác thảo lâu dài, thể hiện trong việc liên tục thay đổi chính sách cho phù hợp trên cơ sở những kinh
nghiệm và nghiên cứu có được
Hàng thủ công mỹ nghệ là một trong 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của đất nước (năm 2000, hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam đứng thứ tám
về kim ngạch xuất khẩu, đạt 235 triệu USD) đã trải qua nhiều thăng trầm, hiện đang chuẩn bị bước vào giai đoạn mới với chỉ tiêu đạt 1 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu năm 2005 Là những sản phẩm của ngành nghề thủ công truyền thống, mang đậm nét của một nền văn hoá dân tộc, có những dấu ấn lịch sử, nên hàng thủ công mỹ nghệ không chỉ là những vật phẩm đáp ứng nhu cầu sử dụng trong cuộc sống hàng ngày mà còn là những văn hoá phẩm phục vụ đời sống tinh thần, đáp ứng nhu cầu thưởng thức những tinh hoa văn hoá của dân tộc Vì vậy, hàng thủ công mỹ nghệ vừa có nhu cầu ngày càng tăng ở trong nước, vừa có nhu cầu cao trên thị trường quốc tế theo sự phát triển giao lưu văn hoá giữa các nước, các dân tộc trên thế giới Quan tâm phát triển các ngành nghề này, mở rộng tiêu thụ các sản phẩm được làm ra trên thị trường trong và ngoài nước, đẩy mạnh xuất khẩu, làm sống động những ngành nghề truyền thống là thiết thực bảo tồn và phát triển một trong những di sản văn hoá quý giá của dân tộc Việt Nam
Phát triển sản xuất và xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ có tác dụng lớn trong việc tạo việc làm và tăng thu nhập chính đáng cho lao động trong
Trang 5nước; góp phần xoá đói giảm nghèo, giải quyết vấn đề nhàn cư, nhất là trong tầng lớp trẻ; có tác dụng tích cực đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực, các
tệ nạn xã hội góp phần bảo đảm trật tự an ninh xã hội, nhất là trong điều kiện hiện nay tỉ lệ thất nghiệp còn cao thì ý nghĩa chính trị xã hội của vấn
đề nêu trên càng lớn Bên cạnh đó, phát triển và xuất khẩu thủ công mỹ nghệ còn tạo cơ hội sử dụng và đào tạo các nghệ nhân, thợ giỏi có tay nghề
và kỹ xảo truyền thống góp phần bảo tồn, phát triển và truyền lại cho đời sau vốn quý nghề nghiệp này của dân tộc
2 Mục đích nghiên cứu
Quan hệ kinh tế thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản ngày càng phát triển Đó là do nền kinh tế thị trường của Việt Nam ngày càng phát triển, môi trường kinh tế ngày càng được cải thiện và mối quan tâm của các doanh nghiệp Nhật Bản đối với Việt Nam - một bạn hàng lớn nhiều tiềm năng ở châu Á ngày càng cao
Kim ngạch xuất khẩu Việt Nam sang Nhật Bản năm 1999 tăng 20% so với năm trước, đạt 1,8 tỷ USD Những sản phẩm xuất khẩu chính là dệt may, hải sản, đồ gỗ, giày dép, thủ công mỹ nghệ Nhật Bản với dân số hơn 120triệu người và là nước có thu nhập bình quân đầu người cao, vì vậy được xem là thị trường có sức hấp dẫp lớn Nhật Bản nhập khẩu nhiều loại hàng hóa từ nhiều nước trên thế giới và đã trỏ thành một trong những nước nhập khẩu lớn nhất trên thế giới Đồng thời Nhật Bản cũng là thị trường đòi hỏi chất lượng, mẫu mã và thời hạn giao hàng khắt khe nhất
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, qua tìm hiểu nghiên cứu xét thấy Nhật Bản đang là thị trường đầy tiềm năng, hứa hẹn đối với mặt hàng thủ công
mỹ nghệ xuất khẩu của Việt Nam, cộng với những năm trau dồi kiến thức
và lý luận trong trường Đại học Ngoại thương, đồng thời được sự giúp đỡ
và hướng dẫn nhiệt tình của Thầy giáo Tiến sĩ Nguyễn Đức Dỵ, em xin chọn đề tài: “Nhật Bản - Thị trường tiềm năng cho thủ công mỹ nghệ Việt Nam” làm khoá luận tốt nghiệp của mình Thông qua tình hình thực tế xuất khẩu thủ công mỹ nghệ vào Nhật Bản, thấy rõ những thuận lợi và khó khăn đối với thị trường Nhật trong những năm gần đây, em xin đưa ra một
số giải pháp nhằm thúc đẩy việc xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ sang Nhật Bản
3 Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này, phương pháp nghiên cứu là sự kết hợp giữa phươngpháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn, thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp dự báo, từ đó đưa ra những giải pháp tối ưu đối với việc đẩy mạnh xuất khẩu thủ công mỹ nghệ của Việt Nam vào thị trường Nhật Bản
Trang 64 Nội dung nghiên cứu
Ngoài lời mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, khoá luận tốt nghiệp bao gồm 3 chương:
Chương I: Tổng quan về hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam
Chương II: Tình hình xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam sang thị trường Nhật Bản: Thực trạng và triển vọng
Chương III: Một số giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam sang thị trường Nhật Bản
Do thời gian chuẩn bị có hạn, kinh nghiệm thực tế và lý luận còn hạn hẹp nên bài viết này không tránh khỏi những sai sót Em hy vọng rằng, trong tương lai em sẽ có cơ hội tìm hiểu, nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến đề tài nói trên
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài , em đã nhận được sự giúp
đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn - Tiến sĩ Nguyễn Đức Dỵ - và các cô chú công tác tại Vụ xuất nhập khẩu thuộc Bộ thương mại, Trung tâm nghiên cứu Nhật Bản và Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam, Văn phòng đại diện JETRO tại Hà Nội đã cung cấp cho em nhiều tài liệu cập nhật trong qua trình nghiên cứu, nhờ đó em có thể hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu này Em xin chân thành đặc biệt cảm ơn
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ CỦA VIỆT NAM
-I/ GIỚI THIỆU HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ VIỆT NAM
1 Vài nét về ngành thủ công mỹ nghệ truyền thống của Việt Nam
Mặt hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam đã có từ rất lâu, nó gắn liền với đời sống văn hoá - xã hội của người dân Việt Nam Nó đã đi vào những câu ca
Trang 7dao, bài thơ hình thành nên những nét văn hoá mang đậm bản sắc dân tộc Lịch sử phát triển ngành thủ công mỹ nghệ Việt Nam với nghề gốm Bát Tràng xuất hiện từ thế kỷ thứ XV, nghề sản xuất giấy dó của làng Bưởi
có từ đầu thế kỷ XVI, nghề dệt vải tơ tằm và đồ gỗ mỹ nghệ có từ cuối thế
kỷ XVII Các mặt hàng thủ công mỹ nghệ của ta đã sớm có mặt trên thị trường thế giới và rất được nước ngoài ưa chuộng Ngay từ thời kỳ thế kỷ thứ XI đến XVIII, qua các cảng Vân Đồn, Vạn Ninh, Phố Hiến, Thuận An, Hội An các sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam như đồ gốm, đồ gỗ, mây tre, giấy dó, tơ lụa, đồ bạc, ngà sừng đã vượt hàng vạn dặm đại dương đến với người tiêu dùng bên kia bán cầu
Cùng với sự phát triển của xã hội, nhu cầu của con người ngày càng tăng
và nhu cầu ấy không chỉ dừng lại ở tiêu thức ăn no mặc ấm nữa mà còn được đánh giá trên những đồ dùng với tính mỹ thuật cao và độc đáo trong mỗi gia đình Thông thường, tính văn hoá và độc đáo của mỗi dân tộc đều được thể hiện trên các sản phẩm mỹ nghệ của mỗi dân tộc đó Một sản phẩm ra đời ngoài việc đáp ứng nhu cầu sử dụng còn phải thể hiện tính nhân văn và văn hoá nghệ thuật của con người Những người thợ thủ công với đôi bàn tay khéo léo, không chỉ đem đến vải dệt, khăn xếp, nón, cói đan, đồ sành sứ thuỷ tinh phục vụ cuộc sống hàng ngày của chúng ta mà còn tạo ra nhiều mặt hàng thủ công mỹ nghệ có tính thẩm mỹ cao như hàngmây tre đan, thêu ren, thảm dệt tay, hàng gốm sứ, hàng gỗ mỹ nghệ, sơn mài đa dạng trong màu sắc, tinh tế trong kiểu dáng Cho đến nay, con số làng nghề truyền thống ở nước ta đã lên đến hơn 1.400 với hàng trăm ngành nghề khác nhau trong đó các làng nghề sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ chiếm hơn 80% và trong tương lai, chắc chắn rằng con số ấy sẽ còn tăng lên nữa do nhu cầu ngày một cao của thị trường trong và ngoài nước.1.1 Tiềm năng và thuận lợi của ngành thủ công mỹ nghệ
Dưới ánh sáng Nghị quyết TW khóa VII năm 1993, trong một Hội thảo quốc tế do UNIDO của Liên Hợp Quốc phối hợp với Bộ Công nghiệp
tổ chức tại Hà Nội với chủ đề “Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống Việt Nam” đã có phân tích: “Làng nghề truyền thống Việt Nam có nhiều lợi thế để phát triển Nó gắn bó với nông thôn, sử dụng nguyên liệu tại chỗ, lao động đông đảo, cần cù, sáng tạo, đầu tư nhỏ nhưng hiệu quả kinh tế xã hội lại cao Là một mảng lớn của công nghiệp nông thôn, nó góp phần chuyển dịch cơ cấu nông thôn, phá vỡ thế thuần nông, tăng thu nhập của đông đảo dân cư Những lợi thế này cần được khai thác triệt để, phát triển mạnh, góp phần cùng toàn ngành công nghiệp tạo ra mức tăng trưởng bình quân 15% vào năm 2000 Sẽ đến ngày, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống được nâng niu hơn, trân trọng hơn Nó sẽ đi vào cuộc sống mỗi người ở trình độ văn hóa cao hơn và mức sống khá hơn”
Nguồn nguyên vật liệu, phụ liệu để sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ
Là một nước có khí hậu nhiệt đới ẩm, Việt Nam có một nguồn nguyên vật liệu khá dồi dào có khả năng đáp ứng tới 95 - 97% nhu cầu sản xuất hàng
Trang 8thủ công mỹ nghệ phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Hàng thủ công mỹ nghệ được sản xuất chủ yếu bằng nguồn nguyên liệu sẵn có trong nước Ở nước ta hầu như ở địa phương nào cũng có nguồn nguyên liệu để sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ Các cơ sở sản xuất thường được bố trí ở nơi gần nguồn nguyên liệu nên chi phí vận chuyển nói chung không lớn Nhu cầu nguyên phụ liệu nhập khẩu để sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ chiếm tỷ lệ rất nhỏ, thường chỉ từ 3% đến 5% Đây là thuận lợi lớn để hạ giá thành sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh của hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam trên thị trường thế giới Do đó, tuy kim ngạch xuất khẩu hàng thủcông mỹ nghệ chưa lớn, nhưng tỉ lệ ngoại tệ thực thu cao hơn nhiều so với các loại hàng xuất khẩu khác Đây thực sự là một tiềm năng lớn, một thuận lợi cơ bản và cũng là thế mạnh của Việt Nam trong việc tổ chức sản xuất vàxuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Tuy nhiên, theo đánh giá của Bộ
