Phương pháp kế thừa, chọn lọc: sử dụng và thừa hưởng những tài liệu, dữ liệu đã có về vấn đề nghiên cứu, dựa trên những thông tin sẵn có để xây dựng và phát triển thành cơ sở dữ liệu cần
Trang 1i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Tất cả các số liệu
trong vùng nghiên cứu của luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất kỳ luận văn nào khác
Tôi xin cảm ơn mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này và tôi xin cam
đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Trần Quý Khanh
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, ngoài nỗ lực của bản thân, tôi xin chân
thành cảm ơn quý thầy, cô giáo Trường Đại học Nông lâm Huế, Khoa Tài nguyên Đất
và Môi trường Nông nghiệp, Phòng Đào tạo Sau đại học đã tận tình truyền đạt cho tôi
những kiến thức quý báu và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian
học tập, nghiên cứu tại trường và viết luận văn tốt nghiệp
Đặc biệt, xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo GS.TS Trần Văn
Minh người hướng dẫn khoa học tận tình, chu đáo, đã giúp đỡ tôi rất nhiều để tôi hoàn
thành luận văn này
Xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Định,
Phòng Tài nguyên và Môi trường, các phòng, ban của thị xã An Nhơn; Cán bộ, công
chức, viên chức và nhân dân các xã, phường trong vùng nghiên cứu đã tận tình giúp đỡ
tôi trong quá trình thu thập số liệu và những thông tin cần thiết liên quan
Tôi xin cảm ơn cơ quan, đồng nghiệp, gia đình và bạn bè đã động viên, tạo điều
kiện và giúp đỡ tôi cả về vật chất lẫn tinh thần để tôi hoàn thành đề tài này
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!
Trần Quý Khanh
Trang 3TÓM TẮT
Đề tài “Đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất trên địa bàn thị xã An Nhơn,
tỉnh Bình Định giai đoạn 2011 - 2015” được tiến hành tại thị xã An Nhơn, tỉnh Bình
Định, thời gian từ tháng 8/2015 đến tháng 4/2016
Mục đích của đề tài là đánh giá thực trạng công tác quản lý, sử dụng đất và đề
xuất một số giải pháp nhằm phát huy những vấn đề tích cực, hạn chế các vấn đề tồn tại
trong công tác quản lý, sử dụng đất, giúp cơ quan quản lý nhà nước quản lý chặt chẽ
nguồn tài nguyên đất
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ chỉ ra những mặt tích cực và hạn chế trong
công tác quản lý, sử dụng đất tại thị xã An Nhơn, đề xuất các nhóm giải pháp nhằm
phát huy những vấn đề tích cực, hạn chế các vấn đề tồn tại trong công tác quản lý, sử
dụng đất, giúp cơ quan quản lý nhà nước quản lý chặt chẽ nguồn tài nguyên đất
Đề tài nghiên cứu trên cơ sở các thông tin, tài liệu, số liệu được thu thập chủ
yếu từ các cơ quan, đơn vị trên địa bàn thị xã, các chủ trương, chính sách của Trung
ương, của tỉnh và các công trình nghiên cứu khoa học, các tạp chí khoa học
Phương pháp kế thừa, chọn lọc: sử dụng và thừa hưởng những tài liệu, dữ liệu đã
có về vấn đề nghiên cứu, dựa trên những thông tin sẵn có để xây dựng và phát triển
thành cơ sở dữ liệu cần thiết của luận văn; dùng phương pháp điều tra, thu thập tài liệu,
số liệu và thông tin: sử dụng các số liệu từ các công trình nghiên cứu trước được lựa
chọn sử dụng vào mục đích phân tích, minh họa rõ nét về nội dung nghiên cứu và điều
tra, thu thập thông tin bằng cách phương pháp phỏng vấn trực tiếp 100 hộ dân về sự hợp
lý trong quy hoạch sử dụng đất, hiệu quả của việc bố trí sử dụng đất, cơ chế chính sách
về quản lý, sử dụng đất; dùng phương pháp xử lý, tổng hợp số liệu bằng bảng tính Excel
để tổng hợp, xử lý số liệu thu thập được qua đó thiết lập các bảng biểu, biểu đồ để phân
tích, đánh giá và đề xuất các hướng giải quyết Phương pháp bản đồ để làm rõ hơn
những thông tin qua các hình ảnh và làm tăng phần sinh động cho đề tài
Những kết quả đạt được là nghiên cứu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, đánh giá
tình hình quản lý, sử dụng đất và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công
tác quản lý, sử dụng đất, góp phần hoàn thiện cơ chế chính sách quản lý đất đai và nâng
cao hiệu quả sử dụng đất tại địa bàn nghiên cứu thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
CHUƠNG 1 3
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1.1 Một số quan điểm về đất đai 3
1.1.2 Vai trò của đất đai trong nền sản xuất xã hội 12
1.1.3 Vai trò của Nhà nước trong quản lý đất đai 12
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 14
1.2.1 Tình hình quản lý sử dụng đất đai ở một số nước trên thế giới 14
1.2.2 Tình hình quản lý và sử dụng đất đai ở Việt Nam 17
1.3 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 22
CHƯƠNG 2 24
Trang 5ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 24
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 24
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 24
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 24
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.3.1 Phương pháp kế thừa, chọn lọc 24
2.3.2 Phương pháp điều tra, thu thập tài liệu, số liệu và thông tin 25
2.3.3 Phương pháp xử lý, tổng hợp và phân tích số liệu, thông tin 26
2.3.4 Phương pháp bản đồ 26
CHƯƠNG 3 27
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA THỊ XÃ AN NHƠN 27
3.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên 27
3.1.2.6 Thuận lợi, khó khăn và áp lực từ các vấn đề kinh tế, xã hội đối với đất đai 47
3.2 TÌNH HÌNH QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI TẠI THỊ XÃ AN NHƠN 49
3.2.1 Tổ chức thực hiện các văn bản quản lý nhà nước đối với đất đai 49
3.2.2 Việc xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính 50
3.2.3 Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 51
3.2.4 Quản lý tài chính về đất đai 55
3.2.5 Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đất đai 57
3.2.6 Đánh giá chung về công tác quản lý đất đai trên địa bàn thị xã An Nhơn giai đoạn 2011 - 2015 58
3.3 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT TẠI THỊ XÃ AN NHƠN 59
3.3.1 Diện tích đất tự nhiên của các xã, phường tại thị xã An Nhơn 59
3.3.2 Hiện trạng mục đích sử dụng các loại đất 60
3.3.3 Biến động mục đích sử dụng các loại đất giai đoạn 2011 - 2015 66
3.4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT TẠI THỊ XÃ AN NHƠN 72
Trang 63.4.1 Giải pháp chung 72
3.4.2 Một số giải pháp cụ thể 73
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 75
1 KẾT LUẬN 75
2 ĐỀ NGHỊ 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
PHỤ LỤC 81
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Có nghĩa là
Công nghiệp Cụm công nghiệp Công nghiệp hóa Tiểu thủ công nghiệp
QSDĐ : Quyền sử dụng đất
KT - XH : Kinh tế - Xã hội
QHSDĐ : Quy hoạch sử dụng đất
FAO : Tổ chức lương nông của Liên hiệp quốc
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất
Bảng 3.1 Một số đặc trưng khí hậu thị xã An Nhơn 29
Bảng 3.2 Kết quả phân tích quan trắc nước thải sinh hoạt tại phường Đập Đá 36
Bảng 3.3 Thành phần chất thải công nghiệp tập trung 38
Bảng 3.4 Giá trị sản xuất theo ngành của thị xã An Nhơn giai đoạn 2011 - 2015 39
Bảng 3.5 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thị xã An Nhơn giai đoạn 2011 - 2015 40
Bảng 3.6 Một số chỉ tiêu trồng trọt của thị xã An Nhơn 42
Bảng 3.7 Một số chỉ tiêu chăn nuôi của thị xã An Nhơn 43
Bảng 3.8 Chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành giai đoạn 2011 - 2015 45
Bảng 3.9 Phân kỳ các chỉ tiêu sử dụng đất trong kỳ quy hoạch thị xã An Nhơn 83 Bảng 3.10 Kết quả cấp Giấy chứng nhận QSDĐ trên địa bàn thị xã giai đoạn 2011 - 2015 54
Bảng 3.11 Kết quả thu ngân sách từ đất đai giai đoạn 2011 - 2015 56
Bảng 3.12 Đơn vị hành chính, diện tích đất tự nhiên của xã, phường 60
Bảng 3.14 Diện tích, cơ cấu nhóm đất phi nông nghiệp năm 2015 63
Bảng 3.18 Biến động đất phát triển hạ tầng giai đoạn 2011 - 2015 70
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Sơ đồ vị trí của thị xã An Nhơn 28
Hình 3.2 Cơ cấu hiện trạng các ngành kinh tế thị xã An Nhơn năm 2015 40
Hình 3.3 Cơ cấu hiện trạng sử dụng đất của thị xã năm 2015 61
Hình 3.4 Chuyển dịch cơ cấu các loại đất giai đoạn 2011 - 2015 66
Trang 10MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt trong
nông nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là cơ sở không
gian của mọi quá trình sản xuất, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công
trình kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng
Đồng thời, đất đai là tài sản đặc biệt, có những đặc trưng không giống một tư
liệu sản xuất nào, đó là sự cố định về không gian, sự giới hạn về diện tích, Vì vậy, đất
đai cần được quản lý một cách chặt chẽ, sử dụng một cách hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm
và bền vững
Hơn nữa, quá trình phát triển kinh tế, quá trình đô thị hóa làm cho mật độ dân
cư ngày càng tăng Chính sự gia tăng dân số, sự phát triển đô thị và quá trình công
nghiệp hóa làm cho nhu cầu về nhà ở, đất ở cũng như đất xây dựng các công trình
công cộng, khu công nghiệp trong cả nước vốn đã bức xúc nay càng trở nên nhức nhối
hơn Đây là vấn đề nan giải không chỉ ở nước ta mà còn với nhiều nước trên thế giới
Để giải quyết vấn đề này, mỗi quốc gia đã xây dựng những chiến lược, chương trình,
kế hoạch riêng phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của đất nước mình để sử dụng đất đai
hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm, đặc biệt đối với nước ta - một đất nước mà quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ trên khắp cả nước [15]
Từ năm 1945, khi thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho đến nay
trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, Nhà nước ta luôn quan tâm sâu sắc đến vấn đề đất đai và
đã ban hành, đổi mới Luật Đất đai: Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật
