TÓM TẮT LUẬN VĂN Trong những năm qua, công tác giải quyết các khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai của công dân trên địa bàn huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị có nhiều chuyển biến tích cực
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÊ THỊ QUỲNH HOA
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI HUYỆN HẢI LĂNG, TỈNH QUẢNG TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
HUẾ - 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÊ THỊ QUỲNH HOA
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI HUYỆN HẢI LĂNG, TỈNH QUẢNG TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 8850103
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS NGUYỄN MINH HIẾU
HUẾ - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Tất cả các số liệu trong vùng nghiên cứu của luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ luận văn nào khác
Tôi xin chân thành cảm ơn mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này và tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Lê Thị Quỳnh Hoa
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Để hoàn thành Luận văn tốt nghiệp này, bên cạnh sự nỗ lực cố gắng của bản thân còn có sự hướng dẫn nhiệt tình của quý Thầy, Cô cũng như sự động viên của gia đình, bạn bè trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn thạc sĩ
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến Thầy PGS.TS Nguyễn Minh Hiếu, người
đã trực tiếp hướng dẫn tận tình cho tôi trong suốt thời gian thực tập Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến sự đồng ý của Nhà trường cũng như của Khoa, sự giúp đỡ nhiệt tình của các Thầy, Cô giáo đã tận tình giảng dạy để truyền đạt, trang bị cho tôi những kiến thức bổ ích để tôi có thể hoàn thành đề tài tốt nghiệp này
Xin chân thành cảm ơn các chú, anh chị trong phòng Thanh tra huyện, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện, UBND các xã, trị trấn tại huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn tốt nghiệp
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực tập tốt nghiệp
Do kiến thức và kinh nghiệm thực tế còn hạn chế nên Luận văn không thể tránh khỏi những sai sót Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý Thầy, Cô và các bạn để Luận văn được hoàn chỉnh hơn
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!
Huế, ngày tháng năm 2019 Học viên thực hiện
Lê Thị Quỳnh Hoa
Trang 5TÓM TẮT LUẬN VĂN
Trong những năm qua, công tác giải quyết các khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai của công dân trên địa bàn huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần vào việc phát triển kinh tế, xã hội, ổn định chính trị, đảm bảo an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội tại địa phương Tuy nhiên việc giải quyết các khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai của công dân trên địa bàn huyện Hải Lăng có lúc,
có nơi còn chưa kịp thời, còn bộc lộ những hạn chế nhất định Xuất phát từ thực tế đó
và được sự đồng ý của giáo viên hướng dẫn, tôi chọn đề tài: “Đánh giá thực trạng
công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai tại huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị” làm đề tài nghiên cứu cho Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý đất đai
Với mục đích nghiên cứu về tình hình khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai và thực trạng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, giai đoạn 2013 - 2018, từ đó đề xuất các giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai trong những năm tiếp theo trên địa bàn huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị
Phương pháp nghiên cứu: Thu thập các văn bản liên quan như Luật Đất đai năm
1993, 2000, 2003 và 2013, Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998, 2004, 2005, Luật khiếu nại năm 2011, Luật tố cáo 2011, Luật tố cáo 2018, Luật tiếp công dân năm 2013, Luật
Tố tụng hành chính và các Nghị định, Thông tư hướng dẫn liên quan
- Các báo cáo, tài liệu liên quan đến tình hình và công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai tại Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Hải Lăng, Thanh tra huyện Hải Lăng, Ban tiếp công dân huyện Hải Lăng, UBND các xã, trị trấn trên địa bàn huyện Hải Lăng và Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng giai đoạn 2013-2018
- Đã tiến hành tham vấn ý kiến các cán bộ lãnh đạo của UBND huyện Hải Lăng, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Thanh tra huyện Hải Lăng, UBND cấp xã và Chánh Thanh tra, Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường, Trưởng Ban tiếp công dân huyện Hải Lăng
- Sử dụng bản đồ hành chính của huyện để minh họa cho địa bàn nghiên cứu
Từ các kết quả nghiên cứu, đề tài đề xuất các giải pháp cho chính quyền địa phương trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai Góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về đất đai tại huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CÁM ƠN ii
TÓM TẮT LUẬN VĂN iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
Chương 1TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
1.1.1 Đất đai và đặc điểm của đất đai 3
1.1.2 Khiếu nại và giải quyết khiếu nại về đất đai 5
1.1.3 Tố cáo và giải quyết tố cáo về đất đai 7
1.1.4 Tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai 8
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 10
1.2.1 Cơ sở thực tiễn về các vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam 10
1.2.2 Cơ sở thực tiễn về các vấn đề nghiên cứu ở một số nước trên thế giới 13
1.2.3 Bài học kinh nghiệm trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo 14
1.3 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 15
Trang 7Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 17
2.1 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 17
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 17
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 17
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 17
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.3.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu 17
2.3.2 Phương pháp xử lý số liệu 18
2.3.3 Phương pháp đối chiếu, so sánh 18
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 19
3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA HUYỆN HẢI LĂNG, TỈNH QUẢNG TRỊ 19
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 19
3.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 24
3.1.3 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị 26
3.1.4 Công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn 29
3.2 TÌNH HÌNH KHIẾU NẠI, TỐ CÁO, TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI HUYỆN HẢI LĂNG TỪ NĂM 2013 ĐẾN NĂM 2018 38
3.2.1 Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật và văn bản chỉ đạo 38
3.2.2 Công tác chỉ đạo, hướng dẫn tuyên truyền, phổ biến pháp luật về KNTC 39
3.2.3 Công tác tiếp công dân, tiếp nhận đơn thư trên địa bàn huyện Hải Lăng 39
3.2.4 Tình hình khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai 41
3.2.5 Những nội dung liên quan đến khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai 45
3.2.6 Phân tích các nguyên nhân dẫn đến khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai 47
3.3 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN 52
3.3.1 Sự lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện pháp luật đối với công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai 52
3.3.2 Đánh giá hiện trạng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai 54
Trang 83.3.3 Đánh giá việc thực hiện các quy định của pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố
cáo trong lĩnh vực đất đai của các cơ quan hành chính nhà nước 58
3.3.4 Kết quả cụ thể về giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai 60
3.3.5 Đánh giá những kết quả đạt được trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai và nguyên nhân 66
3.3.6 Những tồn tại, hạn chế trong công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và nguyên nhân 69
3.3.7 Một số trường hợp nghiên cứu điển hình về giải quyết các vụ tranh chấp, khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai 71
3.4 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TẠI HUYỆN HẢI LĂNG 78
3.4.1 Giải pháp về công tác chỉ đạo, điều hành 79
3.4.2 Giải pháp về xây dựng hệ thống pháp luật 79
3.4.3 Giải pháp về xây dựng hệ thống quản lý đất đai 80
3.4.4 Giải pháp về năng cao năng lực cán bộ giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp trong lĩnh vực đất đai 80
3.4.5 Giải pháp về công tác tuyên truyền vận động 81
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83
1 KẾT LUẬN 83
2 KIẾN NGHỊ 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC 88
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Hải Lăng năm 2018 27
Bảng 3.2 Tổng hợp kết quả thu hồi đất, tái định cư từ 01/01/2013 đến 31/12/2018 của UBND huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị 34
