Trong số các địa phương thuộc tỉnh Quảng Bình thì huyện Quảng Trạch có nhiều nét đặc thù về tài nguyên, hoạt động khai thác, sử dụng và phát triển cây dược liệu.. Ý nghĩa khoa học - Kế
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng và đánh giá các mô hình trồng cây dược liệu tại huyện Quảng Trạch - tỉnh Quảng Bình” là công trình nghiên
cứu của bản thân tôi
Các nội dung nghiên cứu, các kết quả phân tích nêu trong luận văn là trung thực
và chưa được công bố Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn được sử dụng trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc, đảm bảo trích dẫn theo đúng quy định
Huế, ngày tháng 4 năm 2016
Tác giả
Trần Thị Hải Yến
Trang 2Cũng nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến UBND huyện Quảng Trạch, Hội Đông y, Phòng Y tế, Hạt Kiểm lâm, phòng Tài nguyên môi trường, phòng Nông nghiệp huyện Quảng Trạch, Chi cục Thống kê tỉnh Quảng Bình cùng toàn thể bạn bè, đồng nghiệp đã cung cấp số liệu, thông tin và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Mặc dù bản thân đã rất nổ lực thực hiện, nhưng do còn hạn chế về trình độ cũng như thời gian nên luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp xây dựng quý báu của các nhà khoa học, các thầy cô giáo và bạn bè đồng nghiệp
Xin chân thành cảm ơn
Trang 3TÓM TẮT LUẬN VĂN
Quảng Bình là một tỉnh nằm ở vị trí trung tâm khu vực Bắc Trung Bộ, có điều kiện địa hình, khí hậu thuận lợi để nhiều loài động, thực vật sinh trưởng và phát triển, nhiều trong số chúng có giá trị cao trong việc chăm sóc sức khoẻ và điều trị bệnh cho con người Trong số các địa phương thuộc tỉnh Quảng Bình thì huyện Quảng Trạch có nhiều nét đặc thù về tài nguyên, hoạt động khai thác, sử dụng và phát triển cây dược
liệu Vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng và đánh giá các mô hình trồng cây dược liệu tại huyện Quảng Trạch - tỉnh Quảng Bình”
Mục đích của đề tài: Xây dựng cơ sở dữ liệu khoa học về hiện trạng tài nguyên cây dược liệu và đánh giá khả năng nhân rộng mô hình trồng một số cây dược liệu chủ yếu tại huyện Quảng Trạch - tỉnh Quảng Bình
Đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu: phương pháp thu thập thông tin; phương pháp nội nghiệp và phân tích, xử lý thông tin
Qua quá trình nghiên cứu đề tài đã thu được một số kết quả:
Huyện Quảng Trạch có 265 loài cây dược liệu, thuộc 115 họ Trong đó có 2 loài nguy cấp (EN), 6 loài sẽ nguy cấp (VU)
Về dạng sống, các loài cây dược liệu trên địa bàn huyện Quảng Trạch có số lượng nhiều nhất là ở dạng cây thân thảo, với 98 loài chiếm 36,98%, tiếp đó là cây gỗ với 75 loài, chiếm 28,30%, tiếp theo là dạng cây bụi 46 loài, chiếm 17,36% và cây thân leo 35 loài, chiếm 13,21% Còn dạng cây thủy sinh, kí sinh, phụ sinh 11 loài chiếm 4,15%
Trong các loài cây dược liệu dược khai thác thì có nhiều bộ phận được dùng làm thuốc: lá, thân, rễ trong đó lá là bộ phận thường xuyên được người dân sử dụng làm thuốc nhất với 114 loài, chiếm 43,02%, thứ hai là rễ cây với 74 loài, chiếm 27,92%, thứ ba là toàn cây có 65 loài, chiếm 24,53%
Các loài cây dược liệu có môi trường sống rất đa dạng, phạm vi phân bố rộng
và thích nghi với nhiều điều kiện địa lý khác nhau Môi trường sống ở rừng có số loài nhiều nhất; tiếp theo là các loài cây bãi hoang và môi trường nương rẫy, vườn nhà
Các loài thuộc nhóm cây chữa cảm, ho, hạ sốt chiếm tỷ lệ cao với 51 loài chiếm 19,25 %; tiếp theo là nhóm bệnh về đường tiêu hóa với 41 loài chiếm 15,47 %
và nhóm bệnh ngoài da với 39 loài chiếm 14,72% Các nhóm cây chữa bệnh ngoài thần kinh, gan, thận, chữa tê thấp, đau nhức, sốt rét, rắn cắn cũng chiếm một tỷ lệ đáng kể
Sự cạn kiệt nguồn tài nguyên cây thuốc tại huyện Quảng Trạch gây ra bởi nhiều nguyên nhân, trong đó sự hạn chế trong nhận thức dẫn đến khai thác quá mức trong thời gian dài và thu hái không đúng kỹ thuật được xác định là các nguyên nhân chính
Trang 4Đa số các loài cây được các hộ gia đình chọn để trồng vào mô hình đều thích nghi, sinh trưởng và phát triển tốt Các hộ gia đình trồng cây thuốc trong các mô hình vườn nhà vừa hỗ trợ bảo vệ nguồn gen cây thuốc, vừa tạo thu nhập cho gia đình, nâng cao đời sống kinh tế Đây cũng là thành công bước đầu cho sự hình thành và phát triển cây dược liệu ở nơi đây
Đề tài cũng đã bước đầu đề xuất được các giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc tại huyện Quảng Trạch: giải pháp tuyên truyền, giáo dục; giải pháp nâng cao năng lực; giải pháp chính sách; giải pháp khoa học - công nghệ
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT LUẬN VĂN iii
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC CÁC BẢNG ix
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ x
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
1 Tài nguyên cây dược liệu trên Thế giới và Việt Nam 4
1.1 Trên thế giới 4
1.2 Ở Việt Nam 6
2 Thực trạng nhu cầu và hoạt động sản xuất kinh doanh cây dược liệu ở Việt Nam 9
3 Tổng quan nghiên cứu về cây thuốc trên Thế giới và ở Việt Nam 14
3.1 Trên thế giới 14
3.2 Ở Việt Nam 18
CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 22
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 22
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 22
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 23
2.3 Nội dung nghiên cứu 23
2.4 Phương pháp nghiên cứu 25
2.4.1 Phương pháp thu thập thông tin 25
2.4.2 Phương pháp nội nghiệp và phân tích, xử lý thông tin 27
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của khu vực nghiên cứu 28
Trang 63.1.1 Điều kiện tự nhiên 28
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 34
3.2 Hiện trạng về tài nguyên cây dược liệu tại địa bàn nghiên cứu 38
3.2.1 Danh lục các loài cây dược liệu tại địa bàn nghiên cứu 38
3.2.2 Sự đa dạng về dạng sống của các cây dược liệu tại địa bàn nghiên cứu 39
3.2.3 Sự đa dạng về bộ phận sử dụng của các cây dược liệu tại địa bàn nghiên cứu 40
3.2.4 Sự đa dạng về sinh cảnh sống của các cây dược liệu tại địa bàn nghiên cứu 41
3.2.5 Giá trị sử dụng của các loài cây dược liệu tại địa bàn nghiên cứu 43
3.2.6 Những cây thuốc có tiềm năng khai thác phát triển kinh tế 44
3.3 Tình hình khai thác, sử dụng tài nguyên cây dược liệu của cộng đồng địa phương 46
3.3.1 Tình hình khai thác cây dược liệu của cộng đồng địa phương 46
3.3.2 Cách khai thác và chế biến cây dược liệu của cộng đồng địa phương 47
3.3.3 Mức độ sử dụng cây dược liệu của cộng đồng địa phương 48
3.3.4 Những cây dược liệu quý hiếm, nguy cấp cần được bảo vệ ở khu vực nghiên cứu 51
3.3.5 Giải pháp bảo tồn nguồn gen cây dược liệu tại huyện Quảng Trạch 52
3.3.6 Những tri thức bản địa trong việc sử dụng tài nguyên cây dược liệu của cộng đồng địa phương 52
3.4 Tìm hiểu và đánh giá các mối đe doạ đến sự tồn tại và phát triển tài nguyên cây thuốc tại địa phương 54
3.4.1 Sự hạn chế về nhận thức trong khai thác bền vững cây thuốc 54
3.4.2 Sự lãng phí tài nguyên cây thuốc 56
3.4.3 Khai thác tràn lan, không chú ý đến tái tạo, bảo tồn 57
3.5 Khảo sát, đánh giá các mô hình trồng cây dược liệu tại địa bàn nghiên cứu 58
3.5.1 Thống kê và phân loại các mô hình trồng dược liệu hiện có tại địa phương 58
3.5.2 Quá trình và điều kiện hình thành mô hình trồng cây dược liệu 60
3.5.3 Một số thông tin chung và đặc điểm của các loài cây dược liệu trong các mô hình 61
3.5.4 Kết quả khảo sát các mô hình trồng cây dược liệu tại huyện Quảng Trạch 66
3.6 Đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc tại địa bàn nghiên cứu 85
3.6.1 Giải pháp tuyên truyền, giáo dục 86
3.6.2 Giải pháp nâng cao năng lực 86
Trang 73.6.3 Giải pháp chính sách 87
3.6.4 Giải pháp khoa học - công nghệ 88
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 90
1 Kết luận 90
2 Đề nghị 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNI : Viện ung thư Hoa Kỳ
CBLQ : Các bên liên quan
CHLB : Cộng hòa liên bang
NN&PTNT : Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
UBND : Ủy ban nhân dân
UBMTTQVN : Ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam
TCN : Trước công nguyên
SWOT : Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức
VIETGAP : Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt
WHO : Tổ chức Y tế thế giới
WWF : Quỹ quốc tế và bảo vệ thiên nhiên
WB : Ngân hàng thế giới
YHCT : Y học cổ truyền
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Dự báo mức tăng trưởng hàng năm của thị trường dược phẩm ở một số nước
(2012 - 2017) 16
Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất của các xã năm 2014 33
Bảng 3.2 Diện tích, dân số, mật độ dân số các xã năm 2014 34
Bảng 3.3 Dân số trong độ tuổi lao động phân theo xã năm 2014 36
Bảng 3.4 Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế 37
Bảng 3.5 Các dạng sống thường gặp ở các loài cây dược liệu 39
Bảng 3.6 Sự đa dạng các bộ phận sử dụng làm thuốc ở huyện Quảng Trạch 40
Bảng 3.7 Sự phân bố của các loài cây thuốc theo môi trường sống 42
Bảng 3.8 Phân loại theo công dụng của các cây dược liệu tại huyện Quảng Trạch 43
Bảng 3.9 Các loài cây thuốc có tiềm năng khai thác phát triển kinh tế tại huyện Quảng Trạch 45
Bảng 3.10 Các loài cây dược liệu thường xuyên được khai thác ở địa bàn huyện Quảng Trạch 46
Bảng 3.11 Các loài cây thuốc được sử dụng phổ biến tại địa bàn huyện Quảng Trạch 49
Bảng 3.12 Những cây thuốc quý hiếm, nguy cấp tại khu vực nghiên cứu 51
Bảng 3.13 Thống kê nhận thức của người dân về khai thác cây thuốc 55
Bảng 3.14 Thống kê về tình trạng sơ chế, bảo quản cây thuốc 56
Bảng 3.15 Các mô hình phát triển dược liệu tại huyện Quảng Trạch 58
Bảng 3.16 Tình hình sơ chế, bảo quản, chế biến cây dược liệu trên địa bàn huyện Quảng Trạch năm 2015 72