số 10/1998/QH10 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai, Luật số 25/2001/QH10
sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật Đất đai, Luật Đất đai năm 2003, Luật số
34/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung Điều 126 Luật Nhà ở và Điều 126 Luật Đất đai Đặc
biệt Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2014 từng bước đưa pháp luật
đất đai phù hợp hơn với thực tế quản lý và sử dụng đất Các văn bản, nghị định, thông tư
đi kèm đã giúp rất nhiều cho việc nắm bắt, quản lý chặt chẽ quỹ đất đai của quốc gia
cũng như phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế đất nước trong thời kỳ đổi mới
Công tác quản lý nhà nước về đất đai với 15 nội dung được quy định tại Điều
22 Luật Đất đai năm 2013 Đây là cơ sở để Nhà nước nắm bắt, quản lý chặt chẽ nguồn
tài nguyên quốc gia cũng như để người sử dụng đất yên tâm sử dụng và khai thác tiềm
năng về đất đai hiệu quả, tiết kiệm
Thị xã An Nhơn là huyện đồng bằng nằm ở phía Nam tỉnh Bình Định, có nền
kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp Trong những năm qua, cơ cấu kinh tế của thị
Trang 11xã đã có sự chuyển dịch theo chiều hướng tích cực, tăng tỷ trọng các ngành công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng và dịch vụ - thương mại, giảm dần tỷ trọng
ngành nông nghiệp Tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch kinh tế cao và ổn định Cùng
với sự phát triển kinh tế là sự gia tăng dân số, rồi nhu cầu về sử dụng đất để đầu tư cho
cơ sở hạ tầng, các công trình công nghiệp, dịch vụ, văn hóa tạo những thay đổi đáng kể
trong đời sống nhân dân, gây nhiều khó khăn trong công tác quản lý và sử dụng đất Áp
lực từ sự phát triển kinh tế cùng nhu cầu đất ở và sản xuất ngày càng tăng, vấn đề quản
lý và sử dụng đất một cách tiết kiệm và hợp lý đang trở thành một yêu cầu cấp thiết
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá
tình hình quản lý và sử dụng đất trên địa bàn thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định giai
đoạn 2011 - 2015”
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá được tình hình quản lý, sử dụng đất tại thị xã An Nhơn, tỉnh Bình
Định giai đoạn 2011 - 2015 và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công
tác quản lý, sử dụng đất tại thị xã
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Xác định điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và áp lực từ các vấn đề kinh tế -
xã hội đối với đất đai tại thị xã An Nhơn
- Xác định được tình hình quản lý và sử dụng đất trên địa bàn thị xã
- Đánh giá được công tác quản lý, sử dụng đất
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý, sử dụng đất
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN
3.1 Ý nghĩa khoa học
Đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất làm cơ sở khoa học để xây dựng cơ
sở pháp lý, góp phần hoàn thiện cơ chế chính sách quản lý đất đai và nâng cao hiệu
quả sử dụng đất
Là cơ sở tham khảo cho các công trình nghiên cứu khác ở những khu vực có
điều kiện tương tự
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đánh giá thực trạng quản lý và sử dụng đất tại thị xã An Nhơn, đề xuất một số
giải pháp nhằm phát huy những vấn đề tích cực, hạn chế các vấn đề tồn tại trong công
tác quản lý sử dụng đất, giúp cơ quan quản lý Nhà nước quản lý chặt chẽ nguồn tài
nguyên đất
Trang 12CHUƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1 Một số quan điểm về đất đai
1.1.1.1 Khái niệm về đất đai
Đất đai về mặt thuật ngữ khoa học, là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất
bao gồm tất cả các yếu tố cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt
đó như: khí hậu, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt
cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật và động vật,
trạng thái định cư của con người trong quá khứ để lại và hiện tại (san nền, hồ chứa
nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường xá, nhà cửa…) Như vậy, đất đai là khoảng
không gian có giới hạn theo chiều thẳng đứng và chiều ngang Mặt đất giữ vai trò quan
trọng và có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất cũng như trong cuộc sống của xã
hội loài người
Đất đai được nhìn nhận là một nhân tố sinh thái, với khái niệm này đất đai bao
gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất
định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất Đất theo nghĩa đất đai bao gồm: yếu tố
khí hậu, địa hình, địa mạo, tính chất thổ nhưỡng, thủy văn, thảm thực vật tự nhiên,
động vật và những biến đổi của đất do các hoạt động của con người [31]
Theo định nghĩa của FAO thì: “Đất đai là một tổng thể vật chất, bao gồm cả sự
kết hợp giữa địa hình và không gian tự nhiên của thực thể vật chất đó” Như vậy, đất
đai là phạm vi không gian, như một vật mang những giá trị theo ý niệm của con người
Theo cách định nghĩa này đất đai thường gắn với một giá trị kinh tế được thể hiện
bằng giá trị tiền trên một đơn vị diện tích đất đai khi có sự chuyển quyền sử dụng đất
Cũng có quan điểm tổng hợp hơn cho rằng, đất đai là những tài nguyên sinh thái và tài
nguyên kinh tế, xã hội của tổng thể vật chất
Về mặt đời sống - xã hội, đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá,
là tư liệu sản xuất không gì thay thế được của ngành sản xuất nông - lâm nghiệp, là
thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố khu dân cư,
xây dựng cơ sở kinh tế, văn hoá và an ninh quốc phòng Nhưng đất đai là tài nguyên
thiên nhiên có hạn về diện tích, có vị trí cố định trong không gian [7]
1.1.1.2 Đặc điểm của đất đai
Đất đai là một tư liệu sản xuất, là một trong số những đều kiện cần thiết cho
hoạt động sản xuất và đời sống con người Chúng ta cũng biết rằng, không một ngành
Trang 13sản xuất nào có thể sản xuất khi thiếu đất đai, đất là điều kiện chung nhất cho lao
động, là đối tượng của lao động Song chỉ khi nào đất đai tham gia vào quá trình lao
động, khi kết hợp giữa lao động sống và lao động quá khứ thì đất đai mới trở thành tư
liệu sản xuất Tuy đất đai là tư liệu sản xuất nhưng nó có những đặc tính khác biệt so
với tư liệu sản xuất khác, sự khác biệt này thể hiện như sau:
- Độ phì của đất: Là một khối lượng các chất chứa trong đất bao gồm chất dinh
dưỡng, nước, kết cấu, thuộc tính lý hóa học, sinh vật học tương ứng với khối lượng sản
phẩm thu được và một chế độ canh tác nhất định Độ phì của đất bao gồm các loại sau:
Độ phì nguyên thủy: Độ phì ban đầu khi đất mới được khai thác để đưa vào sản
xuất trong nông lâm nghiệp
Độ phì tự nhiên: Một thuộc tính khách quan được tạo ra trong quá trình hình thành
đất đai lâu dài bằng các họat động tổng hợp vật lý, hóa học và sinh học của cây trồng
Độ phì nhân tạo: Độ phì tăng thêm do hoạt động có ý thức của con người tác
động đến đất đai bằng các biện pháp như làm đất, tưới tiêu, bón phân
Độ phì kinh tế: Sự thống nhất giữa độ phì tự nhiên và độ phì nhân tạo có tác
dụng thiết thực đối với cây trồng và năng suất của chúng trong quá trình sản xuất và
được xã hội thừa nhận
Đất đai là sản phẩm tự nhiên: Đất đai xuất hiện ngoài ý muốn của con người
hay nói cách khác con người không thể sáng tạo ra đất Đất đai là sản phẩm của lao
động, bởi vì chính lao động của con người thông qua các biện pháp kỹ thuật, canh tác
đã cải tạo làm thay đổi dần thuộc tính, tính chất của đất đai Con người có khả năng cải
tạo và bồi dưỡng đất đai Do vậy, trong quá trình sử dụng kinh doanh ruộng đất nông
nghiệp phải ở trên quan điểm bồi dưỡng, bảo vệ ruộng đất bằng những hoạt động có ý
nghĩa thông qua lao động của con người
Đất đai có diện tích giới hạn: Con người có khả năng tạo ra cho mình một công
cụ lao động nhiều số lượng và hoàn thiện về chất lượng Và cả hai mặt nay đều không
có giới hạn, nhưng ruộng đất sử dụng vào sản xuất lại có giới hạn, quy mô của nó bị
giới hạn bởi bề mặt trái đất Về quốc gia bị giới hạn bởi ranh giới lãnh thổ của mỗi
nước, về tỉnh, huyện, xã, hộ gia đình cũng có ranh giới cụ thể Ở nước ta diện tích
núi, sông ngòi chiếm tỷ lệ lớn nên việc sử dụng đất cho cây trồng có hạn, bình quân
đất nông nghiệp trên mỗi đầu người rất thấp 122 m2/ người Từ đặc điểm trên, về mặt
kinh tế thì đất đai phải sử dụng đầy đủ, tiết kiệm và hợp lý, chú trọng đầu tư tăng năng
suất trên một đơn vị diện tích đất
Đất đai có vị trí cố định: Đối với các tư liệu sản xuất khác thì trong quá trình sử
dụng con người có thể di chuyển từ nơi này đến nơi khác tùy theo mục đích sản xuất,
đây là yếu tố quan trọng giúp cho việc phân bố sản xuất hợp lý Song đất đai lại có vị
Trang 14trí cố định không thể di chuyển theo ý muốn của con người mà còn tồn tại cố định gắn
liền với các điều kiện tự nhiên như: khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng và các điều kiện
kinh tế, văn hóa, xã hội như trình độ trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, phân bố dân cư, tập
quán sản xuất Từ đặc điểm này, về mặt sản xuất phải sử dụng đất đai thích hợp với từng
vùng, phải căn cứ vào điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội từng vùng
để bố trí sản xuất, mặc khác phải tìm mọi biện pháp cải thiện theo điều kiện tự nhiên và
điều kiện kinh tế ở mỗi vùng để phát triển sản xuất phục vụ tốt cho nhu cầu xã hội
Đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế: Trong quá trình sản xuất, con
người sử dụng đất không chỉ đơn thuần là khai thác độ phì nhiêu, “vắt kiệt” đất đai mà
còn quan tâm đên việc bảo vệ, tái tạo đất, bảo vệ đất bởi vì, khác với các tư liệu sản
xuất khác trong quá trình tham gia vào chu trình sản xuất nếu bị hao mòn thì sau đó bị
loại thải và có thể thay thế bằng tư liệu sản xuất mới hoàn thiện hơn về mặt kỹ thuật,