Bảng 3.3 Kết quả cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các cá nhân, hộ gia đình trên địa bàn huyện năm 2018 36
Bảng 3.4 Tình hình tiếp công dân trên địa bàn huyện từ 2013 – 2018 39
Bảng 3.5 Tình hình tiếp nhận đơn thư trên địa bàn huyện từ 2013 – 2018 40
Bảng 3.6 Tình hình tiếp nhận và phân loại đơn thư trong lĩnh vực đất đai 42
Bảng 3.7 Thực trạng cán bộ tham gia giải quyết KNTC, TCĐĐ ở huyện Hải Lăng năm 2018 56
Bảng 3.8 Kết quả xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai 61
Bảng 3.9 Kết quả giải quyết đơn khiếu nại, tranh chấp trong lĩnh vực đất đai giai đoạn 2013 - 2018 63 Bảng 3.10 Kết quả giải quyết đơn tố cáo trong lĩnh vực đất đai giai đoạn 2013 - 201865
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Sơ đồ vùng nghiên cứu 19 Hình 3.2 Cơ cấu các ngành kinh tế ở huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị năm 2018 24 Hình 3.3 Diễn biến tỷ lệ các loại đơn khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai so với tổng
số đơn tiếp nhận trong lĩnh vực đất đai giai đoạn 2013 – 2018 43
Trang 12MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đất đai là nguồn tài nguyên quý giá, là điều kiện tiên quyết giúp cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Đất đai còn là thành phần quan trọng của môi trường sống, là địa bàn phân bố khu dân cư Tuy nhiên, đất đai lại có tính giới hạn
về số lượng, trong khi đó, quá trình phát triển của xã hội, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước, cùng với sự gia tăng dân số dẫn đến nhu cầu đất đai ngày một gia tăng, đất đai ngày càng có giá trị cao, từ đó dẫn đến phát sinh càng nhiều những mâu thuẫn và những yêu cầu được bảo vệ quyền lợi trong việc sử dụng đất của người dân Nhận thức của người dân về pháp luật đất đai, đặc biệt liên quan đến quyền
và lợi ích trong việc sử dụng đất ngày càng được nâng cao, do đó, khi phát sinh vướng mắc về quyền sử dụng đất thường nhờ sự can thiệp của pháp luật bằng cách gửi đơn kiến nghị, khiếu nại, tố cáo liên quan đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được giải quyết
Khiếu nại, tố cáo về đất đai là cơ sở pháp lý để công dân thực hiện hiệu quả quyền làm chủ, được Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong việc sử dụng đất Thông qua hoạt động khiếu nại, tố cáo, quyền của nhân dân được đảm bảo; hoạt động của nhà nước được trong sạch, vững mạnh, thực sự là nhà nước của dân, do dân
và vì dân Tuy nhiên, khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai ngày càng diễn ra thường xuyên và có những chuyển biến phức tạp, gây ảnh hưởng sâu rộng đến tình hình an ninh, chính trị, kinh tế, xã hội của mỗi địa phương Tính phức tạp của tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai kéo dài không chỉ bắt nguồn từ những xung đột gay gắt về lợi ích kinh tế, từ hệ quả của sự quản lý thiếu hiệu quả của cơ quan công quyền, sự bất hợp lý và thiếu đồng bộ của hệ thống chính sách, pháp luật đất đai mà còn do những nguyên nhân có tính lịch sử trong quản lý và sử dụng đất đai qua các thời kỳ Vì vậy, các cấp chính quyền tuy đã có nhiều quan tâm, cố gắng trong công tác chỉ đạo, giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai, nhưng đây vẫn là một trong những nội dung quản lý đất đai gây sức ép đối với cơ quan nhà nước
Giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản lý nhà nước về đất đai Việc giải quyết tốt khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai giúp tạo dựng được lòng tin của người dân đối với cơ quan nhà nước, tình hình sử dụng đất ngày càng đi vào nề nếp, quản lý đất đai ngày càng đạt hiệu quả, nhờ đó góp phần
ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Trang 13Trong những năm gần đây, mặc dù đã được UBND huyện quan tâm chỉ đạo sâu sát trong lĩnh vực tiếp công dân, thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tranh chấp, tố cáo, tuy nhiên tình hình khiếu nại, tố cáo về lĩnh vực đất đai của công dân trên địa bàn huyện Hải Lăng ngày càng có xu hướng tăng nhanh cả về quy mô, số lượng và tính chất phức tạp Việc giải quyết các khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai của công dân trên địa bàn huyện Hải Lăng có lúc, có nơi còn chưa kịp thời, còn bộc lộ những hạn
chế nhất định Xuất phát từ thực tế đó, tôi chọn đề tài: “Đánh giá thực trạng công tác
giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai tại huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị” làm đề tài nghiên cứu cho Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý đất đai
2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
2.1 Mục tiêu chung
Nắm được thực trạng và những tồn tại trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Hải Lăng và đề xuất các giảỉ pháp khắc phục để nâng cao hiệu quả của công tác này
về đất đai trong thời gian tới
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
3.1 Ý nghĩa khoa học
Thông qua việc áp dụng các quy định pháp luật vào thực tiễn trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai tại huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị để thấy được những vướng mắc, bất cập trong hệ thống pháp luật hiện hành, từ đó đề xuất sửa đổi,
bổ sung để hoàn thiện hệ thống pháp luật đất đai, góp phần hỗ trợ chính quyền các cấp trong việc ra các văn bản, chính sách liên quan đến giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai cũng như các văn bản để quản lý nhà nước về đất đai tại huyện Hải Lăng
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1 Đất đai và đặc điểm của đất đai
a Khái niệm về đất đai
Có nhiều quan điểm khác nhau về đất đai tuỳ theo từng góc nhìn khác nhau, tùy theo mục đích sử dụng đất đai, một vài khái niệm cơ bản như sau:
- Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó như: khí hậu, bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn động thực vật, trạng thái định cư của con người,
những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (như san nền, hố chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường sá nhà cửa…)[16]
- Đất đai là tài sản quốc gia, là tư liệu sản xuất chủ yếu, là đối tượng lao động đồng thời cũng là sản phẩm lao động Đất là mặt bằng để phát triển nền kinh tế quốc dân Mỗi khu vực, mỗi quốc gia có khái niệm khác nhau về Đất đai Ở nước ta, Luật Đất đai 2013 của Việt Nam quy định: Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá,
là tư liệu sản xuất đặt biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh
và quốc phòng [26]
b Đặc điểm của đất đai
- Đất là một vật thể mang tính lịch sử: Đất là một vật thể tự nhiên xuất hiện ngoài
ý chí của con người Cùng với quá trình phát triển của lịch sử, sự phát triển của loài người ngày càng cao, nhu cầu của xã hội tăng lên về mọi mặt cả vật chất lẫn tinh thần Trong khi đó đất đai là điều kiện ban đầu cho quá trình sản xuất nhưng lại hạn chế về số lượng, cố định về vị trí và không thể thay thế được, chính vì vậy mà trong quá trình sử dụng con người phải bổ sung chất dinh dưỡng, các biện pháp kỹ thuật
Như vậy, từ buổi sơ khai, đất là một vật thể tự nhiên, sau khi con người sử dụng và chuyển tải sức lao động vào đất dần dần làm cho đất mang trong nó quá trình lao động xã hội, đất trở thành thực thể tự nhiên, sẽ không có sự tồn tại của con người nếu không có đất Đất là sản phẩm tự nhiên xuất hiện trước và tồn tại ngoài ý muốn của con người, song
bị con người chi phối trong quá trình khai thác và sử dụng
Trang 15- Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt:
Đất đai là điều kiện chung nhất đối với mọi ngành sản xuất và hoạt động của con người Đất đai vừa là đối tượng lao động vừa là phương tiện lao động Vì vậy, đất đai
là tư liệu sản xuất đặc biệt, với những hình thức sử dụng khác nhau sẽ đem lại hiệu quả sản xuất khác nhau, đặc biệt nó khác với các loại tài sản khác vì nó chiếm vị trí quan trọng quyết định trong việc chi phối các quan hệ sở hữu trên nó, vừa là tài sản có thể tham gia hoặc không tham gia vào vòng chuyển hàng hóa, tùy thuộc vào quan hệ sản xuất xã hội
Trong nông nghiệp, đất không chỉ là cơ sở không gian, là điều kiện vật chất cần thiết cho sự tồn tại của ngành sản xuất này, mà đất còn là yếu tố tích cực của sản xuất,
độ phì nhiêu của đất, có ảnh hưởng lớn đến quá trình sản xuất nông nghiệp, đóng vai trò quyết định năng suất, sản lượng của các loại cây trồng Chính vì vậy mà đất đai là
tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt trong nông nghiệp
* Ngoài ra đất đai còn có một số đặc điểm khác:
- Đặc điểm tạo thành: Đất đai là một vật thể tự nhiên, đặc biệt là sản phẩm tạo
thành cho quá trình hoạt động tổng hợp của đá mẹ, khí hậu, sinh vật, tuổi của khu vực
và địa hình nội đất được tạo thành
- Tính hạn chế về số lượng: Đất đai là tài nguyên có hạn, giới hạn về diện tích
trong phạm vi ranh giới của lục địa Đất đai là sản phẩm của tự nhiên nên có tính nguyên thủy không thể tái sinh và diện tích của đất đai là do kích thước của quả đất quy định
- Tính không đồng nhất: Đất đai được hình thành do quá trình phong hóa đất