Thương mại, đồ gỗ gia dụng đang có xu hướng phát triển mạnh và nếu đạt quy mô lớn thì nguồn nguyên liệu gỗ nhập khẩu sẽ chiếm tỷ trọng không nhỏ, thậm chí sẽ là nguồn chủ yếu
Nguồn nhân lực, với dân số khoảng 80 triệu người trong đó gần 80%hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, Việt Nam thực sự có một nguồn lao động dồi dào với đội ngũ nghệ nhân thợ giỏi, tay nghề cao Đây vừa là tiềmnăng vừa là thuận lợi để phát triển sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu Rất tiếc
do nhiều nguyên nhân khác nhau cho đến nay Việt Nam mới chỉ khai thác được một phần rất nhỏ nguồn lực quí báu này Mặt khác, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ thu hút được nhiều lao động, trong đó có số lượng lao động đáng kể là nông nhàn, tạo việc làm và tăng thu nhập góp phần xoá đói giảmnghèo trong dân cư có ý nghĩa rất lớn về chính trị kinh tế xã hội
Vị trí địa lý, như chúng ta đã biết, so với các sản phẩm công nghiệp với hàm lượng công nghệ lớn, mặt hàng thủ công mỹ nghệ thường có giá trị không cao và thường cồng kềnh trong chuyên chở Do có vị trí địa lý gần với Việt Nam, cùng nằm trong khu vực châu Á, Nhật Bản thuận lợi trong việc giảm chi phí vận chuyển dẫn đến giảm giá thành sản phẩm khi xuất khẩu mặt hàng thủ công mỹ nghệ của một quốc gia Với chiều dài hơn 3.000 km đường biển, với hệ thống giao thông đường bộ, đường sông và xelửa đã được sửa chữa và nâng cấp trong gần một thập kỷ qua, có thể nói Việt Nam hội đủ các điều kiện thuận lợi về mặt địa lý với chi phí vận chuyển khá thấp để phát triển ngành thủ công mỹ nghệ phục vụ nhu cầu trong và ngoài nước
Nhu cầu tiêu dùng, số liệu thống kê trong những năm qua cho thấy, nhu cầuthị trường trong nước và thế giới về hàng thủ công mỹ nghệ ngày càng tănglên theo mức sống của người dân Đời sống tăng lên hoạt động du lịch cũngtăng lên gấp bội mà hàng thủ công mỹ nghệ là một trong những ngành hàng
có nhu cầu lớn phục vụ khách du lịch trong nước và quốc tế Xét trên ý nghĩa đó, theo đà mở rộng giao lưu kinh tế - thương mại, văn hoá - du lịch giữa các nước trên thế giới hiện nay, những quốc gia phát triển hàng năm
Trang 9nhập khẩu tới hàng tỉ USD các loại hàng thủ công mỹ nghệ Mặc dù hàng thủ công mỹ nghệ không phải là nhu yếu phẩm trong đời sống hàng ngày của cư dân nhưng lại đáp ứng được nhu cầu sử dụng nào đó trong đời sống
xã hội, nhu cầu trang trí và thưởng thức những tinh hoa văn hoá của dân tộc Đó là tiềm năng và thuận lợi của thị trường cần được quan tâm để khai thác
Chi phí đầu tư sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ thấp, do vậy có điều kiện phát triển khắp nơi Hiện nay sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ được thực hiện trong từng hộ gia đình cho nên sử dụng được diện tích ở làm nơi sản xuất Vì vậy chi phí để xây dựng nhà xưởng không nhiều Hầu hết các ngành nghề thủ công nông thôn sử dụng các loại công cụ thủ công truyền thống hoặc cải tiến một phần với chi phí chỉ vài triệu đến vài chục triệu đồng là có thể sản xuất
Chính sách quốc gia, trong những năm gần đây, lĩnh vực sản xuất vàxuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đã được Chính phủ đặc biệt quan tâm và
đã có nhiều chính sách, biện pháp khuyến khích và hỗ trợ cho hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ như miễn giảm thuế xuất khẩu, hỗ trợ duy trì và tồn tại làng nghề
Theo ông Mai Văn Dâu, thứ trưởng Bộ Thương mại, mặc dù ngành thủ công mỹ nghệ có được năm thuận lợi và tiềm năng kể trên, tuy nhiên đểphát triển được thuận lợi, biến tiềm năng sẵn có thành ngoại tệ thu về, ngành thủ công mỹ nghệ còn rất nhiều việc phải làm
1.2 Những khó khăn và yếu kém của ngành thủ công mỹ nghệ Việt NamĐến nay, tuy sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam đã có mặt ở gần 140 quốc gia nhưng vẫn chỉ chiếm từ 3 đến 4% thị phần hàng thủ công mỹ nghệtoàn thế giới Sản phẩm Việt Nam lại bị cạnh tranh gay gắt bởi sản phẩm Trung Quốc và Thái Lan, nhất là về giá cả, sản phẩm Việt Nam luôn cao hơn từ 10 đến 20% Theo các doanh nhân sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ,
sở dĩ sản phẩm của họ có giá thành luôn thấp hơn là do các làng nghề được tập trung lại từng vùng, được Chính phủ hỗ trợ giá thuê đất, giá thuê nhà xưởng, được ưu đãi và hỗ trợ vốn đầu tư trang thiết bị, giá nhân công rẻ hơn Việt Nam Mức lương cho một công nhân lao động trong làng nghề Trung Quốc là 35 ngàn đồng/ngày thì ở Việt Nam là 50 ngàn đồng/ngày.Dosản xuất hàng loạt nên họ đủ khả năng cung ứng được những hợp đồng lớn,đảm bảo thời gian giao hàng, đồng thời giảm được phí vận chuyển Sản xuất tập trung nên các làng nghề của họ thường trở thành địa điểm tham quan của khách du lịch nước ngoài, từ đó sản phẩm có cơ hội tiêu thụ, như
ở vùng Quế Lâm, Trung Quốc
Trong khi đó ở Việt Nam, các làng nghề, các cơ sỏ sản xuất hàng thủ công
mỹ nghệ thường hoạt động tự phát và phân tán, thiếu trang thiết bị, thiếu thông tin thị trường Muốn phát huy sản xuất hoặc có đơn đặt hàng lại thiếuvốn vì không vay được từ các nguồn tín dụng hay ngân hàng do không có đất đai, nhà xưởng thế chấp theo quy định Hiện cả nước có đến 85% hộ cá
Trang 10thể và 68% cơ sở sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ không đủ điều kiện để tiếp cận với các nguồn vốn vay Nhiều chi phí làm đội giá thành sản phẩm như mua nguyên vật liệu nhỏ lẻ không hóa đơn đầu vào, chi phí cho mặt bằng, cho bảo hiểm, cho công đoàn Bên cạnh đó thị trường thủ công mỹ nghệ nước ngoài luôn biến động và thay đổi thị hiếu Mành trúc xuất sang
Mỹ (sử dụng lâu ngày) khác xuất sang Pháp (sử dụng một mùa) Điều kiện
kỹ thuật đòi hỏi ngày càng khắt khe Sản phẩm mây tre lá, gáo dừa xuất sang Nhật đảm bảo đúng độ bóng theo yêu cầu, chính xác tiêu chuẩn kích thước theo đơn đặt hàng Mành trúc xuất sang Mỹ đòi hỏi sơn phải an toàn,không độc hại, không pha chì, kẽm, sử dụng trong sản phẩm phải đảm bảo không gỉ sét Trong khi đó, cũng vì thiếu vốn, các doanh nhân Việt Nam khó cập nhật được những thông tin quan trọng liên quan đến sản phẩm nên thường thua thiệt trong cạnh tranh
Bên cạnh đó, những kỹ thuật, công nghệ áp dụng trong ngành nghề truyền thống hiện nay vẫn rất lạc hậu làm cho năng suất thấp, chất lượng sản phẩmchưa cao, mẫu mã hàng hóa còn đơn điệu chưa phù hợp thị hiếu người tiêu dùng, sức cạnh tranh kém Do nguồn vốn bị hạn chế, cộng với tam lý làm
ăn nhỏ nên rất nhiều làng nghề vẫn bằng lòng với sản phẩm mình làm ra, không tích cực đầu tư đổi mới công nghệ, không chú trọng thay đổi mẫu
mã hàng hóa Thói quen sử dụng kỹ năng đôi bàn tay là chính, bảo thủ, trì trệ về mặt kỹ thuật, chậm cải tiến mẫu mã hình thức sản phẩm Đồng thời cũng do kinh tế hộ gia đình là chủ yếu, khả năng quản lý và nguồn vốn đầu
tư có hạn nên ít có điều kiện làm ăn lớn Đặc biệt các sản phẩm của ngành nghề nông thôn thường khó khăn trong khâu tiêu thụ, tiếp cận thị trường vì chưa coi trọng công tác thị trường, thậm chí không có kiến thức về hàng hóa, thị trường, marketing Hiện tại sản phẩm thủ công mỹ nghệ xuất khẩuchủ yếu qua con đường ủy thác cho các doanh nghiệp kinh doanh XNK ở Trung ương hay các thành phố lớn nên không nắm bắt được đầy đủ yêu cầucủa khách hàng về mẫu mã, chất lượng, giá cả, phương thức thanh toán Theo số liệu thống kê, toàn bộ cơ sở ngành nghề truyền thống của chúng ta
ở nông thôn chỉ có hơn 20% có nhà xưởng kiên cố, hơn 86% số cơ sở sử dụng điện, trình độ cơ khí còn thấp, mới có hơn 40% công việc được thực hiện bằng máy móc nên sức người bỏ ra rất nhiều , chưa áp dụng được công nghệ mới để đẩy nhanh quá trình sản xuất, nâng cao năng suất lao động Vì vậy hàm lượng công nghệ trên một đơn vị sản phẩm vẫn còn thấp
Có nhiều mặt hàng, do lao động thủ công nhiều nên chi phí lao động sống chiếm một tỷ trọng quá cao trong giá thành dẫn đến tình trạng sản phẩm kém sức cạnh tranh trên trường quốc tế Chẳng hạn các làng nghề dệt chiếu
ở Tiên Kiều (Thanh Hà), Thanh Kỳ (Tứ Kỳ) hay các làng nghề mây tre đan
ở Hà Tây vẫn giữ cách làm thủ công từ xa xưa không hề đầu tư cải tiến
Do vậy chất lượng hàng hóa thấp, mẫu mã chưa đẹp, khó tiêu thụ, giá thấp Tuy nhiên do đặc điểm của sản xuất và của sản phẩm mang tính độc đáo, tinh xảo, với công nghệ cổ truyền kết hợp với kinh nghiệm và bàn tay khéo
Trang 11léo của người thợ đã tạo ra những sản phẩm mang tính đặc thù mà công nghệ hiện đại sản xuất hàng loạt khó thực hiện được Nhóm này chiếm một
tỷ trọng khá lớn trong sản phẩm các làng nghề như đúc đồng, chạm, khảm, sơn mài Do vậy, chủ trương đúng đắn nhất là phải kết hợp được khoa họccông nghệ tiên tiến, hiện đại với kỹ thuật cổ truyền để nâng cao năng suất chất lượng, cải tiến mẫu mã đề tài sản phẩm cho phù hợp với thị hiếu ngườitiêu dùng
Thêm vào đó, cơ sở hạ tầng ở các làng nghề hầu hết đều yếu kém, mặt bằngsản xuất chật hẹp, ô nhiễm môi trường nặng nề Đây là vấn đề hết sức bức xúc, cần có những giải pháp nhanh chóng, toàn diện của địa phương và Nhà nước mới có thể giải quyết
Trong Hội nghị phát triển ngành nghề nông thôn vào tháng 8/2000, Thủ tướng Phan Văn Khải đã đặc biệt nhấn mạnh: “Vấn đề phát triển làng nghề nông thôn trong thời kỳ CNH - HĐH có ý nghĩa chiến lược Cần phải tháo
gỡ tất cả những gì đang cản trở sức phát triển làng nghề”
Các lực cản thì nhiều, nhưng có thể tóm tắt dưới các nhóm: Các chính sách
và luật chưa đủ tạo một hành lang pháp lý cần thiết cho người sản xuất kinhdoanh loại sản phẩm giầu chất trí tuệ và nghệ thuật này; Một số quy định chưa hợp lý về thuế, đánh đồng hàng thủ công mỹ nghệ với công nghệ phẩm; Chưa có chế độ trợ giá bảo hộ mậu dịch, ưu đãi tín dụng cho các làng nghề; Tự thân các làng nghề lúng túng do sức ỳ cố hữu khi đi vào cơ chế thị trường