còn đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế được
Đất đai không bị mất đi: Đất đai nếu được sử dụng hợp lý thì sản xuất của nó
không ngừng tăng lên, một trong những đặc điểm của đất đai là nếu sử dụng hợp lý thì
chúng không bị xấu đi mà còn tốt hơn và cho sản phẩm ngày càng nhiều hơn, từ đặc
điểm này cho phép chúng ta thực hiện thâm canh không bị giới hạn Việc sử dụng đất
hợp lý hay không, độ phì nhiêu của đất thay đổi ra sao là tùy thuộc vào các biện pháp
quản lý và sử dụng đất phù hợp trong những điều kiện nhất định về điều kiện kinh tế,
văn hóa, xã hội, trình độ sản xuất và trình độ phát triển khoa học kỷ thuật
Nắm được nội dung của đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt chủ yếu không thể
thay thế được và những điểm đặc biệt của nó, đất đai có ý nghĩa kinh tế và chính trị to
lớn đối với công cuộc đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, mở ra phương hướng và triển
vọng cho mọi người, nhằm sử dụng hợp lý đất đai hơn nữa để cung cấp nhiều sản
phẩm hơn nữa cho xã hội, đồng thời chỉ rõ những quan điểm, mọi thứ lý luận phản
động của các nhà kinh tế học tư tưởng trong vấn đề sử dụng đất từ trước tới nay
Cùng với đặc tính đặc biệt của đất, nó có chức năng đối với con người như sau:
- Chức năng sản xuất
- Chức năng cân bằng sinh thái
- Chức năng tàng trữ và cung cấp nguồn nước
- Chức năng dự trữ
- Chức năng không gian sinh sống
- Chức năng bảo tồn, bảo tàng lịch sử
- Chức năng vật mang sự sống
- Chức năng phân dị lãnh thổ
Trang 15Như vậy, đất đai có vị trí quan trọng, có đặc tính khác biệt so với các tư liệu sản
xuất khác và có chức năng đối với con người Do đó, đất đai phải được quản lý phải
chặt chẽ và sử dụng hợp lý để mang lại hiệu quả sử dụng cả về mặt kinh tế, xã hội
cũng như bảo vệ môi trường
1.1.1.3 Vấn đề sử dụng đất đai
Sử dụng đất liên quan đến chức năng hoặc mục đích của loại đất được sử dụng
Việc sử dụng đất có thể được định nghĩa là “ những hoạt động của con người có liên
quan trực tiếp tới đất, sử dụng nguồn tài nguyên đất hoặc có tác động lên chúng” [24]
Số liệu về quá trình và hình thái các hoạt động đầu tư như lao động, vốn, nước,
phân hoá học, kết quả sản lượng như loại nông sản, thời gian, chu kỳ mùa vụ, cho
phép đánh giá chính xác việc sử dụng đất, phân tích tác động môi trường và kinh tế,
lập mô hình những ảnh hưởng của việc biến đổi sử dụng đất hoặc việc chuyển đổi việc
sử dụng đất này sang mục đích sử dụng đất khác
Phạm vi sử dụng đất, cơ cấu và phương thức sử dụng đất một mặt bị chi phối
bởi các điều kiện và quy luật sinh thái tự nhiên, mặt khác bị kiềm chế bởi các điều
kiện, quy luật KT - XH và các yếu tố kỹ thuật Vì vậy, có thể khái quát một số điều
kiện và nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất như sau:
- Điều kiện tự nhiên: Khi sử dụng đất đai, ngoài bề mặt không gian như diện
tích trồng trọt, mặt bằng xây dựng , cần chú ý đến việc thích ứng với điều kiện tự
nhiên và quy luật sinh thái tự nhiên của đất cũng như các yếu tố bao quanh mặt đất
như: yếu tố khí hậu, yếu tố địa hình, yếu tố thổ nhưỡng
- Điều kiện KT - XH: Bao gồm các yếu tố như chế độ xã hội, dân số, lao động,
thông tin, các chính sách quản lý về môi trường, chính sách đất đai, yêu cầu về quốc
phòng, sức sản xuất, các điều kiện về công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, giao
thông, vận tải, sự phát triển của khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý, sử dụng lao động,
điều kiện và trang thiết bị vật chất cho công tác phát triển nguồn nhân lực, đưa khoa
học kỹ thuật vào sản xuất và đời sống
- Yếu tố không gian: Đây là một tính chất “đặc biệt” khi sử dụng đất do đất đai
là sản phẩm của tự nhiên, tồn tại ngoài ý chí và nhận thức của con người Đất đai hạn
chế về số lượng, có vị trí cố định và là tư liệu sản xuất không thể thay thế được khi
tham gia vào hoạt động sản xuất của xã hội [4]
1.1.1.4 Quản lý và quản lý nhà nước về đất đai
Quản lý đất đai bao gồm những chức năng, nhiệm vụ liên quan đến việc xác lập
và thực thi các quy tắc cho việc quản lý, sử dụng và phát triển đất đai cùng với những
lợi nhuận thu được từ đất (thông qua việc bán, cho thuê hoặc thu thuế) và giải quyết
những tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu và quyền sử dụng đất
Trang 16Quản lý đất đai là quá trình điều tra mô tả những tài liệu chi tiết về thửa đất, xác
định hoặc điều chỉnh các quyền và các thuộc tính khác của đất, lưu giữ, cập nhật và
cung cấp những thông tin liên quan về sở hữu, giá trị, sử dụng đất và các nguồn thông
tin khác liên quan đến thị trường bất động sản Quản lý đất đai liên quan đến cả hai đối
tượng đất công và đất tư bao gồm các hoạt động đo đạc, đăng ký đất đai, định giá đất,
giám sát và quản lý sử dụng đất đai, cơ sở hạ tầng cho công tác quản lý
Nhà nước phải đóng vai trò chính trong việc hình thành chính sách đất đai và
các nguyên tắc của hệ thống quản lý đất đai bao gồm pháp luật đất đai và pháp luật
liên quan đến đất đai Đối với công tác quản lý đất đai, Nhà nước xác định một số nội
dung chủ yếu: Sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, tập trung và phân cấp quản lý;
vị trí của cơ quan đăng ký đất đai, vai trò của lĩnh vực công và tư nhân, quản lý các tài
liệu địa chính, quản lý các tổ chức địa chính, quản lý nguồn nhân lực, nghiên cứu giáo
dục và đào tạo, trợ giúp về chuyên gia tư vấn và kỹ thuật, hợp tác quốc tế
Hiện nay ở nước ta, việc sử dụng đất được bảo vệ bằng hệ thống pháp luật Luật
Đất đai ra đời nhằm quy định cụ thể chế độ quản lý và sử dụng cùng với các chế định
pháp luật khác liên quan đến đất đai nhằm bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai
Đây là tài nguyên vô cùng quý giá và phải sử dụng có hiệu quả cao nhất mọi tiềm năng
đất đai để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và củng cố an ninh quốc phòng
Quản lý nhà nước về đất đai là nghiên cứu toàn bộ các đặc trưng cơ bản của đất
đai nhằm nắm chắc về số lượng, chất lượng từng loại đất của từng vùng, từng địa
phương theo đơn vị hành chính ở mỗi cấp để thống nhất về quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai trong cả nước từ Trung ương
đến cơ sở thành một hệ thống quản lý đồng bộ thống nhất để tránh tình trạng phân tán
đất, sử dụng đất không đúng mục đích hoặc bỏ hoang hóa làm cho đất xấu đi Như
vậy, quản lý nhà nước về đất đai phải thống nhất trong cả nước Các văn bản pháp luật,
các chính sách của Đảng và Nhà nước phải thống nhất đồng bộ từ trung ương đến địa
phương nên phải có đầy đủ hồ sơ tài liệu về số lượng, chất lượng từng loại đất trong cả
nước, giúp Chính phủ và các ngành sử dụng đất hợp lý nguồn tài nguyên đất đai để có
cơ sở để thực hiện quy hoạch và kế hoạch hóa việc sử dụng hợp lý các loại đất trong
toàn lãnh thổ mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất
Quản lý nhà nước về đất đai phải đảm bảo các nguyên tắc:
- Phải quản lý toàn bộ vốn đất đai hiện có của quốc gia, không được quản lý lẻ
tẻ từng vùng
- Nội dung tài liệu quản lý không phụ thuộc vào mục đích sử dụng
- Số liệu quản lý đất đai phải bao hàm cả số lượng, chất lượng, loại, hạng mục
phục vụ cho mục đích sử dụng của các loại đất đó
Trang 17- Tài liệu trong quản lý phải đơn giản phổ thông trong cả nước
- Những điều kiện riêng biệt của từng địa phương, cơ sở phải phản ánh được
- Những điều kiện riêng lẻ phải khách quan, chính xác, đúng những kết quả, số
liệu nhận được từ thực tế
- Tài liệu quản lý đất đai phải đảm bảo tính pháp luật, phải đầy đủ và đúng thực tế
- Quản lý nhà nước về đất đai phải trên cơ sở pháp luật, luật đất đai và các văn
bản, biểu mẫu quy định, hướng dẫn của Nhà nước và các cơ quan chuyên môn từ
Trung ương đến địa phương
- Quản lý đất đai phải tuân theo nguyên tắc tiết kiệm mang lại hiệu quả kinh tế cao
1.1.1.5 Nội dung và tiêu chí đánh giá tình hình sử dụng đất đai
Nội dung quản lý nhà nước về đất đai bao gồm:
Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức
thực hiện văn bản đó
Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản
đồ hành chính
Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ
quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất
Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất
Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất
Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
Thống kê, kiểm kê đất đai
Xây dựng hệ thống thông tin đất đai
Quản lý tài chính về đất đai và giá đất
Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất
Trang 18Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của
pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai
Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai
Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và
sử dụng đất đai
Quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai
Để đánh giá hiệu quả sử dụng đất, theo quan điểm về sử dụng đất "bền vững",
các nhà khoa học đất Việt Nam đã nghiên cứu và đề nghị sử dụng các tiêu chí để đánh
giá hiệu quả sử dụng đất, cụ thể theo Bảng 1.1
Bảng 1.1 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất
Hiệu quả kinh tế
1 Năng suất cao
- Trên mức sống bình quân của vùng
- Năng suất tăng dần
- Đạt tiêu chuẩn sản phẩm tiêu thụ tại địa phương
- Dễ bảo quản và vận chuyển
Hiệu quả xã hội
1 Đáp ứng nhu cầu nông hộ:
- Về lương thực, thực phẩm
- Về tiền mặt
- Nhu cầu khác: gỗ, củi
2 Phù hợp với năng lực nông hộ:
- Về đất đai
- Về nhân lực
- Về kỹ thuật
- Nông hộ có đủ lương thực do sản xuất hoặc tạo
ra nguồn tiền để mua
- Bảo đảm được thực phẩm cân đối dinh dưỡng
- Sản phẩm được bán có thu nhập thường xuyên
- Đủ chất đất hoặc nhu cầu thông thường khác
- Phù hợp với quy mô đất được giao
- Phù hợp với lao động trong nông hộ hoặc thuê tại địa phương