Bảng 3.17 Hiệu quả kinh tế mô hình trồng Kim tiền thảo và Cà gai leo 73 Bảng 3.18 Những loài cây dược liệu có tiềm năng phát triển tại huyện Quảng Trạch 85
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Quảng Trạch 28
Biểu đồ 1.1 Tỷ trọng giá trị tiêu thụ thuốc theo quốc gia 15
Biểu đồ 3.1 Phân bố các dạng sống thường gặp của cây dược liệu 39
Biểu đồ 3.2 Phân bố của các loài cây dược liệu theo bộ phận sử dụng 41
Biểu đồ 3.3 Phân bố của các loài cây dược liệu theo môi trường sống 42
Biểu đồ 3.4 Tần số sử dụng cây dược liệu theo các nhóm bệnh 44
Sơ đồ 3.1 Các bên liên quan trong hoạt động phát triển dược liệu tại 74
huyện Quảng Trạch 74
Sơ đồ 3.2 Các vấn đề cần quan tâm khi phát triển mô hình điểm 81
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam có điều kiện tự nhiên, khí hậu thuận lợi nên có nguồn tài nguyên thực vật phong phú và đa dạng Theo thống kê sơ bộ, ở Việt Nam hiện đã biết khoảng 10.350 loài thực vật bậc cao có mạch, khoảng 800 loài Rêu, 600 loài Nấm và hơn 2000 loài Tảo Trong đó có nhiều loài làm thuốc [20]
Ngày nay, việc tìm kiếm các hoạt chất tự nhiên có hoạt tính sinh học cao để làm thuốc là một xu thế được rất nhiều các nhà khoa học quan tâm Việt Nam là một trong những quốc gia thuộc các vùng nhiệt đới - nơi chứa đựng giá trị đa dạng sinh học cao chưa được khám phá Bên cạnh đó, cộng đồng các dân tộc ở nước ta cũng có vốn tri thức bản địa sử dụng các loài động vật, thực vật và khoáng vật làm thuốc [37]
Việt Nam có một hệ sinh thái phong phú và đa dạng, một tiềm năng lớn về tài nguyên cây dược liệu nói riêng và tài nguyên dược liệu (thực vật, động vật, khoáng vật) nói chung Điều này thể hiện ở sự đa dạng về chủng loại cây dược liệu (trong số hơn 12.000 loài thực vật Việt Nam thì có gần 4.000 loài cho công dụng làm thuốc), vùng phân bố rộng khắp cả nước, có nhiều loài dược liệu được xếp vào loài quý và hiếm trên thế giới, như: Sâm ngọc linh, Sâm vũ diệp, Tam thất hoang, Bách hợp, Thông đỏ, Vàng đắng, Hoàng liên ô rô, Hoàng liên gai, Thanh thiên quỳ, Ba gạc Vĩnh Phú… [37]
Theo kết quả điều tra của Viện Dược liệu, tính đến 2005 đã ghi nhận được 3948 loài thực vật và nấm lớn có công dụng làm thuốc; 52 loài tảo biển, 408 loài động vật
và 75 loại khoáng vật có công dụng làm thuốc ở Việt Nam Kết quả này cũng đã cho thấy nguồn dược liệu ở nước ta rất phong phú Trong tổng số 3.948 loài cây thuốc, gần 90% là cây thuốc mọc tự nhiên, tập trung chủ yếu trong các quần xã rừng, chỉ có gần 10% là cây thuốc trồng [20]
Tiềm năng to lớn là vậy, song công cuộc bảo tồn và phát triển dược liệu ở nước ta cũng đang gặp phải một số hạn chế, khó khăn, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến quy hoạch phát triển dược liệu, công tác bảo tồn và phát triển nguồn gen dược liệu, việc tiêu chuẩn hóa dược liệu, cũng như việc hiện đại hóa sản xuất thuốc từ dược liệu [37]
Với nhu cầu sử dụng các loài dược liệu làm thuốc ngày càng tăng, do khai thác dược liệu quá mức mà không đi đôi với việc tái tạo, bảo tồn, cộng với nhiều nguyên nhân khác đã làm cho nguồn tài nguyên dược liệu bị giảm sút nghiêm trọng, nhiều loài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng [20]
Quảng Bình là một tỉnh nằm ở vị trí trung tâm khu vực Bắc Trung Bộ, có điều kiện địa hình, khí hậu thuận lợi để nhiều loài động, thực vật sinh trưởng và phát triển, nhiều trong số chúng có giá trị cao trong việc chăm sóc sức khoẻ và điều trị bệnh cho con người [7]
Trang 12Trong số các địa phương thuộc tỉnh Quảng Bình thì huyện Quảng Trạch có nhiều nét đặc thù về tài nguyên, hoạt động khai thác, sử dụng và phát triển cây dược liệu Với dãy Hoành Sơn án ngữ hoàn toàn phía Bắc, biển Đông và sông Gianh bao bọc phía các phía còn lại của huyện đã tạo cho nơi đây một kiểu địa hình và khí hậu độc đáo của tiểu khu vực Bình Trị Thiên Hình ảnh “cỏ cây chen đá, lá chen hoa” của địa phương nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Quảng Bình này đã phần nào nói lên tiềm năng giá trị cảnh quan và đa dạng sinh học tại đây, trong đó có tài nguyên cây dược liệu Kết quả khảo sát bước đầu của Bộ môn Quản lý Tài nguyên rừng và Môi trường (Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Huế) cho thấy Quảng Trạch có tài nguyên cây thuốc rất đa dạng, trong đó có nhiều loài rất khó tìm thấy ở các địa phương khác trong tỉnh và khu vực như: Đại kế, Bạch tật lê, Bố chính sâm, Tiên mao sâm, Giảo cổ lam, Nhân trần cát, Chùm ngây [7]
Từ những cây cỏ mọc hoang dại giữa đại ngàn rừng hay lẫn khuất trong những đám cỏ cây ven sông, ven suối, bãi cát ven biển, người dân và các lương y tại địa phương đã phát hiện và bào chế thành những bài thuốc nam quý giá Nhiều hộ gia đình hiện cũng đã đưa cây thuốc nam về trồng trong vườn nhà như một nỗ lực để góp phần bảo tồn và phát triển tài nguyên cây dược liệu [7]
Xuất phát từ những vấn đề trên chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng và đánh giá các mô hình trồng cây dược liệu tại huyện Quảng Trạch - tỉnh Quảng Bình”
2 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng cơ sở dữ liệu khoa học về hiện trạng tài nguyên cây dược liệu và đánh giá khả năng nhân rộng mô hình trồng một số cây dược liệu chủ yếu tại huyện Quảng Trạch - tỉnh Quảng Bình
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
a Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp dữ liệu về hiện trạng tài nguyên và tiến trình phát triển, nhân giống và nhân giống các loài cây dược liệu có giá trị bảo tồn trên
cơ sở cộng đồng người dân địa phương
- Đánh giá được tiềm năng cũng như thuận lợi, khó khăn của người dân địa phương trong việc thực hiện các mô hình trồng cây dược liệu
- Cung cấp cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên cây thuốc của cộng đồng người dân tại khu vực nghiên cứu
Trang 13- Góp phần đa dạng hoá cây trồng nói chung, cây lâm sản ngoài gỗ nói riêng và phát triển sinh kế hộ gia đình, tạo thêm sản phẩm hàng hoá và nguồn dược liệu tại chỗ
hỗ trợ chăm sóc sức khoẻ người dân nghèo tại địa phương
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1 Tài nguyên cây dược liệu trên Thế giới và Việt Nam
1.1 Trên thế giới
Việc sử dụng cây cỏ làm thuốc đã có một bề dày lịch sử và đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm Theo đánh giá chung của tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì có tới 80% dân số toàn thế giới vẫn thường xuyên sử dụng cây thuốc cho việc chăm sóc sức khỏe ban đầu (Inglis, 1994) [31]
Trước Công nguyên, loài người đã biết sử dụng nhiều loại thực vật và động vật
để làm thuốc Trải qua hàng nghìn năm sử dụng và tìm hiểu, con người đã có sự hiểu biết sâu sắc hơn về dược liệu, đồng thời sử dụng ngày càng nhiều vào mục đích phòng, trị bệnh Đến nay, có hơn 80.000 loài thực vật được sử dụng làm thuốc chữa bệnh Dược liệu ngày càng có giá trị to lớn trong Y học nói chung và nền kinh tế của mỗi quốc gia nói riêng Ước tính có đến 25% trong số các loại thuốc ở các nước phát triển
có nguồn gốc từ thảo mộc Mức độ sử dụng dược liệu vào điều trị ở các nước phát triển như Mỹ, Nhật và một số nước Châu Á rất lớn [31]
Có thể nói Trung Quốc là nước có truyền thống lâu đời về việc nghiên cứu sử dụng cây thuốc Kể từ thời Sheng- Nong (gần 3000 năm trước Công Nguyên), đã có
365 loài thực, động vật và khoáng vật được ghi nhận là có tác dụng chữa bệnh (Pie, 1987) Người ta đã ước tính rằng, số loài cây thuốc được dùng trong hệ thống Y dược Trung Quốc là 8.000, trong đó, thuốc của Tây Tạng 3.294 loài, thuốc của Mông Cổ là 1.430, của dân tộc Yi là 3.294, của dân tộc Max là 800, dân tộc Wa là 1.430, dân tộc Dai là 800 và cuối cùng là các loại thuốc thông thường được dùng là 201 loài [31]
Tại Trung Quốc, hằng năm tiêu thụ khoảng 700.000 tấn dược liệu, trong đó có trên 5.000 loài thực vật; giá trị kinh tế năm 2003 ước đạt 6 tỷ USD và năm 2008 ước đạt 26 tỷ USD Giá trị kinh tế từ các nguồn dược liệu tại Mỹ năm 2004 ước đạt 17 tỷ USD và tại Nhật Bản năm 2006 ước đạt 1,1 tỷ USD Đến nay, việc nghiên cứu và sử dụng dược liệu ở các nước này ngày càng phát triển Đặc biệt, để bảo đảm chất lượng dược liệu trong phòng và điều trị bệnh, nhiều nước đã xây dựng hệ thống tiêu chuẩn hóa cao cho các dược liệu như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia [31]
Văn minh của người Ấn Độ cổ đại đã phát triển cách đây 5000 năm dọc theo bờ sông Indus ở miền Nam Ấn Độ Trong bộ sử thi Vedas (năm 1500 TCN), chứa đựng những kiến thức phong phú về dược thảo thời kỳ đó Những công dụng của cây thuốc này cũng được ghi lại trong cuốn sách dược thảo “Charaka Samhita”, viết năm 400 TCN Sau này, vào khoảng 100 năm SCN, một học giả người Ấn Độ đã mô tả chi tiết
341 loại dược thảo cũng như những loại thuốc có nguồn gốc từ khoáng chất và động vật Hiện nay tại Ấn Độ, đã ghi nhận có khoảng 8.000 loài cây thuốc được ứng dụng
Trang 15trong Y học của hơn 4.000 cộng đồng dân tộc thiểu số và hàng năm doanh thu của Ấn
Độ từ các hoạt động buôn bán cây thuốc trong nước và xuất khẩu là 1 tỷ Đô la Mỹ [1]
Từ thời xa xưa, thực vật làm thuốc đóng một vai trò quan trọng đối với đời sống của con người và ngày nay chúng vẫn giữ được vai trò ấy đối với các nước đang phát triển ở Châu Á Mặc dù vậy, người dân đang phát triển ở các nước Châu Á chỉ mới khai thác cây thuốc từ thiên nhiên hoặc được trồng với mục đích phục vụ trong gia đình, trừ các quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia và Nepal là trồng chúng với mục đích thương mại Tuy nhiên, các quốc gia này cũng chỉ gây trồng ở quy mô nhỏ
và chủ yếu phục vụ nhu cầu trong nước (Batugal et al., 2004) [36]
