1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Trường văn hóa nhật bản trong tác phẩm của kawabata yasunari và murakami haruki

82 123 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 792,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong luận văn này chúng tôi nghiên cứu những đặc trưng văn hóa Nhật Bản, hay còn gọi là trường văn hóa Nhật Bản dựa trên tác phẩm của nhà văn Kawabata Yasunari và Murakami Haruki.. Tron

Trang 1

MỤC LỤC

DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

3 Phương pháp nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài 6

5 Những đóng góp mới của luận văn 7

6 Cấu trúc luận văn 7

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG I Mối liên hệ giữa văn hóa học và văn học 9

II.Khái niệm về trường văn hóa và trường văn hóa Nhật Bản 14

Tiểu kết 20

Chương 2 KAWABATA YASUNARI VÀ MURAKAMI HARUKI, CUỘC ĐỜI VÀ TÁC PHẨM I Kawabata Yasunari: 1 Cuộc đời 21

2.Tác phẩm 2.1 Cô vũ nữ xứ Izu 24

2.2 Xứ tuyết 24

2.3 Tiếng rền của núi 26

2.4 Truyện ngắn trong lòng bàn tay 26

2.5 Cố đô 28

2.6 Ngàn cánh hạc 28

2.7 Đẹp và buồn 29

Trang 2

II Murakami Haruki

1 Cuộc đời 30

2 Tác phẩm 2.1 Rừng Na Uy 32

2.2 Folklore của thời chúng ta 34

2.3 Lưỡi dao săn 36

2.4 Người đàn ông băng 38

2.5 Con voi biến mất 39

2.6 Đốt nhà kho 40

2.7 Chim vặn dây thiều và phụ nữ ngày thứ ba 41

- Tiểu kết 42

Chương 3 SỰ BIẾN CHUYỂN CỦA TRƯỜNG VĂN HÓA NHẬT BẢN TỪ KAWABATA YASUNARI ĐẾN MURAKAMI HARUKI 1 Sự biến chuyển của trường văn hóa Nhật Bản qua thời gian văn hóa 43

2 Sự biến chuyển của trường văn hóa Nhật Bản qua không gian văn hóa

51

3 Sự biến chuyển của trường văn hóa Nhật Bản qua chủ thể văn hóa 3.1 Ý nghĩa của đời sống 65

3.2 Văn hóa tình dục 68

3.3 Văn hóa đọc 73

Tiểu kết 74

KẾT LUẬN 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

Trang 3

DẪN NHẬP

I Lý do chọn đề tài

Quá trình toàn cầu hóa đang phát triển mạnh mẽ trên toàn thế giới Những biên giới quốc gia dần bị xóa mờ đi, những giá trị riêng biệt đã dần nhường chỗ cho những giá trị văn hóa phổ quát Việt Nam cũng không phải

là ngoại lệ Vì thế nghiên cứu về sự biến chuyển văn hóa của một đất nước

đi trước Việt Nam như Nhật Bản sẽ cho chúng ta một cái nhìn soi sáng về

sự giữ gìn và phát triển văn hóa dân tộc cũng như rút được những bài học kinh nghiệm lịch sử

Như tác giả Trần Ngọc Thêm đã nhận định, văn hóa học có nhiệm vụ nghiên cứu văn hóa như một đối tượng riêng biệt trên cơ sở những dữ liệu

do các ngành khác cung cấp, mà trong đó có ngôn ngữ và văn học {Trần Ngọc Thêm 2001 : 21} Trong luận văn này chúng tôi nghiên cứu những đặc trưng văn hóa Nhật Bản, hay còn gọi là trường văn hóa Nhật Bản dựa trên tác phẩm của nhà văn Kawabata Yasunari và Murakami Haruki

Công trình của chúng tôi được gợi hứng từ những truyện dịch của Kawabata Yasunari và Murakami Haruki cùng với bài viết về trường văn hóa của Đoàn Văn Chúc {Đoàn Văn Chúc 2004} Trong bài viết gần ba mươi trang của Đoàn Văn Chúc, chúng tôi thiển nghĩ mình có thể áp dụng quan niệm này để tìm hiểu về nền văn hóa Nhật Bản qua tác phẩm của hai nhà văn tiêu biểu có nhiều tác phẩm được dịch ra Việt ngữ mà chúng tôi cũng có một phần tham dự

Kawabata thể hiện rõ ràng là một người tôn sùng nền văn hóa Nhật bản cổ điển với tư tưởng Phật Giáo Thiền tông và nền văn chương nữ tính huy hoàng thời Heian mà tiêu biểu là tác phẩm “Genji monogatari” (Nguyên Thị vật ngữ) do nữ sĩ Murasaki Shikibu sáng tác Giải thưởng Nobel năm

1968 đã mang lại cho ông vinh quang quốc tế, và đưa dòng văn học Nhật Bản hòa nhập vào dòng chảy chung của nền văn học thế giới Như trong lời

Trang 4

tuyên dương của Viện hàn lâm Thụy Điển đã nhấn mạnh tác phẩm của ông

“thể hiện rõ nét lối tư duy Nhật Bản” (đây là Nhật Bản truyền thống)

Còn Murakami là một con người phản kháng lại nền văn hóa truyền thống Nhật Bản Các tác phẩm của ông nhắm đến một trường văn hóa toàn cầu, không còn sự khác biệt trong suy tư của giới trẻ, một thế giới mà thị trường tiêu dùng tràn ngập đã xóa nhòa ranh giới của các quốc gia Chính

vì vậy mà tác phẩm của Murakami được dịch ra hàng chục thứ tiếng, được tiêu thụ hàng chục triệu bản trên toàn thế giới Và rất có thể Murakami sẽ đem về cho Nhật Bản một giải Nobel văn chương thứ ba cho Nhật Bản trong những năm tới đây Nhiều nhà nghiên cứu văn học đã tuyên bố như vậy mà Matt Thompson là một ví dụ điển hình

Xem xét sự vận động và phát triển của quá trình toàn cầu hóa văn hóa Nhật Bản từ Kawabata đến Murakami sẽ cho chúng ta thấy sự biến chuyển về mặt văn hóa, xã hội và con người Nhật Bản, đồng thời là một tấm gương soi chiếu vào Việt Nam trong quá trình toàn cầu hóa đang phát triển mạnh mẽ hiện nay

II Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn hóa và văn học không phải là đề tài mới Trước đây, ngoài công trình của Đoàn Văn Chúc, chúng ta có công trình “Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học” mà nguồn gốc là luận án tiến sĩ của Đỗ Thị Minh Thúy {Đỗ Thị Minh Thúy 1997 } đã giải quyết những vấn đề

lý luận cơ bản về mối quan hệ biện chứng giữa văn học và văn hóa học Ngoài ra, một số bài viết của Đỗ Lai Thúy [Đỗ Lai Thúy 1999}, cũng cho chúng tôi nhiều gợi ý trong việc phát triển đề tài này