- Không phải vay lãi cao
Trang 19- Nông dân tự quyết việc sử dụng đất và được hưởng lợi ích (không áp đặt)
- Không làm phụ nữ nặng nhọc hơn
- Không làm trẻ em mất cơ hội học hành
- Phù hợp với Luật đất đai và các luật khác
- Phù hợp với văn hóa dân tộc
- Phù hợp với tập quán địa phương
Hiệu quả về môi trường
1 Giảm thiểu xói mòn, thoái hóa
đất đến mức độ chấp nhận được
2 Tăng độ che phủ đất
3 Bảo vệ nguồn nước
4 Nâng cao đa dạng sinh học của
hệ sinh thái tự nhiên
- Xói mòn dưới mức cho phép
- Đô phì nhiêu đất được duy trì hoặc cải thiện
- Trả lại tàn dư hữu cơ ở mức có thể
- Độ che phủ đạt >35% quanh năm
- Duy trì tăng nguồn sinh thủy
- Không gây ô nhiễm nguồn nước
* Nhóm tiêu chí về hiệu quả kinh tế:
Hệ thống sử dụng đất phải có mức năng suất sinh học cao trên mức bình quân
trong vùng có cùng điều kiện đất đai Năng suất sinh học được tính bao gồm cả sản
phẩm chính và sản phẩm phụ đối với cả trồng trọt và chăn nuôi
Xu thế năng suất phải tăng dần mới thể hiện được tính “bền vững” về hiệu
quả kinh tế
Về chất lượng thì sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn thị trường (tiêu thụ tại địa
phương, trong nước, hay xuất khẩu) Chỉ tiêu này phản ánh trình độ tiếp cận thị
trường, việc giải quyết ách tắc về thị trường phải bắt đầu ngay từ khâu sản xuất, chọn
giống, thích hợp, phù hợp thị hiếu của người tiêu dùng, bố trí thời vụ hợp lý nhất để
bán sản phẩm được giá
* Nhóm tiêu chí về hiệu quả xã hội (tính chấp thuận xã hội):
Đây là tiêu chí thể hiện tính chấp thuận của xã hội Nhóm tiêu chí này xác định
hệ thống sử dụng đất trước hết cần quan tâm đến nhu cầu tối thiếu của nông hộ về ăn,
ở và sinh hoạt rồi mới vươn lên sản xuất hàng hóa Sau nữa là quan tâm đến việc cho
thu nhập thường xuyên, phù hợp với nguồn vốn ít ỏi của hộ nông dân
Trang 20Hệ thống sử dụng đất phải phát huy được nội lực của nông hộ và nguồn lực của
địa phương, được tổ chức trên đất mà nông dân có quyền hưởng thụ lâu dài, đất, rừng
đã được giao với lợi ích các bên rạch ròi
Nguồn vốn vay được ổn định với lãi suất và thời hạn phù hợp từ nguồn vốn tín
dụng và ngân hàng
Người dân được tham gia triệt để vào việc ra quyết định về kế hoạch và phương
án sản xuất, có quyền bình đẳng trong hưởng lợi đối với mọi hợp đồng có liên quan
Về lao động xã hội đó là việc bố trí sử dụng hợp lý nguồn lao động, quan tâm
đến việc bình đẳng giới và quyền trẻ em Không làm cho phụ nữ phải lao động nặng
nhọc hơn, không lạm dụng sức lao động của trẻ em và tước đi quyền học tập của
chúng Rút ngắn thời gian lao động và tăng cường thời gian học tập cho trẻ em
Tỷ lệ lao động trong nông, lâm nghiệp, chỉ số cân bằng về giới, tỷ lệ đói nghèo,
đảm bảo an ninh lương thực
Hệ số công bằng sử dụng đất
Hệ thống sử dụng đất phải phù hợp với luật pháp và hương ước của cộng đồng
lớn hơn Chẳng hạn không bố trí cây trồng đối kháng nhau trong một vùng đất, cây có
sức chống xói mòn yếu không bố trí ở vùng đầu nguồn, cây trồng không phù hợp với
nền văn hóa dân tộc và tập quán của địa phương sẽ không được cộng đồng ủng hộ [11]
* Nhóm tiêu chí về môi trường:
Để một hệ thống sử dụng đất đai đạt tiêu chuẩn về môi trường thì cần đáp ứng
được các yêu cầu sau:
Giữ đất khỏi bị rửa trôi, xói mòn được thể hiện bằng giảm thiểu lượng đất mất
hàng năm dưới ngưỡng cho phép Ngưỡng này phải được xác định cho từng loại đất,
từng thảm thực vật ở mỗi địa phương
Độ phì nhiêu đất tăng dần trong đó tuần hoàn hữu cơ được cải thiện
Đảm bảo nguồn nước không bị khai thác cạn kiệt, hạ mức nước ngầm, ô nhiễm nguồn nước
Đảm bảo độ che phủ đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%) và che phủ liên
tục trong năm
Đảm bảo đa dạng sinh học thể hiện qua các thành phần loài sinh vật (đa canh
“bền vững” hơn độc canh, cây dài ngày có khả năng bảo vệ tốt hơn cây ngắn ngày…)
Bảo tồn quỹ gen đó là việc tận dụng nhiều loại cây bản địa vốn đã được chọn
lọc từ lâu đời thích nghi với điều kiện địa phương, bổ sung một số loài mới đảm bảo
cân bằng sinh thái
Hệ số đa dạng sinh học
Trang 21Tỷ lệ che phủ rừng, tỷ lệ diện tích đất trống được trồng
Các tiêu chí thuộc ba lĩnh vực trên được dùng để xem xét đánh giá một hệ thống sử
dụng đất Tùy theo đặc tính và mục tiêu của mỗi kiểu sử dụng đất, các tiêu chí và chỉ tiêu
cũng có ý nghĩa khác nhau, cấp độ quan trọng khác nhau Vì vậy, khi đánh giá sẽ xem xét
trong từng trường hợp cụ thể mà đặt cho chúng các trọng số khác nhau
1.1.2 Vai trò của đất đai trong nền sản xuất xã hội
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thiếu đối với bất cứ ngành sản xuất
nào xã hội Trong nền sản xuất xã hội, đất đai giữ vị trí và ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là
điều kiện vật chất mà mọi hoạt động sản xuất cũng như sinh hoạt đều cần tới [16]
* Đối với các ngành nông - lâm nghiệp:
Trong sản xuất nông nghiệp, đất đai là yếu tố chủ đạo quyết định đến khả năng
sinh trưởng phát triển, năng xuất và chất lượng sản phẩm Ở đây, đất đai không chỉ là
cơ sở không gian, là điều kiện tồn tại mà nó còn tham gia tích cực vào quá trình sản
xuất tạo thành nông sản Đất cung cấp cho cây trồng nước, chất dinh dưỡng và các yếu
tố cần thiết khác để cây trồng sinh trưởng và phát triển Đất đai mà cụ thể là độ phì của
đất là yếu tố quyết định đến sức sản xuất của cây trồng, vì vậy các hoạt động sản xuất
nông nghiệp cần chú ý tới công tác bảo vệ đất, cải tạo và nâng cao độ phì cho đất Một
loại đất chỉ thích ứng tốt với một hoặc vài loại cây trồng nhất định, vì vậy cần lựa chọn
các loại hình sử dụng đất phù hợp để có thể mang lại hiệu quả cao nhất [14]
* Đối với các ngành phi nông nghiệp:
Mặc dù trong các ngành phi nông nghiệp đất đai chỉ đóng vai trò thụ động,
không trực tiếp tạo ra sản phẩm nhưng đó là cơ sở không gian, là nền tảng, là điều kiện
đầu tiên và là nền móng để trên đó các hoạt động sản xuất kinh doanh được diễn ra
Hiện nay thì nhu cầu đất ở và nhiều mục đích sử dụng khác đang ngày càng tăng, trong
khi tổng diện tích tự nhiên của đất là không đổi, vì vậy đất đai đang trở nên khan hiếm
nên giá đất được đẩy lên cao trở thành vấn đề gây nhiều khó khăn cho các nhà đầu tư
sản xuất kinh doanh cần có mặt bằng [17]
1.1.3 Vai trò của Nhà nước trong quản lý đất đai
Sự phát triển của mỗi quốc gia phụ thuộc vào chính sách kinh tế - xã hội và
chính sách về đất đai là một phần không thể thiếu Chính sách đất đai đảm bảo bảo vệ
được nguồn tài nguyên này không bị phá hoại bởi con người Do đó, chính sách đất đai
có vai trò quan trọng đối với công tác quản lý đất đai
Đất đai là nhu cầu vật chất cần thiết của loài người, là yếu tố quan trọng bậc
nhất cấu thành bất động sản Trong những năm qua, khi chuyển sang nền kinh tế thị
trường, những yếu tố thị trường, trong đó có thị trường bất động sản đang trong quá
Trang 22trình hình thành và phát triển Hiện nay thị trường hàng hóa dịch vụ phát triển nhanh
chóng nhưng còn mang nhiều yếu tố tự phát, thiếu định hướng Thị trường bất động
sản, thị trường sức lao động chưa có thể chế rõ ràng và phát triển còn chậm chạp, tự
phát Thị trường vốn, công nghiệp còn kém Do vậy, việc hình thành đồng bộ các loại
thị trường là một yêu cầu cấp bách nhằm đáp ứng đòi hỏi của sản xuất và đời sống
Nhà nước đóng vai trò tác nhân quan trọng thúc đẩy sự hình thành đồng bộ các loại thị
trường tạo ra sự vận động nền kinh tế đa dạng Tăng cường năng lực và hiệu quả quản
lý nhà nước đối với đất đai được bắt nguồn từ nhu cầu khách quan của việc sử dụng
hiệu quả tài nguyên đất, đáp ứng nhu cầu đời sống của nhân dân do tính định hướng xã
hội chủ nghĩa ở nước ta quy định
Trên cơ sở những phân tích trên, có thể thấy vai trò của Nhà nước trong quản lý
đất đai được thể hiện rõ qua những nội dung sau:
- Thông qua hoạch định chiến lược, quy định, lập kế hoạch phân bổ đất đai có
cơ sở khoa học nhằm phục vụ cho mục đích kinh tế - xã hội của đất nước, đảm bảo sử
dụng đất đúng mục đích, đạt hiệu quả cao và tiết kiệm, giúp Nhà nước quản lý chặt
chẽ đất đai, giúp người sử dụng đất có các biện pháp hữu hiệu để bảo vệ và sử dụng
đất đai có hiệu quả cao
- Thông qua công tác đánh giá phân hạng đất, Nhà nước nắm chắc toàn bộ quỹ
đất đai về số lượng, chất lượng, làm căn cứ cho các biện pháp kinh tế - xã hội có hệ
thống, có cơ sở khoa học nhằm sử dụng đất đai có hiệu quả
- Thông qua việc ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật đất đai tạo ra cơ sở
pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các tổ chức kinh tế, các doanh
nghiệp, cá nhân trong những quan hệ về đất đai
- Thông qua ban hành những quan hệ về đất đai như chính sách giá cả, chính
sách thuế, chính sách đầu tư,… Nhà nước tạo cơ sở pháp lý cho các tổ chức, các chủ
thể, các cá nhân sử dụng đầy đủ, hợp lý đất đai, tiết kiệm đất đai nhằm nâng cao khả
năng sinh lợi của đất đai, đạt hiệu quả cao để góp phần thực hiện mục tiêu kinh tế - xã
hội của cả nước và bảo vệ môi trường sinh thái
- Thông qua việc kiểm tra, giám sát việc quản lý và sử dụng đất đai, Nhà nước
nắm chắc tình hình diễn biến về sử dụng đất, phát hiện những vi phạm và giải quyết
những vi phạm pháp luật đất đai
- Cùng với quá trình đổi mới kinh tế, quyền của người sử dụng đất được hiểu rõ
hơn, đầy đủ hơn Tại Chương 11 Luật Đất đai 2013 đã quy định các quyền của người
sử dụng đất: Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng
cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất Để thực hiện những quyền này thì người sử
dụng đất phải có giấy chứng nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
Trang 23nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là cơ sở để bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân đối
với đất đai, bảo vệ lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, tăng cường giám sát trong