Ở các nước khác như Anh, Đức, Mỹ, nền y học cổ truyền cũng phát triển mạnh Tại Đức, một ủy ban gồm nhiều bác sĩ, dược sĩ, chuyên gia về chất độc đã hoàn thành một tài liệu với trên 400 chuyên đề tả công dụng, tác dụng phụ, phân lượng của nhiều dược thảo Tại Mỹ, dược thảo rất thông dụng với thổ dân bản xứ Năm 1716, nhà thám hiểm Pháp Lafitau đã tìm ra Sâm Mỹ ở vùng New World Hiện nay Sâm là tài nguyên xuất khẩu quan trọng của Hoa Kỳ Hội đồng thực vật Mỹ (Austin-Texas), dựa vào hai công trình của Đức và Anh, đã soạn thảo một tài liệu nói về 26 dược thảo thông dụng [36]
Gần đây, theo số liệu của Tổ chức Y học Thế giới (WHO), đến năm 1995 đã có gần 20.000 loài thực vật (trong tổng số 250.000 loài được biết đến) được sử dụng làm thuốc hay cung cấp các hoạt chất để chế biến thuốc Trong đó, Ấn Độ có khoảng 6.000 loài, Trung Quốc có khoảng 5.000 loài [25]
Cũng theo WHO thì mức độ sử dụng thực vật làm thuốc ngày càng cao như: hàng năm Trung Quốc tiêu thụ 700.000 tấn dược liệu, sản phẩm thuốc Y học dân tộc đạt giá trị hơn 1,7 tỷ USD vào năm 1986 Tại Nhật Bản, năm 1979 nhập 21.000 tấn, đến năm 1980 tăng lên 22.640 tấn dược liệu, tương đương 50 triệu USD Điều này chứng tỏ ở các nước phát triển thì cây thuốc phục vụ cho Y học cổ truyền cũng phát triển mạnh Cây thuốc là loại cây kinh tế, nó cung cấp nhiều loại thuốc dân tộc và hiện đại trong việc bảo vệ, chăm sóc sức khỏe con người [55]
Chữa bệnh bằng cây cỏ đang dần trở thành xu hướng của thế giới Trong khoảng 30 năm gần đây, Viện Ung thư Hoa Kỳ (CNI) đã điều tra nghiên cứu sàng lọc hơn 40.000 mẫu cây thuốc, phát hiện hàng trăm cây thuốc có khả năng chữa trị bệnh ung thư, 25% đơn thuốc ở Mỹ sử dụng chế phẩm có dược tính mạnh được điều chế từ
một loài Hoa hồng (Cantharanthus roseus) Đặc biệt ở Madagasca, người ta dùng cây
này để chữa bệnh máu trắng cho trẻ em và rất hiệu quả, đã làm tăng tỷ lệ sống của trẻ
em từ 10 lên đến 90% [39], [27]
Tuy nhiên, ngày nay do các hoạt động mưu cầu của cuộc sống con người đã và đang gây sức ép lên sự sinh tồn của các loài cây thuốc trên thế giới Nhiều loài cây thuốc quý hiếm bị khai thác bừa bãi nên đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng hoặc
Trang 16đã bị tuyệt chủng Theo P Raven (1987) và Ole Harmann (1988), trong vòng hơn 100 năm trở lại đây, có khoảng 1.000 loài thực vật đã bị tuyệt chủng, có tới 60.000 loài gặp rủi ro hay sự tồn tại của chúng bị đe dọa vào thế kỷ tới Trong số những loài thực vật
đã mất đi hoặc đang bị đe dọa gay gắt, có một tỷ lệ không nhỏ là thực vật làm thuốc Trong đó có khoảng 120 loài ở Ấn Độ, 77 loài ở Trung Quốc, 75 loài ở Macoro, 61 loài ở Thái Lan, 35 loài ở Bangladet [28]
Để phục vụ cho mục đích chăm sóc bảo vệ sức khoẻ con người, cho sự phát triển của xã hội và để chống lại các bệnh nan y thì sự cần thiết phải kết hợp giữa Đông
- Tây y, giữa y học hiện đại với y học cổ truyền của các dân tộc là một vấn đề cấp thiết Chính từ những kinh nghiệm của y học cổ truyền đã giúp cho nhân loại khám phá ra những loại thuốc có ích trong tương lai Cho nên, việc khai thác kết hợp với bảo tồn các loài cây thuốc là điều hết sức quan trọng Các nước trên thế giới đang hướng
về thực hiện chương trình Quốc gia kết hợp sử dụng, bảo tồn và phát triển bền vững cây thuốc [2]
1.2 Ở Việt Nam
Việt Nam là một trong những nước có nguồn dược liệu đa dạng, với khoảng 3.948 loài cây thuốc, 52 loài tảo biển, 75 loại khoáng vật và 408 loài động vật làm thuốc Gắn liền với nguồn tài nguyên dược liệu phong phú đó, nền Y dược cổ truyền Việt Nam đã có bề dày lịch sử hình thành và phát triển, có nhiều đóng góp cho sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân [31]
Nằm ở vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, Việt Nam được đánh giá là nước đứng thứ 16 trên thế giới về sự phong phú, đa dạng sinh vật, trong đó độ đa dạng về cây cỏ khoảng 10.386 loài thực vật có mạch đã được xác định, dự đoán có thể tới 12.000 loài, trong số này, nguồn tài nguyên cây làm thuốc chiếm khoảng 30% [38]
Nằm tại khu vực giao lưu các nền văn hóa ở các nước Đông Nam Á, Việt Nam còn là quốc gia đa dạng về các nền văn hóa của 54 dân tộc anh em sinh sống trên khắp lãnh thổ Việt Nam Với mức độ đa dạng về hệ thực vật - văn hóa như vậy, chúng ta đang được kế thừa một kho tàng tài nguyên cây thuốc quý giá của các cộng đồng dân tộc khác nhau sử dụng trong công tác chăm sóc sức khỏe và phát triển kinh tế [29]
Phần lớn cây thuốc Việt Nam mọc hoang dại ở vùng rừng núi- một vùng chiếm 3/4 diện tích toàn lãnh thổ, là nơi cư trú của 54 dân tộc mà phần lớn là dân tộc thiểu số với khoảng 24 triệu người, chiếm hơn 1/3 dân số quốc gia Chính sự đa dạng về tộc người cùng với sự khác biệt về điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu, phong tục tập quán, văn hóa trong từng cộng đồng dân tộc đã dẫn đến sự đa dạng những kinh nghiệm gia truyền trong việc chữa bệnh và cách sử dụng cây cỏ xung quanh mình làm thuốc chữa bệnh [29]
Trang 17Trong thời gian gần đây, thực vật là đối tượng đặc biệt được nhiều nhà khoa học quan tâm và cố gắng đánh giá đúng vị trí, vai trò chức năng sử dụng của nó trong nhiều lĩnh vực như thức ăn, thuốc chữa bệnh, trang phục, dụng cụ, các nghi lễ tôn giáo, môi trường,…ở từng vùng địa phương khác trên thế giới Trong đó, cây thuốc được các nhà khoa học nghiên cứu nhiều nhất [29]
Tại Việt Nam, từ thời đại các vua Hùng dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã xây dựng một nền y học cổ truyền để chữa các loại bệnh tật, tổ tiên ta đã sớm sử dụng nhiều loài cây cỏ như bột đao, bột báng để thay cơm, uống nước vối để giúp tiêu hóa
và phòng bệnh, nhai trầu để bảo vệ răng, Trong thời kỳ độc lập (937-1399), vào thời nhà Lý, ở xã Đại Yên (Hà Nội), đời nhà Trần, Thái Y Viện đã tổ chức đi sưu tầm thuốc ở núi Yên Tử (Đông Triều - Quảng Ninh), Phạm Ngũ Lão xây dựng vườn thuốc Vạn Yên và gây rừng thuốc dược sản ở Phả Lại (huyện Chí Linh) để phục vụ quân đội đánh giặc ngoại xâm [29]
Công tác điều tra của Viện dược liệu - Bộ Y tế ở tất cả các địa phương trên toàn quốc kết quả điều tra từ năm 1961 đến cuối năm 2004, đã ghi nhận ở nước ta có 3948 loài cây thuốc, thuộc 307 họ của 9 ngành thực vật (kể cả nấm) Cụ thể, nhóm Tảo
có 52 loài, thuộc 19 họ Nhóm Nấm có 22 loài, 12 họ Ngành rêu có 1 loài 1 họ Ngành Thông đất có 25 loài 2 họ Ngành Cỏ bút tháp có 3 loài 1 họ Ngành Dương
xỉ có 128 loài 26 họ Ngành Thông có 38 loài 11 họ và ngành Ngọc Lan có 3675 loài thuộc 231 họ [23]
Trong tổng số 3.948 loài cây thuốc đã biết đến ở Việt Nam hiện nay, phần lớn được sử dụng theo kinh nghiệm (truyền khẩu) trong nhân dân Số loài được xác minh khoa học về giá trị, cơ chế chữa bệnh (kể cả nguồn tài liệu của nước ngoài) chỉ chiếm khoảng 20 - 30% Chúng được sử dụng để điều trị từ các chứng bệnh thông thường mắc phải trong cuộc sống hàng ngày, như cảm sốt, cảm lạnh, cầm máu - làm lành vết thương, ăn uống khó tiêu, bong gân - sai khớp do ngã, bó - nắn gãy xương,… cho đến
cả một số bệnh nan y khó chữa như bệnh tim mạch, gan, thần kinh, tiểu đường,… Trong một số công bố gần đây về 920 loài cây thuốc, các tác giả của công trình đã liệt
kê ra được 64 loại bệnh chứng đã được điều trị bằng cây thuốc theo cách cổ truyền Một số loại bệnh nan giải về gan, thận, đau dạ dày, thấp khớp, bó gãy xương, chữa rắn cắn,… nhìn chung người dân tỏ ra có tín nhiệm hơn khi điều trị bằng cây thuốc theo kinh nghiệm của y học cổ truyền [10]
Theo các kết quả điều tra, Việt Nam có 7 vùng sinh thái giàu tiềm năng dược liệu của thế giới với gần 4000 loài thực vật và nấm lớn hơn có thể sử dụng làm thuốc Trong đó có nhiều loài có giá trị chữa bệnh cao, một số loại như hồi, quế, sâm Ngọc Linh, tràm, hoa hòe, actiso, là dược liệu quý đã được thế giới công nhận Theo thống
kê chưa đầy đủ ở Gia Lai - Kon Tum có khoảng 921 loài cây được người dân sử dụng
Trang 18làm thuốc, Đắk Lắk có 777 loài, Lâm Đồng có 715 loài, trong đó có nhiều loài cây thuốc quý như: Sâm Ngọc Linh, Cẩu tích, Vàng đắng, Sa nhân, Hà thủ ô đỏ, Ngũ gia
bì gai, Củ dòm [4]
Tài nguyên dược liệu của Việt Nam phong phú và đầy tiềm năng nhưng thực tế đáng buồn là chúng ta chưa có nhiều chính sách bảo tồn nguồn gen, nhất là các cây quý Để phát triển bền vững và hiệu quả nguồn dược liệu trong nước, khai thác được hết các tiềm năng sẵn có, chúng ta cần triển khai nhiều giải pháp đồng bộ, từ quy hoạch trồng và khai thác dược liệu, bảo tồn nguồn gen Và trên hết, Nhà nước cần có những chính sách hợp lý gắn kết được sự tham gia của các nhà khoa học, doanh nghiệp và người nông dân trong một mục đích chung là bảo tồn và phát triển nguồn dược liệu trong nước [4]
Các nghiên cứu về thành phần cây thuốc và động vật làm thuốc trong các vùng lãnh thổ thường được tập trung trong các khu rừng đặc dụng, đặc biệt là các Vườn Quốc gia Các nghiên cứu cũng cho thấy tiềm năng cây dược liệu trong các Vườn Quốc gia là rất lớn [35]
Gần đây tại Thừa Thiên Huế đã phát hiện 130 loài thuốc nam có giá trị Đây là kết quả nghiên cứu của Trường Đại học Nông Lâm Huế trong quá trình triển khai mô hình phát triển cây thuốc nam trên đất rừng được giao tại huyện Nam Đông, thuộc vùng đệm Vườn Quốc gia Bạch Mã Tuy nhiên, người dân địa phương hiện mới chỉ biết sử dụng 62 loài làm dược liệu Nhằm bảo tồn và phát huy nguồn dược liệu có giá trị phục vụ chữa bệnh tại chỗ, sử dụng làm hàng hóa và nghiên cứu khoa học, Trường Đại học Nông Lâm Huế bước đầu chọn 28 hộ gia đình có vườn, rừng thuộc xã Hương Phú (Nam Đông) để phát triển mô hình, gắn với mục đích nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống người dân vùng núi [19]