Có thể nói, ngành thủ công mỹ nghệ đang ở trong tình trạng manh mún, tự phát và thiếu sự chỉ đạo, điều tiết của Nhà nước Trong nhiều trường hợp, tiềm năng xuất khẩu rất lớn, nhưng do thiếu vốn, mặt bằng chậthẹp và không được hưởng các chính sách ưu đãi của Nhà nước đã dẫn đến tiềm năng vẫn chỉ là tiềm năng trong hàng chục năm Nguyên do chính là các Nghị quyết, Quyết định của Chính phủ ban hành hãy còn ở khá xa tầm tay của các đơn vị sản xuất, các địa phương cũng chưa quan tâm đúng mức đến sản xuất và phát triển sản xuất thủ công mỹ nghệ Để hàng thủ công mỹnghệ khẳng định được vị thế của mình trên thị trường trong nước và thế giới thì sự hỗ trợ của Chính phủ sẽ đóng vai trò lớn trong việc phục hồi và phát triển mặt hàng thủ công mỹ nghệ và những làng nghề truyền thống
2 Các mặt hàng thủ công mỹ nghệ chủ yếu của Việt Nam
2.1 Hàng gốm sứ mỹ nghệ, sơn mài mỹ nghệ
Việt Nam có một truyền thống lâu đời về sản xuất gốm sứ, với các làng nghề truyền thống trải dài từ Bắc đến Nam Song tập trung chủ yếu vẫn là các khu vực có nghề gốm truyền thống như Quảng Ninh, Đồng Nai, Sông
Bé, Vĩnh Long và đặc biệt trong số đó phải kể đến làng nghề Bát Tràng với các sản phẩm nổi tiếng như tượng phật Tam Đa, lọ hoa, bình trà được bạn hàng nhiều nước trên thế giới ưa chuộng Theo các thương nhân nước ngoài, chất lượng gốm sứ Việt Nam không thua kém các cường quốc sản xuất khác như Italia, Trung Quốc, Malaysia Do trình độ điêu khắc,
Trang 12tạo dáng sản phẩm tuyệt vời, có khách hàng so sánh mặt hàng gốm đất đỏ của Việt Nam là “Saì Gòn Italia” Ngoài ra với ưu điểm được làm bằng tay,chủng loại và chất liệu phong phú cho phép người mua hàng có nhiều lựa chọn từ hàng men, không men, đất đỏ Các sản phẩm cũng đa dạng như chậu tròn, oval, vuông, chữ nhật, hình thú, đôn, hũ, bình Điều này giúp khách hàng có một bộ sưu tập đầy đủ trong khi họ chỉ có thể mua hàng đất
đỏ ở Trung Quốc, hàng men dạng tròn tại Malaysia và hàng cao cấp tại Italia
Khác với các mặt hàng thủ công mỹ nghệ khác, giá trị của mặt hàng gốm
sứ không chỉ thể hiện ở các yếu tố kỹ thuật như độ trắng, thấu quang, sáng, bóng mà còn phụ thuộc rất nhiều vào sở thích, thị hiếu thẩm mỹ cũng như yêu cầu về thời trang và văn hoá tiêu dùng của thị truờng tiêu thụ Theo ý kiến của Vụ xuất nhập khẩu - Bộ Thương mại : “Hàng gốm sứ của Việt Nam có sức cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế, đặc biệt là giá cả Song đáng tiếc là mẫu mã của chúng ta còn quá nghèo nàn và đơn điệu không đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng trong và ngoài nước Thêm vào
đó, những nhà sản xuất gốm sứ Việt nam vẫn phải phụ thuộc vào phụ gia men của nước ngoài nên nhiều lúc chưa chủ động trong sản xuất Có lẽ đã đến lúc các viện nghiên cứu khoa học, các cơ sở sản xuất thử nghiệm sử dụng ngân sách Nhà nước nên tham gia giải quyết khó khăn này của những người sản xuất thủ công Việt Nam” Do đó, ngoài yêu cầu về chất lượng, các doanh nghiệp cần đặc biệt chú ý đến việc tạo ra các sản phẩm với mẫu
mã đa dạng, phong phú mang đậm phong cách dân tộc Việt Nam với những hoa văn độc đáo phương Đông - một trong những thủ thuật mà các nhà thủ công Trung Quốc đặc biệt khai thác để trở thành một đôí thủ cạnh tranh của mặt hàng gốm sứ Việt Nam
Theo số liệu thống kê, năm 1997 Việt Nam đã xuất được 70 triệu USD hàng gốm sứ mỹ nghệ, năm 1998 con số này giảm đi ít nhiều do thị trường xuất khẩu khó khăn, nhưng năm 1999 đã đạt mức 100 triệu USD và năm
2000 đạt trên 120 triệu USD Hiện nay, ngành gốm sứ mỹ nghệ Việt Nam
đã hình thành ba trung tâm sản xuất có qui mô tương đối lớn ở ba địa
phương: Bát Tràng, Lái Thiêu và Đồng Nai với kim ngạch của một trung tâm một năm trên 20 triệu USD/năm Với uy tín của ngành hàng gốm sứ
mỹ nghệ Việt Nam ngày càng cao, trong mấy năm gần đây đã có nhiều đối tác nước ngoài đặt quan hệ hợp tác lâu dài với các cơ sở sản xuất hàng gốm
sứ mỹ nghệ thủ công của Việt Nam: các hình thức hợp tác khá đa dạng từ việc gia công theo mẫu mã và nguyên liệu men nhập ngoại đến việc nhận đại lý tiêu thụ ở nước ngoài và đầu tư vốn thành lập công ty liên doanh theoluật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Điều đó cho thấy, ngành gốm sứ thủ công mỹ nghệ của Việt Nam bước đầu đã có uy tín trên trường quốc tế và
là đối thủ cạnh tranh với Trung Quốc vốn là quốc gia có bề dày kinh
nghiệm hàng nghìn năm
Trang 13Để gốm sứ thủ công mỹ nghệ của Việt Nam đủ sức “đi xa” hơn nữa trên thịtrường thế giới, cần tập trung khai thác triệt để công nghệ cổ truyền kết hợpcác ứng dụng tiến bộ mới về kỹ thuật men, sử dụng các thiết bị hiện đại trong quá trình sản xuất Tiến tới thay thế các lò gốm thủ công bằng các lò gas, lò điện nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và tăng tỷ lệ sản phẩm tốt
từ 75% (lò thủ công) lên 95% Đồng thời, giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm và giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường
Nghề sơn mài Việt Nam đã xuất hiện từ trước công nguyên cùng với TrungQuốc, Nhật Bản, tuy phần kỹ thuật có khác Năm 1932, nhờ một số giáo viên, sinh viên trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, nghề sơn đã được cải tiến với kỹ thuật đặc biệt, mở đường cho nghệ thuật sơn mài hiện nay Đến nay đã trải rộng và phân bổ hầu khắp cả nước từ Bắc tới Nam trong
đó, Nam Định đứng đầu về hàng sơn mài với mẫu mã, chất lượng tốt
Mặt hàng sơn mài được sản xuất từ những nguyên liệu khá phong phú có sẵn tại Việt Nam đồng thời cũng đòi hỏi phải có sự khéo léo, cẩn thận và khả năng sáng tạo cao Hàng sơn mài bao gồm chủ yếu là tranh sơn mài, bàn nghế sơn mài, hộp đựng đồ trang sức, lọ hoa, đồ trang trí nội thất nóichung là các mặt hàng mang tính nghệ thuật cao dùng để trang trí Đặc biệt khách nước ngoài rất ưa thích bát, đĩa sơn mài của ta với hoa văn giản dị, kiểu dáng lạ mắt
Quy trình làm hàng sơn mài gồm nhiều công đoạn phức tạp có đến 15 côngđoạn từ tiện gỗ, tre làm cốt đến thể hiện đề tài và sơn phủ, đánh bóng Nguyên liệu cho mặt hàng này cũng có nhiều loại như gỗ sơn, tre, vải, dầu hoả, vỏ trai, vỏ trứng, nhựa thông, vàng, bạc lá Các sản phẩm sơn mài cũng đa dạng như bàn ghế, bình phong, tủ , tranh được làm theo nhiều kiểu như đắp nổi, khắc trũng, vẽ phủ, vẽ vàng Sau một thời gian ngưng trệ vì nhiều lý do, đến nay sản phẩm sơn mài đã bắt đầu khôi phục Hàng sơn mài đã được xuất nhiều qua châu Âu, Bắc Mỹ, Nhật không chỉ màu đen và marông như trước đây mà nay cải tiến nhiều màu, đáp ứng thị hiếu khách hàng
2.2 Hàng mây tre xuất khẩu, hàng thêu ren, hàng cói, ngô dừa, thảm các loại
Hàng mây tre Từ những phương tiện sinh hoạt thường nhật trong mỗi gia đình Việt nam như rổ, rá để rửa rau vo gạo, đựng hoa quả hay đôi đũa, chiếc tăm dùng trong bữa ăn hàng ngày cho đến những bộ bàn ghế, kệ trang trí sang trọng đều không thể thiếu vắng mặt hàng mây tre Xa hơn, hàng thủ công mỹ nghệ còn được xuất ra nước ngoài với những vật phẩm trang trí, thời trang như túi xách, làn mây đi chợ, lẵng hoa rồi những giá, rọdùng để đựng và trang trí trong nhà
Hàng mây tre xuất khẩu của Việt Nam ra đời nhằm thoả mãn những nhu cầu tiêu dùng của con người Đây là những mặt hàng dễ làm, dễ đào tạo thợ, nguồn nguyên liệu sẵn có lại cộng với một đội ngũ lao động đông đảo đã góp phần tăng tỷ trọng đáng kể của hàng mây tre trong cơ cấu hàng
Trang 14xuất khẩu Việt Nam Việc tập trung sản xuất thành các vùng lớn tạo điều kiện thuận lợi triển khai nhanh các hợp đồng ngoại, đáp ứng yêu cầu của khách hàng, vừa tạo điều kiện để phát triển cơ cấu vùng Sự hình thành của các vùng sản xuất lớn, tập trung là do các vùng này sẵn có nghề truyền thống lâu đời và gần nơi cung cấp nguyên liệu Chẳng hạn, hầu hết các cơ
sở sản xuất hàng mây tre tập trung ở Hà Nội và Hà Sơn Bình và một số tỉnhkhác thuộc vùng đồng bằng sông Hồng Đặc điểm của vùng này là đất chật,người đông, dư thừa lao động Vì vậy họ phải duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống để đảm bảo cuộc sống Mặt khác, các tỉnh này rất gần các vùng cung cấp nguyên liệu Hầu hết các mặt hàng mây tre sử dụng nguyên liệu chính là từ các vùng rừng núi, trừ một số ít sử dụng mây hoặc bằng tre vườn
Trước năm 1990, nhóm hàng này phát triển và xuất khẩu với khối lượng lớn (Năm 1989, công ty xuất khẩu mây tre Việt Nam đã xuất khẩu đạt kim ngạch gần 50 triệu USD) Tuy vậy, ngành hàng mây tre của Việt nam còn gặp nhiều khó khăn khi xuất khẩu: mẫu mã, kiểu dáng nghèo nàn kém sáng tạo và bị trùng lặp rất nhiều nên dễ gây cảm giác nhàm chán; khâu xử lý nguyên liệu chưa tốt dẫn đến tình trạng sản phẩm hay bị mốc và
có độ bền kém; khâu tiếp thị cũng mang nặng tính thủ công và người sản xuất bị thua thiệt rất nhiều do qua nhiều khâu trung gian Sơ bộ đánh giá kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này đạt 20-25 triệu USD/năm
Hàng thêu ren Đây là một nhóm hàng mang đậm tính thủ công, sản xuất đòi hỏi sự cần cù, tinh tế và khéo léo Từ đôi bàn tay tài hoa của người thợ, từng đường kim mũi chỉ đã trở thành những tác phẩm nghệ thuật có giá trị tạo hình, giá trị thẩm mỹ lưu truyền đến nhiều thế hệ sau Có thể nói sản phẩm thêu ren rất đặc sắc do được làm hoàn toàn bằng phương pháp thủ công: từ đóng khung, căng vải cho đến khâu thêu, đều không hề có sự thamgia của máy móc Chính vì vậy, sản phẩm thêu rất đa dạng, phong phú, không sản phẩm nào giống sản phẩm nào hoàn toàn cho dù hoạ tiết thêu tương tự như nhau Mỗi đường nét đều tinh xảo, uyển chuyển, mềm mại, sống động, mịn màng như những nét vẽ nó như được chắt lọc từ những tinhtuý của tâm hồn người nghệ nhân cũng như từ tinh hoa ngàn đời của đất làng nghề
Sản phẩm chủ yếu của thêu ren là những bộ khăn trải bàn, ga gối, áo thêu, tranh thêu, rèm cửa, kimônô rất được người tiêu dùng ưa chuộng,
đã và đang từng bước chinh phục thị trường Tây Âu, Đông Bắc Á, Bắc Mỹ vốn là những thị trường khó tính, đòi hỏi yêu cầu cao như Nhật Bản, Pháp, Ý, Singapore và gần đây nhất là thị trường Mỹ Tuy nhiên, chúng