đá, quá trình tổng hợp của các yếu tố đá mẹ, khí hậu, sinh vật tuổi và địa hình của từng khu vực, quá trình sử dụng của con người sẽ có vai trò quyết định đến chất lượng, hàm lượng dinh dưỡng ở trong đất Vì vậy, các thửa đất ở vị trí khác nhau sẻ có những tính chất về hóa, lý tính khác nhau
- Tính không thay thế: Thay thế đất đai bằng các tư liệu sản xuất khác là điều
không thể được, đặc biệt là trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, bởi đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không có đất thì con người không thể thực hiện quá trình sản xuất và không thể tồn tại được
- Tính cố định về vị trí: Vị trí đất đai hoàn toàn cố định, con người không thể sử
dụng mọi hình thức để thay đổi vị trí của đất từ nơi này sang nơi khác Chính nét khác biệt này đã tạo nên những giá trị rất riêng đối với khu đất khác nhau thì có giá trị khác nhau
- Tính vĩnh cửu: Trong quá trình sản xuất, mọi tư liệu sản xuất khác đều chịu sự
phá hủy của thời gian đều bị hao mòn hư hỏng và dần dần để đào thải thay thế bằng các tư liệu sản xuất khác tốt hơn, phù hợp hơn
Trang 16Đối với đất đai, xét về mặt của không gian thì đất là tư liệu vĩnh cửu sự phá hủy của thời gian Nếu chúng ta sử dụng đi đôi với bảo vệ và cải tạo hợp lý thì chất lượng đất sẽ tốt lên Khả năng tăng độ phì nhiêu này phụ thuộc vào phương thức sử dụng đất là yếu tố quan trọng làm cho đất mang tính vĩnh cửu
1.1.2 Khiếu nại và giải quyết khiếu nại về đất đai
Khiếu nại được ghi nhận tại Điều 30 Hiến pháp năm 2013 “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân” [28]
Theo khoản 1, Điều 2, Luật Khiếu nại 2011: “Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do pháp luật quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại QĐHC, HVHC của cơ quan HCNN, của người có thẩm quyền trong cơ quan HCNN hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình” [23]
Từ các định nghĩa trên cho thấy quyền khiếu nại hành chính phát sinh khi quyền, lợi ích hợp pháp của công dân bị ảnh hưởng trực tiếp bởi QĐHC, HVHC Người khiếu nại là công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức thực hiện quyền khiếu nại Người bị khiếu nại là cơ quan HCNN hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan HCNN
có QĐHC, HVHC bị khiếu nại; cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có quyết định kỷ luật cán bộ, công chức bị khiếu nại
Trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất, việc giải quyết khiếu nại nhằm đảm bảo cho mọi quan hệ giữa Nhà nước và người sử dụng đất và giữa những người sử dụng đất với nhau được thực hiện theo đúng chính sách, pháp luật đất đai Tại Khoản 1, Điều 204 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Người sử dụng đất, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến sử dụng đất có quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai” [26] Pháp luật hiện hành chưa quy định cụ thể thế nào là khiếu nại hành chính về đất đai Tuy nhiên, từ các khái niệm chung về khiếu nại, có thể hiểu khái niệm khiếu nại hành chính về đất đai là việc công dân, cơ quan, tổ chức đề nghị cơ quan, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại những QĐHC, HVHC trong quản lý đất đai khi có căn cứ cho rằng những QĐHC, HVHC đó
là trái pháp luật, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình
QĐHC là văn bản do cơ quan HCNN hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan HCNN ban hành để quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý HCNN được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể HVHC là hành vi của
cơ quan HCNN, của người có thẩm quyền trong cơ quan HCNN thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật[23]
Trang 17Trong lĩnh vực quản lý đất đai, các QĐHC hoặc HVHC bị khiếu nại được quy định tại bị khiếu nại bao gồm: (1) Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; (2) Quyết định bồi thường, hỗ trợ, GPMB, tái định cư; (3) Quyết định cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận QSDĐ; (4) Quyết định gia hạn thời hạn sử dụng đất [5]
HVHC trong quản lý đất đai bị khiếu nại là hành vi của cán bộ công chức nhà nước khi thực hiện công việc liên quan trực tiếp đến các QĐHC về giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất; cấp và thu hồi giấy chứng nhận QSDĐ, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và hành vi gia hạn thời hạn
sử dụng đất cho người sử dụng đất
Như vậy, các quyết định và HVHC nêu trên nếu bị khiếu nại sẽ được giải quyết theo quy định của Luật Đất đai Ngoài các trường hợp đã viện dẫn ở trên, nếu các QĐHC, HVHC trong quản lý đất đai mà bị khiếu nại thì việc giải quyết tuân thủ theo quy định của pháp luật khiếu nại
Giải quyết khiếu nại là việc thụ lý, xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết khiếu nại Người giải quyết khiếu nại là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật [23]
Như vậy, có thể hiểu, giải quyết khiếu nại về đất đai của các cơ quan HCNN là hoạt động kiểm tra, xác minh kết luận về tính hợp pháp và tính hợp lý của QĐHC, HVHC trong lĩnh vực đất đai bị khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan HCNN để có biện pháp giải quyết theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức và lợi ích chung của nhà nước và xã hội
Giải quyết khiếu nại phải dựa trên các nguyên tắc: a) Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý; b) Bảo đảm lợi ích của người sử dụng đất, nhất là lợi ích kinh tế, khuyến khích việc đối thoại; c) Giải quyết khiếu nại về đất đai phải nhằm mục đích ổn định về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội gắn việc giải quyết khiếu nại về đất đai với việc tổ chức lại sản xuất, bố trí lại cơ cấu sản xuất hàng hóa; d) Đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa [26]
Thẩm quyền giải quyết khiếu nại đất đai của cơ quan HCNN là nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan HCNN nhân danh nhà nước tiến hành xem xét, đánh giá, tính hợp pháp, hợp lý của các QĐHC, HVHC trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm bảo về quyền, lợi ích hợp pháp
của người sử dụng đất (công dân, cơ quan, tổ chức)
Trang 181.1.3 Tố cáo và giải quyết tố cáo về đất đai
Khoản 1 Điều 2 Luật tố cáo năm 2018 quy định: “Tố cáo là việc cá nhân theo thủ tục quy định của Luật này báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc
đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan,
tổ chức, cá nhân, bao gồm: Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ; Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực” [29]
Mục đích của tố cáo không chỉ dừng ở việc bảo vệ, khôi phục quyền và lợi ích của người tố cáo mà cao hơn thế là bảo vệ lợi ích của Nhà nước, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ công chức Nhà nước vững về chính trị, giỏi về chuyên môn để “chí công, vô tư” trong khi thi hành công vụ, nhiệm vụ Nhà nước
Pháp luật hiện hành quy định, khi phát hiện hành vi VPPL của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc quản lý, sử dụng đất gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức thì mọi công dân có quyền báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết để giải quyết theo quy định của pháp luật Tố cáo hành vi VPPL của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ là việc công dân báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi VPPL của cán bộ, công chức, viên chức trong việc
thực hiện nhiệm vụ, công vụ [29]
Giải quyết tố cáo là việc tiếp nhận, xác minh, kết luận về nội dung tố cáo và việc
xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo Người tố cáo là công dân thực hiện quyền tố cáo Người bị tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi bị tố cáo Người giải quyết tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo Nguyên tắc giải quyết tố cáo được quy định tại Điều 4, Luật tố cáo năm 2011, nay là Điều 4, Luật
Tố cáo năm 2018: “Việc giải quyết tố cáo phải kịp thời, chính xác, khách quan, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục và thời hạn theo quy định pháp luật; bảo đảm an toàn cho người tố cáo; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tố cáo trong quá trình giải quyết tố cáo” [29]
Điều 205 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Cá nhân có quyền tố cáo VPPL về quản lý và sử dụng đất đai Việc giải quyết tố cáo VPPL về quản lý và sử dụng đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo” [26] Đây là một quy định mang tính dẫn chiếu, theo đó thẩm quyền, trình tự thủ tục giải quyết KNTC về đất đai sẽ thực hiện theo các quy định của Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo
Giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai của các cơ quan HCNN là việc kiểm tra, xác minh, kết luận về tính hợp pháp của hành vi bị tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của các
cơ quan HCNN để có biện pháp giải quyết theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ lợi ích của nhà nước, của các hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức
Trang 19Pháp luật đất đai quy định, cá nhân có quyền tố cáo các vi phạm về quản lý và sử dụng đất đai [26] Việc giải quyết tố cáo vi phạm pháp luật về đất đai được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo; từ đó, cho thấy thẩm quyền giải quyết
tố cáo về đất đai như sau: Hành vi vi phạm pháp luật đất đai bị tố cáo thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ chức nào thì cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết Người bị tố cáo hành vi vi phạm quy định về nhiệm vụ, công vụ trong lĩnh vực đất đai thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ chức nào thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết Người bị tố cáo về hành vi vi phạm quy định về nhiệm vụ, công vụ trong lĩnh vực đất đai là người đứng đầu cơ quan, tổ chức thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp có trách nhiệm giải quyết Người đứng đầu cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giải quyết các tố cáo về lĩnh vực đất đai thuộc thẩm quyền của mình, trường hợp cần thiết thì giao cho cơ quan thanh tra tiến hành thẩm tra, xác minh, kết luận và kiến nghị biện pháp xử lý
1.1.4 Tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai
Theo Khoản 24, Điều 3, Luật Đất đai 2013 thì tranh chấp đất đai là tranh chấp
về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai [26] Trong khái niệm này cần lưu ý: đối tượng của tranh chấp đất đai không phải
là quyền sở hữu đất, các chủ thể tham gia tranh chấp không phải là các chủ thể có quyền sở hữu đối với đất Đây là điều không phải bàn cãi vì Điều 53, Hiến pháp 2013 hay Điều 4, Luật đất đai 2013 quy định rất rõ đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý
Giải quyết mọi trường hợp tranh chấp đất đai phải đảm bảo nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý; kiên quyết bảo vệ những thành quả cách mạng về ruộng đất, đồng thời sửa lại theo đúng pháp luật những trường hợp xử lý không đúng Giải quyết các tranh chấp đất đai phải nhằm mục đích phát triển sản xuất, ổn định và từng bước cải thiện đời sống của nhân dân Thực chất của tranh chấp về đất đai là tranh chấp về tài sản dân sự nên giải quyết tranh chấp về đất đai phải theo nguyên tắc của Bộ luật Tố tụng dân sự, trong đó
nêu cao việc hoà giải Chính vì vậy, Luật Đất đai 2013 và Nghị định
01/2017/NĐ-CP sửa đổi nghị định hướng dẫn Luật đất đai, quy định khuyến khích các bên TCĐĐ
tự hòa giải hoặc giải quyết TCĐĐ thông qua hòa giải ở cơ sở, nếu không hòa giải được thì gửi đơn đến UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải [26],[10]
Trên thực tế, tranh chấp đất đai không chỉ là hiện tượng phổ biến mà trong đó còn hết sức đa dạng về chủ thể cũng như nội dung tranh chấp Tuy nhiên, về cơ bản tranh chấp đất đai được chia thành ba dạng như sau:
- Tranh chấp về quyền sử dụng đất: là những tranh chấp giữa các bên với nhau
về việc ai có quyền sử dụng hợp pháp đối với một mảnh đất nào đó Trong dạng tranh
Trang 20chấp này chúng ta thường gặp các loại tranh chấp về ranh giới đất; tranh chấp về quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất trong các quan hệ ly hôn, thừa kế; tranh
chấp đòi lại đất (đất đã cho người khác mượn sử dụng mà không trả lại, hoặc tranh chấp giữa người dân tộc thiểu số với người đi xây dựng vùng kinh tế mới v.v…)
- Tranh chấp về quyền, nghĩa vụ phát sinh trong quá trình sử dụng đất: dạng tranh chấp này thường xảy ra khi các chủ thể có những giao dịch dân sự về
quyền sử dụng đất như tranh chấp về quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng chuyển nhượng, cho thuê quyền sử dụng đất hoặc các tranh chấp liên quan đến việc bồi thường giải phóng mặt bằng, tái định cư…
- Tranh chấp về mục đích sử dụng đất: đây là dạng tranh chấp ít gặp hơn,
những tranh chấp này liên quan đến việc xác định mục đích sử dụng đất là gì Thông thường những tranh chấp này cũng dễ có cơ sở để giải quyết vì trong quá trình phân bổ đất đai cho các chủ thể sử dụng, Nhà nước đã xác định mục đích sử dụng đất thông qua quy hoạch sử dụng đất Tranh chấp chủ yếu do người sử dụng đất sử dụng sai mục đích so với khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất
Giải quyết tranh chấp đất đai, với ý nghĩa là một nội dung của chế độ quản lý nhà nước đối với đất đai, được hiểu là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhằm tìm ra các giải pháp đúng đắn trên cơ sở pháp luật, nhằm giải quyết các bất đồng, mâu thuẫn giữa các bên, khôi phục lại quyền lợi cho bên bị xâm hại Đồng thời xử lý đối với các hành vi VPPL đất đai
Tranh chấp đất đai có thể được giải quyết theo phương thức khởi kiện tại Tòa án
có thẩm quyền hoặc khiếu nại lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền Hòa giải tranh chấp đất đai được quy định tại Điều 202 Luật Đất đai năm 2013 và tại Điều 88 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15/05/2014 quy định chi tiết thi hành một
số điều của Luật Đất đai [26],[8]:
- Giải quyết tranh chấp đất đai theo trình tự tố tụng (dân sự): Tòa án chỉ thụ
lý giải quyết các vụ việc tranh chấp đất đai khi đương sự có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai năm
2013 và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất Việc giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án được thực hiện theo quy định chung tại Bộ luật tố tụng dân sự Theo đó, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp để
khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền (Tòa án nơi có bất động sản đó)
- Giải quyết tranh chấp đất đai theo trình tự hành chính: trình tự này sẽ được
áp dụng đối với những tranh chấp mà các đương sự không có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất theo quy định và lựa chọn giải quyết tranh chấp tại UBND Đối với TCĐĐ giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì khiếu nại đến chủ thể
có thẩm quyền giải quyết là Chủ tịch UBND cấp huyện Nếu một bên hoặc các bên
Trang 21đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch UBND cấp tỉnh
Như vậy, giải quyết tranh chấp đất đai là việc vận dụng đúng đắn các quy định của pháp luật để bảo vệ tốt nhất các quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 Cơ sở thực tiễn về các vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam
* Chủ trương, chính sách của Đảng, văn bản pháp luật của Nhà nước và công tác chỉ đạo về giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai
Khiếu nại, tố cáo là quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp,
là công cụ pháp lý để công dân bảo vệ quyền và lợi ích của mình khi bị xâm phạm, là biểu hiện của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Khiếu nại, tố cáo là một kênh thông tin khách quan phản ánh việc thực thi quyền lực của bộ máy nhà nước, phản ánh tình hình thực hiện công vụ của cán bộ, công chức Do đó, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo không những có vai trò quan trọng trong quản lý nhà nước, mà còn thể hiện mối quan
hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân Thông qua giải quyết khiếu nại, tố cáo, Đảng và Nhà nước kiểm tra tính đúng đắn, sự phù hợp của đường lối, chính sách, pháp luật do mình ban hành, từ đó có cơ sở thực tiễn để hoàn thiện sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước Vì vậy, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân là một vấn đề được Đảng, Nhà nước và nhân dân đặc biệt quan tâm Để việc khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo đúng pháp luật, góp phần phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức và tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, vững chắc hơn trong giải quyết khiếu nại, tố cáo, Nhà nước ta đã ban hành Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998; Luật khiếu nại năm 2011, Luật tố cáo năm 2011; Luật tố cáo năm 2018
Chính phủ xác định công tác giải quyết KNTC nói chung và công tác giải quyết KNTC về đất đai nói riêng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, từ đó có nhiều biện pháp chỉ đạo nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết KNTC, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, phục vụ các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội Bên cạnh việc hoàn thiện pháp luật, chấn chỉnh và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai nhằm hạn chế phát sinh KNTC, Chính phủ đã có nhiều biện pháp tập trung giải quyết KNTC của công dân đối với các QĐHC
về đất đai
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản, chỉ thị như: Chỉ thị số 26/2001/CT-TTg ngày 09/10/2001 về việc tạo điều kiện để Hội Nông dân các cấp tham gia giải quyết KNTC của nông dân [30]; Chỉ thị số 05/2004/CT-TTg ngày 09/02/2004
về việc triển khai thi hành Luật Đất đai năm 2003 [32]; Chỉ thị số 36/2004/CT-TTg ngày
Trang 2227/10/2004 về chấn chỉnh và tăng cường trách nhiệm của Thủ trưởng các cơ quan HCNN trong công tác giải quyết KNTC [33]; Chỉ thị số 1940/CT-TTg ngày 31/12/2008