việc thực hiện các nghĩa vụ của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật, đảm
bảo lợi ích chung của toàn xã hội trong việc sử dụng đất Mặc khác, cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là điều
kiện đảm bảo để Nhà nước nắm chắc, quản lý chặt chẽ quỹ đất một cách hợp lý và có
hiệu quả cao
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.2.1 Tình hình quản lý sử dụng đất đai ở một số nước trên thế giới
1.2.1.1 Nước Australia
Australia có lịch sử hình thành từ thuộc địa của Anh, nhờ vậy Australia có được
cơ sở và hệ thống pháp luật quản lý xã hội nói chung và quản lý đất đai nói riêng từ rất
sớm Trong suốt quá trình lịch sử từ lúc là thuộc địa đến khi trở thành quốc gia độc
lập, pháp luật và chính sách đất đai của Australia mang tính kế thừa và phát triển một
cách liên tục, không có sự thay đổi và gián đoạn do sự thay đổi về chính trị Đây là
điều kiện thuận lợi làm cho pháp luật và chính sách đất đai phát triển nhất quán và
ngày càng hoàn thiện, được xếp vào loại hàng đầu của thế giới, vì pháp luật đất đai của
Australia đã tập hợp và vận dụng được hàng chục luật khác nhau của đất nước
Luật Đất đai của Australia quy định đất đai của quốc gia là đất thuộc sở hữu
Nhà nước và đất thuộc sở hữu tư nhân Australia công nhận Nhà nước và tư nhân có
quyền sở hữu đất đai và bất động sản trên mặt đất Phạm vi sở hữu đất đai theo luật
định là tính từ tâm trái đất trở lên, nhưng thông thường Nhà nước có quyền bảo tồn đất
ở từng độ sâu nhất định, nơi có những mỏ khoáng sản quý như vàng, bạc, thiếc, than,
dầu mỏ… (theo sắc luật về đất đai khoáng sản năm 1993)
Luật Đất đai Australia bảo hộ tuyệt đối quyền lợi và nghĩa vụ của chủ sở hữu
đất đai Chủ sở hữu có quyền cho thuê, chuyển nhượng, thế chấp, thừa kế theo di chúc
mà không có sự cản trở nào, kể cả việc tích lũy đất đai Tuy nhiên, luật cũng quy định
Nhà nước có quyền trưng thu đất tư nhân để sử dụng vào mục đích công cộng, phục vụ
phát triển kinh tế, xã hội và việc trưng thu đó gắn liền với việc Nhà nước phải thực
hiện bồi thường thỏa đáng [22]
1.2.1.2 Nước Pháp
Các chính sách quản lý đất đai ở Pháp được xây dựng trên một số nguyên tắc
chỉ đạo quy hoạch không gian, bao gồm cả chỉ đạo quản lý sử dụng đất đai và hình
thành các công cụ quản lý đất đai
Nguyên tắc đầu tiên là phân biệt rõ ràng không gian công cộng và không gian
tư nhân Không gian công cộng gồm đất đai, tài sản trên đất thuộc sở hữu Nhà nước và
Trang 24tập thể địa phương Tài sản công cộng được đảm bảo lợi ích công cộng có đặc điểm là
không thể chuyển nhượng, tức là không mua, bán được Không gian công cộng gồm
các công sở, trường học, bệnh viện, nhà văn hoá, bảo tàng
Không gian tư nhân song song tồn tại với không gian công cộng và đảm bảo lợi
ích song hành Quyền sở hữu tài sản là bất khả xâm phạm và thiêng liêng, không ai có
quyền buộc người khác phải nhường quyền sở hữu của mình Chỉ có lợi ích công cộng
mới có thể yêu cầu lợi ích tư nhân nhường chỗ và trong trường hợp đó, lợi ích công
cộng phải thực hiện bồi thường một cách công bằng và tiên quyết với lợi ích tư nhân
Ở Pháp, chính sách quản lý sử dụng đất canh tác rất chặt chẽ để đảm bảo sản
xuất nông nghiệp bền vững và tuân thủ việc phân vùng sản xuất Sử dụng đất nông
nghiệp, luật pháp quy định một số điểm cơ bản sau:
Việc chuyển đất canh tác sang mục đích khác, kể cả việc làm nhà ở cũng phải
xin phép chính quyền cấp xã quyết định Nghiêm cấm việc xây dựng nhà trên đất canh
tác để bán cho người khác
Thực hiện chính sách miễn giảm thuế, được hưởng quy chế ưu tiên đối với một
số đất đai chuyên dùng để gieo hạt, đất đã trồng hoặc trồng lại rừng, đất mới dành cho
ươm cây trồng
Khuyến khích việc tích tụ đất nông nghiệp bằng cách tạo điều kiện thuận lợi để
các chủ đất có nhiều mảnh đất ở các vùng khác nhau có thể đàm phán với nhau nhằm
tiến hành chuyển đổi ruộng đất, tạo điều kiện tập trung các thửa đất nhỏ thành các thửa
đất lớn
Việc mua bán đất đai không thể tự thực hiện giữa người bán và người mua,
muốn bán đất phải xin phép cơ quan giám sát việc mua bán Việc bán đất nông nghiệp
phải nộp thuế đất và thuế trước bạ Đất này được ưu tiên bán cho những người láng
giềng để tạo ra các thửa đất có diện tích lớn hơn
Ở Pháp có cơ quan giám sát việc mua bán đất để kiểm soát hoạt động mua bán,
chuyển nhượng đất đai Cơ quan giám sát đồng thời làm nhiệm vụ môi giới và trực
tiếp tham gia quá trình mua bán đất Văn tự chuyển đổi chủ sở hữu đất đai có Tòa án
Hành chính xác nhận trước và sau khi chuyển đổi
Đối với đất đô thị mới, khi chia cho người dân thì phải nộp 30% chi phí cho các
công trình xây dựng hạ tầng, phần còn lại là 70% do kinh phí địa phương chi trả
Ngày nay, đất đai ở Pháp ngày càng có nhiều luật chi phối theo các quy định
của các cơ quan hữu quan như quản lý đất đai, môi trường, quản lý đô thị, quy hoạch
vùng lãnh thổ và đầu tư phát triển [22]
Trang 251.2.1.3 Nước Thụy Điển
Ở Thụy Điển, phần lớn đất đai thuộc sở hữu tư nhân nhưng việc quản lý và sử
dụng đất đai là mối quan tâm chung của toàn xã hội Vì vậy, toàn bộ pháp luật và
chính sách đất đai luôn đặt ra vấn đề hàng đầu là có sự cân bằng giữa lợi ích riêng của
chủ sử dụng đất và lợi ích chung của Nhà nước
Bộ Luật Đất đai của Thụy Điển là một văn bản pháp luật được xếp vào loại
hoàn chỉnh nhất, nó tập hợp và giải quyết các mối quan hệ đất đai và hoạt động của
toàn xã hội với 36 đạo luật khác nhau
Các hoạt động cụ thể về quản lý sử dụng đất như quy hoạch sử dụng đất, đăng
ký dất đai, bất động sản và thông tin địa chính đều được quản lý bởi ngân hàng dữ liệu
đất đai và đều được luật hoá Pháp luật và chính sách đất đai ở Thụy Điển về cơ bản
dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về đất đai và kinh tế thị trường, có sự giám sát chung
của xã hội
Pháp luật và chính sách đất đai ở Thuỵ Điển từ năm 1970 trở lại đây gắn liền
với việc giải quyết các vấn đề liên quan đến pháp luật bất động sản tư nhân Quy định
các vật cố định gắn liền với bất động sản, quy định việc mua bán đất đai, việc thế
chấp, quy định về hoa lợi và các hoạt động khác như vấn đề bồi thường, quy hoạch sử
dụng đất, thu hồi đất, đăng ký quyền sở hữu đất đai và hệ thống đăng ký đất đai [22]
1.2.1.4 Nước Trung Quốc
Nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đang thi hành chế độ công hữu xã hội chủ
nghĩa về đất đai, đó là chế độ sở hữu toàn dân và chế độ sở hữu tập thể của quần chúng
lao động Mọi đơn vị, cá nhân không được xâm chiếm, mua bán hoặc chuyển nhượng
phi pháp đất đai Vì lợi ích công cộng, Nhà nước có thể tiến hành trưng dụng theo
pháp luật đối với đất đai thuộc sở hữu tập thể và thực hiện chế độ quản chế mục đích
sử dụng đất
Tiết kiệm đất, sử dụng đất đai hợp lý, bảo vệ thiết thực đất canh tác là quốc
sách cơ bản của Trung Quốc
Đất đai ở Trung Quốc được phân thành 3 loại:
- Đất dùng cho nông nghiệp là đất trực tiếp sử dụng vào sản xuất nông nghiệp
bao gồm đất canh tác, đất rừng, đồng cỏ, đất dùng cho các công trình thuỷ lợi và đất
mặt nước nuôi trồng
- Đất xây dựng gồm đất xây dựng nhà ở đô thị và nông thôn, đất dùng cho mục
đích công cộng, đất dùng cho khu công nghiệp, công nghệ, khoáng sản và đất dùng
cho công trình quốc phòng
- Đất chưa sử dụng là đất không thuộc hai loại đất trên
Trang 26Ở Trung Quốc hiện có 250 triệu hộ nông dân sử dụng trên 100 triệu ha đất canh
tác, bình quân khoảng 0,4ha/hộ gia đình Vì vậy Nhà nước có chế độ bảo hộ đặc biệt
đất canh tác
Nhà nước thực hiện chế độ bồi thường đối với đất bị trưng dụng theo mục đích
sử dụng đất trưng dụng Tiền bồi thường đối với đất canh tác bằng 6 đến 10 lần sản
lượng bình quân hàng năm của 3 năm liên tiếp trước đó khi bị trưng dụng Tiêu chuẩn
hỗ trợ định cư cho mỗi nhân khẩu nông nghiệp bằng từ 4 đến 6 lần giá trị sản lượng
bình quân của đất canh tác/đầu người thuộc đất bị trưng dụng, cao nhất không vượt
quá 15 lần sản lượng bình quân của đất bị trưng dụng 3 năm trước đó Đồng thời,
nghiêm cấm tuyệt đối việc xâm phạm, lạm dụng tiền đền bù đất trưng dụng và các loại
tiền khác liên quan đến đất bị trưng dụng để sử dụng vào mục đích khác [22]
1.2.2 Tình hình quản lý và sử dụng đất đai ở Việt Nam
1.2.2.1 Cở sở pháp lý về quản lý sử dụng đất đai
Ở Việt Nam, công tác quản lý tài nguyên đất đã được quan tâm từ rất sớm
Những năm đầu của thập kỷ 80, Nhà nước đã xây dựng một hệ thống chính sách về đất
đai phù hợp với tình hình đất nước thể hiện ở chính sách thống nhất quản lý ruộng đất
và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước, đồng thời thực hiện công tác
đo đạc phân hạng đất và đăng ký thống kê đất đai trong cả nước Chính sách về chuyển
đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp là tổng thể các quan điểm, chủ trương,
đường lối, phương pháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động vào lĩnh vực đất
nông nghiệp nhằm thu hồi đất để thực hiện các mục tiêu mà Nhà nước mong muốn
Chính sách về chuyển đổi đất đai được quan tâm nhiều hơn và là vấn đề nóng bỏng
trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt quá trình công nghiệp hóa làm cho nhu cầu về nhà ở,
đất ở cũng như đất xây dựng hạ tầng các khu dân cư, công trình công cộng, khu công
nghiệp trở nên nhức nhối hơn
a Trước khi có Luật Đất đai 1993
Ngày 18/12/1980, Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã
thông qua Hiến pháp sửa đổi quy định “Đất đai, rừng núi, sông hồ, hầm mỏ, tài nguyên
thiên nhiên trong lòng đất, ở vùng biển và thềm lục địa… đều thuộc sở hữu toàn dân
và Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch chung” Đây là cơ sở pháp lý
vô cùng quan trọng để thực thi công tác quản lý đất đai trên phạm vi cả nước [12]