Vườn quốc gia Bạch Mã với diện tích 37.487 ha, ở gần hai thành phố lớn Huế
và Đà Nẵng Kết quả nghiên cứu cho biết Vườn quốc gia Bạch Mã có tới 1.406 loài thực vật, trong đó có 338 loài cây làm thuốc, 33 loài cây cho tinh dầu Nhiều cây thuốc quý hiếm như A lợi, Đỉnh tùng, Sa mộc, Bảy lá một hoa, Thông tre, Kim tuyến, Lá khôi, Ô dược nam, Thổ phục linh, Vàng đắng, Ba gạc lá nhỏ, Cúc mai đã được ghi vào Sách Đỏ Việt Nam Nhiều phương thuốc chữa nhiều chứng bệnh theo kinh nghiệm của người Mường, Vân Kiều, Cà tu phần lớn có sử dụng các loài cây thuốc trong rừng Quốc gia Bạch Mã Vuờn còn có những loài cây thuốc mà người dân ở đây thu hái bán qua biên giới như Chè đắng, Hoàng cầm núi, Cây ba mươi, Bảy lá một hoa, Bình vôi, Câu đằng Trung Quốc, Bồ công anh Trung Quốc, Sa nhân gai, Thiên niên kiện, Cây cơm nguội, Ngải tím [19]
Trang 192 Thực trạng nhu cầu và hoạt động sản xuất kinh doanh cây dược liệu ở Việt Nam
Là một trong những nước có nhu cầu sử dụng cây dược liệu lớn, tuy nhiên Việt Nam hiện đang phải nhập đến từ 70 - 80% nguồn nguyên liệu từ các quốc gia khác Đây là con số đáng phải suy nghĩ bởi ngoài điều kiện tự nhiên thuận lợi, Việt Nam còn được đánh giá có nguồn dược liệu phong phú và đa dạng [5]
Nằm tại một vị trí tự nhiên hiếm có, khí hậu có nhiều nét độc đáo và đa dạng, Việt Nam được ưu đãi với hệ thống sinh thái phong phú, đa dạng về chủng loại các cây dược liệu với hơn 12 nghìn loài thực vật, trong đó có gần 4 nghìn loài có công dụng làm thuốc được xếp vào loại quý hiếm trên thế giới như: Sâm ngọc linh, Sâm vũ diệp, Tam thất hoang, Bách hợp, Thông đỏ, Vàng đắng, Hoàng liên ô rô, Hoàng liên gai, Thanh thiên quỳ, Ba gạc Vĩnh Phú…[5]
Bên cạnh đó, người Việt Nam đã có kinh nghiệm và truyền thống sử dụng các loại cây để làm thuốc đã góp phần hình thành nên một nền kho tàng tri thức về y học Với những thói quen đó, thị trường tiêu thụ dược liệu và các sản phẩm dược liệu trong
nước hiện đang rất lớn [5]
Hiện nay, các nhà khoa học đã thống kê được gần 300 loài cây thuốc mọc tự nhiên ở rừng, thường xuyên được khai thác với khối lượng từ 10000 - 20000 tấn mỗi năm cung cấp thị trường trong nước và xuất khẩu Các loài thuốc đang được khai thác với số lượng lớn như Vàng Đắng, Thiên niên kiện, Cầu tích, Hoàng đắng, Chè dây [23]
Số liệu thống kê của ngành Y tế gần đây cho biết, mỗi năm ở Việt Nam tiêu thụ
từ 30 - 50.000 tấn các loại dược liệu khác nhau Trên 2/3 khối lượng này được khai thác từ nguồn cây thuốc mọc tự nhiên và trồng trọt trong nước Riêng từ nguồn cây thuốc tự nhiên đã cung cấp tới trên 20.000 tấn mỗi năm Tuy vậy, khối lượng dược liệu này trên thực tế mới chỉ bao gồm từ 200 loài được khai thác và đưa vào thương mại có tính phổ biến hiện nay Bên cạnh đó còn nhiều loài cây thuốc khác vẫn được thu hái sử dụng tại chỗ trong cộng đồng, hiện chưa có con số thống kê cụ thể [61]
Theo điều tra của viện Dược liệu, hiện Việt nam có khoảng 136 loài cây thuốc đang được trồng khá tập trung tại một số vùng sinh thái trên cả nước (chủ yếu ở 18 vùng trồng có tính truyền thống), cung cấp khoảng 15.500 tấn dược liệu cho thị trường [21]
Những dược liệu có giá tăng cao thường là những dược liệu có nhu cầu sử dụng tăng Việc lựa chọn cây trồng phù hợp để ưu tiên phát triển đáp ứng nhu cầu thị trường
là cần thiết Phát triển dược liệu cũng là giải pháp tạo việc làm, khai thác quĩ đất một cách hiệu quả Ngoài việc quy hoạch các vùng trồng dược liệu tập trung, một trong những xu hướng phát triển hiện nay nhằm xóa đói giảm nghèo là sử dụng các cộng đồng dân cư phát triển kinh tế hộ gia đình trên cơ sở phát triển trồng dược liệu [21]
Trang 20Trong tổng số 3948 loài cây thuốc và nấm làm thuốc đã biết, chỉ có khoảng 500 loài là cây thuốc trồng hay từ các loài cây trồng khác nhưng có bộ phận được dùng làm thuốc Song trên thực tế, hiện chỉ có 44 loài trong tổng số đó là cây thuốc trồng sản xuất ra hàng hóa (ở các mức độ khác nhau) [20]
Nhằm đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu, công tác trồng cây thuốc luôn được quan tâm Ngay từ những năm 1960, để phục vụ cho chương trình phòng chống giun sán ở miền Bắc, Viện Dược liệu đã triển khai nghiên cứu đưa cây Dầu giun mọc hoang dại vào trồng rộng rãi Viện Dược liệu chỉ đạo và phối hợp với các trạm Dược liệu trồng một số cây thuốc quan trọng như: ích mẫu, Tam thất, Bạch truật, Đỗ trọng, Hoàng bá, Hoàng cầm, Vân mộc hương, Cát cánh, Bắc sa sâm, Độc hoạt, Đương qui, Bạc hà, Kim ngân Xác định và chọn được
một số vùng có thể triển khai trồng lớn, như trồng Ích mẫu ở Hà Bắc; trồng Tam thất ở
Thông Nông (Cao Bằng); trồng các cây nhập nội từ Trung Quốc ở Sa Pa và Tam Đảo; cung cấp giống cho Lai Châu, Sơn La, Yên Bái, Văn Điển - Hà Nội, Nam Hà để phục
vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu dược liệu sang Đông Âu và Liên Xô [21]
Trong khối công nghiệp dược, cả nước có 286 cơ sở sản xuất dược phẩm (bao gồm các doanh nghiệp nhà nước, công ty, tổ hợp sản xuất, tư nhân) đang sản xuất 1.294 loại dược phẩm được sản xuất từ nguyên liệu thực vật hoặc chất chiết xuất từ thực vật, chiếm 23% số loại dược phẩm được phép sản xuất và lưu hành từ năm 1995-
2000, sử dụng 435 loài cây cỏ Nhu cầu dược liệu cho khối công nghiệp dược khoảng 20.000 tấn, và cho xuất khẩu khoảng 10.000 tấn/năm Theo số liệu năm 1998, Tổng công ty Dược Việt Nam đã xuất khẩu được 13 triệu USD, trong đó dược liệu, tinh dầu
và các hoạt chất từ cây thuốc chiếm 74% Tiềm năng cung cấp dược liệu có thể đạt
500 - 800 tỷ đồng [10]
Một số cây thuốc có tiềm năng đã được đầu tư và tổ chức thành công các vùng trồng để tạo nguyên liệu phục vụ trong nước và xuất khẩu, như trồng Thanh cao hoa vàng, Lão quan thảo, Mã đề, Ngưu tất, Sa nhân, Đương qui Nhật Bản, Lô hội, Hòe, Sả, Địa liền, Gừng, Tỏi, Cúc hoa, Diệp hạ châu, Trinh nữ hoàng cung, Kim tiền thảo, Actiso, Râu mèo, Quế, Hồi, Hương nhu trắng, Hương nhu tía, Bạc hà, Thảo quả, Cốt khí củ, Hoắc hương, Bạch truật, Địa liền, Nga truật, Nhân trần, Bồ bồ, Thảo quyết minh, Xuyên khung, Mạch môn, Ngải cứu, Xạ can, Sen,…[21]
Bên cạnh đó, nhiều địa phương, công ty kinh doanh, các đơn vị nghiên cứu đã trực tiếp đầu tư (với tổng kinh phí lên tới hàng trăm tỷ đồng) xây dựng vùng trồng một
số loài cây thuốc để tạo nguồn nguyên liệu cho sản xuất, như: tỉnh Kon Tum và Quảng Nam đầu tư phát triển Sâm ngọc linh; xây dựng được 7 qui trình trồng 7 cây thuốc trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa tạo nguyên liệu tại chỗ cho sản xuất thuốc: Angelin từ Đương qui Nhật Bản, Morantin từ Mướp đắng, Dihacharin từ Diệp hạ châu đắng, Sotinin chữa
Trang 21sỏi thận, Thập vị bổ cho người cao tuổi và Cốm bổ trẻ em của Viện Dược liệu; xây dựng vùng trồng Hòe xen canh với cây nông nghiệp ở Tây nguyên của Công ty xuất
nhập khẩu Y tế II Thành phố Hồ Chí Minh; qui hoạch vùng trồng Tràm (Melaleuca anternifolia) để chưng cất tinh dầu của Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và phát triển
dược liệu Đồng Tháp Mười; nghiên cứu xây dựng qui trình trồng cây thuốc theo tiêu chuẩn GAP-WHO 5 loài cây thuốc Đương qui, Actiso, Ngưu tất, Cúc hoa, Bạch chỉ; xây dựng vùng trồng Bạc hà Nhật Bản tại Hưng Yên và Nam Định (Công ty cổ phần Dược Mediplantex); xây dựng vùng trồng Kim tiền thảo tại Bắc Giang (Công ty OPC); xây dựng vùng trồng Actiso và Chè dây tại Sa Pa – Lào Cai (Công ty Traphaco); xây dựng vùng nguyên liệu Trinh nữ hoàng cung của Công ty Dược liệu TW II; trồng Đinh lăng ở Nghĩa Trai…[21]
Sản lượng dược liệu ước tính hàng năm ở nước ta vào khoảng 3000 - 5000 tấn Nguồn dược liệu dồi dào là nền tảng cho việc hình thành các cơ sở sản xuất thuốc từ dược liệu Theo thống kê của Bộ Y tế, cả nước hiện có hơn 300 cơ sở sản xuất thuốc từ dược liệu trong nước, trong đó có 10 cơ sở sản xuất thuốc của WHO Nhiều công ty dược cũng có thương hiệu riêng từ thế mạnh của cây dược liệu Năm 2005, tỷ lệ dược liệu ở Việt Nam dùng để chế biến và sử dụng trong nước chiếm 25%, đến năm 2009 chỉ chiếm 15% và 4 tháng đầu năm 2010 giảm xuống còn 12% [4]
Được sự hướng dẫn của Trạm Khuyến nông huyện Nghi Lộc cùng sự giúp đỡ của Khuyến nông xã, một số xóm của xã Nghi Lâm mấy năm lại đây đã đưa cây Nhân trần vào trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao Loại cây này có thể trồng nơi đất cằn cỗi, đầu tư cũng rất thấp, một sào khoảng 200 kg phân chuồng, 20 kg phân NPK, không phải dùng thuốc bảo vệ thực vật như thuốc trừ sâu cỏ Cây Nhân trần chăm bón đơn giản, chủ yếu là tăng công làm cỏ, sau gần 5 tháng là cho thu hoạch, bình quân 1 sào được 120 kg Nhân trần khô Với giá bán 30 ngàn đồng/kg, trừ chi phí bà con cũng thu 3,3 triệu đồng/sào Tính ra 1 ha Nhân trần lãi 66 triệu đồng, gấp gần 5 lần trồng lúa Năm nay, bà con xóm 4 Nghi Lâm trồng được 5 ha cây Nhân trần, xóm 5 trồng được 5
ha Điều mà bà con nông dân ở xã Nghi Lâm mong muốn là cây Nhân trần ở xã nhà phải có thương hiệu, có nơi tiêu thụ, giá cả ổn định Cây Nhân trần là loại cây dễ trồng cho thu nhập cao Ban Nông nghiệp cùng Ban Khuyến nông xã Nghi Lâm phát động
bà con nông dân ở tất cả các xóm trên toàn xã đưa cây Nhân trần vào trồng và ngày càng mở rộng diện tích Riêng xóm 4, xóm 5 những năm sau sẽ mở rộng diện tích trồng cây Nhân trần lên mỗi xóm 6 - 7 ha [57]
Mô hình trồng gừng trong bao dưới tán rừng cây keo lai: của ông Văn Ngọc, trú tại thôn 4, xã Hòa Khương (Hòa Vang, Thành phố Đà Nẵng)
Tháng 4/2011, Ông mua 2 tạ gừng giống với giá 20.000 đồng/kg về trồng trong 1.350 bao Để năng suất gừng cao, ít sâu bệnh, ông chọn giống là loại gừng già 8 tháng