Một thuận lợi khác cho chúng tôi là hầu hết những tác phẩm quan trọng của Kawabata và Murakami đã được dịch sang Việt ngữ Đó là một nguồn tài liệu lớn và quý báu (Xin xem thư mục tham khảo)

Còn về giáo trình văn hóa học cơ sở, chúng tôi sử dụng chủ yếu hai tác phẩm “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” của tác giả Trần Ngọc Thêm

Trang 5

và “Văn hóa học” của Đoàn Văn Chúc để làm lý thuyết nền về so sánh văn hoá, vùng văn hóa và trường văn hóa Ngoài ra là một số tác phẩm khác của Cao Xuân Huy, Trần Đình Hượu…

III Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp chính của chúng tôi là vận dụng khái niệm trường văn hóa để nghiên cứu tác phẩm của Kawabata và Murakami trên cơ sở phương pháp liên văn bản và so sánh văn bản Từ những tác phẩm tiêu biểu của Kawabata và Murakami, chúng tôi tìm ra những nét chung, “khí hậu văn chương” của từng tác giả Bằng phương pháp so sánh văn bản chúng tôi nhận thấy sự đa dạng trong thế giới nghệ thuật và văn phong sáng tác của từng tác giả sẽ làm phong phú thêm trường văn hóa Nhật Bản hiện đại, thể hiện sự phát triển mạnh mẽ của vấn đề toàn cầu hóa văn hóa trên toàn thế giới, không riêng gì ở Nhật Bản mà còn góp phần soi chiếu vào sự phát triển của văn hóa Việt Nam

IV Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của chúng tôi là nghiên cứu về sự biến chuyển của trường văn hóa Nhật Bản về không gian văn hóa, thời gian văn hóa và chủ thể văn hóa qua văn phẩm của hai tác gia Kawabata Yasunari

và Murakami Haruki

Phạm vi nghiên cứu của chúng tôi chỉ dựa vào văn phẩm đã dịch sang Việt ngữ Về tác gia Kawabata, chúng tôi chủ yếu sử dụng bộ tuyển tập “Yasunari Kawabata, Tuyển tập tác phẩm” được Nhà xuất bản Lao động

và trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây ấn hành năm 2006, gồm tất cả những truyện từ trước đến nay của Kawabata được dịch ra Việt ngữ gồm truyện ngắn, tiểu thuyết, truyện trong lòng bàn tay và đặc biệt là tiểu thuyết

“Đẹp và buồn” mới được Mai Kim Ngọc dịch sang Việt ngữ năm 2006 Về Murakami Haruki, cụ thể tác phẩm “Rừng Na Uy” chúng tôi sẽ dựa vào bản

Trang 6

dịch mới của Trịnh Lữ vì đầy đủ hơn, tác phẩm “Biên niên ký chim vặn dây cót” dựa vào bản dịch của Trần Tiễn Cao Đăng, những truyện ngắn thì dựa vào bản dịch của Phạm Vũ Thịnh và của chúng tôi { Hoàng Long 2006}

V Những đóng góp mới của luận văn

Trong luận văn này, chúng tôi hy vọng mình có thể đóng góp một phần nhỏ bé vào việc nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn hóa và văn học

mà cụ thể áp dụng vào Nhật Bản Vì là bước đầu tìm hiểu nên chúng tôi chỉ

có thể đóng góp qua việc dịch một số truyện ngắn của Kawabata và Murakami làm tư liệu nghiên cứu, đồng thời nêu lên những chuyển biến chủ yếu về văn hóa Nhật Bản qua ba khía cạnh: không gian văn hóa, thời gian văn hóa và chủ thể văn hóa theo như định hướng của GS.TSKH Trần Ngọc Thêm

VI Cấu trúc của luận văn

Ngoài những phần quy định chung, nội dung luận văn này đựơc chia làm ba chương chính:

Chương thứ nhất “Cơ sở lý luận chung” Trong chương này, chúng tôi tìm hiểu về mối liên hệ giữa văn hóa học và văn học và khái niệm trường văn hóa Chúng tôi nghiên cứu mối quan hệ chặt chẽ biện chứng giữa văn học và văn hóa học như hai thành tố không thể tách rời Đồng thời chúng tôi phân tích khái niệm trường văn hóa mà Đoàn Văn Chúc đã nêu ra trong công trình nghiên cứu văn hóa học của mình

Chương thứ hai: “Kawabata Yasunari và Murakami Haruki Cuộc đời

và tác phẩm” Trong chương này, chúng tôi giới thiệu khái quát về tiểu sử

và tóm tắt các tác phẩm chính yếu của hai tác gia Chúng tôi thiển nghĩ việc này có ích cho việc triển khai chương cốt lõi của luận văn Bởi vì những tác phẩm chính là những tư liệu để cho chúng ta khảo sát sự biến chuyển về trường văn hóa Nhật Bản

Trang 7

Chương thứ ba “Sự biến chuyển của trường văn hóa Nhật Bản từ Kawabata đến Murakami” Đây là chương cốt lõi của luận văn Được sự gợi

ý và định hướng của GS.TSKH Trần Ngọc Thêm, chúng tôi triển khai chương này làm ba phần chính: sự biến chuyển về thời gian văn hóa, sự biến chuyển về không gian văn hóa, và sự biến chuyển về chủ thể văn hóa, trong mỗi phần chúng tôi lấy tư liệu là văn phẩm của hai tác gia đưa ra cái nhìn so sánh về sự biến chuyển và phát triển của trường văn hóa Nhật Bản

Trang 8

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG

I Mối liên hệ giữa văn hóa học và văn học

Thuật ngữ Văn hóa với tư cách là một danh từ độc lập được manh nha từ thế kỷ XVIII với định nghĩa của E.B Tylor, trong tác phẩm Văn hóa nguyên thủy, xuất bản tại London năm 1881, như mầm mống khởi đầu cho môn văn hóa học, môn nghiên cứu về văn hóa Tuy nhiên cho đến nay về đối tượng

và phương pháp nghiên cứu, hướng tiếp cận trong văn hóa học vẫn là vấn

đề đang được tranh cãi Văn hóa học là một ngành khoa học còn đang non trẻ ở Việt Nam nhưng đã và đang dần được định hình qua nhiều tác phẩm nghiên cứu chuyên sâu, phong phú đa dạng và đa diện từ nghiên cứu văn hóa lý thuyết đến văn hóa ứng dụng, mở ra một tương lai rộng mở về triển vọng nghiên cứu của ngành này