Luật Đất đai 1988 ra đời dựa trên cơ sở Hiến pháp 1980 quy định đất đai thuộc
sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý Tại Khoản 4 Điều 48 quy định “Đền
bù thiệt hại thực tế cho người đang sử dụng đất bị thu hồi để giao cho mình, bồi hoàn
thành quả lao động và kết quả đầu tư đã làm tăng giá trị của đất đó theo quy định của
pháp luật” Ngày 31/5/1990 Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 186-HĐBT
Trang 27về bồi thường thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng để sử dụng vào mục đích khác
Theo đó căn cứ để tính mức bồi thường thiệt hại về đất nông nghiệp và đất có rừng là
diện tích, chất lượng và vị trí đất
Cùng với những bước phát triển của cơ chế thị trường, Nhà nước thực hiện
chính sách hội nhập với thế giới Hiến pháp 1992 ra đời là bước ngoặt quan trọng
trong việc xây dựng chính sách pháp luật đất đai nói chung và chính sách bồi thường,
hỗ trợ nói riêng, tại Điều 17 quy định “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước
thống nhất quản lý theo quy hoạch và pháp luật”
b Thời kỳ từ khi Luật Đất đai 1993 ra đời đến trước khi có Luật Đất đai 2003
Luật Đất đai 1988 không còn phù hợp và bộc lộ nhiều điểm bất cập, chính vì
vậy ngày 01/07/1993 Luật Đất đai 1993 được thông qua, chính thức có hiệu lực từ
ngày 15/10/1993 Qua thời gian thực hiện, để đáp ứng yêu cầu công tác quản lý nhà
nước về đất đai phù hợp với sự chuyển biến mạnh mẽ của KT - XH, Quốc hội đã sửa
đổi Luật Đất đai 1993 vào các năm 1998 và 2001
Hệ thống pháp luật về đất đai thời kỳ này đã đánh dấu một mốc quan trọng về
sự đổi mới chính sách đất đai của Nhà nước như: Đất đai được khẳng định là có giá trị;
ruộng đất nông lâm nghiệp được giao ổn định lâu dài cho các hộ gia đình, cá nhân;
người sử dụng đất được hưởng các quyền: chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, cho
thuê, thế chấp quyền sử dụng đất….và quy định 7 nội dung quản lý nhà nước về đất đai
Nghị định số 64/CP ngày 27/09/1993 quy định việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia
đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp Nghị định
số02/CP ngày 15/01/1994 của Chính phủ quy định về quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp
c Thời kỳ từ khi có Luật Đất đai 2003 đến trước khi có Luật Đất đai 2013
Luật Đất đai năm 2003 được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2003 và có hiệu
lực từ ngày 01/7/2004 Luật đất đai 2003 và hệ thống pháp luật về đất đai thời kỳ này
đã vận dụng cũng như kế thừa những chính sách mang tính đổi mới, tiến bộ của hệ
thống pháp luật về đất đai trước đây đồng thời tiếp thu, đón đầu những chính sách
pháp luật đất đai tiên tiến, hiện đại, phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội, chính trị của
đất nước
Cùng với Luật Đất đai năm 2003, Nhà nước đã ban hành các Nghị định, Thông
tư, Chỉ thị… đã tạo ra một hành lang pháp lý cho công tác quản lý đất đai Hệ thống
văn bản pháp luật đất đai được đánh giá là tương đối hoàn chỉnh với những nội dung
quy định cụ thể: về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; về phương pháp
xác định giá đất và khung giá các loại đất; về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất; về thu tiền sử dụng đất; về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
hướng dẫn thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng
Trang 28đất; hướng dẫn lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính; hướng dẫn lập, điều chỉnh và
thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung
về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng
đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải
quyết khiếu nại về đất đai Nghị định này ban hành được coi là mang tính đột phá, giải
quyết được nhiều tồn tại, bất cập trong quá trình quản lý sử dụng đất
d Thời kỳ từ khi có Luật Đất đai 2013 đến nay
Ngày 09/12/2013, Chủ tịch nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã
ban hành Lệnh số 22/2013/L-CTN công bố Luật Đất đai 2013 đã tạo hành lang pháp
lý ngày càng chặt chẽ và hoàn thiện hơn; làm công cụ duy trì trật tự an toàn xã hội
trong lĩnh vực đất đai của các cơ quan Nhà nước làm nhiệm vụ quản lý Nhà nước về
Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ
quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất
Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất
Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất
Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
Thống kê, kiểm kê đất đai
Xây dựng hệ thống thông tin đất đai
Quản lý tài chính về đất đai và giá đất
Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất
Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của
pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai
Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai
Trang 29Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử
dụng đất đai
Quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai [21]
1.2.2.2 Một số kết quả chung về hoạt động quản lý nhà nước về đất đai
Hoạt động quản lý nhà nước về đất đai ở nước ta trong những năm qua đã đạt
được những kết quả quan trọng chủ yếu:
Việc ban hành và thực hiện các văn bản thi hành Luật Đất đai và khung giá đất,
thuế chuyển quyền sử đất, lệ phí trước bạ đang từng bước làm cho đất đai tiếp cận
với thị trường bất động sản, có tác dụng cho việc hình thành thị trường bất động sản,
Nguồn thu tài chính từ đất đai đóng góp rất lớn cho ngân sách nhà nước
Công tác đo đạc, xác định địa giới hành chính cụ thể được thực hiện ở các địa
phương trong cả nước Hồ sơ địa giới hành chính được xây dựng trên cơ sở Chỉ thị
364/CP đã được xây dựng tới từng xã, phường, thị trấn Hệ thống bản đồ hành chính
của các tỉnh, thành phố đã được xây dựng và hoàn thiện
Đại bộ phận đất nông nghiệp đã được giao cho các chủ sử dụng cụ thể Việc xác
định hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ, người nông dân thực sự làm chủ trên thửa
đất mình được giao, sử dụng đất đai có hiệu quả hơn Việc giao đất, cấp giấy chứng
nhận tạo cơ sở và động lực cho sự tự chủ của người nông dân, trên cơ sở đó góp phần
dân chủ hóa đời sống kinh tế, xã hội ở nông thôn
Nhiều địa phương đã và đang thực hiện việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho
thuê đất nông nghiệp và tiến hành “dồn điền, đổi thửa” để khắc phục tình trạng manh
mún trong sử dụng đất Tạo tiền đề cho việc xác lập đất đai là một yếu tố rất quan
trọng vận động theo quá trình phát triển của sản xuất hàng hoá, phân phối lao động và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông thôn
Về công tác cấp giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất, phần lớn các địa phương đã tập trung chỉ đạo thực hiện bằng nhiều
biện pháp; đã thực hiện nghiêm túc các nhiệm vụ, giải pháp theo chỉ đạo của Thủ
tướng Chính phủ tại Chỉ thị 05/CT-TTg và của Bộ Tài nguyên và Môi trường; tạo sự
chuyển biến tích cực trong công tác cấp Giấy chứng nhận ở địa phương, điển hình là
một số tỉnh, thành phố như Tuyên Quang, Lai Châu, Bắc Giang, Quảng Ninh, Thừa
Thiên Huế , Khánh Hòa, Ninh Thuận và TP Hồ Chí Minh Trong điều kiện kinh tế
đang có nhiều khó khăn, song các địa phương đều đã rất cố gắng bố trí kinh phí từ
ngân sách cho công tác cấp giấy chứng nhận tăng lên nhiều so với các năm trước, nhất
là các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên Tính đến hết năm 2013, cả nước đã cơ
bản hoàn thành việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu với 41,6 triệu
giấy, tổng diện tích 22,9 triệu ha, đạt 94,8% diện tích đất đang sử dụng cần cấp và đạt
Trang 3096,7% tổng số trường hợp sử dụng đất đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận Đến nay, cả
nước có 11 tỉnh cơ bản hoàn thành cấp giấy chứng nhận lần đầu cho các loại đất chính
(đạt từ 85-100% diện tích) gồm Bình Dương, Long An, Bến Tre, Đồng Tháp, An Giang,
Vĩnh Long, Bạc Liêu, Đồng Nai, Quảng Trị, Hậu Giang, Cần Thơ Ngoài ra còn có 10
tỉnh cơ bản hoàn thành ở hầu hết các loại đất chính gồm Lạng Sơn, Hải Dương, Hà
Nam, Hưng Yên, Quảng Bình, Đà Nẵng, Trà Vinh, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bà Rịa -
Vũng Tàu Kết quả việc cấp giấy chứng nhận các loại đất chính như sau:
- Về đất ở đô thị: Cả nước đã cấp được 4.211.800 giấy với diện tích 106.200 ha,
đạt 80,3% Đã có 34 tỉnh đạt trên 85%; còn 29 tỉnh đạt dưới 85%, trong đó 10 tỉnh đạt
thấp dưới 70%
- Về đất ở nông thôn: Cả nước đã cấp được 11.510.000 giấy với diện tích
465.900 ha, đạt 85,0% Có 35 tỉnh đạt trên 85%, còn 28 tỉnh đạt dưới 85%; trong đó có
9 tỉnh đạt thấp dưới 70%
- Về đất chuyên dùng: Cả nước đã cấp được 182.131 giấy với diện tích 483.730
ha, đạt 64,0% Có 19 tỉnh đạt trên 85%; còn 44 tỉnh đạt dưới 85%; trong đó có 16 tỉnh
đạt dưới 50%
- Về đất sản xuất nông nghiệp: Cả nước đã cấp được 17.367.400 giấy với diện
tích 8.147.100 ha, đạt 82,9% Còn 33 tỉnh đạt trên 85%, có 30 tỉnh đạt dưới 85%; trong
đó có 12 tỉnh đạt dưới 70%
- Về đất lâm nghiệp: Cả nước đã cấp được 1.709.900 giấy với diện tích
10.357.400 ha, đạt 86,1% Có 20 tỉnh đạt trên 85%, có 41 tỉnh cấp đạt dưới 85%; trong
đó có 25 tỉnh đạt dưới 70% [8]
Bên cạnh những kết quả đạt được, hiện nay trong quá trình phát triển KT - XH của
Việt Nam, quản lý nhà nước về đất đai vẫn còn số vấn đề tồn tại đang nổi lên như sau:
Việc quản lý đất đai có những bước tiến đáng kể, đã có kết quả đáng ghi nhận
Nhưng các vấn đề như đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đã bị buông lỏng trong một thời gian dài, chính sách về đất đai có
nhiều thay đổi qua các thời kỳ khác nhau, hồ sơ địa chính và các loại giấy tờ chứng
minh nguồn gốc đất đã bị thất lạc Trong khi đó, chúng ta lại muốn khắc phục trong
thời gian ngắn đã làm cho cho quá trình này càng thêm phức tạp