Trang 22tuổi, sạch bệnh Gừng giống mang về phải ủ nơi bóng râm, tưới nước cho nhú mầm Mỗi kg gừng giống có thể trồng được 15 - 20 bao Dùng vỏ bao xi măng giặt sạch, đáy bao đục 2 lỗ ở 2 góc cho thoát nước Gừng là loại cây ưa đất ẩm, không chịu úng, ưa tươi xốp, nhiều mùn, rác hữu cơ, phân chuồng Pha trộn đất trồng theo tỷ lệ 50% đất với 50% phân chuồng hoại mục + vỏ trấu, cho vào bao xong đạt hom gừng (đã ủ nứt mầm) vào giữa bọc phủ lớp đất nhẹ chừng 2 cm, trải lên mặt lớp tro trấu cũ hoai để giữ
ẩm và hạn chế cỏ dại Khi trời nắng thì tưới nước mỗi ngày 2 lần vào sáng và chiều Sau khi trồng khoảng 40 ngày, mỗi bao gừng bón 1 muỗng NPK quanh gốc và rải lên trên gốc một hỗn hợp gồm 3 phần trấu + 1 phần phân chuồng hoại mục + 1 phần đất Hai tháng sau bón lần thứ hai tương tự như lần trước [63]
Thường thì mỗi củ gừng giống khi trồng chỉ nảy từ 3 - 4 nhánh con, nhưng với cách trồng trông bao, gừng nảy rất nhiều nhánh Mỗi nhánh là một củ gừng, sau 7 - 8 tháng có thể thu hoạh từ 1,5 đến 2 kg củ/bao Chi phí đầu cho một bao gừng khoảng 3.000 đồng Tính ra hiệu quả trồng gừng trong bao cao gấp 6 lần so với cách trồng dưới đất Gừng trồng trong bao ít bị bệnh Tuy nhiên để phòng bệnh héo vàng thối rũ
do vi khuẩn truyền nhiểm rất khó trị, chủ yếu là phun ngừa sau mỗi đợt mưa kéo dài nhiều ngày hoặc định kỳ 10 - 15 ngày phun 1 lần, các loại thuốc trị nấm gốc đồng Copper zinc, Carban 50SC,… Trước khi trồng gừng nên xử lý hom gừng bằng cách phun thuốc trừ nấm bệnh Carban 50SC, Copper zinc 85WP,… Nếu bao nào bị sâu bệnh thì mang bao ra xa hủy bỏ, không để mầm bệnh lây lan [63]
Trồng gừng theo cách này khắc phục được những bất lợi về thời tiết, đất đai, không gian, sâu bệnh,… cũng như mát mẻ cho gừng nhờ ở dưới tán rừng trồng Ở miền núi cho tới đồng bằng đều trồng được Nơi thấp lụt thì đặt bao gừng trên giàn Nếu sơ tính, trừ hao hụt còn lại 1.200 bao, với giá gừng bán vào dịp tết là 40.000 đồng/kg, thì Ông Ngọc sẽ thu về gần 50 triệu, trong khi chi phí không bao nhiêu [63]
Hiện nay, tại Phú Yên có 110 hộ dân ở 3 huyện Đông Hòa, Tây Hòa và thành phố Tuy Hòa canh tác khoảng 50 ha cây dược liệu, gồm các loại: Diệp hạ châu, tần dày lá, cỏ mực, râu mèo và rau đắng Các loại cây trồng được cung ứng cho Trung tâm nghiên cứu và sản xuất dược liệu miền Trung (ở thôn Đa Ngư, xã Hòa Hiệp Nam, huyện Đông Hòa) Để đảm bảo chất lượng dược liệu cung ứng cho thị trường, các gia đình đều được Trung tâm tập huấn các quy trình trồng và thu hoạch theo tiêu chuẩn VIETGAP Trong suốt quá trình canh tác cho đến khi thu hoạch (từ tháng 2 - tháng 9) Trung tâm nghiên cứu và sản xuất dược liệu miền Trung thường xuyên cử cán bộ kỹ thuật xuống giám sát quy trình canh tác và thu hoạch của các hộ dân Ngoài ra, Trung tâm còn cung cấp nguồn giống cho các hộ dân để có được nguồn nguyên liệu đồng loại, quản lý được thời vụ và quản lý sâu bệnh [62]
Trang 23Các hộ dân cho biết, trồng dược liệu không tốn công và mức đầu tư như các loại cây khác bởi cây giống được trung tâm cung cấp miễn phí và chỉ bón bằng phân chuồng, không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, cây sinh trưởng ngắn, chỉ trong thời gian từ 50 -
100 ngày, lại có thể trồng được trên các loại đất Đặc biệt, các loại cây dược liệu chịu được hạn, chỉ trồng vào mùa nắng nên không bị ảnh hưởng bởi lũ lụt [62]
Ông Châu Văn Đồng ở khu phố 1, phường Phú Thạnh (thành phố Tuy Hòa) có
1 ha trồng Diệp hạ châu cho biết: Trồng dược liệu không mất công nhiều, chi phí đầu
tư bằng cây lúa và các loại cây khác Một ha Diệp hạ châu bình quân đạt sản lượng khoảng 80 tấn/năm (4 - 5 vụ/năm); với giá thị trường hiện tại là trên 4.000 đồng/kg, ông đạt doanh thu khoảng 320 triệu đồng, sau khi trừ các chi phí sản xuất, thu lãi khoảng 180 triệu đồng/năm [62]
Mô hình trồng nấm dược liệu ngoài việc đưa lại hiệu quả kinh tế cho người sản xuất còn có tác dụng trong việc bảo vệ và làm sạch môi trường ngay tại khu vực vùng đệm Phong Nha - Kẻ Bàng Kiểm tra mô hình trồng nấm dược liệu, nhiều hộ dân ở các
xã vùng đệm Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình) đã trồng được các loại nấm có giá trị kinh tế cao, hạn chế việc khai thác lâm sản trái phép Vùng đệm VQG Phong Nha - Kẻ Bàng có 13 xã nằm tập trung tại khu vực các thung lũng và ven hai con sông Chày, sông Son Người dân chủ yếu là đồng bào dân tộc Bru, Vân Kiều và Chứt Sản xuất nông nghiệp vẫn còn khá lạc hậu, canh tác nương rẫy là phổ biến, đồng bào chưa biết cách đầu tư thâm canh cây trồng Sản xuất giống nấm linh chi cấp cho dân tham gia dự án Cuối năm 2014, Tổ chức Hợp tác kỹ thuật của CHLB Đức (gọi tắt là GIZ) đã phối hợp với Ban quản lý VQG Phong Nha - Kẻ Bàng và Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KHCN tỉnh Quảng Bình đã thực hiện dự án chuyển giao công nghệ trồng nấm dược liệu cho bà con vùng đệm Ông Bùi Văn Thịnh, phụ trách
dự án sinh kế vùng đệm Phong Nha - Kẻ Bàng, thuộc Tổ chức GIZ tại Quảng Bình cho biết: “Tháng 10/2014, qua khảo sát tại 3 xã Xuân Trạch, Phúc Trạch, Sơn Trạch (huyện Bố Trạch), chúng tôi nhận thấy đây là những địa phương có đủ điều kiện thuận lợi như địa hình tương đối cao ít xảy ra ngập lụt, môi trường khí hậu tốt, lực lượng lao động dồi dào, nguồn phụ phẩm từ nông nghiệp để làm nấm lại phong phú, rất phù hợp
để chuyển giao công nghệ trồng nấm dược liệu” [61]
Cuối năm 2014, sau khi được tập huấn chuyển giao công nghệ nuôi trồng nấm
và được cấp phát số lượng bịch nấm, 40 hộ gia đình thuộc 3 xã trên đã tham gia dự án liền bắt tay vào các công đoạn hấp bịch, cấy giống, treo bịch, chăm sóc nấm dược liệu Theo số liệu thống kê tại 3 xã đã sản xuất được 9.000 bịch nấm linh chi Sau hơn 4 tháng triển khai, kết quả thực hiện mô hình trồng nấm dược liệu tại 3 xã nói trên bước đầu đã có những kết quả rất khả quan Mẻ nấm linh chi đầu tiên được thu hoạch, nấm linh chi thu hoạch được hơn 100 kg khô với giá bán bình quân 600.000 đ/kg, thu về gần 60 triệu đồng Riêng sản phẩm nấm linh chi được Trung tâm Ứng dụng KHCN
Trang 24tỉnh Quảng Bình thu mua 100% để tìm mối tiêu thụ cho dân Trước mắt, khi chưa tìm được đầu ra, Trung tâm sẽ dùng nó để sản xuất trà túi lọc linh chi cung cấp cho thị trường nội tỉnh Tuy mới ở giai đoạn đầu của dự án, nhưng mô hình trồng nấm đã mang lại hiệu quả kinh tế cao cho 40 hộ tham gia và có tác dụng kích thích một số hộ
tự bỏ thêm vốn để đầu tư mở rộng sản xuất Điển hình là hộ ông Nguyễn Hữu Nghị, xã Phúc Trạch, tự bỏ vốn sản xuất thêm hơn 400 bịch nấm linh chi; hộ anh Trần Xuân Thành, xã Sơn Trạch, đầu tư thêm gần 600 bịch nấm linh chi [61]
3 Tổng quan nghiên cứu về cây thuốc trên Thế giới và ở Việt Nam
1990 con số này được ước tính từ 30.000 đến 70.000 loài cây thuốc Trong đó, ở Trung Quốc đã có tới trên 10.000 loài thực vật được coi là cây thuốc, Ấn Độ hơn 6.000 loài, vùng nhiệt đới Đông Nam Á khoảng 6.500 loài [23]
Ngành dược thế giới bắt đầu phát triển từ những năm 20 của thế kỷ trước Thụy
Sĩ, Đức và Ý là những nước đầu tiên phát triển công nghiệp dược, tiếp sau đó là Anh,
Mỹ, Bỉ, Hà Lan,… Qua nhiều thập kỷ phát triển, môi trường sản xuất và kinh doanh dược phẩm có nhiều thay đổi, hoạt động mua bán sáp nhập trên quy mô toàn cầu làm một số tập đoàn dược phẩm khổng lồ thống trị thị trường dược thế giới và kiểm soát nền công nghiệp dược toàn cầu [60]
Năm 2011, Mỹ dẫn đầu, chiếm 34% tổng giá trị tiêu thụ thuốc trên thế giới, kế đến là Nhật 12% Tổng giá trị tiêu thụ thuốc tăng trưởng chủ yếu ở các nước có nền công nghiệp dược đang phát triển, dự báo đến 2016 tăng đến 30%, tuy vậy chưa có thay đổi vị trí thứ hạng của các nước [60]
Trang 25Biểu đồ 1.1 Tỷ trọng giá trị tiêu thụ thuốc theo quốc gia
Trên thế giới, nhiều nước đã xuất khẩu dược liệu và thu được nguồn ngoại tệ
đáng kể Ví dụ như ở Trung Quốc, vị thuốc Đông trùng hạ thảo (Cordyceps sinensis)
có giá tới 2.000-5.000 USD/kg Hoặc ở Triều Tiên, cây Nhân sâm đã mang lại một nguồn kinh tế khá lớn cho những cơ sở trồng trọt và sản xuất thuốc từ cây này Hằng năm, công ty Hồng Sâm (Hàn Quốc) đã sử dụng trên 6.000 tấn Nhân sâm, để tạo ra sản phẩm trên 460 triệu USD [23]
Ngày nay, ước lượng có khoảng 35.000 - 70.000 loài trong số 250.000 - 300.000 loài cây cỏ được sử dụng vào mục đích chữa bệnh ở khắp nơi trên thế giới Trong đó Trung Quốc có trên 10.000 loài, Ấn Độ có khoảng 7.500 loài, Indonesia có khoảng 7.500 loài, Malaysia có khoảng 2.000 loài, Nepal có hơn 700 loài, Srilanka có khoảng 550 - 700 loài [26]
Giai đoạn 2012 - 2017, tăng trưởng hàng năm của thị trường dược phẩm ở các nước có công nghiệp dược phát triển sẽ chậm lại, bình quân khoảng 1% - 4%, đáng lưu
ý là Pháp và Tây Ban Nha dự kiến sẽ tăng trưởng âm Nhóm các quốc gia có công nghiệp dược đang phát triển sẽ có tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ do chi tiêu cho dược phẩm của người dân các nước này hiện còn khá thấp Trong đó, Trung Quốc dẫn đầu với mức tăng trưởng 15% - 18%, điều này sẽ làm cho Trung Quốc có tổng giá trị tiêu thụ thuốc đứng thứ nhì thế giới, chỉ sau Mỹ trong vài ba năm tới; Ấn Độ sẽ có mức tăng trưởng từ 11% - 14% [60]
Tương lai thị trường dược phẩm khu vực Đông Nam Á đầy hứa hẹn, Singapore
sẽ có mức tăng trưởng hàng năm là 9,3%, sẽ là trung tâm thương mại dược phẩm quan trọng thế giới, kết nối khu vực này với phía Tây [60]
Trang 26Bảng 1.1 Dự báo mức tăng trưởng hàng năm của thị trường dược phẩm ở một số
nước (2012 - 2017)
Các thị trường
phát triển
Tăng trưởng bình quân hàng năm (%)
Các thị trường đang phát triển
Tăng trưởng bình quân hàng năm (%)
(Nguồn: Công ty cổ phần chứng khoán FPT)