“Với tư cách là một khoa học lý luận, văn hóa học có nhiệm vụ nghiên cứu văn hóa như một đối tượng riêng biệt trên cở sở những dữ liệu

do các ngành khác (dân tộc học, sử học, ngôn ngữ học, tôn giáo học…) cung cấp với mục đích phát hiện các đặc trưng, những quy luật hình thành

và phát triển Nghiên cứu văn hóa dân tộc theo lối này không chỉ là tìm hiểu

“cái gì?” mà chủ yếu là tìm hiểu “tại sao?” và “như thế nào?” [Trần Ngọc Thêm 2001 : 21]

Khi tìm hiểu về các nền văn hóa chúng ta nhận thấy mỗi một dân tộc

có một bản sắc văn hóa riêng của mình, cho dù cùng bị ảnh hưởng bởi một nền văn hóa chủ đạo Ví dụ như các nước phương Tây chịu ảnh hưởng nền văn hóa Hy Lạp La Mã, các nước phương Đông ảnh hưởng nền văn hóa Hán Đó là vì “Nếu các nền văn hóa gần gũi nhau về địa lý thì chúng có thể

từ tiếp xúc đến giao lưu với nhau, và trong việc giao lưu ấy có thể xảy ra hiện tượng những yếu tố của nền văn hóa này thâm nhập vào nền văn hóa

Trang 9

kia (tiếp thu thụ động) hoặc nền văn hóa này vay mượn những yếu tố của nền văn hóa kia (tiếp thu chủ động), rồi trên cơ sở những yếu tố nội sinh ngoại sinh ấy mà điều chỉnh, biến cải cho phù hợp, gây ra sự tiếp biến văn hóa Các nền văn hóa gần gũi và giao lưu với nhau này tạo nên những vùng văn hóa”[ Trần Ngọc Thêm 2001 : 32] Vùng văn hóa này chính là một phần khái niệm trường văn hóa

Việt Nam và Nhật Bản vốn có nền văn hóa lâu đời, cùng tiếp thu một nền văn hóa Hán nhưng do những thành tố nội sinh khác nhau mà hình thành nên những đặc trưng văn hóa khác nhau, hình thành bản sắc văn hóa riêng cho từng dân tộc Nghiên cứu nền văn hóa Nhật Bản giúp chúng ta tìm hiểu về một nước “đồng văn” rồi từ đó có thể nhìn lại văn hóa Việt Nam trong tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Từ những kinh nghiệm văn hóa đó của Nhật Bản, liệu có thể đưa lại một con đường cho việc giao lưu và giữ gìn văn hóa Việt, hay có thể đơn giản hơn là bước đầu tìm hiểu một môi trường văn hóa tuy gần gũi nhưng còn huyền bí nguyên sơ

và chưa quen thuộc với người Việt Nam chúng ta

Đúng như nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy đã nhận định “Việt Nam và Nhật Bản, do một ngẫu hứng nào đó của thiên nhiên, có nhiều cái cùng Cả hai nước cùng nằm trong khu vực châu Á- Thái Bình Dương, khu vực trung tâm của thế kỷ XXI, cùng chịu ảnh hưởng của nền văn minh Trung Hoa (Khổng-Phật), cùng tiếp xúc với Phương Tây và đạo Thiên Chúa từ thế kỷ XVI-XIX… nhưng số phận lại khác nhau Bởi vậy, tìm hiểu văn hóa Nhật Bản như là một động lực sâu xa của phát triển, không phải chỉ là việc ném một cái nhìn mơ mộng về phương trời viễn xứ, mà là những suy ngẫm nghiêm túc về chính mảnh đất dưới chân mình”[Đỗ Lai Thúy 1999 : 87]

Như GS-TSKH Trần Ngọc Thêm đã nhận định, văn hóa học có nhiệm vụ nghiên cứu văn hóa như một đối tượng riêng biệt trên cơ sở những dữ liệu do các ngành khác cung cấp, mà trong đó có ngôn ngữ và văn học Trong tác phẩm văn học, nhân vật, cá tính, cách tư duy đều được

Trang 10

tổng hợp, khái quát lên, mang tính điển hình cao độ Nó chính là tấm gương soi phản ánh nền văn hóa của đất nước đó Vì thế mà tác phẩm văn học chính là một nguồn tư liệu hữu ích trong vấn đề nghiên cứu và tìm hiểu nền văn hóa của một quốc gia

Tuy thế, những công trình nghiên cứu mối liên quan giữa văn học và văn hóa học một cách cụ thể vẫn còn hiếm hoi ở Việt Nam Có thể kể ra một vài công trình như :

• Trần Đình Hượu với tác phẩm Nho Giáo và văn học Việt Nam trung cận đại, Nxb Văn học, 1995;

• Trần Nho Thìn, Văn học trung đại Việt Nam dưới cái nhìn văn hóa, Nxb Giáo dục, 2003;

• Đỗ Lai Thúy, Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực, Nxb văn hóa thông tin, 2000;

• Đỗ Thị Minh Thúy, Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1997

Những công trình nghiên cứu sơ khởi này là bước đầu của việc hình thành lĩnh vực nghiên cứu phê bình văn hóa từ văn học hay ngược lại phê bình văn học từ văn hóa

Nhà nghiên cứu Đỗ Thị Minh Thúy trong công trình “Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học” đã dành hẳn một chương 3 trong trong tổng số 4 chương của tác phẩm để bàn về vị trí của văn học trong văn hóa mà tiêu biểu là ý kiến sau đây “bản thân văn học trong văn hóa là một bộ phận của văn hóa, nó chịu sự chi phối mang tính quyết định của văn hóa Thứ hai là nói đến tính đại diện cho văn hóa của văn học, sự tác động tích cực trở lại của văn học đối với văn hóa”[ Đỗ Thị Minh Thúy 1997 :100] (chúng tôi nhấn mạnh – HL)

Còn nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy trong bài viết “mối quan hệ văn hóa – văn học nhìn từ lý thuyết hệ thống” đã nhận xét “trước đây mối quan hệ văn hóa và văn học được coi như là mối quan hệ tương hỗ Thứ quan hệ

Trang 11

ngang bằng của hai hình thái ý thức xã hội cùng thuộc thượng tầng kiến trúc, cùng phản ánh một cơ sở hạ tầng Bởi thế nghiên cứu văn hóa thì văn học được coi như một nguồn tài liệu (chúng tôi nhấn mạnh -HL), còn nghiên cứu văn học thì lại tìm thấy ở nó những chủ đề văn hóa, cũng là một kiểu tài liệu…Ngày nay hẳn ai cũng thừa nhận văn hóa là một tổng thể, một hệ thống, bao gồm nhiều yếu tố trong đó có văn học Như vậy, văn hóa chi phối văn học với tư cách là hệ thống chi phối yếu tố, toàn thể chi phối bộ phận Đây là quan hệ bất khả kháng Tuy nhiên văn học so với các yếu tố khác là một yếu tố mạnh và năng động Bởi thế nó luôn có xu hướng đi trượt ra ngoài hệ thống” [ Đỗ Lai Thúy www.vienvanhoc.org.vn]