về nhà, đất liên quan đến tôn giáo [34]; Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 14/5/2012 về chấn chỉnh và nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân, giải quyết KNTC [36]; Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 26-5-2014 của Bộ Chính trị về về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo [3]; Nghị quyết số 39/2012/QH13 ngày 23/11/2012 tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân đối với các quyết định hành chính về đất đai [25]; Quyết định số 312/QĐ-TTg ngày 07/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ Về việc phê duyệt Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 39/2012/QH13 ngày 23 tháng 11 năm 2012 của Quốc hội về việc tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân đối với các quyết định hành chính về đất đai [37]
* Khái quát thực trạng tình hình khiếu nại tố cáo, tranh chấp đất đai và công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai hiện nay
Từ nhiều năm nay, tình hình khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai luôn là vấn đề bức bách được Đảng, Nhà nước và toàn xã hội quan tâm Đảng và Nhà nước đã có nhiều Chỉ thị, Nghị quyết về vấn đề này Các văn bản đó đã và đang được triển khai thực hiện, có tác động tích cực đến tình hình khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai Nhờ vậy, nhiều “điểm nóng”, nhiều vụ việc phức tạp đã được giải quyết, góp phần ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của đất nước Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, thời gian gần đây tình hình khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai của công dân diễn ra không bình thường, số lượng gia tăng, tính chất phức tạp, trong
đó khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai chiếm số lượng lớn, khoảng 80% so với các khiếu nại, tố cáo trong cả nước Bộ Tài nguyên và Môi trường và các cấp chính quyền địa phương đã có nhiều cố gắng và tích cực phối hợp giải quyết KNTC của công dân, nhiều vụ việc KNTC về đất đai đã được giải quyết dứt điểm, bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, quá trình thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, tình hình KNTC của công dân trong lĩnh vực
đất đai vẫn phức tạp và chiếm tỷ lệ cao Nhiều vụ việc tồn đọng kéo dài nhiều năm (có
vụ việc kéo dài hơn 10 năm) nhưng chưa dứt điểm, nhiều điểm nóng công dân kéo
đông người lên cơ quan Trung ương tại Hà Nội và Hồ Chí Minh ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự xã hội
Theo báo cáo của Chính phủ, từ 2013 đến 2018, tình hình khiếu nại, tố cáo của công dân có xu hướng giảm so với những giai đoạn trước, số đơn khiếu nại tố cáo giảm 54,6%; số vụ việc khiếu nại tố cáo thuộc thẩm quyền của cơ quan hành chính giảm 39,3%
Trang 23Tuy nhiên, tình hình khiếu nại tố cáo vẫn diễn biến phức tạp và gay gắt ở một số địa phương, nhất là những thời điểm diễn ra các sự kiện chính trị quan trọng như Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2016-
2021, bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ
2016-2021 Đặc biệt, tình hình khiếu kiện đông người tiềm ẩn nhiều diễn biến phức tạp, khó lường có đoàn lên tới vài trăm người với thái độ bức xúc, gay gắt, nhiều lần tập trung lên Trung ương Đáng chú ý, các đoàn công dân khiếu kiện đông người có sự liên kết với nhau, tổ chức chặt chẽ và được sự ủng hộ lương thực, tiền của một số tổ chức tự phát Các vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, chủ yếu là về bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội; khiếu nại đòi lại cơ sở tôn giáo; khiếu nại đòi lại nhà đất trước đây có sử dụng nhưng nay tổ chức, cá nhân khác sử dụng; khiếu nại tranh chấp đất đai trong nhân dân; tố cáo cán
bộ, công chức vi phạm pháp luật, có dấu hiệu tiêu cực, tham nhũng, gây thất thoát, lãng phí, làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; tố cáo chủ dự án được giao đất, cho thuê đất không sử dụng đất, để đất đai hoang hoá, lãng phí hoặc bán dự án kiếm lời; có những trường hợp từ việc khiếu nại nhưng không đạt được mục đích đã chuyển sang tố cáo cán bộ, công chức giải quyết Đáng lo ngại là khiếu nại, tố cáo đang bị kẻ xấu lợi dụng kích động, xuyên tạc, bôi xấu, đe doạ và ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, tác động tiêu cực vào tâm lý, của cán bộ, nhân dân
- Về tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo: Các cơ quan hành chính nhà nước đã tiếp nhận, xử lý 386.572 đơn khiếu nại, tố cáo với 268.225 vụ việc Trong đó:
+ Về khiếu nại: tiếp nhận, xử lý 317.305 đơn khiếu nại (giảm 56,5% so với giai đoạn 2008-2012) với 233.028 vụ việc (giảm 55,3%); trong đó có 169.512 vụ việc thuộc thẩm quyền (giảm 41,7%), chiếm 84,7% tổng số vụ việc KNTC thuộc thẩm quyền
+ Về tố cáo: tiếp nhận, xử lý 69.267 đơn tố cáo với 45.197 vụ việc
- Về giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền: Các cơ quan hành chính nhà nước giải quyết 199.567 vụ việc KNTC thuộc thẩm quyền trong tổng số 237.168 vụ việc
(đạt trên 84%) Qua giải quyết KNTC đã thu hồi về cho Nhà nước gần 860,7 tỷ đồng, 316
ha đất; khôi phục quyền lợi cho 13.617 công dân với số tiền 512 tỷ đồng và 418,6 ha đất; kiến nghị xử lý hành chính 2519 người; chuyển cơ quan điều tra 205 với 188 người + Về khiếu nại: Đã giải quyết 166.057 vụ việc trong tổng số 198.835 vụ việc thuộc
thẩm quyền (đạt 83,5 %) Qua phân tích cho thấy, có 16,4% khiếu nại đúng, 13,1% khiếu
nại có đúng, có sai và 70,5% khiếu nại sai
+ Về tố cáo: Đã giải quyết 33.510 vụ việc trong tổng số 38.333 vụ việc thuộc thẩm
quyền (đạt 87,4 %) Qua phân tích cho thấy, có 12,4% tố cáo đúng; 28,3% tố cáo có
đúng, có sai; 59,3% tố cáo sai
Trang 241.2.2 Cơ sở thực tiễn về các vấn đề nghiên cứu ở một số nước trên thế giới
Theo một số tài liệu nghiên cứu thì ở nhiều nước trên thế giới, mặc dù việc giải quyết các khiếu kiện hành chính đã có từ lâu và hiện nay đã đi vào nề nếp, song ngoài việc xác định thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính của Tòa án thì nhiều nước vẫn duy trì và coi trọng việc giải quyết khiếu nại của cơ quan hành chính Một số nước còn coi việc giải quyết khiếu nại qua cấp hành chính là thủ tục bắt buộc trước khi người khiếu nại khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án hành chính hoặc Tòa án tư pháp Đa số các nước vẫn cho phép công dân có quyền lựa chọn khiếu nại đến cơ quan hành chính - cơ quan đã ban hành QĐHC hoặc thực hiện HVHC để thực hiện việc khiếu nại Điểm đáng lưu ý là hầu hết các nước đều xác định khiếu nại hành chính dù
đã được giải quyết bởi cơ quan hành chính hoặc cơ quan chuyên trách giải quyết khiếu nại hành chính thì đương sự vẫn có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án Xem xét cách tổ chức thực hiện hoạt động giải quyết khiếu nại hành chính một số nước trên thế giới để có thể hiểu rõ hơn về vấn đề này
tư pháp và lập pháp đảm bảo bất cứ một khiếu nại nào của người dân cũng được xem xét thấu đáo và thoả đáng
Về cơ chế giải quyết KNHC, công dân tự mình khiếu nại tới cơ quan hành chính
nhà nước (CQHCNN) cấp trên quản lý trực tiếp CQHCNN có quyết định hành chính (QĐHC) bị khiếu nại hoặc ủy nhiệm cho Luật sư khiếu nại Trong quá trình giải quyết,
CQHC có thẩm quyền giải quyết tiến hành thẩm tra nội dung khiếu nại, tổ chức để công dân trình bày nội dung khiếu nại, yêu cầu của họ và để CQHC có QĐHC bị khiếu nại biện minh về việc ra quyết định đó; những người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan được tham gia buổi làm việc này Để giải quyết khiếu nại, CQHC có thẩm quyền giải quyết ra quyết định có nội dung bãi khiếu nại khi có đủ căn cứ khiếu nại vi phạm các quy định thủ tục hoặc chấm dứt việc khiếu nại khi có đủ căn cứ khiếu nại là không
có cơ sở và khẳng định QĐHC ban hành đúng pháp luật; yêu cầu CQHC cấp dưới hủy
bỏ QĐHC hoặc sửa đổi, bổ sung QĐHC của mình nếu vi phạm pháp luật, đồng thời
khắc phục hậu quả (nếu có) Không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại, công
dân có quyền khởi kiện tại Tòa án
Trang 25* Hàn Quốc
Giải quyết KNHC ở Hàn Quốc do nhiều cơ quan thực hiện: các cơ quan hành
chính, cơ quan Chống tham nhũng và Bảo vệ quyền công dân (ACRC) và Cơ quan
thanh tra, kiểm toán Hàn quốc không có sự phân định rõ ràng giữa khiếu nại, tố cáo hay phản ánh, kiến nghị Mỗi khi người dân có điều gì đó không hài lòng và khiếu kiện thì các cơ quan nhà nước tùy từng trường hợp mà xử lý sao cho có hiệu quả Cơ chế giải quyết khá mềm dẻo và linh hoạt Hàn Quốc cũng có nhiều hình thức tiếp nhận
và xử lý khiếu nại, nhưng hiện nay khiếu nại qua mạng ngày càng nhiều và có hình thức tiếp nhận khiếu nại lưu động tại các vùng sâu vùng xa và coi trọng việc đến tận nơi để lắng nghe và xử lý tại chỗ bằng cách trao đổi với các bên trong tranh chấp Công việc này mang tính chất hoà giải và được làm ngay tại địa phương cơ sở
Uỷ ban Chống tham nhũng và Bảo vệ quyền công dân (ACRC) là cơ quan chịu