ta phải sớm nắm bắt được nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng các nước này, đa dạng hoá mẫu mã, đề tài, nâng cao chất lượng đồng thời hạ giá thành sản phẩm để cạnh tranh với các đối thủ khác trên thị trường
Năm 2000, cả nước xuất khẩu trên 10 triệu USD chủ yếu sang Nhật,
EU Hàng thêu ren thổ cẩm là những mặt hàng truyền thống của đồng bào
Trang 15dân tộc thiểu số Tại Lào Cai, được tổ chức phi chính phủ Pháp – Mỹ giúp
đỡ đã lập “Tổ sản xuất hàng thổ cẩm” ở Sapa, trong thời gian ngắn đã thu hút trên 200 lao động, sản xuất và tiêu thụ 30 nghìn sản phẩm (chủ yếu là bán cho khách du lịch nước ngoài – hình thức xuất khẩu tại chỗ) Tại làng
Mỹ Nghiệp (Ninh Thuận) có hàng trăm người chuyên dệt thổ cẩm của dân tộc Chăm rất nổi tiếng Khách hàng như Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ đã đến tận nơi đặt mua hàng Ở các tỉnh phía Bắc, dân tộc Thái, Mường đều có truyền thống dệt thổ cẩm, chúng ta cần có sự quan tâm đặc biệt về những loại sản phẩm này, không nên để mai một
Hàng ngô, cói, dừa Nhóm hàng này gồm các mặt hàng như chiếu, dép, thảm, mành với nhiều kiểu dáng đẹp mang đậm tính văn hoá Á Đông và dân tộc Việt Nam Nguyên liệu để sản xuất nhóm hàng này tập trung khá dồi dào ở các vùng đồng bằng sông Hồng, sông Cửu Long Trong số đó , phong phú về chủng loại phải kể đến các loại thảm với các nguyên liệu khác nhau như thảm bẹ ngô, thảm cói, thảm đay, thảm xơ dừa Đặc biệt là thảm len - nhóm hàng đem lại kim ngạch xuất khẩu lớn nhất, có giá trị cao, thu hút nhiều lao động của các thành phần kinh tế : Nhànước, tập thể và tư nhân Thảm len của ta được thị trường nước ngoài ưa chuộng vì chất lượng cao, giá lại thấp so với giá của các nước khác trên thếgiới (Mỗi năm sản xuất và xuất khẩu khoảng 3 triệu m2 thảm len)
Cói, ngô, dừa là những nguyên liệu sẵn có, dễ kiếm và không tốn nhiều chi phí khai thác như nhiều nguyên liệu khác Vì thế mà chúng ta cầntập trung khai thác để sản xuất bởi chi phí cho nhóm hàng này không nhiều nhưng lại thu được lượng ngoại tệ khá cao
Sản phẩm chiếu, dép, thảm, mành được xuất khẩu chủ yếu sang khu vực Đông Âu, Liên Xô và một số nước khác như Hồng Kông, Thuỵ Điển, Pháp , Ý, Canada Tuy nhiên những năm gần đây, tỷ trọng giá trị xuất khẩu nhóm hàng này liên tục giảm so với tổng kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ nói chung Nguyên nhân là do các thị trường nhập cói lớn như Đức, Hàn Quốc giảm lượng mua đáng kể, thêm vào đó là sự cạnh tranh gay gắt về giá cả và chất lượng của các doanh nghiệp Trung Quốc Điều này cũng đặt ra nhiều thử thách với các làng nghề truyền thống cũng như các doanh nghiệp sản xuất hàng cói, ngô, đay
2.3 Hàng thủ công mỹ nghệ khác
Nhóm hàng này bao gồm nhiều mặt hàng khác nhau, tiêu biểu như các mặt hàng chạm khảm từ bạc, kim loại quý, gỗ quý và các loại mỹ nghệ khác Trong nhóm này thường gồm những mặt hàng khó sản xuất, tốn nhiều thời gian và đòi hỏi trình độ cũng như sự sáng tạo cao Đồng thời, đây cũng là những mặt hàng có giá trị nghệ thuật cao, đòi hỏi khách hàng phải là những người có thu nhập khá trở lên
Hàng gỗ mỹ nghệ với lực lượng nghệ nhân cha truyền con nối được đào tạo từ trường lớp và một số thiết bị vừa nhập khẩu, ngành này đã sản xuất được nhiều loại hàng: tranh tượng, sofa, bình phong, tủ đẹp, bền với
Trang 16những đường nét chạm công phu, điêu luyện, lôi cuốn sự yêu thích của khách hàng Khả năng xuất khẩu của ngành khoảng 80 triệu USD/năm qua các thị trường Đài Loan, Singapore, Nhật Bản, Trung Đông, Pháp
Đặc biệt hàng gỗ chế biến là mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn Năm
1997, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này tại thành phố Hồ Chí Minh chỉ khoảng 28,7 triệu USD, đến năm 2000 đã tăng vọt lên hơn 65,2 triệu USD, bình quân một lao động trong ngành tạo ra giá trị xuất khẩu 2878 USD, tăng gấp 2,4 lần so với năm 1997
Ngành chế biến gỗ có nhiều ưu thế về lực lượng lao động, có khả năng tạo ra nhiều sản phẩm đòi hỏi cao về sự khéo léo, tinh xảo của người thợ mà máy móc khó có thể đạt được Đây cũng là lợi thế cạnh tranh của ngành so với những nước khác trong khu vực
Các cơ sở sản xuất mặt hàng này cũng không nhiều, tập trung nhất là
ở Thường Tín - Hà Tây, Đồng Kỵ - Bắc Ninh, và một số cơ sở ở Hà Nam, Ninh Bình, Hải Phòng, Hà Nội và một số địa phương khác như Đồng Nai, An Giang, TP Hồ Chí Minh, Huế
3 Đặc điểm của hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam
Có thể nói, hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu của Việt Nam đã thể hiện được những nét truyền thống văn hoá của người Việt cổ Nghề thủ công mỹnghệ đã có ở Việt Nam từ rất lâu và cùng với thời gian, ngành nghề này đang được mở rộng ra nhiều vùng trên khắp mọi miền đất nước Với đông đảo đội ngũ nghệ nhân có tay nghề cao, ngành thủ công mỹ nghệ Việt Namđang hướng tới việc tạo ra các sản phẩm đẹp về màu sắc, hình dáng đồng thời phong phú về chủng loại, chất liệu nhằm không ngừng thoả mãn nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước Giờ đây, hàng thủ công mỹ nghệ đang là một trong những nhóm sản phẩm xuất khẩu có giá trị kinh tế cao.Nói đến hàng thủ công mỹ nghệ, người ta không chỉ nghĩ đến mặt hàng tiêudùng thông thường bởi nó chứa đựng tính chất nghệ thuật, mỹ thuật cao Chính vì đặc thù của loại hàng hoá này nên không phải bất cứ doanh
nghiệp nào cũng có thể kinh doanh xuất khẩu mặt hàng này một cách hiệu quả
Tuy nhiên, việc sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam vẫn mangtính chất sản xuất nhỏ phân tán Đặc điểm này vừa có tính ưu điểm đồng thời lại không thể tránh khỏi những nhược điểm nhất định
Ưu điểm:
Đầu tư cho sản xuất thấp
Thuận lợi cho việc huy động nguồn lao động dư thừa và nông nhàn
Tăng thu nhập cho người lao động
Nhược điểm:
Khó kiểm soát được chất lượng hàng hoá
Trang 17Phương tiện kỹ thuật cho sản xuất còn nghèo nàn, ảnh hưởng đến chất lượng hàng hoá
Thu gom hàng hoá không được nhanh do sản xuất không tập trung, dễ ảnh hưởng đến thời gian giao hàng
Cuối cùng, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam phải luôn gắn chặt với thị trường tiêu thụ, đặc diểm này thể hiện ở hai mặt sau:
Sản xuất phải có thị trường
Sản xuất phải theo yêu cầu thị trường
Để có cái nhìn khái quát hơn sau đây chúng tôi xin đi sâu phân tích vào những đặc điểm sau của ngành nghề thủ công mỹ nghệ Việt Nam.3.1 Đặc điểm sản xuất
Hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam được sản xuất chủ yếu ở quy mô vừa và nhỏ, vẫn còn mang nặng tính sản xuất phụ gia đình (nông nhàn) Đặc điểm này cũng xuất hiện ngay cả tại các cơ sở sản xuất của Nhà nước cũng như của tư nhân Do tính chất đặc thù của ngành hàng là sản xuất chủ yếu bằng tay, tỉ lệ làm bằng máy rất ít, chỉ có một số khâu chế biến nguyên liệu, tạo mẫu, tạo cốt mới có sử dụng máy như máy vò đạp tăm mành, máy chế song, mây, chẻ tăm, máy bào, máy cưa, máy tiện gỗ do vậy, những sản phẩm làm ra tuy độc đáo nhưng năng suất lao động thấp, chất lượng chưa đồng đều
Nguồn nguyên liệu cung cấp để sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ rất
đa dạng và phong phú, được khai thác trên mọi miền đất nước Từ các loại
gỗ, tre, nứa, trúc, giang, song, mây, đay, cói, xơ dừa, dâu tằm tơ, lá bương,
lá nón, bông chít đến nhựa cây Sơn Ta, đất sét, cao lanh đều rất sẵn có ở nhiều vùng, nhiều nơi Đây là nguồn nguyên liệu chính để tạo nên các sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống Có một số rất nhỏ nguyên liệu phải nhập ngoại như diêm sinh, phẩm, bột màu, sơn bóng, chỉ thêu, vỏ trai, vỏ
ốc, men sứ nhưng không phải mặt hàng nào cũng cần đến những nguyên liệu này
3.2 Đặc điểm tiêu dùng
Sản phẩm thủ công mỹ nghệ nếu xét dưới góc độ giá trị sử dụng, không phải là sản phẩm tiêu dùng thiết yếu đối với con người trong việc ăn,mặc, ở, đi lại nó chỉ góp phần tô điểm cho cuộc sống thêm hương, thêm sắc như một thứ gia vị Sản phẩm thủ công mỹ nghệ có thể phù hợp với người này nhưng lại không phù hợp với người khác, phù hợp ở thời điểm này nhưng không phù hợp ở thời điểm khác Vì thế, nó vừa được tiêu dùng rộng rãi vừa bị bó hẹp trong phạm vi không gian và thời gian Xu thế đời sống con người ngày càng phát triển thì nhu cầu về tinh thần cũng ngàycàng cao, nhờ vậy mặt hàng thủ công mỹ nghệ sẽ có cơ hội phát triển lớn hơn trong tương lai
3.3 Đặc điểm về thương phẩm
Trang 18Hàng thủ công mỹ nghệ là những mặt hàng khá “khó tính”, yêu cầu phải có sự bảo quản và vận chuyển rất cẩn thận do dễ bị ẩm mốc, mối mọt
vì được làm bằng những chất liệu là thực vật (trừ hàng gốm, sứ) Nếu các nguyên liệu thực vật này được khai thác không đúng mùa vụ, không đủ độ tuổi và không được xử lý tốt, kịp thời sẽ bị mối mọt làm hư hỏng Mặt khác, do tính chất hút ẩm cao nên các mặt hàng dễ bị mốc, ngay cả trong quá trình sản xuất, lưu kho và vận chuyển hàng ra nước ngoài
Hàng thủ công mỹ nghệ còn là mặt hàng dễ hư hỏng, đổ vỡ, xây xát nhất là đối với những mặt hàng gốm sứ mỹ nghệ, sơn mài , do đó yêu cầu
về bao bì phải chắc chắn, chịu được vận tải đường dài, hàng phải được chèn lót, kê đệm, bao gói cẩn thận mới giữ được nguyên vẹn, tránh được khiếu nại về chất lượng
Bên cạnh đó, hàng thủ công mỹ nghệ rất dễ bị ảnh hưởng bởi khí hậu: khí hậu khô hanh sẽ làm cho hàng thủ công mỹ nghệ dễ bị cong vênh, nếu khí hậu ẩm ướt lại dễ làm hàng bị ẩm, mốc Vì vậy phải đảm bảo quy trình sấy khô nghiêm ngặt, chọn lựa kỹ lưỡng từng sản phẩm trước khi hoàn thiện đóng gói và giao hàng Bên cạnh đó, để đảm bảo chất lượng hàng phù hợp với khí hậu của thị trường tiêu dùng cần phải có những tìm hiểu cặn kẽ về đặc điểm của mỗi khu vực
Nhiều mặt hàng thủ công mỹ nghệ như hàng mây tre, gốm sứ, đồ gỗ chạm khảm rất cồng kềnh, giá cước có khi chiếm một nửa trị giá tiền hàng
Do đó, phần nào làm giảm sức cạnh tranh của hàng hoá, nhất là đối với thị trường xa Việt Nam