Người ta có thể dùng tác phẩm văn học như một nguồn tài liệu khảo cứu không bởi tính chính xác của nguồn tư liệu, mà bởi vì tính điển hình hóa cao độ của nó Do đó, những tác gia như Vladimir Soloviev, Arthur Schopenhauer khi chứng minh những luận điểm về triết học tình yêu của mình đã viện dẫn đến Werther của Goethe, Jacques Ortis của Ugo Foscolo,

và Romeo Juliette của Shakespeare…như là những dẫn chứng xác đáng, mang tính khái quát cao Chính Shopenhauer cũng nhận xét như vậy “Các Werther và Jacques Ortis chẳng phải chỉ có trong tiểu thuyết, mà trái lại, hằng năm ở bên Âu còn thấy ít ra cũng nửa tá, nhưng họ đã chết trong tăm tối vì cái nỗi khổ đau của họ chẳng được ai ghi chép ngoài người biên tập biên bản hành chính hay phóng viên nhà báo”[Arthur Schopenhauer 2006], [Vladimir Soloviev 2005]

Xin dẫn chứng một ví dụ khác Thời nhà Đường ở Trung Quốc không những là một thời kỳ văn hóa rực rỡ của riêng xứ sở này mà còn là một trong những trang vàng đẹp nhất của lịch sử thế giới Những di sản văn hóa vật chất và tinh thần của thời kỳ này còn để lại là một nguồn báu vô giá, đủ làm ngây ngất những ai muốn tìm hiểu về văn hóa của thời đại này Chỉ tính riêng về tác phẩm văn chương, bộ “Toàn Đường Thi”, một tuyển tập gồm hơn 48.900 bài thơ của 2.200 thi sĩ, in thành 900 quyển, đã là một nguồn

Trang 12

khảo cứu vô cùng tin cậy cho việc tìm hiểu không chỉ về văn hóa Trung Quốc mà còn cho cả về văn hóa Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên Nhà nghiên cứu Lê Quý Đôn trong “Kiến văn tiểu lục”, Thích Mật Thể trong “Việt Nam Phật Giáo sử lược”, Nguyễn Lang trong “Việt Nam Phật Giáo sử luận”,

Lê Mạnh Thát đã dựa vào một phần lớn “Toàn Đường Thi” để phục dựng lại lịch sử Phật Giáo Việt Nam sơ kỳ qua các bài thơ của các nhà thơ và cao tăng Trung Quốc tặng các cao tăng Việt Nam [Lê Mạnh Thát 1999] Còn học giả Vũ Thế Ngọc cũng đã dựa vào tác phẩm này để biết được về lịch sử hình thành và phát triển của “trà đạo”, nguồn gốc cây trà và những lan truyền mang tính văn hóa của tục uống trà của người Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên cho đến thói quen uống trà sữa của người Anh [Vũ Thế Ngọc 2006] Điều này đã chứng tỏ rằng tác phẩm văn chương là một nguồn tư liệu để chúng ta có thể khảo sát về văn hóa

Hay như để nghiên cứu về lịch sử thiên tai Trung Quốc, ông Fang Xiuchi, nhà nghiên cứu ở trường đại học Bắc Kinh, thì lịch sử Trung Quốc hơn hai ngàn năm qua có ba thời kỳ rất lạnh giá, mà một đợt xuất hiện vào cuối thế kỷ tám Một trong những tư liệu chứng minh đó là dựa vào thơ Đường Bởi hầu hết các bài thơ về mùa đông ra đời trong thời kỳ sơ Đường đều ca tụng vẻ đẹp của hoa mận nở, dấu hiệu cho thấy những mùa đông

ấm áp, trong khi những bài thơ ra đời trong thời gian sau này lại chủ yếu mô

tả sự lạnh giá [Tuấn Vĩ 2007 :29] Điều này cho thấy rằng lời của sử gia H.I Marrou là đúng đắn “mọi thứ đều có thể là tài liệu” Điều quan trọng là chúng

ta sử dụng những tài liệu đó như thế nào mà thôi

Trong luận văn này chúng tôi nghiên cứu những đặc trưng văn hóa Nhật Bản, hay còn gọi là trường văn hóa Nhật Bản dựa trên tác phẩm của hai nhà văn Nhật Bản đương đại là Kawabata Yasunari và Murakami Haruki

II Khái niệm trường văn hóa và trường văn hóa Nhật Bản

Trang 13

Khái niệm trường văn hóa không dễ định nghĩa Nó có nội hàm phức tạp và phần nào trùng khớp với hai khái niệm khác là vùng văn hóa và bản sắc văn hóa “Trường văn hóa là một không gian - dân cư trong đó một hay những sự kiện văn hóa được diễn ra” Và “trong nghiên cứu xã hội học văn hóa, người ta thiên về sử dụng ngữ “trường văn hóa”, nhân bởi ngữ này làm xuất hiện một đơn vị phân tích trong đó cư ngụ toàn bộ các nhân tố trong mối tương liên để tạo nên một sự kiện văn hóa tại khuôn khổ không gian – dân cư nào đấy” {Đoàn Văn Chúc 2004 : 339,340}

“Trường văn hóa” bao gồm trong đó hai khái niệm: một hoạt động mang tính xã hội, và một không gian - dân cư vừa là điều kiện cũng lại vừa

là giá mang hoạt động nọ, tức là sự kiện văn hóa Như vậy đầu tiên, trường văn hóa phải hiểu là một không gian trong đó người ta sinh sống và hoạt động Đó chính là không gian văn hóa Và mỗi không gian sinh sống riêng đều có ảnh hưởng đến cách tư duy và lối sống của con người, tạo nên sự khác biệt đa dạng với dân cư khu vực khác Chẳng hạn như người ta cho rằng vì thời tiết xứ Aán quá nóng bức, con người ta phải thường xuyên ngồi yên tĩnh tâm tránh nóng, do đó mà tư duy siêu hình nảy nở Còn Nhật Bản

có vị trí độc lập là đảo quốc, tránh được chiến tranh xâm lược và tạo nên bản sắc văn hóa độc đáo riêng của mình Trong suốt quá trình lịch sử đến trước 1945, Nhật Bản chưa từng bị xâm lăng và do đó còn giữ lại đựơc rất nhiều di tích lịch sử Như vậy không gian – dân cư trong “trường văn hóa”

có phần trùng khớp với vùng văn hóa

Và “để có một từ trường, trước hết phải có một thỏi từ Cũng như thế, để có một trường văn hóa, trước hết phải có tác phẩm văn hóa” Đó là những sản phẩm mang tính biểu tượng do một xã hội sản xuất, trong đó có tác phẩm văn chương