trách nhiệm chính trong công tác này Tại cơ quan Thanh tra, kiểm toán Hàn Quốc cũng có Vụ chuyên trách về tiếp nhận và xử lý KNHC, ở các địa phương dần dần cũng hình thành các bộ phận chuyên trách giúp chính quyền giải quyết các khiếu nại của người dân Trong giải quyết KNHC, Hàn Quốc quan tâm trước hết đến việc tìm ra phương án xử lý tranh chấp thông qua hoà giải thương lượng và thuyết phục các bên Với những vụ việc đơn giản thì thường gửi về cho chính cơ quan bị khiếu nại để giải quyết Vụ việc phức tạp hơn thì các cơ quan phối hợp để tiến hành thẩm tra, xác minh sau đó đưa ra yêu cầu với cơ quan có trách nhiệm
* Cộng hòa Pháp và Cộng hòa liên bang Đức
Việc giải quyết khiếu nại hành chính ở Cộng hoà Pháp và Cộng hoà Liên bang Đức được giao cho một cơ quan xét xử đặc biệt là các toà án hành chính độc lập hoàn toàn với các toà án tư pháp Cộng hòa Pháp là nước có lịch sử hơn 200 năm về tổ chức, thực hiện hoạt động tài phán hành chính; Cộng hòa liên bang Đức có Tòa án hành chính từ nửa sau thể kỷ 19 Đến nay, cả hai nước này đều có hệ thống cơ quan tài phán hành chính được tổ chức và hoạt động rất chặt chẽ, song việc giải quyết khiếu nại hành chính vẫn được coi trọng Nguyên nhân là do các nước này quan niệm rằng Tòa
án hành chính chỉ giải quyết tính hợp pháp của các QĐHC mà không thể giải quyết được các vấn đề phức tạp phát sinh trong quá trình quản lý, điều hành kinh tế xã hội như các cơ quan hành chính
1.2.3 Bài học kinh nghiệm trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo
Từ thực tiễn công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của các nước trên thế giới, để tăng hiệu quả trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong nước nói chung và địa bàn tỉnh Quảng Trị, huyện Hải Lăng nói riêng, bài học đặt ra là: trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo cần có cơ chế giải quyết mềm dẻo và linh hoạt; đa dạng hình thức tiếp nhận và xử lý khiếu nại, phát huy việc tiếp nhận khiếu nại qua mạng và hình
Trang 26thức tiếp nhận khiếu nại lưu động tại các vùng sâu vùng xa và coi trọng việc đến tận nơi để lắng nghe và xử lý tại chỗ bằng cách trao đổi với các bên trong tranh chấp Đây
là công việc mang tính chất hoà giải và được làm ngay tại địa phương cơ sở
1.3 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Trong những năm qua, tình hình khiếu nại, tố cáo, ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp Những vấn đề về giải quyết và pháp luật về khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai đã được nhiều nhà nghiên cứu khoa học quan tâm với các đề tài sau:
Tác giả Trần Trung với đề tài “Giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Hà Nội” (Năm 2011), đã phân tích rõ thực trạng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn thành phố Hà Nội Từ đó, tác giả tập trung đánh giá những nhân tố ảnh hưởng đến công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Hà Nội, những kết quả đạt được trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Hà Nội Đề tài đi sâu vào phân tích những hạn chế, yếu kém trong giải quyết khiếu nại, tố cáo; về công tác lãnh đạo, chỉ đạo; kỷ cương, kỷ luật hành chính; công tác tiếp dân; thẩm tra, xác minh; gặp
gỡ đối thoại; thi hành quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo đã có hiệu lực pháp luật
Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp cơ bản góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan HCNN tại của địa phương mình [35]
Tác giả Hoàng Quân với đề tài “Đánh giá công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2011-2015” (Năm 2016), đã tập trung phân tích những nội dung lý luận về giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai Tác giả đã đánh giá được tình hình tiếp nhận đơn thư và xử
lý đơn khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Cao Lộc giai đoạn 2011-2015; phân tích được những nguyên nhân phát sinh, những thuận lợi, khó khăn
và một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Cao Lộc; từ đó đề xuất được một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tiếp dân, xử lý đơn thư, khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai trên địa phương thời gian tới [17]
Với đề tài “Pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc” (Năm 2016), tác giả Trần Mạnh Hùng đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn
đề lý luận cơ bản của pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai như: Khái niệm, đặc điểm của GQKN về đất đai; khái niệm, đặc điểm pháp luật GQKN về đất đai, nội dung, vai trò của pháp luật GQKN về đất đai; tác giả đã phân tích đánh giá thực trạng pháp luật GQKN về đất đai và thực trạng việc thực hiện pháp luật GQKN về đất đai trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, qua đó thấy được những ưu điểm, hạn chế và tìm ra những nguyên nhân dẫn đến hạn chế đó Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất được những giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật GQKN về đất đai [38]
Trang 27Với đề tài “Nghiên cứu nguyên nhân và giải pháp để khắc phục tình trạng tranh chấp, khiếu nại đông người về đất đai” (Năm 2013), tác giả Đặng Thái Sơn đã phân tích, đánh giá quy mô, tính chất, đặc điểm của hình thái TCKN, tố cáo đông người về đất đai và phân loại chúng; tìm và phân loại nguyên nhân, xác định nguyên nhân chủ yếu,
cơ bản làm phát sinh và phát triển việc TCKN đông người về đất đai ở các dạng: Đất nông, lâm trường; đất liên quan đến vị trí địa giới hành chính; đất ở vùng đồng bào dân tộc; quyết định thu hồi giải tỏa; Đánh giá ảnh hưởng và hậu quả của việc TCKN đông người về đất đai; Từ đó phân tích, đề xuất các giải pháp góp phần hạn chế tình trạng TCKN đông người về đất đai ở các dạng nêu trên; đề xuất được quy trình giải quyết tranh chấp đông người về đất đai vùng đồng bào dân tộc [12]
Hội đồng phối hợp công tác phổ biến giáo dục pháp luật của Chính phủ ban hành các chuyên đề “Tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai và giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai” (Năm 2009) [15]; Chuyên đề “Pháp luật về khiếu nại” và Pháp luật về tố cáo” năm 2012 do tác giả Nguyễn Ngọc Tản chủ biên đã đưa
ra những vấn đề lý luận về KNTC, TCĐĐ và hệ thống hoá các quy định pháp luật hiện hành liên quan đến KNTC nói chung và trong lĩnh vực đất đai nói riêng [18] Đề tài “Cơ chế giải quyết khiếu nại - Thực trạng và giải pháp” (Năm 2009) của Viện nghiên cứu chính sách pháp luật và phát triển do Hoàng Ngọc Giao chủ biên đã nghiên cứu và tổng hợp các ý kiến độc lập của nhóm nghiên cứu xoay quanh cơ chế giải quyết khiếu nại, góp phần đánh giá thực trạng và hiệu quả của cơ chế giải quyết các khiếu nại của công dân đối với hoạt động của bộ máy nhà nước trong lĩnh vực quản lý, cụ thể là các quyết định và hành vi của cơ quan HCNN tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích của người dân, của doanh nghiệp [14]
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào thật sự có quy mô nghiên cứu chuyên sâu về thực trạng tranh chấp, KNTC về đất đai tại địa phương và đề ra các giải pháp để nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giải quyết tranh chấp, KNTC riêng trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị Vì vậy, việc nghiên cứu có hệ thống, toàn diện xuất phát từ việc đánh giá thực trạng KNTC, TCĐĐ
và phân tích rõ thực tiễn công tác giải quyết KNTC, TCĐĐ của các cơ quan HCNN để
đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết KNTC, TCĐĐ trên địa bàn huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, góp phần nâng cao hiệu lực công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Hải Lăng, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa là rất cần thiết
Trang 28Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai tại huyện Hải Lăng
- Các văn bản, quy phạm pháp luật liên quan đến khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai
- Một số vụ việc khiếu nại, tố cáo, tranh chấp trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi về thời gian
Số liệu và thông tin thu thập từ thời điểm năm 2013 đến năm 2018
* Phạm vi về không gian
Đề tài được thực hiện trên địa bàn huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội về địa bàn nghiên cứu
- Thực trạng tình hình khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai giai đoạn 2013-2018
- Đánh giá công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu
a Thu thập số liệu thứ cấp
- Thu thập các văn bản liên quan như Luật Đất đai năm 1993, 2003 và 2013, Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998, 2004, 2005, Luật khiếu nại năm 2011, Luật tố cáo 2011, Luật tố cáo năm 2018, Luật tiếp công dân năm 2013, Luật Tố tụng hành chính và các Nghị định, Thông tư hướng dẫn liên quan
- Các báo cáo, tài liệu liên quan đến tình hình và công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai tại Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Hải Lăng, Thanh tra huyện Hải Lăng, Ban tiếp công dân huyện Hải Lăng, Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng và UBND các xã, trị trấn trên địa bàn huyện Hải Lăng giai đoạn 2013-2018
Trang 29- Tham khảo các công trình đã nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của các tác giả