Ở Ấn Độ, nền y học cổ truyền được hình thành cách đây hơn 3000 năm Chủ trương của người Ấn là ngừa bệnh là chính, nếu phải điều trị bệnh thì các liệu pháp tự nhiên chủ yếu thông qua thực phẩm và thảo mộc sẽ giúp loại bỏ gốc rễ căn bệnh Ấn
Độ là quốc gia rất phát triển về nghiên cứu thảo dược như tổng hợp chất hữu cơ, tách chiết chứng minh cấu trúc, sàng lọc sinh học, thử nghiệm độc tính, và nghiên cứu tác dụng hóa học của các chất tới cơ thể con người Hiện nay, chính phủ khuyến khích sử dụng công nghệ cao trong trồng cây thuốc Hầu hết các viện nghiên cứu dược của Ấn
Độ đã tham gia vào nghiên cứu chuyển hóa các loại thuốc và hợp chất có hoạt tính từ thực vật [26]
Ngày nay theo thống kê của quỹ quốc tế và bảo vệ thiên nhiên (WWF), trên thế giới có khoảng 250.000 - 270.000 loài thực vật bậc cao thì có đến 35.000 - 70.000 loài được sử dụng vào mục đích làm thuốc chữa bệnh Trong đó Trung quốc có trên 10.000 loài, Ấn Độ có khoảng 7.500 - 8.000 loài, Indonesia có khoảng 7.500 loài, Malaysia có khoảng 2.000 loài, Nepal có hơn 700 loài, Srilanka có khoảng 550 - 700 loài và Hàn Quốc có khoảng 1.000 loài có thể sử dụng được trong Y học truyền thống Châu Mỹ
La tinh nơi có 1/3 số loài thực vật trên thế giới cũng có truyền thống sử dụng cây cỏ làm thuốc, đặc biệt là ở người dân bản địa Schule đã phát hiện gần 2.000 loài cây thuốc được sử dụng ở vùng Amazon thuộc Colombia [56]
Trang 27Các quốc gia Châu Phi thường số loài cây thuốc ít hơn như Somalia có 200 loài, Botswana có 314 loài Cùng với phương thức chữa bệnh theo kinh nghiệm dân gian, các nhà khoa học trên thế giới tiến hành tìm hiểu, nghiên cứu cơ chế và các hợp chất hóa học trong cây có tác dụng chữa bệnh, đúc rút thành những cuốn sách có giá trị Các nhà khoa học công nhận rằng hầu hết các cây cỏ đều có tính kháng sinh, đó là khả năng miễn dịch tự nhiên của thực vật Tác dụng kháng khuẩn do các hợp chất tự nhiên
có mặt phổ biến trong thực vật như phenolic, antoxy, các dẫn xuất quino, ancaloid, flavonoid, saponin,…[26]
Theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới (WHO), có trên 20.000 loài thực vật bậc cao có mạch và ngành thực vật bậc thấp được sử dụng trực tiếp làm thuốc hoặc cung cấp các hoạt chất tự nhiên để làm thuốc Trong đó, vùng nhiệt đới Châu Mỹ có hơn 1.900 loài, vùng nhiệt đới Châu Á có khoảng 6.500 loài thực vật có hoa được dùng làm thuốc Mức độ sử dụng thuốc thảo dược ngày càng cao [56]
Theo thống kê trên toàn thế giới, giá trị của công nghiệp dược sử dụng cây cỏ là
800 tỷ USD/năm Ở Trung quốc tiêu thụ hàng năm hết 700.000 tấn dược liệu, sản phẩm
y học dân tộc đạt giá trị hơn 1,7 tỷ USD vào năm 1986 Tại các nước có nền công nghiệp phát triển thì mức độ sử dụng cây thuốc ngày càng tăng Ngày nay, có khoảng 40
% dân số các nước công nghiệp phát triển sử dụng các dạng thuốc bổ sung [26]
Tổng giá trị về thuốc có nguồn gốc thực vật trên thị trường Âu - Mỹ và Nhật Bản vào năm 1985 là 43 tỷ USD Doanh số bán thuốc từ cây cỏ ở các nước Tây Âu năm 1989 là 2,2 Tỷ USD so với tổng doanh số buôn bán dược phẩm là 65 tỷ USD Theo ngân hàng thế giới (WB), nguồn tài nguyên cây thuốc là một trong những nguồn tài nguyên giá trị nhất ở vùng nhiệt đới Dự đoán, nếu phát triển tối đa các thuốc thảo mộc từ các nước nhiệt đới, có thể làm ra 900 tỷ USD mỗi năm cho nền kinh tế các nước thế giới thứ 3 [56]
Tại Trung Quốc, có khoảng 1.000 loài cây thuốc thường xuyên được sử dụng, chiếm 80% thuốc bán trên thị trường trong nước Tại Hồng Kông là nơi có thị trường thuốc cây cỏ lớn nhất thế giới, hàng năm nhập lượng dược liệu trị giá 190 triệu USD, trong đó có 70% được sử dụng tại địa phương và chỉ có 30% được tái xuất và trong khi
đó chỉ có 80 triệu USD thuốc Tây được nhập trong cùng thời gian Tiền sử dụng thuốc cây cỏ của người dân Hồng Kông là 25 USD/năm [60]
Tại Nhật Bản, có đến 42,7% dân sử dụng cổ truyền trong các hoạt động chữa bệnh với tổng chỉ tiêu cho y học cổ truyền là 150 triệu USD (năm 1983) [26]
Tại Ấn Độ, có 400 loài trong số 7.500 loài cây thuốc thường xuyên được sử dụng với lượng lớn ở các xưởng sản xuất thuốc nhỏ [23]
Trang 28Sa, Trường Sa, Côn Đảo, Phú Quốc, Thổ Chu,… [61]
Nước Việt Nam có hình dạng hẹp về chiều ngang, nơi rộng nhất chỉ khoảng 600
km, nơi hẹp nhất là hơn 40 km Trên đó, có tới 3/4 lãnh thổ là đồi núi, với nhiều dãy núi lớn và cao như Hoàng Liên Sơn có các đỉnh Fan Si Păng 3.143 m (cao nhất Đông Dương), Ngũ Chỉ Sơn 3.096 m, Phu Xi Lung 3.075 m Dãy Trường Sơn chạy dọc biên giới Việt Lào, về phía nam mở rộng ra thành các cao nguyên với một số đỉnh núi nhô cao như Ngọc Linh 2.589 m, Chư Yang Sin 1.405 m, Bi Đúp 2.287 m Xen kẽ với các vùng núi kể trên là là một hệ thống các sông suối chằng chịt Song đáng chú ý nhất là hai con sông lớn Hồng Hà và Cửu Long, đã tạo ra ở hai miền Bắc và Nam hai vùng
đồng bằng châu thổ rộng lớn [61]
Cả nước hiện có 136 loài cây thuốc đang được trồng và mỗi năm cung cấp cho thị trường khoảng 15.600 tấn (tính cả cây thuốc hoang dại là 27.700 tấn) Trong khi nhu cầu dược liệu trong nước là 59.548 tấn/năm gồm: phục vụ công nghiệp dược 20.110 tấn, hệ thống chữa bệnh bằng y học cổ truyền 18.452 tấn và xuất khẩu 20.986 tấn (đã bao gồm cả số lượng dược liệu phục vụ chưng cất tinh dầu và chiết xuất một số hợp chất tinh khiết) Nhu cầu về dược liệu ngày càng gia tăng do hệ thống điều trị bằng phương pháp YHCT đã được WHO công nhận, số người có nhu cầu sử dụng dược liệu để chữa trị bệnh ngày càng gia tăng Nhiều nhà khoa học cho rằng, các hợp chất thiên nhiên do đã tồn tại trong tế bào sống của cây thuốc nếu được phân lập thành nguyên liệu làm thuốc, chúng rất nhanh thích nghi với tế bào sống của người, có tác dụng chống lão hóa Do đó khả năng hấp thu sẽ tốt và ít độc hơn so với các các chất tổng hợp hóa học chưa bao giờ tồn tại trong tế bào sống Mặt khác, công nghiệp hóa dược, hóa dầu ở nước ta chưa phát triển nên dược liệu vẫn là nền tảng trong nền công nghiệp nguyên liệu [3]
Để thừa kế các kinh nghiệm quý báu trong y học cổ truyền, thời gian qua ngành
y tế nước ta đã tập hợp được 39.381 bài thuốc kinh nghiệm dân gian gia truyền của 1712.531 lương y Có nhiều dược phẩm được phát triển gần đây dựa trên tri thức sử dụng của cộng đồng, như Ampelop, dựa trên kinh nghiệm dùng cây Chè dây
(Ampelopsis cantoniensis (Hook Et Arn.) Planch.) để chữa bệnh của người Tày ở Cao
Bằng, [61]
Trong y học dân gian, mỗi cộng đồng miền núi (cấp xã) thường biết sử dụng từ
300 - 500 loài cây cỏ sẵn có trong khu vực để làm thuốc Mỗi gia đình biết sử dụng từ
Trang 29vài cây đến vài chục cây để chữa các chứng bệnh thông thường ở cộng đồng đó Mỗi cộng đồng thường có 2 - 5 thầy lang (hay hơn) có kinh nghiệm sử dụng cây cỏ làm thuốc [61]
Hiện có một số vùng trồng dược liệu đã hình thành như cây Quế ở Yên Bái, Quảng Nam, Thanh Hóa; cây Hồi ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Quảng Ninh, Bắc Kạn; Hòe ở Thái Bình, Nghệ An, Đắk Lắk; Thanh hao hoa vàng ở Hà Nội, Bắc Giang; cây Tràm ở Đồng Tháp Mười, Long An, Thừa Thiên - Huế, Tây Ninh; Kim tiền thảo ở Bắc Giang, Tây Ninh; Gấc ở Hải Dương, Bắc Giang; Bụp giấm, Dừa cạn ở Ninh Thuận, Bình
Thuận Tại Việt Nam có 22 địa phương có thể khai thác dược liệu ngoài tự nhiên [3]
Các loại cây dược liệu được gây trồng nhiều gồm (51 loài): Artiso, Ba kích, Bạc
hà, Bạch chỉ, Bạch truật, Bồ bồ, Bụp dấm, Cúc hoa, Diệp hạ châu, Dương cam cúc, Địa liền, Đỗ trọng, Đương quy, Độc hoạt, Đinh lăng, Gừng, Gấc, Hương nhu trắng, Hương nhu tía, Hoè, Hoắc hương, Hoàng bá, Hồi, Huyền sâm, Hy thiêm, Hoài sơn, Ích mẫu, Kim tiền thảo, Lão quan thảo, Lô hội, Mã đề, Nhàu, Nhân trần, Ngưu tất, Nga truật, Ô đầu, Quế, Râu mèo, Sả, Sâm báo (Sâm Bố chính), Sâm ngọc linh, Sâm đại hành, Sa nhân, Sinh địa, Thanh cao hoa vàng, Thảo quả, Trạch tả, Trinh nữ hoàng cung, Tục đoạn, Xạ can, Ý dĩ [3]
Nhiều địa phương ở miền Bắc đã có các làng nghề trồng, chế biến và kinh doanh dược liệu từ lâu đời [58]
Thôn Ninh Giang, xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm (ngoại thành Hà Nội) có tới 60% số hộ chuyên làm nghề chế biến dược liệu Còn số hộ có thu nhập liên quan đến dược liệu thì cả 100% các gia đình trong làng Tương truyền, thời Lý, có bà Thái Lão người từ nơi khác đến, giàu lòng nhân ái, giỏi nghề thuốc nam chữa bệnh cứu người Một hôm khi qua vùng đất Ninh Hiệp, thấy đất đai phì nhiêu, dân làng cần cù, bà đã ở lại dạy dân làm nghề thuốc Nhờ có công lao truyền nghề, bà được triều đình phong là
Lý Nhũ Thái Mẫu Dược sư thần linh Tại đình làng Ninh Giang còn khắc đôi câu đối:
"Y pháp tinh thông, cứu bệnh, cứu nhân danh bất hủ/ Dược phương năng đạt, thọ dân, thọ thế nãi phi thường" Nhiều năm trước đây, cánh đồng thôn Ninh Giang bát ngát bạch chỉ, ngưu tất, sinh địa Người Ninh Giang tự hào rằng người làng có nhiều kinh nghiệm, chỉ cần nhìn cây là biết giá trị để mua Đầu năm 2010, Ninh Giang đã được UBND thành phố Hà Nội công nhận là làng nghề thuốc bắc, thuốc nam truyền thống Làng nghề phát triển mạnh, người sống bằng nghề làm ruộng ở làng đã giảm nhiều, nhưng hầu hết không có ai xa quê Theo Trưởng thôn Ninh Giang, toàn thôn có 254 hộ chế biến thuốc, tạo doanh thu hàng trăm tỷ đồng mỗi năm, chiếm gần 80% tổng doanh thu toàn thôn Giờ thì dân Ninh Giang không trồng cây thuốc nữa, mà toả đi khắp nơi
để thu gom dược liệu… Hễ nơi nào có dược liệu làm thuốc đều có người Ninh Giang đến thu mua Theo ông Hướng, người Ninh Giang chế biến khoảng 3.000 vị thuốc
Trang 30khác nhau, mỗi hộ tập trung vào một vài sản phẩm thế mạnh Thuốc sau khi sơ chế tại làng được bán cho các công ty dược, các lương y… Có nghề truyền thống, người dân không chỉ có cuộc sống khá, mà còn rèn được tính năng động, nhạy bén, hoạt bát trong sản xuất, kinh doanh [58]