Trường văn hóa được gắn liền với sự kiện văn hóa, mà sự kiện văn hóa là sự kiện xã hội lấy hạt nhân hình thành là tác phẩm văn hóa Mà theo Đoàn Văn Chúc, tác phẩm văn hóa là những sản phẩm biểu tượng tính do

Trang 14

một xã hội sản xuất, và xuất hiện dưới hình thức của những dấu hiệu: ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói (các thứ văn chương thơ ca), đồ thị (hội họa, nghệ thuật tạo hình, múa nhảy), âm thanh (ca nhạc), hình ảnh (ảnh, điện ảnh), lai pha (ứng xử, lễ-tết-hội, trò chơi, công viên văn hóa, văn vật lịch sử)[ Đoàn Văn Chúc 2004 : 342,343]

Tác phẩm văn chương nào cũng là tác phẩm văn hóa Theo nhà nghiên cứu Đoàn Văn Chúc thì “Tác phẩm văn hoá” phản ánh và điều chỉnh các quan hệ xã hội tức là nó gieo trồng các giá trị tinh thần Nó được sản xuất bằng các phương tiện: dấu hiệu nói, dấu hiệu viết, dấu hiệu âm thanh, dấu hiệu đồ thị, dấu hiệu lai pha Đặc trưng căn bản nhất của tác phẩm văn hoá là tính biểu tượng Trong khi các tác phẩm kinh tế bị hủy hoại dần trong quá trình tiêu thụ thì tác phẩm văn hoá được lưu truyền và mang giá trị thẩm

mỹ cao

Bởi dù sao khi sáng tác, nhà văn phải chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ, hoàn cảnh đang sống, tức là cái trường văn hóa mà anh ta đang hiện diện Chính vì vậy mà tác phẩm văn chương phần nào phản ánh “bản sắc văn hóa” của dân tộc mình trong tư duy và lối sống

Vì thế, bởi vì mỗi dân tộc sống ở một không gian cư trú riêng, một loại hình dân cư riêng, nên những sự kiện văn hóa của dân tộc này khác với

sự kiện văn hóa của dân tộc khác Có giống nhau thì ở cái mạch ngầm nội tại của thân phận loài người Chính vì thế ta có thể giải thích vì sao Bakhtin lại hiểu Rabelais hơn người khác Những lễ hội cácnavan là cái phần chìm nội tại của một thuở ấu thơ con người Nó có thể bị biến mất ở một vài dân tộc nhưng hằng số di truyền vẫn là hằng định tính Và Bakhtin đã bắt được cái mạch ngầm logos nội tại ấy Mỗi một dân tộc có những thể loại văn chương, những cách suy nghĩ và đặc trưng văn hóa riêng Chẳng hạn, ở Ba

Tư có thể thơ rubai, ở Hàn Quốc có thể thơ sijo, Việt nam có thơ lục bát…

Và riêng Nhật Bản với vị trí đặc thù của mình là quần đảo, nằm khá xa đất liền đủ để tránh ngoại xâm nhưng đủ gần để tiếp thu văn hóa Tất cả những

Trang 15

tinh hoa văn hóa của Trung Quốc và sau này là Âu Mỹ đều do người Nhật đích thân du nhập bằng cách cử người sang du học Và dĩ nhiên, theo quy luật khúc xạ văn hóa, tất cả những tinh hoa qua lăng kính của nền văn hóa bản địa đều được nâng lên một tầm cao mới Như nghệ thuật uống trà (chadô), cắm hoa (ikebana), kiếm đạo (kendô) là tiếp thu từ Trung Quốc nhưng đã thành những thành tố của nền văn hóa bản địa Nhật Bản Ngay

cả ngôn ngữ và văn chương cũng vậy Khi đọc những tác phẩm văn chương Nhật từ thơ haiku và tanka đến sân khấu kịch No, các truyện ngắn

và tiểu thuyết thì chúng ta đều tiếp cận với một trường văn hóa khác

Về giao lưu văn hóa giữa Trung Quốc và Nhật Bản thì đã có từ lâu đời, có từ thế kỷ 2, 3 trước công nguyên “Từ lâu, thế kỷ thứ 2, 3 trước công nguyên, hai nước Trung Nhật đã trao đổi văn hóa với nhau Các loại như lúa nước, kỹ thuật canh tác nông nghiệp và đồ sắt, đồ đồng cùng với kỹ thuật chế tạo các thứ ấy nối tiếp nhau truyền sang Nhật Bản, thúc đẩy sự phát triển của xã hội Nhật Bản Thời kỳ Tam quốc Tây Hán, sự đi lại giữa hai nước Trung Nhật ngày một gia tăng…đồng thời cả văn hóa nghệ thuật,

tư tưởng học thuật của Trung Quốc cũng truyền vào Nhật Bản Nhật Bản vốn lúc đầu không có chữ viết, vào nửa thế kỷ thứ nhất trước công nguyên, chữ Hán du nhập vào Nhật Bản, đến thế kỷ thứ sáu, nhờ sự giới thiệu thâm nhập của các học giả Ngũ kinh, lịch sử, y học, tư tưởng Nho học của Trung Quốc truyền vào Nhật Bản Thời Lương Vũ Đế, đạo Phật cũng nhờ sự giúp

đỡ này mà vào Nhật Từ đấy, tư tưởng Nho học và học thuyết Phật giáo được lưu truyền rộng rãi ở Nhật” [ Ngô Vinh Chính 2004 : 501, 502]

Tuy những chủ đề lớn của đời sống con người như nỗi đau, tình yêu, cái chết và những bi kịch nhân sinh là tất yếu có mặt trong từng tác phẩm của tất cả các nhà văn nhưng cách thể hiện mỗi người mỗi dân tộc mỗi khác Chúng tôi nhận thấy rằng sự mới lạ của văn chương chỉ là các thể hiện Cái nỗi niềm cô đơn của người xưa đìu hiu bên dòng sông có cây dương liễu “Dương tử giang đầu dương liễu xuân/ Dương hoa sầu sát độ

Trang 16

giang nhân” đến nỗi niềm cô đơn của con người hiên tại giữa phố phường

xe cộ, các khu nhà cao tầng và bàn phím máy tính là giống nhau Cái tình yêu thương nam nữ từ xưa trong bụi dâu “Tang bộc” đến love-hotel1 ngày nay nào có chi khác biệt Tùy mỗi trường văn hóa, mà cách thể hiện nỗi niềm đó là khác nhau