- Tài liệu giáo trình hoặc các xuất bản khoa học liên quan đến vấn đề nghiên cứu
b Thu thập số liệu sơ cấp
- Phỏng vấn sâu: Tiến hành tham vấn ý kiến 20 cán bộ lãnh đạo của UBND
huyện Hải Lăng, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Thanh tra huyện Hải Lăng, UBND cấp xã và Ban tiếp công dân, Đoàn Thanh tra trực tiếp tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai tại các cơ quan HCNN trên địa bàn huyện Hải Lăng; địa điểm phỏng vấn tại trụ sở làm việc của các lãnh đạo, cán bộ với các nội dung chủ yếu liên quan đến nguyên nhân phát sinh KNTC, TCĐĐ; công tác chỉ đạo, điều hành trong việc giải quyêt KNTC, TCĐĐ trên địa bàn huyện
- Điều tra, khảo sát thực địa: tiến hành đi thực địa để tìm hiểu cụ thể nguồn gốc vụ
việc tranh chấp, khiếu nại điển hình và quan điểm của các chủ thể sau khi chính quyền và Tòa án ra các quyết định mà đề tài minh họa
2.3.2 Phương pháp xử lý số liệu
Trên cơ sở các tài liệu, số liệu thu thập được và kết quả điều tra, phỏng vấn, từ
đó tiến hành lựa chọn, phân tích, tổng hợp những thông tin liên quan đến đề tài Thống kê và xử lý số liệu theo mục đích, nội dung nghiên cứu Việc xử lý số liệu, xây dựng các biểu đồ, đồ thị, bảng biểu được thực hiện trên phần mềm Excel
2.3.3 Phương pháp đối chiếu, so sánh
Trên cơ sở số liệu thu thập được, thực hiện so sánh, đối chiếu số liệu qua các năm, tình hình biến động tăng giảm để hoàn thành luận văn
Trang 30Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA HUYỆN HẢI LĂNG, TỈNH QUẢNG TRỊ
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
a Vị trí địa lý
Hải Lăng là huyện nằm ở phía Nam của tỉnh Quảng Trị, có toạ độ địa lý từ
16033'40'' đến 16048'00'' vĩ độ Bắc và từ 107004'01'' đến 108023'30'' kinh độ Đông
- Phía Bắc giáp huyện Triệu Phong và Thị xã Quảng Trị
- Phía Nam giáp huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Phía Đông giáp Biển Đông
- Phía Tây giáp huyện Đakrông
Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 42.479,68 ha, dân số 87.824 người (tính đến 31/12/2018), mật độ dân số 206 người/km2
Nằm trên vị trí có quốc lộ 1A, đường sắt Bắc - Nam (trục giao thông huyết mạch xuyên Việt), có bờ biển dài hơn 12 km với bãi tắm Mỹ Thủy, đã tạo cho Hải Lăng
điều kiện thuận lợi trong việc mở rộng giao lưu phát triển kinh tế, văn hóa không chỉ với các huyện khác trong vùng mà cả trong giao lưu kinh tế với cả khu vực Bắc Trung
Bộ và cả nước
Hình 3.1 Sơ đồ vùng nghiên cứu
(Nguồn: Uỷ ban nhân dân huyện Hải Lăng)
Trang 31* Vùng đồng bằng
Đây là vùng nằm giữa vùng gò đồi và vùng cồn cát, bãi cát, gồm các xã Hải Thọ; Hải Quế; Hải Tân; Hải Vĩnh; Hải Hòa; Hải Thành; Thị trấn Hải Lăng; phần còn lại của các xã vùng gò đồi; một phần các xã vùng cát như Hải Ba; Hải Thiện; Hải Dương, có một số khu vực thuộc các xã Hải Hòa, Hải Thành có độ cao thấp hơn mặt nước biển nên vào mùa mưa lũ hay bị ngập lụt, đất đai thích hợp cho trồng lúa nước
* Vùng cồn cát ven biển
Đây là vùng có độ cao bình quân 6 - 7m so với mực nước biển gồm các xã Hải
An, Hải Khê, thích hợp cho việc nuôi tôm theo quy mô công nghiệp
c Khí hậu
Hải Lăng nằm trong vùng chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa tương đối điển hình, gió Tây Nam khô nóng về mùa hè, gió Đông Bắc ẩm ướt về mùa Đông Nền nhiệt tương đối cao, tổng lượng nhiệt cả năm trên dưới 9.0000C, tổng lượng nhiệt này cho phép phát triển trồng trọt với đa dạng cây trồng
* Nhiệt độ
Chế độ nhiệt của Hải Lăng bị ảnh hưởng bởi địa hình thấp nhưng vẫn nằm trong miền khí hậu nhiệt đới gió mùa Nền nhiệt của vùng còn có sự phân hóa theo thời gian trong năm tạo nên mùa nóng và mùa lạnh Trong thời gian chuyển tiếp từ nóng sang lạnh và ngược lại có hoạt động của gió mùa từ Bắc bán cầu gây ra mưa và mưa phùn
Sự giảm thấp nhiệt độ trong mùa lạnh do ảnh hưởng thâm nhập của gió mùa Đông Bắc gây nên những đợt lạnh Trong mùa nóng do ảnh hưởng của gió Tây khô nóng, nhiệt
độ cao tuyệt đối của vùng có thể lên đến 41,70C
Nhiệt độ không khí trung bình trong năm vào khoảng 25,10C; nhiệt độ thấp nhất 9,40C ; nhiệt độ cao nhất là 41,70C
* Chế độ mưa
Hàng năm Hải Lăng nhận được một lượng mưa khá lớn, lượng mưa trung bình khoảng 2.500-2.700 mm Số ngày mưa phân bố không đều, trong các tháng cao điểm,
Trang 32trung bình mỗi tháng có 17-18 ngày mưa Mưa lớn gây ngập úng các vùng đất thấp, hạn chế, ảnh hưởng đến phát triển sản xuất, gây khó khăn trong đời sống sinh hoạt Thời kỳ ít mưa trùng với thời kỳ nắng nóng, lượng bốc hơi lớn, độ ẩm không khí thấp gây khô hạn trên diện rộng hạn chế khả năng gieo trồng, năng suất cây trồng
* Độ ẩm không khí
Độ ẩm tương đối trung bình từ 78 - 85% nhưng có thời điểm xuống dưới 40% (từ tháng 4 đến tháng 8)
* Chế độ gió
Hải Lăng chịu ảnh hưởng của hai hướng gió chính là gió mùa Tây Nam (từ tháng
3 đến tháng 9) và gió mùa Đông Bắc (từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau) Gió Tây Nam
khô nắng đã làm tăng đáng kể tính khắc nghiệt của thời kỳ khô hạn, làm tăng lượng bốc hơi, giảm độ ẩm không khí, gây cạn kiệt nguồn nước mặt, hạ thấp mặt nước ngầm
và ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi và cuộc sống của con người
* Bão và lũ lụt
Bão lụt thường xảy ra từ tháng 8 đến tháng 11, khi có bão mưa càng lớn gây ngập lụt kéo dài trên diện rộng làm thiệt hại lớn đến mùa màng, ảnh hưởng xấu đến sinh hoạt của nhân dân trong vùng
d Thủy văn
Hải Lăng có 04 sông chính sau:
- Hệ thống sông Ô Lâu - Ô Giang nằm ở phía Nam của huyện chảy qua các xã Hải Chánh, Hải Sơn, Hải Tân, Hải Hòa và đổ ra phá Tam Giang, có dòng chính dài khoảng 65 km, lưu lượng dòng chảy trung bình 44 m3/s, diện tích lưu vực 855 km2
- Sông Nhùng chảy từ Hải Lâm qua Hải Phú, Hải Thượng, Hải Quy đổ ra sông Thạch Hãn
- Sông Bến Đá chảy từ vùng gò đồi qua địa bàn xã Hải Trường chảy vào sông Ô Giang
- Sông Vĩnh Định bắt nguồn từ sông Thạch Hãn chảy qua trung tâm vùng đồng bằng của huyện đổ về sông Ô Giang
e Các nguồn tài nguyên
* Tài nguyên đất
Theo số liệu thống kê đất đai năm 2017, tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 42.479,68 ha Trong đó, đất chưa sử dụng còn 1.582,3 ha chiếm 3,74% tổng diện tích đất tự nhiên
Trang 33+ Nhóm cát ven biển: Có diện tích 4.840,00 ha, có khả năng khai thác để trồng
màu và cây công nghiệp
+ Nhóm đất phù sa được bồi và phù sa ngòi, suối:
- Đất phù sa được bồi: Có diện tích 2.623,00 ha có khả năng khai thác để trồng
màu và cây công nghiệp ngắn ngày
- Đất phù sa ngòi, suối: Có diện tích khoảng 20,00 ha, có thể trồng lúa
+ Nhóm phù sa không được bồi: Có diện tích 1.193,00 ha, thích hợp cho trồng
màu và cây công nghiệp ngắn ngày
+ Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng và đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa
nước: Có diện tích 723,00 ha, thành phần cơ giới thịt nhẹ, độ phì nhiêu trung bình có
thể trồng lúa, màu và cây công nghiệp ngắn ngày
+ Nhóm đất phù sa glây, thung lũng dốc tụ, đất lầy: Có diện tích 8.495,00 ha, nhóm
đất này đang sử dụng để trồng lúa nước và nuôi trồng thủy sản
+Nhóm đất than bùn: Có diện tích 23,00 ha, phân bố tại các xã có địa hình thấp
dễ bị ngập ún
+ Nhóm đất xám bạc màu, đất nâu vàng trên phù sa cổ: Có diện tích 1.052 ha,
phân bố ở những nơi có độ dốc từ 0 - 80, không được tưới nước
+ Đất nâu tím trên đá sét tím, đất đỏ vàng trên đá biến chất và đá sét: Thích hợp
cho trồng rừng, cây công nghiệp, có diện tích 16.049,00 ha
+ Đất vàng đỏ trên đá mác ma a xít và vàng nhạt trên đá cát: Có diện tích 3.026,00
ha, có tầng đất mỏng, thành phần cơ giới nhẹ, độ phì nhiêu kém
+ Đất xói mòn trơ sỏi đá: Có diện tích 780,00 ha, khó canh tác chủ yếu để phục
Trang 34* Tài nguyên biển
Vùng biển Hải Lăng là nơi cư ngụ của nhiều loại hải sản quý Với bờ biển dài 14
km, ngư trường đánh bắt rộng, thuận tiện cho việc khai thác gần bờ Do không có nơi neo đậu tàu thuyền nên việc khai thác thủy sản với quy mô lớn, đánh bắt xa bờ gặp nhiều khó khăn Vùng đất cát ven biển có tiềm năng lớn trong việc nuôi tôm theo phương pháp công nghiệp
* Tài nguyên khoáng sản
- Than bùn: Trữ lượng không lớn, phân bố rải rác, tổng trữ lượng khoảng 600.000 tấn, nhiệt lượng có thể đạt 3.500 kcal/kg, dùng sản xuất phân bón; phân bố ở Khe Chè, Hải Thọ, Hải Quế, Hải Xuân
- Si li cát: Phân bố dọc bờ biển phía đông của huyện, độ mịn hạt 0,5-1mm, chất lượng tốt và trữ lượng khá lớn
- Mỏ nước khoáng tự nhiên ở Hải Lăng có lưu lượng 1,7 lít/giây, nhiệt độ bình quân 530C, độ pH = 7
- Đất sét: Phân bố ở nhiều nơi, dọc bờ sông Nhùng, xã Hải Chánh; đất sét trắng ở Hải Thượng, Hải Phú
- Cao lin ở La Vang
* Tài nguyên nhân văn
Hải Lăng là địa phương có truyền thống đấu tranh cách mạng, nhân dân lao động cần cù, sẵn sàng hy sinh trong chiến tranh bảo vệ tổ quốc cũng như trong xây dựng đất nước trong thời kỳ đổi mới Mặc dù bị chiến tranh tàn phá nặng nề song nhân dân Hải Lăng vẫn kiên cường bất khuất trong chiến tranh, năng động
sáng tạo trong công cuộc đổi mới
Trang 35Hình 3.2 Cơ cấu các ngành kinh tế ở huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị năm 2018