Bên cạnh nhiều làng nghề truyền thống đã nổi danh, trong thời gian gần đây cũng đã xuất hiện nhiều mô hình trồng cây thuốc có hiệu quả [59]
Mô hình trồng Kim tiền thảo tại Bắc Giang: Anh Nguyễn Văn Điều ở thôn An Phú (xã Mỹ An, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang) là người đầu tiên đưa cây Kim tiền thảo về thôn trồng cách đây trên 10 năm (năm 2000), ban đầu chỉ có số ít hộ dân tham gia trồng với diện tích nhỏ lẻ Những năm gần đây, nhận thấy giá trị kinh tế của cây dược liệu này đem lại ngày càng cao nên nhân dân đã mạnh dạn mở rộng diện tích ra trồng Năm 2010, hơn 100 hộ trong tổng số 450 hộ nông dân trong thôn đã mở rộng diện tích trồng cây kim tiền thảo lên gần 10 ha, thu bán được trên 800 triệu đồng Nhờ giá trị kinh tế thu về từ cây thảo dược này mà đời sống của người dân ngày càng được cải thiện nâng cao [59]
Cây Kim tiền thảo không chỉ được trồng ở những chân ruộng cao cấy một vụ lúa không ăn chắc mà còn được người dân trồng lên đồi, đan xen với vải thiều Nhờ giá trị kinh tế từ cây dược liệu này đem lại mà số hộ nghèo trong thôn đã giảm nhiều [59]
Mô hình Tổ liên kết sản xuất trồng và nhân giống Ba kích thương phẩm tại thôn Đồng Giếng, xã Đạo Trù (Tam Đảo) chúng tôi mới thấy hết được sức sống của cây Ba kích trên vùng đất này Một trong số những hộ tham gia trồng Ba kích trong Tổ liên kết, anh Nguyễn Văn Sô cho biết: Anh cũng không nghĩ rằng, giá trị kinh tế của cây
Ba kích lại lớn như thế Năm 2010, gia đình anh có diện tích 160 m2
ở thôn Đồng Thõng, quanh năm chỉ trồng sắn, chăn nuôi, giá trị kinh tế rất thấp Khi được biết anh bạn ở Quảng Ninh hướng dẫn trồng cây Ba kích và hứa đến thời kỳ thu hoạch sẽ thu mua hết với giá cao, anh Sô mạnh dạn dỡ bỏ cây sắn và thay vào đó là trồng cây Ba kích Sau gần 3 năm thử nghiệm, diện tích trồng Ba kích của anh nằm trong diện quy hoạch xây dựng chùa Bảo Tháp Tây Thiên của huyện nên phải dỡ bỏ Tưởng chừng mất trắng công sức sau gần 3 năm chăm sóc, nhưng khi đào lên thấy cây cho củ, khối lượng đạt khoảng 2 kg/gốc Sau đó, anh bạn ở Quảng Ninh đến thu mua toàn bộ số củ
Ba kích anh trồng được với giá 200.000đ/kg củ tươi với tổng số hơn 300 gốc, anh thu
về trên 60 triệu đồng Nhận thấy hiệu quả từ cây Ba kích mang lại, cùng với nguồn vốn sẵn có, sự hỗ trợ từ Hội Nông dân tỉnh, những năm tiếp theo anh tiếp tục trồng và nhân giống cây Ba kích bán ra thị trường Hiện nay, gia đình anh đang trồng 5 sào cây
Ba kích (700 gốc/sào) và 600 m2
vườn ươm cây con giống Theo tính toán của anh Sô, sau khoảng 2 năm nữa, 5 sào trồng Ba kích của anh sẽ cho thu hoạch, với giá bán như
Trang 31hiện nay (200.000đ/kg) doanh thu đạt 1,4 tỷ đồng Anh Sô cho biết thêm: Trồng Ba kích không khó, lại tốn ít công chăm sóc, phù hợp với đất vùng đồi núi, có thể trồng dưới tán cây khác mà vẫn sinh trưởng, phát triển tốt, khoảng 3 năm cho thu hoạch, nhưng nếu càng trồng lâu thì chất lượng củ càng tốt, giá bán sẽ cao hơn Ngoài ra, trồng Ba kích người dân có thể tự túc cây giống bằng cách cắt cành dâm xuống đất Có thể khẳng định Ba kích là cây trồng phù hợp trên vùng đất (trước đây chỉ biết trồng sắn) cho hiệu quả kinh tế cao hơn rất nhiều [8]
Trang 32CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được hiện trạng của tài nguyên cây dược liệu tại huyện Quảng
Trạch, tỉnh Quảng Bình
- Thống kê và phân loại được các mô hình trồng cây dược liệu hiện có tại địa phương đồng thời đánh giá được các lợi ích, hiệu quả thu được từ các mô hình nhân giống và gây trồng cây dược liệu tại địa phương
- Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc
tại huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về hiện trạng tài nguyên và các mô hình trồng cây dược liệu Trong đó:
- Hiện trạng tài nguyên:
+ Đa dạng về thành phần loài, vùng phân bố và giá trị sử dụng cây dược liệu tại địa phương;
+ Tình hình khai thác, sử dụng và các mối đe dọa tài nguyên cây dược liệu; + Các loài cây dược liệu có giá trị bảo tồn và có tiềm năng phát triển hàng hoá; + Tri thức bản địa trong khái thác, sử dụng và phát triển tài nguyên cây dược liệu
- Mô hình trồng cây dược liệu:
+ Thành phần loài cây trồng, phương thức trồng;
+ Loài cây thuốc trồng trong mô hình (vị trí phân loại, đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái học, công dụng và các giá trị của loài);
+ Chủ thể quản lý mô hình (trình độ, năng lực, vị thế xã hội, các nguồn lực và các mối quan hệ của chủ mô hình với các yếu tố, các bên liên quan);
+ Điều kiện môi trường tự nhiên (địa hình, đất đai, khí hậu ), xã hội (văn hóa, tập quán, kiến thức bản địa );
+ Các yếu tố/vấn đề trong kỹ thuật sản xuất và thị trường tiêu thụ sản phẩm của
mô hình;
+ Các bên liên quan (chính quyền, cộng đồng dân cư, cơ quan chức năng, người tiêu thụ sản phẩm ) trong xây dựng, duy trì và mở rộng mô hình
Trang 332.2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Đề tài thực hiện trên địa bàn huyện Quảng Trạch tỉnh Quảng Bình
- Phạm vi về thời gian: Đề tài tiến hành từ tháng 7/2015 đến tháng 4/2016
2.3 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đề ra và phù hợp với điều kiện thực tế, đề tài nghiên cứu một số nội dung sau:
1) Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên
và hoạt động gây trồng cây dược liệu tại địa bàn nghiên cứu
- Các điều kiện tự nhiên có liên quan: Địa hình, Khí hậu, Đất đai, Tài nguyên rừng và đa dạng sinh học
- Các đặc điểm kinh tế, xã hội có liên quan:
+ Các đặc điểm về dân cư (dân số, dân tộc, dân trí…)
+ Phong tục, tập quán và tri thức bản địa có liên quan đến việc khai thác, sử dụng, bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng nói chung và cây thuốc nói riêng
+ Cơ cấu ngành nghề, thu nhập và mức sống
+ Thị trường tiêu thụ các sản phẩm
- Các chính sách, thể chế có liên quan:
+ Các chính sách ở tầm vĩ mô có liên quan (Xóa đói giảm nghèo, phát triển nông thôn miền núi, xây dựng nông thôn mới, giao đất giao rừng, sử dụng tài nguyên rừng, bảo tồn và phát triển cây thuốc…)
+ Các chương trình, đề án, dự án có liên quan tại địa phương
2) Nghiên cứu hiện trạng về tài nguyên cây dược liệu tại địa bàn nghiên cứu
- Danh lục loài cây dược liệu (thành phần loài, dạng sống, bộ phận sử dụng,
sinh cảnh nơi phân bố, mức độ phong phú hiện nay…)
- Phân bố của các loài cây dược liệu theo các tiểu vùng sinh thái (Vùng núi, vùng gò đồi, vùng cát nội đồng, vùng đồng bằng và vùng cát ven biển)
- Công dụng/ giá trị sử dụng các loài cây dược liệu
- Những cây thuốc có giá trị bảo tồn và tiềm năng phát triển gây trồng theo hướng sản xuất hàng hoá
3) Tình hình khai thác, sử dụng và phát triển tài nguyên cây dược liệu tại địa phương
- Tình hình khai thác cây dược liệu trong tự nhiên tại địa phương:
+ Đối tượng và mục đích người khai thác
+ Chủng loại cây và mức độ khai thác
+ Các phương thức, phương pháp khai thác và chế biến sản phẩm
+ Những tri thức bản địa và kinh nghiệm trong việc nhận biết, phát hiện nơi mọc và tổ chức khai thác
Trang 34+ Đánh giá mức độ hợp lý và các mối đe doạ trong hoạt động khai thác cây dược liệu tại địa phương
+ Kênh thị trường của các sản phẩm khai thác
- Hiện trạng sử dụng và phát triển tài nguyên cây dược liệu tại địa phương: + Thực trạng đội ngũ lương y và mức độ am hiểu về cây dược liệu trong cộng đồng người dân địa phương
+ Các cây thuốc và bài thuốc điển hình được sử dụng tại địa phương
+ Các loài cây được trồng theo mục đích sử dụng làm dược liệu
- Các bên liên quan trong hoạt động khai thác, bảo tồn và phát triển cây dược liệu tại địa phương
4) Tìm hiểu và đánh giá các mối đe doạ đến sự tồn tại và phát triển tài nguyên cây thuốc tại địa phương
- Các yếu tố tự nhiên:
+ Biến đổi khí hậu
+ Thiên tai
+ Dịch hại
- Các yếu tố kinh tế - xã hội:
+ Khai thác cây dược liệu quá mức
5) Khảo sát, đánh giá các mô hình trồng cây dược liệu tại địa bàn nghiên cứu
a) Thống kê và phân loại các mô hình trồng dược liệu hiện có tại địa phương
- Số lượng mô hình gây trồng cây dược liệu theo đơn vị cấp xã
- Phân loại các mô hình trồng cây dược liệu theo các tiêu chí:
+ Mục đích trồng
+ Loại cây trồng
+ Quy mô trồng
+ Chủ thể quản lý và các đặc điểm của chủ vườn
b) Khảo sát, đánh giá các mô hình trồng cây dược liệu chủ yếu
- Tìm hiểu quá trình và điều kiện hình thành mô hình
+ Nguồn gốc ý tưởng và các yếu tố tác động từ bên ngoài đến việc hình thành ý tưởng + Động cơ và động lực xây dựng mô hình
+ Tiến trình xây dựng mô hình
Trang 35- Tiến trình chọn loài cây trồng cho mô hình và sự hiểu biết về loài cây được chọn của người thực hiện tại thời điểm đó; Kinh nghiệm chọn loài cây trồng để đảm bảo sự thành công của mô hình
- Các bước và nội dung tổ chức thiết lập mô hình
+ Các mốc thời gian và quy mô tương ứng của mô hình
+ Xác định các điều kiện cần có để thiết lập mô hình
- Tìm hiểu kỹ thuật nhân giống, gây trồng thu hái và chế biến các loài cây thuốc trong mô hình qua kinh nghiệm và thực tế sản xuất của người dân
- Tìm hiểu đặc trưng thị trường tiêu thụ sản phẩm của mô hình
- Đánh giá lợi ích và hiệu quả thực hiện mô hình
- Các khó khăn của người dân trong quá trình duy trì và mở rộng mô hình
- Đánh giá khả năng và điều kiện để nhân rộng mô hình của người dân
6) Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc tại huyện Quảng Trạch
- Giải pháp tuyên truyền, giáo dục
- Giải pháp nâng cao năng lực
- Giải pháp chính sách
- Giải pháp khoa học - công nghệ
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập thông tin
a Thu thập các tài liệu thứ cấp liên quan đến vấn đề nghiên cứu
Các tài liệu này được thu thập theo phương pháp kế thừa, đó là các tài liệu:
- Các báo cáo về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu;
- Các tài liệu về cây thuốc, bài thuốc dân gian ở Việt Nam, tham khảo các đề tài, công trình nghiên cứu về cây dược liệu trên cả nước và tại tỉnh Quảng Bình;
- Thu thập tài liệu, số liệu tại Hội Đông y, Phòng Y tế, Hạt Kiểm lâm huyện, phòng Tài nguyên môi trường, phòng Nông nghiệp huyện, Ủy ban Dân tộc Miền núi Tỉnh
- Kế thừa nghiên cứu trước đây của các chuyên gia, sử dụng các tài liệu liên quan về Danh lục các loài thực vật Việt Nam của tập thể tác giả, Những cây thuốc và
vị thuốc Việt Nam của Đỗ Tất Lợi, Sách đỏ Việt Nam 2007
Trang 36b Thu thập số liệu sơ cấp
+ Các loài cây thuốc đã và đang được khai thác vì mục đích thương mại; phương pháp thu hái và chế biến sản phẩm
+ Kênh thị trường, giá cả và chuỗi giá trị cây dược liệu tại địa phương
+ Các bài thuốc và cây thuốc có giá trị cần bảo tồn và phát triển
+ Các mối đe doạ nguồn tài nguyên cây dược liệu tại địa phương
- Phỏng vấn các chủ mô hình về:
+ Đặc điểm hộ gia đình (hay doanh nghiệp - nếu có);
+ Các thông tin liên quan đến mô hình như nội dung nghiên cứu đã trình bày
- Phỏng vấn các chuyên gia, các nhà quản lý và các bên liên quan khác về chính sách, định hướng phát triển và các giải pháp cần có để bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên
* Điều tra, khảo sát thực địa
- Tiến hành điều tra thực địa tại khu vực nghiên cứu để:
+ Xác định thực trạng tài nguyên cây dược liệu tại khu vực nghiên cứu;
+ Thống kê và đánh giá hiệu quả các mô hình trồng cây dược liệu tại khu vực nghiên cứu;
+ Thu thập các mẫu vật các loài cây dược liệu
- Phương pháp tiến hành:
+ Phúc tra tài nguyên cây dược liệu: trên cơ sở các thông tin thứ cấp và kết quả phỏng vấn chúng tôi sẽ phúc tra và kiểm chứng các thông tin chưa thật sự tin cậy (số ý kiến đồng ý ít hay có ý kiến trái chiều, loài mới bổ sung vào danh lục, loài quý hiếm hay có phạm vi phân bố hẹp ) về sự hiện diện của loài cần xác minh, địa điểm phân
bố, tình trạng loài, các yếu tố ảnh hưởng hay đe dọa ; đồng thời với việc phúc tra kết hợp điều tra phát hiện các loài mới chưa có thông tin Việc phúc tra được thực hiện trên tuyến hay điểm khảo sát với sự tham gia của nhân chứng hay người cung cấp thông tin
Trang 37+ Điều tra mở rộng trên địa bàn nghiên cứu: tại các địa bàn có tiềm năng tài nguyên lớn nhưng thông tin thu thập qua cộng đồng còn ít hay chưa đầy đủ hoặc thiếu tính hệ thống chúng tôi sẽ tổ chức điều tra phát hiện và điều tra tỷ mỷ để bổ sung thông tin
Điều tra phát hiện sẽ thực hiện trên các tuyến điển hình: tuyến điều tra có
chiều dài trung bình từ 2 - 5 km tại mỗi sinh cảnh phân bố của cây dược liệu; trên tuyến người điều tra di chuyển với tốc độ tối đa là 2 km/h và tầm quan sát mỗi bên tuyến là 10m; khi gặp đối tượng nghiên cứu mới sẽ dưng lại định vị, chụp ảnh, mô tả
và thu thập mẫu vật
Điều tra tỷ mỷ sẽ tiến hành trên ô tiêu chuẩn (OTC) điển hình diện tích 400m2
(20x20m), mỗi sinh cảnh trên các tuyến điều tra 3 ô; trong OTC tiến hành đo đếm số lượng cây mẹ, cây tái sinh loài mục đích và mô tả điều kiện lập địa
+ Khảo sát mô hình trồng cây dược liệu: được thực hiện qua 3 bước:
Bước 1: đến tất cả các mô hình trồng cây thuốc được cung cấp thông tin từ
cộng đồng và chính quyền để khảo sát thu thập thông tin sơ bộ như: địa điểm, địa chỉ, quy mô, loại cây trồng, năm trồng, kết quả sản xuất bước đầu
Bước 2: phân loại mô hình và lựa chọn mô hình đại diện để khảo sát tỷ mỷ;
Bước 3: tiến hành khảo sát tỷ mỷ mô hình đại diện để thu thập các thông tin
như nội dung nghiên cứu đã đặt ra
2.4.2 Phương pháp nội nghiệp và phân tích, xử lý thông tin
* Phương pháp phân tích mẫu vật
- Tên các loài cây (tên khoa học và tên Việt Nam) và thành phần dạng sống
- Phân loại và xác định tên (tên khoa học và tên Việt Nam) các loài, dạng sống của cây thuốc
* Phương pháp so sánh, phân tích và xử lý thông tin
- Sử dụng các bảng, biểu để phân tích và hệ thống hoá tổng hợp kết quả nghiên cứu Bổ sung các thông tin mới và loại bỏ các thông tin nhầm lẫn, không chính xác
- Sử dụng phương pháp phân tích định tính, định lượng, và đánh giá kết quả điều tra, nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp so sánh: Trên cơ sở những thông tin thu thập được, tiến hành so sánh, đối chứng để rút ra những kiến thức chung và kiến thức bản địa riêng của mỗi cộng đồng trong quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên rừng và đất rừng
Trang 38CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của khu vực nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Quảng Trạch là huyện nằm ở phía Bắc của tỉnh Quảng Bình Với địa thế trải dài
từ 17042' đến 17059' vĩ độ Bắc và 106015' đến 106059' kinh độ Đông Diện tích khoảng
450 km2, tổng dân số gần 106.000 người, mật độ dân số bình quân 234người/km2
Quảng Trạch có ranh giới phía Bắc giáp tỉnh Hà Tĩnh qua Đèo Ngang, phía Nam giáp thị xã Ba Đồn, phía Tây giáp với huyện Tuyên Hóa và phía Đông giáp với biển đông có chiều dài bờ biển khoảng 35 km với môi trường sạch đẹp dọc theo các
xã Quảng Đông, Quảng Phú, Cảnh Dương, Quảng Hưng, Quảng Xuân Đường Quốc
lộ 1A chạy từ Đèo Ngang đến giáp Ba Đồn dài 30 km
Nằm trên địa bàn huyện có các trục giao thông huyết mạch xuyên Việt chạy qua (quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh, đường sắt Bắc - Nam), có khu kinh tế Hòn La, tiếp giáp biển , đây là điều kiện rất thuận lợi để huyện Quảng Trạch mở rộng giao lưu văn hóa, chính trị và phát triển kinh tế
Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Quảng Trạch
Trang 393.1.1.2 Đặc điểm địa hình, địa chất
a Địa hình
Quảng Trạch là huyện có đồi núi, đồng bằng và ven biển, bị chia cắt bởi những đụn cát khu vực ven biển và sông ngòi; xen kẽ khu vực đồi núi là khu vực đồng bằng nhỏ, hẹp Địa hình của huyện chia thành các dạng sau:
- Vùng đồi, núi thấp
+ Địa hình núi thấp: Kiểu địa hình này chiếm phần nhiều diện tích đất của huyện, có độ cao dưới 900 m Khu vực này bị chia cắt mạnh, sông suối có tiềm năng thủy điện nhỏ khá phong phú và đất đai có thể phát triển trồng rừng, trồng cây lâu năm, chăn nuôi đại gia súc
+ Thung lũng kiến tạo - xâm thực: Độ cao trung bình dưới 50 m, bao gồm các thung lũng sông Gianh, sông Roòn theo hướng chính từ Tây sang Đông, cấu tạo chủ yếu bởi các trầm tích bở vụn, dễ bị xâm thực Chiều ngang các thung lũng này tương đối rộng, địa hình thoải, lượn sóng nhẹ Khu vực này thích hợp cho trồng cây công nghiệp như cao su, hồ tiêu, cây ăn quả lâu năm
- Địa hình đồng bằng
Vùng đồng bằng huyện Quảng Trạch nằm ở hạ lưu sông Gianh, sông Roòn Địa hình này tương đối bằng phẳng, nhất là các xã hình thành bởi phù sa của sông Gianh Đây là vùng sản xuất nông nghiệp chính của huyện, hàng năm cung cấp một lượng lớn lương thực, thực phẩm cho nhân dân Địa hình này rất thuận lợi cho giao thông đi lại cũng như sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản
- Địa hình ven biển
Chủ yếu là các cồn cát và dải cát trắng vàng, độ cao từ 2 m hoặc 3 m đến 30 m,
+ Sản phẩm bồi tụ phù sa: Sản phẩm bồi tụ phù sa cổ, phù sa cũ và phù sa mới được hình thành và phân bố chủ yếu ở ven và hạ lưu các con sông lớn trong huyện Vật liệu của phù sa cổ có màu nâu vàng ở các tầng dưới, lên tầng mặt vì có sản phẩm
Trang 40hữu cơ nên đất có màu xám Ở đất phù sa cũ, sản phẩm phù sa biến đổi hình thành tầng loang lổ đỏ vàng, tầng glây, không còn đặc tính phân lớp của phù sa mới
+ Trầm tích biển: Cát biển ở huyện Quảng Trạch có tuổi Halocen và được chia thành các đơn vị sau:
- Cồn cát: Đây là đơn vị có vật liệu thô hơn hết do sóng biển để lại bên bờ biển
có dạng dải cao hơn mặt biển 2m hoặc 3m đến 30m
- Đất cát giữa cồn: Giữa 2 cồn cát hoặc sau cồn cát là bãi cát hoặc đất cát khá bằng phẳng mà vật liệu trầm tích gồm có phần của cồn cát và phần đầm mặn Loại nằm giữa hai cồn cát thì có tỷ lệ cát cao, còn phần nằm sát với đầm mặn thì tỷ lệ cát thấp hơn
+ Trầm tích đầm lầy biển: Đơn vị này bị ngập mặn với mạng lưới lạch triều khá dày Phần lớn diện tích ngập triều ở mức trung bình và có một số nơi nhô ra khỏi mặt nước lúc triều thấp Đặc trưng của trầm tích này là sự có mặt của sulfidic, hình thành bởi điều kiện yếm khí, sự ngập lụt đều đặn theo chu kỳ của nước mặn lợ
3.1.1.3 Đặc điểm khí hậu, thời tiết
Huyện Quảng Trạch nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có nền nhiệt cao, chế độ ánh sáng và mưa, ẩm dồi dào, Là những thuận lợi cơ bản cho phát triển
đa dạng các loại cây trồng Tuy nhiên, Quảng Trạch được coi là vùng có khí hậu khá khắc nghiệt: Từ tháng 4 đến tháng 7 chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam khô nóng thổi mạnh thường gây nên hạn hán; từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc kèm theo mưa lớn nên thường xảy ra lũ lụt
a Nhiệt độ không khí
Nhiệt độ trung bình năm từ 24 - 250C Mùa lạnh có 3 tháng (tháng 12 và 1, 2 năm sau), nhiệt độ xuống thấp, tháng thấp nhất khoảng 180
C (tháng 12 và tháng 1), có khi xuống tới 8 - 90C Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 8 nhiệt độ cao (trung bình 28 -
300C), tháng nóng nhất là tháng 6, 7, nhiệt độ tối cao có thể lên tới 40 - 420C Biên độ nhiệt trung bình giữa các tháng trong năm chênh lệch 7 - 90C
b Chế độ mưa
Quảng Trạch có lượng mưa bình quân khá cao khoảng từ 1.900 - 2.100 mm Mùa mưa kéo dài từ tháng 9 năm trước đến tháng 2 năm sau, lượng mưa tập trung chủ yếu vào các tháng 9, 10, 11 (chiếm 70% lượng mưa cả năm) Từ tháng 3 đến tháng 8 lượng mưa chỉ chiếm 30% lượng mưa cả năm Mùa mưa, lượng mưa lớn tập trung trong thời gian ngắn thường gây nên lũ lụt; mùa hè, thời gian mưa ít kéo dài thường gây nên thiếu nước, khô hạn