Công tác quản lý nhà nước về tài nguyên đất là một trong những lĩnh vực hết
sức nhạy cảm Đơn thư khiếu nại, tố cáo ngày càng nhiều và tập trung vào các vấn đề
tranh chấp đất đai trong nội bộ nhân dân, tranh chấp đất đai giữa các tổ chức kinh tế,
khiếu nại về đền bù giải tỏa, chính sách tái định cư, Chính quyền giải quyết khiếu nại,
tố cáo nhiều nơi chưa nhận thức được trách nhiệm của mình, trong quá trình giải quyết
khiếu nại, tố cáo chưa tuân thủ trình tự, thủ tục xác định thẩm quyền chưa đúng
Trang 31Công tác lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp xã chưa đáp ứng
được yêu cầu Đa số các tỉnh, thành trong cả nước, công tác lập, điều chỉnh quy hoạch
sử dụng đất cấp huyện đến và kế hoạch sử dụng đất cấp xã vẫn còn trong giai đoạn
mới thực hiện
Một số địa phương còn lúng túng trong việc gắn kết giữa quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất với quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch điểm dân cư nông thôn; việc
công khai hoá quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt vẫn còn chậm và
mang tính hình thức, gây khó khăn trong việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích
sử dụng đất
Kết quả công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản khác gắn liền với đất đạt nhiều kết quả, một số địa phương đã hoàn thành cơ
bản việc cấp Giấy chứng nhận lần đầu nhưng xét riêng từng loại đất vẫn còn một số
loại đạt thấp dưới 85% như: đất chuyên dùng còn 29 địa phương, đất ở đô thị còn 15
địa phương, đất sản xuất nông nghiệp còn 11 địa phương, các loại đất ở nông thôn và
đất lâm nghiệp còn 12 địa phương Một số địa phương có loại đất chính đạt kết quả
cấp Giấy chứng nhận lần đầu thấp dưới 70% như Lạng Sơn, thành phố Hà Nội, Bình
Định, Kon Tum, thành phố Hồ Chí Minh, Kiên Giang, Ninh Thuận, Hải Dương [8]
1.3 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
Hiện nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về tình hình quản lý và sử dụng đất
ở Việt Nam và trên thế giới Tuy nhiên có rất nhiều quan điểm và cách đánh giá khác
nhau về tình hình quản lý sử dụng đất Trong những năm gần đây các ngành khoa học
xã hội và nhân văn cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về tình hình quản lý sử
dụng đất ở Việt Nam Đó là các nghiên cứu chủ yếu về đánh giá hiệu quả chuyển đổi
đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp, tác động của quá trình phát triển kinh tế xã
hội, đô thị hóa, môi trường đối với việc quản lý sử dụng đất
Vấn đề phát triển kinh tế xã hội và nhu cầu về nhà ở, đất ở, đất sản xuất tạo áp
lực đối với việc sử dụng và biến động đất nông nghiệp, đây là một vấn đề nóng bỏng
được nhiều tác giả, nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và đã có nhiều công trình
được công bố Trong những năm qua, đã có rất nhiều bài viết đề cập đến vấn đề này,
tiêu biểu như:
- Vũ Tuấn Anh (2011), “Vấn đề quản lý và sử dụng đất đai ở Tây Nguyên”,
Tạp chí khoa học Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam, số 3 Kết quả
nghiên cứu đã xác định và đánh giá những đặc điểm và các yếu tố tác động tới vấn đề
quản lý và sử dụng đất đai ở Tây Nguyên trong thời kỳ hiện đại, phân tích và đánh giá
tiến trình lịch sử thay đổi thể chế quản lý đất đai Đánh giá thực trạng quản lý và sử
dụng đất theo quan điểm phát triển bền vững Rút ra những bài học kinh nghiệm về
quản lý, sử dụng đất đai ở Tây Nguyên Kết quả nghiên cứu đã đề xuất một số giải
Trang 32pháp về thể chế quản lý đất đai và nâng cao hiệu quả sử dụng, bảo vệ và phát triển
nguồn tài nguyên đất đai ở Việt Nam nói chung và đặc biệt ở Tây Nguyên [2]
- Huỳnh Văn Chương, Trương Văn Quyết (2012): Nghiên cứu thực trạng
chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và những giải pháp quản lý sử dụng đất bền vững
thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, Tạp chí khoa học Đại học Huế, số 21 Tác giả đã
phản ánh việc chuyển đất đai trong quá trình đô thị hóa đặc biệt là chuyển đổi đất nông
nghiệp sang phi nông nghiệp có nhiều tác động tích cực, tuy nhiên vẫn còn ảnh hưởng
tiêu cực trên các mặt kinh tế, xã hội, môi trường Từ đó tác giả đã đưa ra các giải pháp
sử dụng đất hợp lý, giải quyết việc làm cho người lao động mất đất sản xuất [13]
- Nguyễn Văn Toàn (2008) “Tình hình quản lý, sử dụng đất nông nghiệp huyện
A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2005 - 2007”, Tạp chí khoa học Đại học Huế,
số 47 Kết quả nghiên cứu cho thấy có nhiều kết quả khả quan trong việc quản lý sử
dụng đất của huyện như tình hình quản lý đất đai ngày càng chặt chẽ hơn, hiệu quả sử
dụng đất cao hơn thể hiện ở diện tích, năng suất của hầu hết cây trồng gia tăng đặc biệt
là lúa, ngô và các cây trồng hàng hoá như rau, sắn Hệ số sử dụng ruộng đất đều tăng
nhanh Tuy nhiên, thực tế cho thấy tại A Lưới việc cấp thẻ giao đất cho các hộ dân vẫn
còn rất hạn chế Cơ cấu cây trồng vẫn nặng về sản xuất tự cấp, tự túc, chưa phát triển
mạnh sản xuất hàng hoá Năng suất cây trồng vẫn chưa ổn định… Từ kết quả nghiên
cứu các giải pháp cũng đã được đề xuất [24]
- Phan Đình Binh, Nguyễn Ngọc Anh (2009), “Nghiên cứu đánh giá hiệu quả
sử dụng đất sản xuất nông nghiệp được triển khai tại thị trấn Xuân Hòa, huyện Hà
Quảng, tỉnh Cao Bằng”, Tạp chí khoa học và công nghệ Đại học Thái Nguyên, số 123
Kết quả nghiên cứu cho thấy, hiện tại có 6 kiểu sử dụng đất khác nhau, trong đó 2 loại
hình sử dụng đất 1 lúa - 2 màu và loại hình sử dụng đất 3 màu đạt hiệu quả cao nhất
Cây thuốc lá là cây trồng đem lại hiệu quả cao nhất về 3 mặt kinh tế - xã hội và môi
trường Do đó cần có các chính sách hỗ trợ người dân về vốn đầu tư để phát triển cây
thuốc lá trên địa bàn thị trấn Cây lúa là cây trồng chính nhưng hiệu quả lại không cao,
cần có chính sách đầu tư hợp lý về giống để nâng cao năng suất sản xuất Các loại hình
sử dụng đất này phù hợp với cơ sở hạ tầng và yếu tố khí hậu thời tiết của địa phương
và có vai trò quan trọng trong cải tạo đất và bảo vệ môi trường sinh thái Từ kết quả
nghiên cứu, các đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cho từng
loại hình sử dụng đất cũng đã được đề xuất [5]
Trang 33CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các nội dung trong công tác quản lý nhà
nước về đất đai và hiệu quả của việc sử dụng đất đai trên địa bàn thị xã An Nhơn
Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 8/2014 đến tháng 8/2015 Tập trung thu thập
các số liệu thứ cấp, sơ cấp được sử dụng cho việc thực hiện đề tài từ năm 2011 đến
năm 2015
2.1.2.3 Phạm vi nội dung
Về đánh giá tình hình sử dụng đất chỉ nghiên cứu chỉ tiêu tỷ lệ sử dụng đất
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và áp lực của các vấn đề kinh tế -
xã hội đối với đất đai tại thị xã An Nhơn
- Đánh giá tình hình quản lý đất đai theo các nội dung quản lý nhà nước về đất đai
- Đánh giá tình hình sử dụng các loại đất trên địa bàn thị xã An Nhơn
- Đề xuất các giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý đất đai, nâng cao hiệu
quả sử dụng đất
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp kế thừa, chọn lọc
Phương pháp này sử dụng và thừa hưởng những tài liệu, dữ liệu đã có về vấn đề
nghiên cứu, dựa trên những thông tin sẵn có để xây dựng và phát triển thành cơ sở dữ
liệu cần thiết của luận văn
Phương pháp này áp dụng đối với phần tổng quan khi nghiên cứu các vấn đề về
tình hình quản lý, sử dụng đất trên thế giới và ở Việt Nam; cơ sở pháp lý của công tác
quản lý nhà nước về đất đai
Trang 342.3.2 Phương pháp điều tra, thu thập tài liệu, số liệu và thông tin
2.3.2.1 Thu thập thông tin, số liệu thứ cấp
Đây là các số liệu từ các công trình nghiên cứu trước được lựa chọn sử dụng
vào mục đích phân tích, minh họa rõ nét về nội dung nghiên cứu Nguồn gốc của các
tài liệu này đã được chú thích rõ trong phần “Tài liệu tham khảo”
Nguồn tài liệu này bao gồm:
- Các sách, báo, tạp chí, văn bản của cơ quan nhà nước, các công trình khoa học
và nghiên cứu liên quan đến công tác quản lý, sử dụng đất đã công bố của các cơ quan
nghiên cứu, các nhà khoa học trong và ngoài nước, các tài liệu trên Internet
- Tài liệu, số liệu đã được công bố về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, tình
hình quản lý sử dụng đất từ các báo cáo, niêm giám thống kê, số liệu thống kê, kiểm
kê đất đai Các số liệu này thu thập từ Phòng Tài nguyên và Môi trường, Chi cục
Thông kê và các cơ quan, ban, ngành có liên quan Trên cơ sở đó tiến hành tổng hợp
các thông tin cần thiết phục vụ cho công tác nghiên cứu
2.3.2.2 Thu thập thông tin, số liệu sơ cấp
- Phương pháp điều tra, khảo sát:
Để thu thập các thông tin, số liệu mang tính khách quan và đại diện, phương
pháp điều tra, thu thập thông tin được tiến hành theo 2 bước sau:
Điều tra, thu thập thông tin tại các cơ quan của thị xã:
+ Thu thập thông tin tại Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã An Nhơn: điều
tra các thông tin, số liệu về biến động diện tích đất đai giai đoạn 2011 - 2015, số liệu
chỉ tiêu kiểm kê đất đai từ năm 2011 đến năm 2015, các bản đồ hiện trạng sử dụng đất
thị xã An Nhơn giai đoạn 2011 - 2015, số liệu hiện trạng sử dụng đất năm 2015, số
liệu các chỉ tiêu chủ yếu trong phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thị xã An
Nhơn đến năm 2015, các văn bản liên quan đến chính sách quản lý sử dụng đất của
Trung ương và địa phương
+ Điều tra, thu thập thông tin tại các cơ quan, ban, ngành thị xã: số liệu điều tra
về tình hình thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của các ngành, số liệu dân số,
lao động, số liệu thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng, vấn đề đô thị hóa tại thị xã