Nhà học giả của Pháp là Taine trong một tác phẩm “Văn học sử của Anh Quốc” đã nêu ra ba yếu tố quan trọng là chủng tộc, thời đại và hoàn cảnh để giải thích tất cả những tác phẩm văn học nghệ thuật… Những học giả thuộc phái này cho rằng nếu như chúng ta hiểu rõ được chủng tộc, hoàn cảnh và thời đại của tác giả thì chúng ta sẽ thấu triệt được tác phẩm của họ Cho nên họ đặc biệt chú trọng đến việc nghiên cứu truyện ký của tác giả, vì theo sự nhận định của họ thì trong ấy bao hàm vấn đề di truyền (tức chủng tộc) và hoàn cảnh (trong đó có thời đại) là hai thứ ảnh hưởng” [Chu Quang Tiềm 2005 : 363] Cùng với cá tính riêng của mỗi nhà văn, sự khác nhau về

di truyền và hoàn cảnh này giải thích sự khác biệt về văn phong, chủ đề sáng tác và thế giới nghệ thuật của từng tác giả của từng quốc gia

Trường văn hóa Nhật Bản chịu ảnh hưởng sâu sắc tác động của tư tưởng Phật Giáo, vốn được tiếp nhận từ trước thời Nara Cũng như Việt Nam, văn hóa Nhật Bản là kết hợp giữa Nho Giáo và Phật Giáo, nhưng Phật giáo chiếm ưu thế hơn Nho Giáo cung cấp cho Nhật Bản một phương tiện an bang trị quốc của các triều đại phong kiến Còn Phật Giáo cho người Nhật một cách nhìn về thế giới tự nhiên, tâm linh, bản ngã Trong một thời gian dài, Phật Giáo là quốc giáo của Nhật Bản Từ khi Thánh Đức Thái tử (Shotoku Taishi) (574-622) lên ngôi, ông đã cho hoằng dương Phật pháp, cho người sang Trung Quốc du học Chính ông cũng viết sách giải thích cho

ba bộ kinh là Tam kinh nghĩa sớ : Pháp Hoa kinh sớ, Duy ma kinh sớ và Thắng man kinh sớ Điều này đã làm cho Phật giáo bén rễ và phát triển sâu

1 Khách sạn tình yêu, nơi các cặp nam nữ đến thuê ngủ với nhau một vài giờ

Trang 17

rộng ở xứ sở Phù Tang về sau này Cho đến thời kỳ Kamakura, các tông phái Phật giáo phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là Thiền tông Lâm tế và thiền tông Tào Động Những tư tưởng của Phật giáo đã ảnh đến đến lối tư duy và lối sống của người Nhật Bản, tạo nên một nền văn hóa đặc sắc, ghi dấu ấn trong nhiều tác phẩm văn hóa vật chất và tinh thần

Những thành tố văn hóa ngoại sinh kết hợp với những yếu tố nội sinh bản địa nhưng được soi chiếu qua một tầm mức mới lung linh một bản sắc riêng của Nhật Bản Tác giả Lý Kim Hoa nhận xét “Người Nhật thường

bị chỉ trích là những kẻ bắt chước và chắc chắn là như vậy Nhưng bắt chước không có nghĩa là người Nhật làm theo tất cả những gì của văn hóa nước ngoài Họ cải biến và chế ra một cái gì mới theo tinh thần của họ Họ sao chép nghệ thuật nước ngoài bằng một lối khác để phát triển một cái gì

đó có tính độc đáo Hãy xem Phật giáo và Khổng giáo Có thể nói chúng đã tuyệt diệt ở chính nơi đã khai sinh ra chúng Trường hợp nghệ thuật điêu khắc và sành sứ cũng giống như vậy Nghệ thuật Nhật Bản đã làm phát tiết tinh hoa nhiều sắc thái rực rỡ hơn nghệ thuật tại chính gốc của nó Nhật Bản bắt chước nhưng từ đó cải tiến và sáng tạo”[Lý Kim Hoa 2006 : 211, 212]

Còn Việt Nam rõ ràng là chịu ảnh hưởng của Nho Giáo Trung Quốc, mặc dù có một thời gian dài chịu ảnh hưởng Phật giáo nhưng nét tinh túy của văn hóa Việt chính là nằm ở chỗ Nho, Phật, Lão kết hợp mà trong đó Nho giáo vẫn chiếm vị trí ưu thắng trong lịch sử Việt Nam Nho Giáo cung cấp cho nhà nước phương tiện quyền lực, cung cấp cho cá nhân một phương hướng phấn đấu làm quan cai trị, xuất thế Còn khi rút lui, người Việt lại nương nhờ vào Lão Trang Giáo sư Trần Đình Hượu nhận định “Nho Giáo từ Trung Quốc vào Việt Nam đồng thời với Phật Giáo và Đạo giáo (cả

tư tưởng Lão Trang) nhưng phải đến hàng chục thế kỷ sau, đến đời Trần nó mới có ảnh hưởng lớn…Cho nên tìm cái đặc sắc Việt Nam, tìm cái cổ điển, cái truyền thống của văn học dân tộc không thể xem thường bộ phận văn

Trang 18

học chịu ảnh hưởng Nho Giáo Trong văn học truyền thống của Việt Nam, cái Việt Nam và cái Nho giáo kết hợp với nhau chứ không phải bài xích nhau…Chứng tích ảnh hưởng Nho Giáo trong văn học không chỉ ở mô típ nội dung, hình ảnh, từ ngữ mà sâu xa hơn là ở quan niệm văn học, ở quan niệm cái đẹp…” [Trần Đình Hượu 1995 : 53,54]

Bởi vậy, khi xét đến trường văn hóa Nhật Bản, ta phải xét đến yếu tố Phật Giáo Chính tư tưởng Phật Giáo kết hợp với các yếu tố nội sinh của nền văn hóa bản địa đã ảnh hưởng đến diện mạo văn học và văn hóa Nhật Bản, làm nên diện mạo riêng của nền văn hóa này trong khu vực Châu Á và thế giới

• TIỂU KẾT

Trong chương này, chúng tôi đã đi từ xuất phát điểm văn chương chính là một nguồn tài liệu quý giá để nghiên cứu văn hóa học Từ đó chúng tôi giới thiệu và phân tích khái niệm “trường văn hóa” mà học giả Đoàn Văn Chúc đề ra, áp dụng vào trường hợp Nhật Bản, có so sánh với Việt Nam Trường văn hóa Nhật Bản chịu nhiều ảnh hưởng của Phật Giáo còn trường văn hóa Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của Nho Giáo Đó là những bứơc khởi đầu để tìm hiểu về sự vận động và phát triển của trường văn hóa Nhật Bản từ Kawabata đến Murakami Haruki