II VAI TRÒ CỦA HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN
Hàng thủ công mỹ nghệ từ lâu đã trở thành những sản phẩm gắn bó với cuộc sống con người Xã hội càng phát triển, cuộc sống càng văn minh thì
vị thế của sản phẩm thủ công mỹ nghệ càng được khẳng định và nâng cao Xét về mặt kinh tế mà nói, đối với nước ta, một nước nông nghiệp lạc hậu, xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đóng góp một phần thu ngoại tệ đáng kể
và góp phần vào sự nghiệp phát triển đất nước Mặt khác, việc sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ không đòi hỏi một lượng đầu tư ban đầu lớn, khắc phục được khó khăn của các làng nghề Việt Nam là thiếu vốn Đối với người lao động, sản xuất thủ công mỹ nghệ giúp tăng thu nhập ngoài thu nhập từ sản xuất nông nghiệp cho người nông dân Đó là những lợi thế to lớn để có thể phát huy nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống Xét về mặt xã hội, nghề thủ công mỹ nghệ là nghề truyền thống ở nước ta Qua năm tháng, với đôi bàn tay khéo léo các nghệ nhân đã tạo ra cho đời những sản phẩm độc đáo mang bản sắc của quê hương Hàng thủ công mỹ nghệ của nước ta có mặt ở nhiều nơi trên thế giới và rất được sự quan tâm của bạn bèquốc tế Chúng ta đã nhận thức đúng đắn và có chính sách phù hợp để phát triển mặt hàng này
Trang 19Mặt khác, thông qua hàng thủ công mỹ nghệ mà thế giới nhận thức và hiểu biết hơn nữa về văn hoá và con người Việt Nam Với tài hoa của mình, người thợ đã khắc hoạ hình ảnh đất nước, văn hoá và con người Việt Nam trên mỗi sản phẩm góp phần đưa đất nước nhanh chóng hội nhập cùng thế giới.
1 Giải quyết công ăn việc làm cho người lao động
Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, tỷ lệthất nghiệp của Việt Nam hiện nay khá cao, vào khoảng 6,44% và con số này đặc biệt còn cao hơn ở các vùng nông thôn Đây là một trong những vấn đề nhức nhối đối với các nhà hoạch định chính sách kinh tế nước ta hiện nay Do vậy, xuất khẩu được mặt hàng thủ công mỹ nghệ cũng đã tạo được nhiều việc làm cho người lao động Việc dư thừa lao động do chuyểnđổi cơ cấu kinh tế trong thời gian đầu là một tất yếu Tuy chưa có số liệu thống kê đầy đủ nhưng những năm qua đã có sự chuyển dịch cơ cấu lao động một cách đáng kể theo hướng giảm tỉ trọng lao động trong lĩnh vực nông nghiệp và tăng tỉ trọng lao động trong ngành công nghiệp và dịch vụ
“Nếu vào năm 2010 việc xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đạt kim ngạch 1,5 tỷ USD, hoặc cao hơn, thì đó là một chiến công lớn trong sự nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu của nước ta Nó sẽ làm đổi đời cho nhiều làng nghề, tạo việc làm và thu nhập cho hàng triệu lao động Cứ xuất khẩu được một triệu USD hàng thủ công mỹ nghệ thì tạo được việc làm cho 3000 đến
4000 lao động chuyên nghiệp và nông nhàn Trong khi đó một triệu USD hạt điều xuất khẩu chỉ giải quyết được khoảng 400 lao động chuyên
sẽ giải quyết việc làm cho hàng vạn người lao động nghèo, lao động nông nghiệp thiếu ruộng đất và những người bán thất nghiệp Theo tính toán của các nhà chuyên môn, nếu xuất khẩu được 1 triệu USD hàng thủ công mỹ nghệ thì sẽ thu hút được 3000 đến 4000 lao động chuyên nghiệp Do đó việc xuất khẩu được mặt hàng thủ công mỹ nghệ có ý nghĩa không những
về mặt kinh tế mà còn cả về mặt xã hội, cân đối cơ cấu lao động giữa thànhthị và nông thôn, giảm bớt được những vấn đề xã hội phát sinh do việc người lao động nông thôn tràn ra thành phố
Thói đời “Nhàn cư vi bất thiện”, có nghề làm, có thu nhập sẽ hạnn chế nhiều tiêu cực, nhiều tệ nạn xã hội, góp phần làm lành mạnh hóa nông thôn, đặc biệt trong tầng lớp thanh thiếu niên, hướng họ vào sự nghiệp
Trang 20chung, có ích, cùng nhau chung sức chung lòng, giữ gìn, xây dựng quê hương Tạo thêm được công ăn việc làm cũng là một biện pháp xoá đói giảm nghèo hữu hiệu nhất cho người lao động hiện nay Đây cũng là một trong những chính sách lớn của Đảng và Nhà nước trong vấn đề quốc kế dân sinh Phát triển ngành hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu là biện pháp tích cực để góp phần thực hiện yêu cầu này, bởi nó sẽ tạo thêm nhiều việc làm cho mọi tầng lớp lao động ở mọi lứa tuổi, không đòi hỏi cao về trình
độ chuyên môn
2 Sử dụng có hiệu quả nguồn nguyên liệu sẵn có trong nước
Với điều kiện khí hậu, đất đai Việt Nam rất thuận lợi cho một số cây nhiệt đới phát triển như gỗ, mây tre, nứa, dừa , ngoài ra Việt Nam còn có một số loại đất đặc biệt dùng trong sản xuất gốm, sứ Đây chính là nguồn tài nguyên lớn của đất nước Việc khai thác nguồn tài nguyên này để sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu giúp chúng ta sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên được thiên nhiên ưu đãi Mặt hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam có giá trị gia tăng cao vì nguyên liệu đầu vào cho sản xuất chủ yếu được sử dụng từ những nguyên liệu sẵn có trong nước Đó là gỗ, tre, nứa, trúc, mây, giang, lá nón, bông, đay, cói, sợi dứa, vỏ dừa, vỏ ốc, vỏ trứng thậm chí là đất sét, đất bùn Để có những nguyên liệu này phục vụ sản xuất, xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ hầu như không tốn chi phí mua nguyên liệu bởi nó là nguyên liệu có sẵn trong tự nhiên như cây cối, thậm chí cả những vật dụng thừa trong sinh hoạt (vỏ dừa, vỏ trứng )
Đây là một thế mạnh lớn, góp phần không nhỏ trong quá trình sản xuất, vì vậy chúng ta cần phải biết tận dụng khai thác một cách triệt để và có hiệu quả nhất Nhưng khai thác được chưa đủ, mà còn phải khai thác có hiệu quả Cần phải có những biện pháp bảo quản tốt nguồn nguyên liệu này ngay từ khi bắt tay vào sản xuất cho đến khi sản phẩm đến được tay người tiêu dùng Bởi lẽ, đa phần nguồn nguyên liệu cung cấp cho sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ đều có nguồn gốc thực vật (trừ hàng gốm, sứ) nên rất dễ
bị ẩm mốc, mối mọt Thêm vào đó, khí hậu nóng ẩm của nước ta cũng ảnh hưởng phần nào chất lượng và tuổi đời của sản phẩm
Về những nguyên liệu thô chưa sử dụng được ngay, cần qua một số khâu chế biến gia công như nguyên liệu cung cấp cho sản phẩm gốm sứ, cần có
kế hoạch khai thác hợp lý tránh tình trạng khai thác bừa bãi, chế biến thủ công vừa gây thất thoát tài nguyên, lại vừa khai thác cả những loại tài nguyên không đồng nhất, kém chất lượng Những yếu kém của loại nguyênliệu này là do khai thác không đúng kỹ thuật, khai thác bừa bãi Do đó, nguyên liệu, phụ liệu cho sản xuất gốm sứ hiện nay còn rất thô sơ, chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu về chất lượng cho các cơ sở sản xuất Để nguồn nguyên liệu nói trên sử dụng có hiệu quả, chúng ta cần có sự quan tâm đầu tư vốn, trang thiết bị hiện đại cho việc nghiên cứu, tiến hành khai thác chế biến sản xuất
Trang 213 Tăng thu ngoại tệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Đến nay Việt Nam vẫn đang đứng trong danh sách các nước nghèo
có thu nhập thấp trên thế giới Vì vậy muốn tăng trưởng GDP theo đầu người để theo kịp các nước trong khu vực và trên thế giới thì phải huy độngnhiều nguồn lực, phải tận dụng mọi tiềm năng thế mạnh của đất nước, trong đó đẩy mạnh sản xuất xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ cũng là một hướn đi đúng đắn, là biện pháp quan trọng để phát huy nội lực, góp phần tạo ra tiền đề vật chất quan trọng để đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Mặc dù đứng thứ tám về kim ngạch xuất khẩu năm 2000 với 235 triệu USD, nhiều người vẫn cho rằng số lượng đóng góp tuyệt đối của ngành hàng này quá thấp, mới chỉ đạt chưa đầy 3% tổng kim ngạch xuất khẩu Nhưng nếu nhìn ở khí cạnh khác: Từ giá trị thực thu thì sự đóng góp của thủ công mỹ nghệ không nhỏ Các ngành hàng dệt may, giầy dép, tuy kim ngạch thống kê cao nhưng ngoại tệ thực thu lại thấp, chỉ chiếm khoảng20% giá trị xuất khẩu, vì nguyên phụ liệu chủ yếu nhập khẩu từ nước ngoài Mặt hàng điện tử và linh kiện máy tính giá trị thực thu còn thấp hơn nữa, khoảng 5-10% Trong khi đó, hàng thủ công mỹ nghệ sản xuất chủ yếu bằng nguồn nguyên liệu có sẵn trong nước, nguyên phụ liệu nhập khẩu chiếm trong sản phẩm thấp: 3-5% giá trị xuất khẩu Vì vậy giá trị thực thu xuất khẩu hàng thủ công rất cao: 95-97% Và như vậy, với 235 triệu USD xuất khẩu năm 2000, giá trị thực thu hàng thủ công mỹ nghệ tương đương với giá trị thực thu xuất khẩu 1140 triệu USD hàng dệt may, xấp xỉ 10% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước Điều này cũng có nghĩa là nếu chúng tatăng thêm giá trị xuất khẩu 1 triệu USD hàng thủ công mỹ nghệ sẽ tương đương với tăng giá trị xuất khẩu 4,7 triệu USD hàng dệt may Mặt khắc để thu về (thực thu) 1 tỷ USD hàng dệt may, Nhà nước và doanh nghiệp phải
bỏ ra một khoản đầu tư không nhỏ cho dây chuyền sản xuất, hạ tầng cơ sở, đào tạo nhân lực, giải quyết các chính sách với người lai động Trong khi
đó khoản đầu tư với hàng thủ công mỹ nghệ sẽ ít hơn rất nhiều do sản phẩm thủ công mỹ nghệ không đòi hỏi đầu tư nhiều máy móc (chủ yếu làmbằng tay), mặt bằng sản xuất có thể phân tán trong các gia đình và sự đầu
tư chủ yếu của dân
Theo kinh nghiệm các quốc gia đang phát triển (NICS), để thúc đẩy nền kinh tế phát triển, bước đầu ta cần có một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực mà ta có thế mạnh để xuất khẩu thu ngoại tệ Dùng số ngoại tệ thu đượcnhập khẩu máy móc, trang thiết bị để đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Căn cứ vào tiềm năng của nước ta, ngoài dầu thô, than đá, thuỷ sản, gạo và cà phê thì hàng thủ công mỹ nghệ được xếp vào danh mục hàng xuất khẩu chủ lực Bởi lẽ mặt hàng này có khả năng sản xuất trong nước với khối lượng lớn, hơn nữa có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới và có kim ngạch xuất khẩu cao Vì vậy, phát triển
Trang 22xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ là phương pháp đem lại lượng ngoại tệ lớn để phục vụ tốt công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngày nay.