Điều tra, thu thập thông tin tại các đơn vị hành chính thuộc thị xã: Điều tra, thu
thập thông tin tại các xã, phường (số liệu điều tra về việc thực hiện, chưa thực hiện
được các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất, số liệu hợp lý, bất hợp lý trong thực hiện quy
hoạch sử dụng đất, hiệu quả việc bố trí sử dụng đất), chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất
nông nghiệp sang phi nông nghiệp, về kinh tế xã hội, lao động việc làm, đời sống, cơ
chế chính sách về quản lý và sử dụng đất đã được áp dụng
Trang 35- Phương pháp chuyên gia: Tranh thủ ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực
chuyên môn để đưa ra các giải pháp tối ưu phù hợp với tình hình thực tế của địa phương
2.3.3 Phương pháp xử lý, tổng hợp và phân tích số liệu, thông tin
Đây là phương pháp sử dụng bảng tính Excel để tổng hợp, xử lý số liệu, thông
tin thu thập được để thiết lập các bảng biểu, biểu đồ so sánh một số chỉ tiêu sử dụng
đất cụ thể trong cơ cấu sử dụng đất (đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp, đất chưa sử
dụng), trên cơ sở đó để đánh giá và đề xuất phương hướng giải quyết
2.3.4 Phương pháp bản đồ
Trong quá trình nghiên cứu, căn cứ vào hệ thống bản đồ thu thập được, sử dụng
phần mềm Microstation biên tập, xây dựng bản đồ hành chính, bản đồ hiện trạng sử
dụng đất thị xã An Nhơn năm 2011, năm 2015 để phân tích sự thay đổi trong việc sử
dụng đất, làm rõ hơn những thông tin về sử dụng đất qua các hình ảnh và nội dung
được thể hiện một cách dễ hiểu, khoa học
Trang 36CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA THỊ XÃ AN NHƠN
3.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Thị xã An Nhơn nằm ở phía Nam của tỉnh Bình Định và cách trung tâm thành
phố Quy Nhơn về hướng Đông khoảng 20km, có tổng diện tích đất tự nhiên
244,494km2, dân số 182.066 người
- Về tọa độ địa lý:
+ Kinh độ Đông: 109000’ - 109011’
+ Vĩ độ Bắc: 13042’ - 13049’
- Về ranh giới địa lý hành chính:
+ Phía Bắc giáp huyện Phù Cát
+ Phía Đông giáp huyện Tuy Phước
+ Phía Tây giáp huyện Tây Sơn và huyện Vân Canh
+ Phía Nam giáp huyện Vân Canh và huyện Tuy Phước
Thị xã An Nhơn được chia thành 15 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm 5
phường: Bình Định, Đập Đá, Nhơn Hòa, Nhơn Hưng, Nhơn Thành và 10 xã: Nhơn
An, Nhơn Phong, Nhơn Hạnh, Nhơn Mỹ, Nhơn Hậu, Nhơn Khánh, Nhơn Phúc, Nhơn
Thọ, Nhơn Lộc, Nhơn Tân
Phường Bình Định là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của thị xã An Nhơn
cách thành phố Quy Nhơn khoảng 20 km về phía Tây Bắc
Lợi thế quan trọng của thị xã An Nhơn là nằm trong vùng kinh tế trọng điểm
miền Trung, có tuyến giao thông Quốc lộ 1A Bắc Nam, tuyến đường sắt Hà Nội -
thành phố Hồ Chí Minh chạy qua, là đầu mối phía Đông của đường Quốc lộ 19, đầu
mối phía Tây của đường Quốc lộ 19B nối giữa duyên hải miền Trung và Tây Nguyên,
tạo điều kiện thuận lợi để thị xã An Nhơn khai thác các thế mạnh về tiềm năng lao
động, đất đai, các nguồn tài nguyên trên địa bàn, phục vụ cho việc mở rộng sản xuất và
thị trường tiêu thụ sản phẩm, giao lưu thông thương với các huyện, thị, thành phố
trong tỉnh và với cả nước, đẩy mạnh thu hút đầu tư và phát triển kinh tế - xã hội
Trang 37Hình 3.1 Sơ đồ vị trí của thị xã An Nhơn
Trang 383.1.1.2 Điều kiện địa hình
Địa hình của thị xã An Nhơn tương đối bằng phẳng, thấp dần từ Tây sang
Đông, hướng nghiêng ra biển, cao độ trung bình khoảng 20 mét so với mực nước biển,
gồm hai dạng chính:
Địa hình vùng đồng bằng có diện tích 17.067ha, chủ yếu phân bố ở các phường:
Bình Định, Đập Đá, Nhơn Hưng, Nhơn Thành và các xã: Nhơn Hạnh, Nhơn Phong,
Nhơn An, Nhơn Khánh, Nhơn Phúc
Địa hình vùng đồi núi có diện tích 7.150ha phân bố ở các xã, phường còn lại
thuộc khu vực phía Nam của thị xã, ven Quốc lộ 19 và ở khu vực phía Tây giáp huyện
Tây Sơn
Nhìn chung địa hình của thị xã An Nhơn thuận lợi cho cơ giới hóa đồng ruộng,
phát triển nền nông nghiệp hàng hoá với các vùng chuyên canh gắn với công nghiệp
chế biến và thuận lợi cho xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng, phát triển mạng lưới giao
thông trong tỉnh và giao thông liên vùng, thuận lợi cho quy hoạch xây dựng, phát triển
công nghiệp, đô thị và thương mại dịch vụ, du lịch
3.1.1.3 Khí hậu
Khí hậu của thị xã An Nhơn giống như khí hậu chung toàn tỉnh là nhiệt đới ẩm,
gió mùa Các đặc trưng khí hậu thị xã được thể hiện qua Bảng 3.1
Bảng 3.1 Một số đặc trưng khí hậu thị xã An Nhơn
Trang 39Qua Bảng 3.1 cho thấy nhiệt độ trung bình năm 26 - 27,70C Lượng mưa trung
bình năm 1.000 - 1.300mm, phân bố theo mùa rõ rệt Mùa mưa (từ tháng 8 đến tháng
12) tập trung 65 - 85% lượng mưa cả năm, nhiệt độ thấp bốc hơi nhỏ, số giờ nắng ít và
đôi khi cũng có bão Mùa khô kéo dài từ tháng 1 đến tháng 7: lượng mưa ít, nhiệt độ
cao, bốc hơi lớn, nắng nhiều, ít có gió bão Tổng lượng mưa chỉ chiếm từ 15 - 35%
tổng lượng mưa cả năm, thường dẫn đến hạn hán trong vụ hè thu và đầu vụ mùa
Bức xạ: Số giờ nắng tập trung từ tháng 3 đến tháng 9 trung bình mỗi tháng
247,4 giờ nắng (tức là trung bình hơn 8 giờ/ngày) tháng 12 ít nắng nhất 46 giờ/ tháng
tương đương với 1,53 giờ/ngày
Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí trung bình năm là 82,1% Vào mùa mưa từ
tháng 9 đến tháng 12, độ ẩm được nâng cao hơn 81 - 87%, độ ẩm trung bình thấp nhất
72% vào tháng 6
Bốc hơi: lượng bốc hơi nước phụ thuộc vào chế độ mưa, nhiệt độ, chế độ gió
lượng bốc hơi cả năm trung bình 68,2mm Vào tháng 5 có lượng bốc hơi cao nhất
(trung bình 90,3mm) Tháng 12 có lượng bốc hơi thấp (trung bình 42,1mm)
Với nền nhiệt độ cao đều trong năm và lượng mưa tương đối lớn thuận lợi cho
đa dạng hóa cây trồng, thâm canh tăng vụ, tăng năng suất cây trồng Tuy nhiên với
lượng mưa phân bổ không đều và hay có bão hàng năm nên có ảnh hưởng xấu đến sản
xuất nông, lâm nghiệp
Như vậy, với điều kiện khí hậu như Bảng 3.1 là thuận lợi cho việc phát triển sản
xuất nông nghiệp, xây dựng hạ tầng kỹ thuật, xây dựng công trình vật kiến trúc Tuy
nhiên, lượng mưa tương đối lớn nhưng phân bố không đều giữa các tháng trong năm
làm hạn chế một phần đến quá trình sản xuất nông nghiệp
3.1.1.4 Thủy văn
Thị xã An Nhơn có hệ thống sông ngòi khá dày chảy trên địa bàn và phân bố
tương đối đồng đều Trong đó quan trọng nhất là sông Kôn với 3 nhánh sông chính:
sông Đập Đá, sông Gò Chàm và sông Tân An Hệ thống sông ngòi của An Nhơn đều
chảy theo hướng từ Tây sang Đông, lưu vực nhỏ ngắn Đa số các nhánh sông đều bắt
nguồn từ vùng miền núi phía Tây có độ dốc lớn, lòng sông hẹp, ít có bãi bồi, về phía
hạ lưu lòng sông mở rộng Chế độ nước của các sông phụ thuộc vào chế độ mưa Vào
mùa mưa lượng nước sông dâng cao gây hiện tượng lụt lội khu vực ven sông, mùa khô
lượng nước các sông cạn kiệt gây khó khăn cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân
Do ở gần các cửa biển nên chế độ nước của các sông trên địa bàn thị xã chịu
ảnh hưởng của thuỷ triều biển Đông, đặc biệt là vào mùa khô nước các sông cạn kiệt
nguồn nước mặn xâm nhập gây nhiễm mặn, phèn đất khu vực ven sông, cùng với Hồ
Trang 40Núi Một và mạng lưới kênh mương nhân tạo đã tạo nên cảnh quan đa dạng, thuận lợi
cho quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị
3.1.1.5 Các nguồn tài nguyên và cảnh quan môi trường
a Tài nguyên đất:
Đất đai trên địa bàn thị xã An Nhơn được hình thành từ 2 nguồn gốc: Do phong
hoá tại chỗ đá mẹ và đất thủy thành Cụ thể gồm 5 nhóm với các loại đất chính sau:
- Nhóm đất cát có diện tích 160ha, chiếm 0,66% diện tích tự nhiên, phân bố
thành những dải hẹp hoặc bãi rộng ven sông Kôn thuộc xã Nhơn Phúc, Nhơn Mỹ Đất
cát thường có màu trắng hoặc vàng nhạt, kích thước hạt rất thô
- Nhóm đất phù sa có diện tích khoảng 7.641ha, chiếm 31,55% diện tích tự
nhiên của thị xã Đất được hình thành do quá trình bồi đắp phù sa của sông Kôn và các
sông, suối nhỏ khác trên địa bàn Do phần lớn các sông đều bắt nguồn và chảy qua
vùng đồi núi cấu tạo bởi đá cát, đá granít hoặc phù sa cổ nên phần lớn đất phù sa đều
có thành phần cơ giới nhẹ hoặc trung bình, có phản ứng chua Nhóm đất phù sa có 2
loại đất chính là đất phù sa chua và đất phù sa đốm gỉ
Đất phù sa chua có diện tích 7.279ha phân bố ở các xã khu vực ven sông Kôn
thuộc các xã Nhơn Hậu, Nhơn Mỹ, Nhơn Thọ, phường Nhơn Hoà và phường Bình
Định, thường ở các khu vực có địa hình cao Đất có thành phần cơ giới nhẹ hoặc trung
bình, có màu vàng đậm, khá xốp, chuyển lớp từ từ Đất chua vừa, độ chua giảm dần
theo độ sâu tầng đất Hàm lượng mùn, đạm trung bình, Lân tổng số và lân dễ tiêu khá,
kali tổng số và dễ tiêu trung bình và nghèo Đất nhẹ dễ thấm nước nhưng đã hình
thành tầng đế cày Đất phù sa chua thuận lợi cho phát triển hoa màu và các cây công
nghiệp ngắn ngày
Đất phù sa đốm gỉ có diện tích 362ha, phân bố ở các xã Nhơn Thọ, Nhơn Lộc
và Nhơn Tân gồm đất phù sa đốm gỉ glây sâu và đất phù sa đốm gỉ kết von sâu Loại
đất này phân bố ở khu vực có địa hình cao Lớp đất tầng mặt và tầng kế tiếp chua vừa,
các tầng dưới ít chua Hàm lượng mùn, đạm, lân dễ tiêu và lân tổng số trung bình, kali
tổng số và kali dễ tiêu nghèo, lượng can xi và magiê trao đổi thấp, nhất là ở tầng mặt
Hàm lượng sắt, nhôm di động rất cao ngay ở tầng mặt gây độc hại cho cây trồng Đất
phù sa đốm gỉ hiện chủ yếu là đất trồng lúa
- Nhóm đất Glây có diện tích khoảng 3.044ha, chiếm 12,57% diện tích tự nhiên
của thị xã gồm đất glây chua điển hình, đất glây chua thành phần cơ giới nhẹ, đất glây
chua kết von sâu, đất glây chua kết von yếu Nhóm đất này phân bố chủ yếu ở khu vực
phía Đông của thị xã, chia ra: phường Bình Định 276ha, phường Đập Đá 90ha và ở
các xã, phường: Nhơn Thành 419ha, Nhơn Mỹ 685ha, Nhơn An 90ha, Nhơn Hưng
350ha, Nhơn Hoà 312ha, Nhơn Hạnh 504ha, và Nhơn Phong 318ha Đất có nguồn gốc