(Nguồn: Ủy ban nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị)
- Lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp: Chiếm 32.1% trong cơ cấu các ngành kinh tế,
trong đó tốc độ tăng trưởng đạt 12.23%, tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 8,66 vạn tấn, giá trị sản xuất đất canh tác đạt 74,44 triệu đồng/ha
+ Huyện Hải Lăng đã thành lập 3 tổ hợp tác tích tụ ruộng đất theo hình thức thuê
đất được 39,1 ha Xây dựng cánh đồng lúa lớn 834,8 ha (Đông Xuân 471,4 ha, Hè Thu 363,4 ha); trong đó, 125 ha có hợp đồng liên kết tiêu thụ sản phẩm với các doanh nghiệp; liên kết với doanh nghiệp sản xuất và tiêu thụ lúa hữu cơ 167,75 ha (bình quân 38,3 triệu đồng/ha/vụ, cao gấp 1,3-2 lần so với sản xuất đại trà)
+ Hiện đang quy hoạch, phân lô trồng cam kết hợp dịch vụ sinh thái tại vùng Khe Khế, xã Hải Phú với diện tích 131 ha, thu hút doanh nghiệp vào đầu tư mô hình hữu cơ trình diễn gắn với phát triển dịch vụ khu vực La Vang
+ Toàn huyện có 02 mô hình chăn nuôi lợn gia công tại Hải Phú quy mô 1.200 lợn thịt/lứa và tại Hải Thượng quy mô 700con/lứa; có 75 mô hình chăn nuôi quy mô trên 100 con/lứa, trong đó có 57 mô hình xa khu dân cư; có 623 hộ chăn nuôi lợn sử dụng hầm khí biogas, tăng 53 hầm
- Lĩnh vực công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp: chiếm 31.8% trong cơ cấu các
Trang 36việc làm cho khoảng 1.333 lao động.triệu đồng; đã thực hiện đầu tư hơn 533.276 triệu đồng; giải quyết việc làm cho khoảng 1.333 lao động Tỷ lệ lấp đầy (diện tích đất đã cho thuê) của Cụm công nghiệp Diên Sanh là 94,40%; Cụm công nghiệp Hải Thượng: 53,68%; Cụm công nghiệp Hải Chánh 31,76%
- Lĩnh vực dịch vụ: chiếm 36.1% trong cơ cấu các ngành kinh tế
Tổng doanh thu hàng hóa bán lẻ tiêu dùng và dịch vụ 2.522 tỷ đồng, đạt 100,16% kê hoạch, tăng 485 tỷ đồng; số hộ kinh doanh thương mại - dịch vụ 4.144 hộ, đạt 100,02% kế hoạch, tăng 52 hộ; số lao động làm việc 5.967 lao động, đạt 100,02% kế hoạch
* Về Dân số: dân số của huyện có 99.813 người, mật độ dân số trung bình 202
người/km2 Cộng đồng dân cư của huyện 100% là người Kinh, tỷ lệ nữ chiếm 51,09%,
tỷ lệ nam chiếm 48,91% Dân cư phân bố trên cả 3 vùng: Đồng bằng, ven biển và gò đồi, trong đó tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng Dân số thành thị chiếm khoảng 2,52% dân số toàn huyện, phần còn lại là nông thôn
* Lao động, việc làm và chính sách xã hội:
Đến cuối năm 2018, tổng số lao động 55.090 người, chiếm 55,19 % dân số Trong đó lao động trong khu vực Nông - Lâm - Ngư nghiệp là chủ yếu, nguồn lao động có chuyên môn, kỹ thuật còn ít
Trong tổng số lao động đang làm việc trong nền kinh tế chỉ có khoảng 1% lao động có trình độ cao đẳng, đại học và phân bổ tập trung ở khu vực hành chính sự nghiệp Số lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật chỉ chiếm khoảng 8%; còn lại là lao động phổ thông
Công tác xuất khẩu lao động, giải quyết việc làm và giảm nghèo bền vững tiếp tục đạt được kết quả tích cực Trong năm 2018 có 220 lao động xuất cảnh, đạt 147%
kế hoạch (kế hoạch 150); tạo việc làm mới cho khoảng 1.000 lao động (kế hoạch 1.000-1.200) Chỉ đạo triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp giảm nghèo bền vững, kết hợp hỗ trợ phát triển sản xuất với chính sách ưu đãi tín dụng, tập huấn và chuyển giao công nghệ cho các hộ đăng ký thoát nghèo năm 2018; đến nay, tỷ lệ hộ
nghèo giảm còn 5,86% (năm 2017 là 6,78%)
* Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng:
- Hệ thống điện:
Huyện Hải Lăng được cấp điện từ hệ thống lưới điện Quốc gia qua 01 trạm 110
KV với dung lượng 25.000 KVA và 158 trạm biến áp phân phối với tổng dung lượng
là 34.730 KVA
Mạng lưới phân phối điện được xây dựng khá đồng bộ, gồm:
+ Lưới điện trung áp, dài 176 km
Trang 37+ Lưới điện hạ áp, dài 310 km
Hệ thống cấp điện được đầu tư nâng cấp và xây dựng mới, 100% số xã (tính đến các khu dân cư) đều có điện, với gần 100% số hộ sử dụng điện; đã đầu tư hệ thống cấp điện đến các cụm Công nghiệp để tạo điều kiện thuận lợi cho thu hút các dự án đầu tư vào địa bàn
- Về Bưu chính, Viễn thông:
+ Bưu chính:
Toàn huyện có 12 điểm bưu điện văn hóa, 05 bưu cục hoạt động, đáp ứng cơ bản nhu cầu sử dụng dịch vụ bưu chính của nhân dân và các cơ quan, tổ chức trên địa bàn; đặc biệt là việc chi trả lương hưu, chế độ bảo hiểm dài hạn qua hệ thống bưu điện + Viễn thông:
Trên địa bàn huyện có 03 hãng điện thoại lớn đang hoạt động là Vinaphone, Viettel và Mobiphone phạm vi phủ sóng đã được mở ra trên toàn huyện Chất lượng phục vụ của các hãng điện thoại ngày càng được cải thiện và tốt hơn
- Hệ thống đường giao thông:
Toàn huyện Hải Lăng có mạng lưới giao thông vận tải tương đối hợp lý, bao gồm các loại hình vận tải như đường bộ, đường sắt, đường sông, trong đó đường bộ giữ vai trò quan trọng
Toàn huyện có 792,87 km đường bộ, bao gồm một tuyến đường Quốc lộ 1A (20,2km); 04 tuyến đường tỉnh (51,1km); 25 tuyến đường huyện (184,43km); 30 tuyến đường nội thị (14,53km); 09 tuyến đường xã (34,8km) và 487,81 km đường thôn, xóm Trong đó, đường bê tông xi măng chiếm 22,87% với 180,59km; đường bê tông nhựa, láng nhựa, xâm nhập nhựa chiếm 14,85km với 117,73km, đá dăm cấp phối chiếm 20,75% với 164,54km và đường đất chiếm 41,62% với 330,01km
Đặc biệt, hệ thống đường tránh lũ cứu hộ, cứu nạn, phát triển kinh tế-xã hội đảm bảo quốc phòng an ninh vùng ven biển phía Nam tỉnh Quảng Trị đã được đầu tư xây dựng và đưa vào hoạt động với tổng chiều dài hơn 14,2 km, rộng 70 m với 06 làn xe, phục vụ việc vận chuyển hàng hóa của cảng biển Mỹ Thủy; nối hệ thống giao thông hành lang kinh tế Đông-Tây với cảng biển Mỹ Thủy, đồng thời hoàn thiện hệ thống giao thông khu kinh tế biển Đông-Nam Quảng Trị
3.1.3 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị
Huyện Hải Lăng có tổng diện tích tự nhiên 42.479,7 ha, Hải Lăng là một huyện thuần nông, người dân làm nông nghiệp là chủ yếu nên diện tích đất nông nghiệp chiếm một tỷ trọng rất lớn Theo số liệu thống kê đất đai của phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Hải Lăng tính đến ngày 31/12/2018, hiện trạng sử dụng đất của huyện Hải Lăng được thể hiện ở bảng 3.1
Trang 38Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Hải Lăng năm 2018
(ha)
Cơ cấu (%)
Trang 39STT Chỉ tiêu sử dụng đất Mã Diện tích
(ha)
Cơ cấu (%)
2.2.5 Đất sản xuất kinh doanh phi
2.5 Đất nghĩa trang,nghĩa địa,nhà tang lễ,
(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Hải Lăng)
Qua số liệu ở Bảng 3.1 cho thấy, diện tích đất nông nghiệp là 35.454,1 ha chiếm 83,46% Diện tích đất phi nông nghiệp là 5.443,3 ha chiếm 12,81% tổng diện tích tự nhiên Diện tích đất chưa sử dụng được thống kê còn lại trên địa bàn là 1.582,3 ha chiếm 3,72% tổng diện tích tự nhiên Trong đó, đất đang sử dụng vào các mục đích:
* Nhóm đất nông nghiệp: 35.454,1 ha chiếm 83,46% tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện
Trang 40- Đất sản xuất nông nghiệp: 11.864,8 ha, chiếm 27,93%
- Đất lâm nghiệp: 22.990,9 ha, chiếm 54,12%
- Đất nuôi trồng thủy sản: 565,7 ha, chiếm 1,33%
- Đất nông nghiệp khác: 32,7 ha, chiếm 0,08%
* Nhóm đất phi nông nghiệp: 5.443,3 ha chiếm 12,81% tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện
- Đất ở: 711,3 ha, chiếm 1,67%
- Đất chuyên dùng: 2.326,2 ha, chiếm 5,48%
- Đất cơ sở tôn giáo: 37,0 ha, chiếm 0,09%
- Đất cơ sở tín ngưỡng: 122,4 ha, chiếm 0,29%
- Đất phi nông nghiệp khác: 0,6 ha, chiếm < 0,01%
- Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối: 820,3 ha, chiếm 1,93%
- Đất có mặt nước chuyên dùng: 390,7 ha, chiếm 0,92%
- Đất nghĩa trang, nghĩa địa: 1.034,8 ha, chiếm 2,44%
* Đất chưa sử dụng: 1.582.3 ha, chiếm 3,72 % tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện
- Đất bằng chưa sử dụng: 1.151,2 ha, chiếm 2,71 %
- Đất đồi núi chưa sử dụng: 431,1 ha, chiếm 1,01 %
3.1.4 Công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn
* Tình hình thực hiện luật và các văn bản dưới luật tại huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị
Trên cơ sở Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản quy định, hướng dẫn thi hành Luật của Chính phủ, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh, UBND huyện Hải Lăng đã tổ chức triển khai thực hiện Đồng thời, UBND tỉnh đã ban hành một số văn bản thuộc thẩm quyền phù hợp với tình hình thực tế của địa phương nhằm thúc đẩy và tăng cường công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn tỉnh Quảng Trị, gồm những văn bản thuộc các lĩnh vực như sau:
- Về giá đất: UBND tỉnh ban hành Quyết định số 28/2017/QĐ-UBND ngày 09/11/2017 về ban hành bảng giá đất định kỳ 05 năm (2015-2019) trên địa bàn tỉnh;
- Về đơn giá, khai thác cơ sở dữ liệu: UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 36/2018/QĐ-UBND ngày 21/12/2018 về ban hành quy chế thu thập, quản lý, khai thác, chia sẻ và sử dụng thông tin, dữ liệu tài nguyên và môi trường tỉnh Quảng Trị; Quyết định số 20/2018/QĐ-UBND ngày 17/9/2018 về việc ban hành đơn giá xây dựng