Trang 19

Chương 2 KAWABATA YASUNARI VÀ MURAKAMI HARUKI,

CUỘC ĐỜI VÀ TÁC PHẨM

I KAWABATA YASUNARI

1 Cuộc đời

Chân dung Kawabata Yasunari

Chào đời năm 1899 tại một làng quê nhỏ ở gần thành phố Osaka, ngay từ nhỏ, Kawabata đã gánh chịu nhiều nỗi bất hạnh Năm 3 tuổi, mẹ mất Năm 4 tuổi, cha mất Năm lên tám, bà mất Và đến khi ông mười lăm tuổi, người ông bệnh tật cũng từ bỏ Kawabata khi đại chiến thế giới thứ nhất bùng

nổ vào năm 1914 tác phẩm Nhật ký tuổi mười sáu (Juroku sai no nikki) là tiếng nói của một con người nhỏ bé bơ vơ trước trần gian mênh mông không người nương tựa

Năm ông được hai mốt tuổi, cuộc hôn nhân sắp thành với Chiyo, một

cô bé mười lăm tuổi bất ngờ tan vỡ vì Chiyo từ hôn Từ đó, trong các tác phẩm của mình, Kawabata để cho niềm cô đơn vĩnh cửu theo dấu chân người lữ khách qua những ngày tháng ngao du

Trang 20

Năm 1920, Kawabata vào học ở khoa văn của trường đại học Tokyo Lúc đầu ông chọn học ban văn chương Anh, sau đó chuyển qua nghiên cứu văn học Nhật Ngay trong thời gian này, ông đã gây được sự chú ý của nhà văn lão thành Kikuchi Kan bằng truyện ngắn Lễ chiêu hồn đăng trên tạp chí

“Văn nghệ xuân thu”, rồi sau đó ông trở thành biên tập viên của tờ tạp chí này

Năm 1924, Kawabata tốt nghiệp đại học, sáng lập tạp chí “Văn nghệ thời đại” với nhà văn Yokomitsu và thành lập nhóm “Tân Hưng nghệ thuật phái” (Shinko geijutsu ha) hay còn gọi là “Tân cảm giác phái” (Shinkankakuha) Nhóm này làm chủ văn đàn tiểu thuyết từ sơ kỳ Chiêu hòa (1926) đến ngày đệ nhị thế chiến bùng nổ { Ishida Kazuyoshi 1972 : 2 : 441}

Năm 1926, Kawabata cho khởi đăng truyện Cô vũ nữ xứ Izu (Izu no odoriko) trên tạp chí “Văn nghệ thời đại” Truyện này lấy cảm hứng từ lần đầu tiên Kawabata đi du lịch ở xứ Izu năm 1918 Cùng năm này, ông cho xuất bản tập truyện ngắn trong lòng bàn tay Trang sức tình cảm (Kanjo shoshoku) gồm

ba mươi sáu truyện

Trong thời gian chiến tranh (khoảng từ năm 1920 đến năm 1945), Kawabata viết rất nhiều tác phẩm Năm 1929, tiểu thuyết Hồng đoàn ở Asakusa (Asakusa kurenai dan) được khởi đăng trên báo Năm 1931, Kawabata cho ra đời tác phẩm Thủy tinh huyễn tưởng Năm 1933, tác phẩm Cầm thú và Con mắt của mạt kỳ ra đời Từ năm 1935, Kawabata bắt đầu thai nghén kiệt tác Xứ tuyết với những đoạn văn “Chiếc gương soi cảnh sắc ban đêm” và “chiếc gương buổi sáng trăng” Năm 1942, truyện Danh thủ cờ Gô ra đời

Từ năm 1945, sau những điêu tàn của cuộc chiến, Nhật Bản gượng dậy với tinh thần “Hòa hồn Dương tài” (Tinh thần Nhật Bản, kỹ thuật Tây Phương) Với tư cách của một nhà văn dân tộc, Kawabata đã chọn con đường tìm kiếm và phát kiến cái đẹp trong đời sống thiên nhiên và tinh thần Nhật Bản

“Mỹ chi tồn tại mỹ phát hiến” (Bi no sonzai to kakken) – Cái đẹp thì tồn tại và chúng ta phải kiếm tìm Đó là châm ngôn của ông Thế giới chỉ triển nở cho

Trang 21

những ai biết ngắm nhìn Và thế giới du hành khởi sự Đó là cuộc kiếm tìm tâm linh cao nhã, không dành cho số đông Đó cũng đồng thời là ước mộng tuyệt vọng tàn xiêu của đuổi bắt tình yêu ảo ảnh Và bởi thế, trong sự quay cuồng hỗn loạn của cuộc thế, ông có niềm vui của kẻ đi đúng đường

Kawabata đã đắm mình trong hạnh của ẩn mật để ẩn cư sáng tác Ông biết rõ về những gì cần phải làm Trong khi các nhà văn khác lao đao kiếm sống, Kawabata viết tiểu thuyết bình dân phục vụ đại chúng để mưu sinh như Người Tokyo nhưng không bao giờ đưa vào tổng tập tác phẩm của mình, song song với việc viết những tiểu thuyết kiệt tác Và chính những tiểu thuyết Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc và Cố đô đã mang lại cho ông giải Nobel văn chương danh giá năm 1968 Như thế vừa viết những tác phẩm “gần gũi với quần chúng”, Kawabata vừa thực hiện tâm nguyện du hành tâm linh, tìm kiếm vẻ đẹp cuộc sống, một mình một cõi trên thế cuộc giang hồ

Ngày 16 tháng 4 năm 1972, Kawabata rời nhà đến bờ biển Hayama Đêm đó, trong căn nhà nơi bờ biển, Kawabata đã tự sát bằng hơi gas, không

để lại lý do tuyệt mệnh hay “từ thế chi ca”, chấm dứt bảy mươi ba năm phong

ba cuộc thế, cưỡi sóng bạc đầu, để tàn rơi như giọt nước giữa lòng đại dương

Kawabata đã đi vào lịch sử văn học Nhật như là người đầu tiên đưa văn học Nhật ngang tầm quốc tế, để sau đó tiếp nối là Oe Kenzaburo đăng đàn vào năm 1994, mang lại giải thưởng Nobel văn chương lần thứ hai cho văn học Nhật Bản