4 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa-hiện đại hóa
Tỷ trọng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp ngày càng tăng lên, theo
đó tỷ trọng nông nghiệp ngày càng giảm đi Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế thể hiện ở sự chuyển dịch lao động và thu nhập
Chuyển dịch lao động Lao động trong các ngành nghề rất khó phân biệt một cách rõ ràng, bởi họ tham gia vào các ngành nghề có sự đan xen lẫn nhau Tuy nhiên, nếu như trức đây nông nghiệp luôn chiếm tỷ trọng chủyếu và thu hút hầu hết lao động thì hiện nay, thì hiện nay với sự phát triển mạnh của làng nghề, nông nghiệp đã mất đi thế áp đảo và nhường chỗ cho công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Do thu nhập cao, các làng nghề đã trở thành nơi tiêu thụ nhiều loại sản phẩm hàng hóa tiêu dùng và xây dựng cơ sở hạ tầng, mở rộng thị
trường nông thôn
Người dân nông thôn vốn chỉ làm nông nghiệp, chủ yếu quanh quẩn trong lũy tre làng, ít có điều kiện giao lưu, tiếp cận với bên ngoài Làng nghề ra đời và phát triển tạo điều kiện thúc đẩy sự thay đổi bộ mặt nông thôn Từ hoạt động kinh doanh của làng nghề tạo nên nhu cầu giao lưu, đòi hỏi làng nghề phải có bộ mặt mới, văn minh hiện đại, dễ thu hút khách hàng Để duy trì cho làng nghề của mình tồn tại và phát triển, buộc người làm nghề phải bươn trải ra bên ngoài, tìm kiếm nguồn nguyên liệu, tìm kiếm thị trường tiêu thụ Đồng thời khách bên ngoài tìm đến làng nghề ngày càng nhiều để trao đổi sản phẩm Thông qua các mối quan hệ đó, sự giao lưu ngày càng thắt chặt hơn, thường xuyên hơn
Chuyển dịch thu nhập Từ nhiều năm nay, phát triển nghề thủ công vẫn là hướng chủ yếu và thiết thực nhất để xóa đói, giảm nghèo và cải thiệnđời sống nông thôn Ngay từ khi các nghề thủ công còn được gọi là “nghề phụ” thì nó đã trở thành “thu nhập chính” cho nông dân trong nhiều làng nghề Việc phát triển xuất khẩu hàng thủ công càng làm tăng nhanh thu nhập của các làng nghề, bộ mặt các làng nghề thay đổi từng ngày Vùng nghề chuyên sản xuất hàng xuất khẩu trở thành những trung tâm sầm uất vàgiàu có
Qua điều tra tại một số làng nghề cho thấy mức thu nhập bình quân chênh nhau khá xa Nhìn chung, đời sống của dân trong làng nghề cao hơn hẳn dân trong các làng nông nghiệp Ngoài thu nhập từ nông nghiệp, họ còn có thu nhập từ nghề thủ công Mức thu nhập từ nghề thủ công khác nhau theo từng loại làng nghề và theo từng loại nghề Nhiều gia đình có mức thu nhập bình quân từ 1 triệu đồng trở lên, hoặc thu nhập cá biệt tới chục hay hàng trăm triệu đồng một lần khi ký được hợp đồng lớn Cùng với
sự phát triển sản xuất, tỷ trọng thu nhập từ các nghề thủ công ngày càng tăng, số hộ giầu tăng nhanh, số hộ nghèo giảm đi rõ rệt
Trang 235 Duy trì bản sắc văn hoá dân tộc
Mỗi sản phẩm thủ công mỹ nghệ ra đời không chỉ đáp ứng nhu cầu
về vật chất mà còn thể hiện tính nhân văn, tính văn hoá nghệ thuật của con người, mảnh đất làm ra nó Các nghệ nhân Việt Nam với đôi bàn tay khéo léo, tài hoa đã tạo ra ngày một nhiều hơn các sản phẩm độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc Những hình ảnh mang đậm phong cách làng quê Việt Namnhư cánh cò, luỹ tre làng, phiên chợ quê, chiều Tây Bắc hay cô gái tát nướcđầu đình ngày càng xuất hiện nhiều hơn trên những sản phẩm thủ công
mỹ nghệ xuất khẩu ra nước ngoài Có thể nói, hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam không chỉ góp phần duy trì, bảo tồn nền văn hóa truyền thống của dântộc mà còn giới thiệu văn hoá Việt Nam cho bạn bè quốc tế gần xa
Chính vì vậy, việc hỗ trợ các làng nghề thủ công phát triển cũng là một đòi hỏi bức xúc, cấp thiết bởi nó không chỉ là giữ gìn một ngành nghề truyền thống mà còn có ý nghĩa giữ gìn một bản sắc văn hoá người Việt ngàn năm văn hiến
1 Tình hình xuất khẩu thời gian qua
Từ thế kỷ 11, hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam đã đựoc xuất khẩu qua cảng Vân Đồn, Vạn Ninh Trải qua bao bước thang trầm đến sau ngày đất nước thống nhất (1975), xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ bước vào giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của mình Bình quân trong 10 năm (1976-1985) hàng thủ công mỹ nghệ chiếm 40% giá trị tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, đỉnh cao năm 1979 chiếm 53,4% Xuất khẩu đã thổi một luồng sinh khí vào các làng nghề truyền thống như sơn mài Hạ Thái (Hà Tây), chạm khắc gỗ Vân Hà, thêu ren Sơn Tây, thảm len Tràng Kênh (Hải Phòng), gốmBát Tràng, Thổ Hà, gốm sứ Bình Dương, Đồng Nai, chiếu cói Kim Sơn, đá
mỹ nghệ Non Nước (Đà Nẵng), tranh thêu Đà Lạt Trong những năm 80, với chính sách khuyến khích sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu, chủ yếu là với các nước trong khu vực xã hội chủ nghĩa, chúng ta đã khôi phục và phát triển các ngành nghề thủ công mỹ nghệ Cho đến trước năm 1990, hàng thủ
Trang 24công mỹ nghệ xuất khẩu của ta chủ yếu bao gồm: các loại thảm len, thảm đay, thảm cói, chiếu cói, hàng mây tre đan, mành trúc , mành cọ, hàng thêu ren, khăn trải giường, áo thêu Đại bộ phận các hàng hóa này được xuất khẩu sang thị trường các nước Liên Xô cũ và Đông Âu Kim ngạch xuất khẩu có năm đạt gần 250 triệu Rúp/USD (chủ yếu là Rúp), chiếm tỷ trọng 33,7% kim ngạch xuất khẩu của cả nước (1985), đặc biệt có năm tỷ trọng lên tới 53,4% (1979).
Đến những năm đầu của thập kỷ 90, do thị trường xuất khẩu truyền thống của ta bị đột ngột thu hẹp, thêm vào đó là sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nước đã làm sức sản xuất và xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ bị giảm sút nghiêm trọng, tác động mạnh và ảnh hưởng xấu đến việc làm và thu nhập của người lao động trong ngành này Sau một số năm lao đao tìm kiếm thị trường mới và tổ chức lại sản xuất để thích nghi với cơ chế thị trường, dần dần chúng ta đã tìm ra lối thoát, đầu ra cho các ngành nghề nàyphát triển và từ năm 1995 thủ công mỹ nghệ đã bước vào thời kỳ mới, dần tái khẳng định vị trí trên thị trường quốc tế
Theo thống kê của Bộ Thương mại, đến năm 2000 kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công nghiệp Việt Nam đã tăng gấp 3 lần so với năm 1996 - theo nhiều chuyên gia nhận định - đây là một bước phát triển nhảy vọt, nhất là trong khi kim ngạch xuất khẩu chung của cả nước chỉ tăng có 2 lần
Trên đà phát triển như vậy, mục tiêu đến năm 2005 được nhà nước ta đặt ra
là 900-1.000 triệu USD (trong đó, đồ gỗ gia dụng khoảng 350- 400 triệu USD), với tốc độ tăng bình quân 25%/năm Tuy nhiên, kết quả trong 6 tháng đầu năm 2001 kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ chỉ đạt non 114,3 triệu USD, giảm sút 16% so với cùng kỳ năm trước Vậy con số mục tiêu 1,5 tỷ USD vào năm 2010 liệu có đạt được không, câu hỏi này không chỉ phụ thuộc vào các doanh nghiệp trong ngành mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan khác
Vào thời kỳ cuối 1980 ta đã bắt đầu xuất khẩu dầu thô, gạo với khối lượng tương đối lớn và hàng công nghiệp nhẹ xuất khẩu cũng tăng trưởng nhanh (may mặc, thực phẩm chế biến, gia công mũ giày ), nên tỷ trọng nhóm hàng thủ công nghệ giảm đáng kể trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Bình quân trong thời kỳ 1986-1990 , tỷ trọng cả hàng công nghiệp nhẹ và hàng thủ công chỉ còn 29,7% tổng kim ngạch xuất khẩu
Tuy kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trong thời kỳ này
có năm đạt khá cao ( gần 250 triệu Rúp/USD ) nhưng chủ yếu là tính giá bằng Rúp theo giá hình thành không thay đổi trong thời gian dài nên nếu xét về thực chất, giá này thường cao hơn thời giá cùng loại xuất sang thị trường ngoại tệ tự do chuyển đổi từ 1,5 đến 2 lần Do đó trị giá thực của kim ngạch xuất khẩu tính bằng USD cũng chỉ khoảng 130-150 triệu
USD/năm
Sau khi mất thị trường Đông Âu và Liên Xô năm 1991, hàng thủ công mỹ nghệ đã trải qua bao gian truân vất vả trong cơ chế mới để tổ chức
Trang 25lại sản xuất kinh doanh, chuyển đổi thị trường, tìm kiếm và xây dựng lại quan hệ bạn hàng Nhờ sự đổi mới tích cực đó mà 4 năm trở lại đây, nhóm hàng này trở lại thời kỳ hoàng kim Liền hai năm 1999 – 2000 được liệt vào danh sách 10 mặt hàng xuất khẩu tăng trưởng cao nhất.
Năm 1997, theo thống kê của Hải quan, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đã đạt 121 triệu USD Trong đó trên 50% là hàng gốm
sứ mỹ nghệ ( khoảng 62 - 63 triệu USD ) và khoảng 25% là hàng gỗ mỹ nghệ ( 30 triệu USD ), bao gồm các loại hàng như : tranh, tượng gỗ, hàng sơn mài, đồ gỗ chạm, khảm Năm 1998, do khủng hoảng tài chính - kinh
tế khu vực, kim ngạch xuất khẩu giảm chỉ đạt 111 triệu USD Năm 1999, chín tháng đầu năm đã xuất khẩu 118 triệu USD, cả năm đạt 168 triệu USD, tăng 51,28 % so với năm 1998
Kim ngạch xuất khẩu trên đây chưa tính đến đồ gỗ gia dụng, đây cũng là những mặt hàng thủ công ( tuy trong sản xuất có một số khâu sử dụng thiết bị máy mọc công nghiệp, chủ yếu là trong khâu xử lý nguyên liệu như trong một số ngành nghề thủ công khác ) Nhóm hàng này năm
1997 đã đạt kim ngạch xuất khẩu gần 70 triệu USD, năm 1998 do gặp khó khăn kim ngạch giảm chỉ còn gần 60 triệu USD Với chủ trương cho nhập khẩu thêm nguyên liệu gỗ để sản xuât, nhóm hàng này có khả năng tăng xuất khẩu nhanh
Nếu tính nhóm hàng thủ công mỹ nghệ bao gồm cả đồ gỗ gia dụng thì kim ngạch xuất khẩu của nhóm hàng này năm 2005 có thể dự đoán đạt khoảng 900 - 1000 triệu USD Đây là con số đáng khích lệ, có nhiều ý nghĩa chính trị - kinh tế - xã hội, nhất là trong điều kiện xã hội ta hiện nay còn thiếu nhiều việc làm Với kim ngạch 900 - 1000 triệu USD, tương đương với xuất khẩu 4 triệu tấn gạo, nhóm hàng này vẫn thuộc 10 nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu cao nhất hiện nay, mặc dù tỷ trọng nhóm hàng này chỉ chiếm khoảng 2,5% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Nếu năm 1998 hàng thủ công mỹ nghệ mới có mặt ở khoảng 50 nước thì năm 2000 đã lên tới gần 100 nước và vùng lãnh thổ, trong đó có những thị trường với sức mua lớn và ổn định như Nhật Bản, Tây Âu, Bắc Âu, Hoa
Kỳ, Đài Loan, Hôngkông, Hàn Quốc Dẫn đầu kim ngạch là nhóm hàng gốm sứ mỹ nghệ (100 triệu USD), mây tre đan (70 triệu USD), đồ gỗ mỹ nghệ (20 triệu USD), thêu ren thổ cẩm (20 triệu USD), thảm các loại (15 triệu USD)
Theo số liệu của Bộ thương mại, trong 5 năm 1996-2000, xuất khẩu thủ công mỹ nghệ đã có bước phát triển khá tốt Năm 1996 kim ngạch xuất khẩu của ngành thủ công mỹ nghệ mới chỉ đạt 78,6 triệu USD sang 70 thị trường, nhưng đến năm 2000 đã tăng lên đến 236,8 triệu USD với 120 thị trường (tăng gấp 3 lần so với năm 1996) Đây là những dấu hiệu đáng mừng bởi hàng thủ công mỹ nghệ của ta không chỉ tăng được về mặt số lượng hàng xuất khẩu mà còn đạt được bước đột phá mới về thị trường tiêu thụ Với kết quả ấy, nhóm hàng thủ công mỹ nghệ được xếp trong 10 nhóm
Trang 26mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch hàng năm trên 100 triệu USD của Việt Nam hiện nay, sau các nhóm mặt hàng: Dầu thô, hàng dệt may, giầy dép, gạo, hải sản, cà phê, máy vi tính và linh kiện lắp ráp
Tuy nhiên, trong 6 tháng đầu năm 2001, xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ
đã giảm sút, chỉ đạt 114,3 triệu USD, giảm gần 16% so với cùng kỳ năm ước, trong khi xuất khẩu chung của cả nước tuy gặp khó khăn nhưng vẫn tăng trưởng với tốc độ trên 15% Kim ngạch xuất khẩu thủ công mỹ nghệ năm 2001 cũng chỉ đạt mức 237 triệu USD - con số không khả quan lắm nếu nhìn vào kim ngạch xuất khẩu năm 2000 Những con số thống kê trên cho ta thấy mặc dù đã đạt được một số thành công nhất định, song việc xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của ta vẫn chưa đạt tới trình độ phát triểnvững chắc
tr-Hiện tượng sụt giảm trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân: do mẫu mã sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam hiện còn đơn điệu, ít sáng tạo mẫu mã mới; do vẫn còn manh mún trong sản xuất nên chưa đủ khả năng xuất với khối lượng lớn (sản phẩm xuất vào từng thị trường không nhiều và không
ổn định); không chủ động được đầu ra cho sản phẩm mà chỉ làm theo đơn đặt hàng của các doanh nghiệp nước ngoài; ít có cơ hội tiếp xúc trực tiếp khách hàng để tiếp cận, nắm bắt được thị hiếu của từng thị trường dẫn đến việc khó tìm đối tác để xây dựng mối quan hệ lâu dài, ổn định (đa số doanhnghiệp sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ còn khó khăn, trong khi chi phí cho khâu tiếp thị lại rất cao); do thiếu vùng trồng nguyên liệu, các doanh nghiệp thường mua trực tiếp của dân mỗi thứ một ít nên không có chứng từcũng như hóa đơn để được hoàn thuế sau khi xuất; không đủ khả năng đầu
tư thiết bị để giảm bớt một số công đoạn thủ công, giảm hao hụt nguyên vậtliệu, phải thuê nhà xưởng, chi phí vận chuyển cao, sản xuất thường là phân tán đến từng hộ nhỏ lẻ nên chi phí trung gian làm đội giá thành phẩm (giá bán sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam ở thị trường nước ngoài luôn cao hơn 10% so với các quốc gia trong khu vực và cao hơn 15% so với Trung Quốc); những chính sách, biện pháp, khuyến khích, hỗ trợ sản xuất thủ công mỹ nghệ của Nhà nước tuy đã có nhưng chưa đủ và thiếu đồng bộ (mức thuế lợi tức 35% và thuế xuất khẩu 5% còn quá cao)
2 Thị trường chủ yếu
Những năm qua hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam đã có mặt hầu hết trên các thị trường lớn của thế giới Năm 1996 có khoảng 70 nước và vùng lãnh thổ, năm 2000 tăng lên 120, nếu kể cả đồ gỗ gia dụng thì con số đó tăng lên 133 Những thị trường chủ yếu mà Việt Nam xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ là EU, Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Asean và Trung Đông
Tuy nhiên ta chưa xuất được nhiều vào các thị trường có nhu cầu và dung lượng lớn Khả năng mở rộng thêm thị trường mới và tranh thủ cơ hộikhai thác sâu các thị trường đã có, nhất là các thị trường có nhu cầu lớn và lâu dài, là khả năng thực hiện cần phấn đấu khai thác trong những năm tới
Trang 27Trong 15 nước đứng đầu về nhập khẩu thủ công mỹ nghệ Việt Nam năm 2000, chỉ có 5 nước châu Á, nhưng tổng kim ngạch nhập khẩu lại chiếm tỷ trọng khá cao, cụ thể : Nhật Bản đứng thứ nhất với kim ngạch nhập khẩu là 35,3 triệu USD; Đài Loan đứng thứ năm với kim ngạch 15,4 triệu USD; Hồng Kông đứng thứ tám với kim ngạch 12,1 triệu USD; Hàn Quốc đứng thứ chín với kim ngạch 11,2 triệu USD
XUẤT KHẨU THỦ CÔNG MỸ NGHỆ NĂM 2002
TT Nước Giỏ trị (triệu USD)
Nguồn: Tổng cục Hải Quan
Thị trường xuất khẩu chủ yếu là thị trường các nước Âu - Mỹ và một số thị trường châu Á như Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc và một số nước Trung Đông Nhật Bản đứng thú hai trong các nước nhập khẩu thủ công mỹnghệ, sau Pháp, vượt xa các nước khác, là thị trường cực kỳ quan trọng và còn nhiều tiềm năng
*/ Thị trường các nước Tây Âu, Bắc Âu
Thị trường EU là khu vực thị trường rộng lớn mà xuất khẩu sang khu vực thị trường này trong những năm gần đây tăng khá nhanh Hiện nay, khu vực này chiếm tỷ trọng gần 1/4 trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
Đứng đầu trong các mặt hàng xuất khẩu sang khu vực này phải kể đến đồ gỗ Sản phẩm gỗ của ta hiện nay đang thâm nhập rất tốt vào thị trường EU - thị trường tiêu thụ đồ gỗ lớn nhất thế giới - là một trong các thị trường trọng điểm cho đồ gỗ chế biến của Việt Nam Tiếp đó phải kể đến hàng gốm, sứ mỹ nghệ cũng là nhóm hàng đang tiêu thụ mạnh sang khu vực thị trường này Nổi tiếng là gốm sứ mỹ nghệ của Đồng Nai, Bình
Trang 28Dương, Bát Tràng và gốm sứ Vĩnh Long Các mặt hàng như mây, tre, lá đan, các sản phẩm bàn ghế, trang trí nội thất bằng nguyên liệu song mây tre, hàng thêu ren cũng xuất khẩu sang khu vực thị trường này với khối lượng đáng kể.
Theo số liệu của Tổng cục thống kê, tính đến hết năm 2000 Việt Nam xuất khẩu sang Pháp 28,8 triệu USD; Đức 25,4 triệu USD; Anh 17,6 triệu USD; Hà Lan 15,1 triệu USD; Bỉ 7,9 triệu USD hàng thủ công mỹ nghệ
*/ Thị trường Nhật Bản
Nhật Bản là thị trường gần và có nhu cầu lớn về nhiều loại hàng xuấtkhẩu của Việt Nam Nếu xét thị trường theo từng nước ( không theo khu vực thị trường ) thì Nhật Bản là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam từ năm 1991 đến nay ( năm 1991 chiếm tỷ trọng tới 34,5%, năm 1999gần 18% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam ) Đặc biệt, Nhật là thị trường rộng lớn, đầy tiềm năng đối với các mặt hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam
Trong những năm gần đây, người Nhật có nhu cầu khá lớn về đồ gỗ Theo thống kê của Nhật, hàng năm Việt nam xuất sang Nhật khoảng 60 triệu USD đồ dùng gia đình, trong đó chủ yếu là đồ gỗ Xuất khẩu đồ gỗ vào Nhật chưa gặp phải những quy định khắt khe như của EU và Mỹ về bảo vệ rừng ( một số nước EU không chấp nhận mua sản phẩm làm từ gỗ
Campuchia )
Thị trường Nhật cũng có nhu cầu rất lớn về hàng gốm sứ, nhập khẩu tăng mạnh trong vài năm qua: năm 1996 Nhật nhập khẩu đồ gốm tăng tới 40% so với năm 1995, đạt giá trị gần 800 triệu USD và nhập khẩu đồ sứ tăng 12% đạt gần 200 triệu USD Tuy nhiên, thị phần của Việt Nam mới chiếm một phần khiêm tốn trong con số ấy, theo đánh giá của cơ quan thương vụ, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam mới chỉ ở mức 5 triệu USD/năm
Ngoài ra, không ít sản phẩm về thảm như thảm len và các loại thảm thủ công cỡ nhỏ cũng có một vị trí vững chắc trên thị trường Nhật Bản Đồ nội thất bằng mây tre của Nhật dù được sản xuất trong nước khá nhiều nhưng hàng nhập khẩu loại này vẫn có ưu thế, phải chăng do giá rẻ cùng với kiểu dáng cũng phong phú, đa dạng
Theo số liệu thống kê tính đến hết năm 2000, bạn hàng lớn nhất của Việt Nam về hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu chính là Nhật Bản ( 35,3 triệu USD ) tiếp đến là Pháp ( 28,8 triệu USD ), Anh ( 17,6 triệu USD ) rồi Đài Loan ( 15,4 triệu USD ), Hồng Kông ( 12,1 triệu USD )
*/ Thị trường Nga, các nước SNG và Đông Âu
Đây từng là khu vực thị trường rộng lớn, đã từng một thời trên 30 năm ( từ 1955 - 1990 ) là thị trường chủ yếu ( nếu không muốn nói gần như
là thị trường độc nhất ) tiêu thụ các sản phẩm thủ công mỹ nghệ xuất khẩu
Trang 29của Việt Nam Kim ngạch năm cao nhất ( 1985 ) đã đạt tới con số gần 250 triệu Rúp/USD.
Từ sau năm 1990, tại khu vực thị trường này có những biến đổi lớn
có tính đảo lộn về chính trị và kinh tế gây nhiều khó khăn cho việc xuất khẩu mặt hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam Tuy nhiên đây vẫn là khu vực thị trường có nhu cầu lớn về nhiều chủng loại hàng hoá và trong ký ức người tiêu dùng ở đây chắc ít nhiều vẫn còn dấu ấn về hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam một thời gian dài trong quá khứ Vì vậy mà chúng ta vẫn gọi đây là khu vực thị trường truyền thống
*/ Thị trường Đài Loan, Hồng Kông và Hàn Quốc
Đây là 3 thị trường lớn trong xuất khẩu của Việt Nam nói chung và hàng thủ công mỹ nghệ nói riêng Các thị trường trên chiếm vị trí thứ 3,5,7 tương ứng trong kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam năm 1998
Đài Loan là thị trường nhập nhiều sản phẩm gỗ của Việt Nam, trong
đó có đồ gỗ gia dụng và mỹ nghệ, kim ngạch hàng năm khoảng 50 - 60 triệu USD, chiếm đến 20% kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này của Đài Loan Chúng ta đánh gía đây là thị trường còn nhiều tiềm năng ta có thể khai thác để xuất khẩu, vì thuế nhập khẩu loại hàng này của Đài Loan thấp,chỉ từ 0% đến 2,5%
Hồng Kông là thị trường lâu nay Việt Nam đã xuất khẩu được nhiều chủng loại hàng thủ công mỹ nghệ Theo thống kê như đã nêu ở phần trên, năm 2000 kim ngạch xuất khẩu thủ công mỹ nghệ sang thị trường này đã đạt 12,1 triệu USD Hàn Quốc tuy chưa nhập nhiều hàng thủ công mỹ nghệcủa Việt Nam nhưng một số chủng loại hàng đã có mặt trên thị trường này như hàng thủ công mỹ nghệ của Haprosimex, gốm sứ của Vĩnh Long và thêu ren của Thái Bình
*/ Thị trường Bắc Mỹ
Tuy vừa qua, hàng thủ công mỹ nghệ của ta xuất khẩu vào thị trườngnày chưa nhiều, nhưng thời gian tới khả năng có nhiều triển vọng Thị trường Mỹ có dung lượng và nhu cầu rất lớn Nước Mỹ hầu như không sản xuất hàng gốm sứ Năm 1997, Mỹ nhập khẩu 3,1 tỷ USD hàng gốm sứ, năm 1998 tăng lên 3,35 tỷ USD và dự báo tốc độ nhập khẩu mặt hàng này tăng 7-15%/năm Thời gian qua, thuế nhập khẩu mặt hàng gốm sứ theo chế
độ MFN là khá cao nhưng ta vẫn xuất được một số chủng loại mặt hàng này vào Mỹ (năm 1998 đạt kim ngạch 2,5 triệu USD, tăng gấp đôi so với năm 1997) Nay Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ được phê chuẩn (có MFN) thì sẽ tăng mức xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào Mỹ lên nhiều lần Nếu biết nắm bắt cơ hội và nghiên cứu kỹ thị hiếu tiêu dùng, sắp tới ta
có thể xuất khẩu vào thị trường này hàng năm lên tới hàng trăm triệu USD hàng gốm sứ Ngoài ra thị trường Mỹ cũng là thị trường lớn đối với mặt hàng đồ gỗ và nhiều mặt hàng thủ công mỹ nghệ khác của Việt Nam
Thị trường Canada cũng là thị trường quan trọng đối với hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam Thu nhập của dân cư nước này ở mức cao và có
Trang 30nhiều nhu cầu sở thích tiêu dùng hàng thủ công mỹ nghệ Song thực tế, hàng thủ công mỹ nghệ của ta vào thị trường này còn ở mức rất khiêm tốn: dưới 5 triệu USD/năm Các doanh nghiệp cần tìm hiểu các thông tin cơ bản
về nhu cầu người tiêu dùng, về quy cách, chất lượng sản phẩm, về thuế, tạo
cơ hội cho việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ vào thị trường này
Ngoài những thị trường chủ yếu nêu trên, còn các khu vực thị trường TrungĐông cũng có triển vọng lớn về xuất khẩu cần được Nhà nước và các cơ quan chức năng quan tâm
3 Dự báo về thị trường thủ công mỹ nghệ thế giới và định hướng công tác thị trường của Việt Nam
Trên thực tế đã chỉ rõ: Khi đời sống vật chất và tinh thần được nâng cao thì nhu cầu về mặt hàng thủ công mỹ nghệ càng tăng cả về số lượng, chất lượng, mẫu mã, đề tài Hiên nay ở các nước công nghiệp, nhất là các nước đã phát triển ở trình độ cao như Nhật Bản, Mỹ, Đức, Pháp, Anh mọimặt vật chất của cuộc sống khá đầy đủ, hàng ngày người dân chủ yếu dùng
đồ công nghiệp sản xuất hàng loạt, chế biến qua công nghệ hiện đại, tính chất hương vị tự nhiên không còn nên rất nhiều người muốn quay lại sử dụng, thưởng thức những sản phẩm mang tính truyền thống, độc đáo, dân
dã, gần gũi với thiên nhiên, và thường được sản xuất mang tính thủ công,
có tính mỹ thuật cao Mặt khác ở các nước công nghiệp, nguồn lao động thiếu, chi phí lao động cao, hầu hết lao động tập trung trong các ngành công nghiệp chủ yếu, tiên tiến hiện đại nên rất ít hoặc không có lao động làm việc trong các nghề thủ công Vì vậy, hầu hết các sản phẩm thủ công
mỹ nghệ phải nhập khẩu từ các nước đang phát triển, các nước nghèo Đó
là lợi thế để các nước sản xuất nhiều mặt hàng thủ công mỹ nghệ trong đó
có Việt Nam dễ xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ sang các nước công nghiệp phát triển ở Châu Âu, Bắc Mỹ, Nhật Bản
Hàng thủ công mỹ nghệ vừa có tính chất sử dụng hàng ngày trong cuộc sống vừa mang tính chất thưởng thức văn hóa nghệ thuật Do mang hai đặc điểm đó nên hàng thủ công mỹ nghệ rất thông dụng đối với mọi đốitượng, tầng lớp trong xã hội, cũng như mọi dân tộc, mọi quốc gia Mỗi người tùy theo công việc, tùy theo mức sống, tùy theo điều kiện sinh hoạt, tùy theo phong tục tập quán có thể có nhu cầu sử dụng hàng thủ công mỹ nghệ dưới những giác độ khác nhau, với mục đích khác nhau Xét theo các
ý nghĩa đó nhu cầu hàng thủ công mỹ nghệ sẽ ngày càng tăng nhanh chóng theo sự phát triển của cuộc sống con người, theo sự phát triển của thương mại, của giao lưu văn hóa, du lịch Vì vậy mặt hàng thủ công mỹ nghệ chắc chắn sẽ ngày càng có vị trí ổn định trên thương trường thế giới, sẽ đem lại hiệu quả về nhiều mặt, đặc biệt là hiệu quả kinh tế và xã hội Nắm bắt được những xu thế đó để có phương hướng phát triển một cách toàn diện, đồng bộ và hợp lý mặt hàng thủ công mỹ nghệ trước mắt và lâu dàI
Trang 31đối vơi sản xuất cũng như xuất khẩu là vấn đề hết sức quan trọng và cấp bách.
Dự báo nhu cầu hàng thủ công mỹ nghệ trên thị trường thế giới và trong nước ngày càng tăng theo mức sống của dân cư và sự tăng trưởng củaquan hệ kinh tế, thương mại, du lịch, giao lưu văn hóa giữa các nước, là để xác định vai trò, vị trí, triển vọng của ngành hàng, coi đó là một thuận lợi
cơ bản cho phát triển và lưu thông buôn bán Tuy nhiên phát hiện, nắm bắt được nhu cầu thị hiếu của từng thị trường trong từng thời kỳ đối với từng chủng loại sản phẩm và nhanh chóng đáp ứng được các nhu cầu thị hiếu đó
là một vấn đề hết sức khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải nhạy bén, tốn kém nhiều công sức và chi phí Để làm tốt công tác này, một mặt cần có chính sách hỗ trợ ưu đãi của Nhà nước và sự quan tâm giúp đỡ của các cơ quan chức năng Trung ương và địa phương, mặt khác các doanh nghiệp cũng cầnnăng động, chủ động trong hoạt động của mình để triển khai việc sản xuất kinh doanh đáp ứng nhu cầu của thị trường, của khách hàng, mang lại hiệu quả cao nhất
Hiện nay ở thị trường nước ngoài, chúng ta đang phải đương đầu với một số đối thủ cạnh tranh có nhiều tiềm năng, thế mạnh, kinh nghiệm Trước hết phải kể đến Trung Quốc, rồi Philippin, Indonesia và Thái Lan
Để thắng cạnh tranh có nhiều việc phải làm, nhưng điều cơ bản là phải tìm hiểu, nghiên cứu sâu, thậm chí phải học hỏi kinh nghiệm, thủ pháp kỹ thuậttrong sản xuất, kinh doanh và các giải pháp, chính sách có liên quan của từng nước, đồng thời có chất liệu và kỹ thuật của riêng ta, phải sáng tạo ra ngững mẫu mã, kiểu dáng, đề tài đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của từng thị thị trường, bảo đảm sản phẩm của ta có sức cạnh tranh
Đã có nhiều du khách nước ngoài muốn sang tận Việt Nam để xem xét khả năng khảo sát hoạt động sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ nên một
số hãng du lịch lữ hành quốc tế ở Nhật, Hàn Quốc, Pháp tổ chức các tuyến du lịch kết hợp với đi mua hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam Các doanh nhân Nhật thông qua tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật (JETRO) phối hợp cùng Trung tâm Phát triển Ngoại thương Tp HCM tổ chức “Triểnlãm Xúc tiến sang Nhật” (tháng 12/2000) tại Trade Center (Tp.HCM) để timg nguồn hàng từ mây tre lá, các sản phẩm dệt, thêu, đồ trang sức và trang trí nội thất Trung Quốc và Indonesia là hai quốc gia có tiềm năng mạnh về hàng thủ công mỹ nghệ cùng nhập sản phẩm từ Việt Nam để tái xuất Năm 2000, Trung Quốc nhập khẩu 1 triệu USD hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam Ở Pháp có công ty Interrier nhập độc quyền hàng mộc mỹ nghệ của một doanh nghiệp ở Thủ Đức Ở Nhật, làng du lịch Asuke nhập hàng mây tre thêu mỹ nghệ của công ty Mỹ Trân để tái xuất khẩu
Hàng thủ công mỹ nghệ của ta tuy hiện nay đã có mặt tại hơn 120 nước và vùng lãnh thổ, nhưng ta chưa xuất khẩu được nhiều vào thị trường
có nhu cầu lớn Khả năng mở rộng thêm thị trường mới và tranh thủ mọi cơ