2 Tác phẩm của Kawabata Yasunari

2.1 Cô vũ nữ xứ Izu

Tuy đây chỉ là một truyện ngắn nhưng Cô vũ nữ xứ Izu (Izu no odoriko) là tác phẩm nổi danh đầu tiên của Kawabata Tác phẩm này đánh dấu một bước ngoặt mới trong sự nghiệp sáng tác của ông với motiv người lữ khách đi tìm cái đẹp qua hình hài và tâm hồn người nữ mà sẽ được lặp lại

nhiều lần trong những kiệt tác sau này của Kawabata

Trang 22

Câu truyện kể về một chàng thanh niên mười chín tuổi sau khi nhận thức được rằng “bản thân tôi là kẻ lạc lõng, một kẻ mồ côi từ trong bản chất và nỗi phiền muộn ấy đã xui tôi thu xếp làm chuyến du ngoạn ở Izu này” Chính trong chuyến đi chàng đã bắt gặp một hình bóng của cô vũ nữ Izu tên là Kaoru Giữa hai người nảy sinh một tình yêu thầm kín, nhẹ nhàng và trong sáng Chàng sinh viên cùng nhập đoàn với những người hát rong là anh và mẹ của

cô vũ nữ nhỏ bé này Rồi sau đó vài ngày, chàng sinh viên trở về Tokyo tiếp tục việc học của mình với nỗi xót xa phải chia tay hình bóng Kaoru mà mình vừa mới quen biết

Câu truyện giản dị trong sáng nhưng có nhiều tình tiết làm say đắm lòng người như khi chàng trai trông thấy cô vũ nữ trần truồng tắm như một đứa trẻ con, và như khi Kaoru đưa gậy trúc và phủi bụi trên gấu quần của chàng sinh viên…

2.2 Xứ tuyết

Shimamura lên đường về miền Bắc đến xứ tuyết để gặp một nàng geisha tên Komako mà anh đã quen trong lần trước Trên chuyến tàu, anh đã gặp và bị thu hút bởi vẻ đẹp kỳ lạ của người con gái tên là Yoko Từ đó đôi lần Shimamura rời căn nhà và vợ con mình ở Tokyo để lên xứ tuyết thăm Komako Tình yêu của hai người đam mê nhục cảm xác thân nhưng Shimamura vẫn cảm thấy vấn vương hình bóng của Yoko Dần dần giữa anh với Komako và Yoko hình thành một tam giác tình yêu kỳ lạ Nhưng cuối cùng Yoko bị chết trong một đám cháy Và Shimamura trong giây phút ấy đã thấy cả dải ngân hà chảy tuột vào người mình trong một tiếng gầm thét dữ dội

Tác phẩm này là đỉnh cao trong văn nghiệp của Kawabata Yasunari

và là quốc bảo của nền văn học Nhật Bản hiện đại Những tình tiết đẹp đến nao lòng và đầy kỳ ảo làm cho câu truyện thấm đẫm một khí hậu hoang đường Khép lại tiểu thuyết, người đọc vẫn bị ám ảnh vẻ đẹp đôi mắt trong cửa kính tàu của Yoko cùng với ngọn lửa cháy trên núi xa trùng khít nhau làm nên một

Trang 23

đôi mắt huyền bí chập chờn trôi đi trên phong cảnh của núi non, và đôi má của Komako trong gương đỏ rực trên nền tuyết trắng phi thực Còn Shimamura? Anh chỉ là một bức bình phong cho Komako nổi bật lên mà thôi Tình cờ gặp Komako, tay chơi tài tử này xem cô gái chỉ như là một trạm dừng chân trong khi Komako hết lòng thương yêu Shimamura Có khi Shimamura cảm thấy như chỉ một ngón tay mình là nhớ cô sâu sắc Kiệt tác này mang theo một hoài vọng riêng của Kawabata về ước mộng tuyệt vọng tàn xiêu của đuổi bắt tình yêu ảo ảnh với chút hào quang say đắm phũ phàng của Dostoeski

Nhà nghiên cứu Donald Keene cho biết một thời gian ngắn trước khi

tự sát, kawabata đã viết một đoạn văn ngắn giải thích về tác phẩm này Rõ ràng “Xứ tuyết”, quyển tiểu thuyết được thai nghén trong mười năm trời là quyển tiểu thuyết tâm đắc nhất của Kawabata

2.3 Tiếng rền của núi

Đây là câu chuyện của gia đình ông Shingo Vợ chồng ông có hai người con Người con trai là Shuchi với vợ mình là Kinuko sống chung với ông

bà Người con gái là Fusako có cuộc sống gia đình không hạnh phúc, đôi lần mang con về nhà cha mẹ đẻ Khi còn trẻ tuổi, ông Shingo đã thầm yêu người chị gái của vợ mình và vợ ông, bà Yasuko khi ấy cũng thầm yêu người anh rể Sau khi người chị chết vì bệnh, bà Yasuko đến nhà anh rể chăm sóc lũ cháu với hy vọng thay thế hình bóng của chị mình trong trái tim người anh rể nhưng không thành Cuối cùng bà mới lấy ông Shingo

Khi người con trai lấy vợ, ông Shingo chợt sống lại ẩn ức hồi trẻ của mình qua hình ảnh đứa con dâu Và dường như Kinuko cũng rất mến ông Bởi

vì Shuchi có tình nhân nên Kinuko càng cảm thấy cô đơn và gần gũi với ông Shingo hơn Mỗi người sống trong một thế giới riêng của mình dù cùng chung một mái nhà Đôi lần ông Shingo đã khát khao hình bóng người con dâu một cách nah5t nhòa trong những giấc mơ đêm

Trang 24

Môtiv tam giác tình yêu mà ta thường bắt gặp trong tác phẩm của Kawabata gợi cho ta nhớ đến sự phức tạp của tình cảm và đời sống nội tâm con người

2.4 Truyện ngắn trong lòng bàn tay

Mảng truyện ngắn trong văn nghiệp của Kawabata cũng rất đặc sắc với những “Truyện ngắn trong lòng bàn tay” (Tenohira no shosetsu) Kawabata

đã khai sinh ra tên gọi này cho những tác phẩm truyện ngắn của mình Có tất

cả 146 truyện như thế Đó là “hồn thơ của những ngày trẻ tuổi” như chính ông từng nhận xét

Từ năm Đại Chính 13 (1924), Kawabata khởi viết truyện ngắn trong lòng bàn tay và đã theo đuổi đề tài này suốt đời Vào tháng sáu năm Đại Chính 15(1926), Kawabata xuất bản tác phẩm đầu tay “Trang sức tình cảm” (Kanzo soshoku) gồm ba mươi sáu truyện ngắn trong lòng bàn tay Đến năm 1930, Kawabata lại cho ra một tập truyện trong lòng bàn tay khác là “Phòng vật mẫu của tôi” (Boku no hyohon shitsu) gồm 47 truyện

Từ năm 1944 đến năm 1950 cũng là thời kỳ quan trọng của truyện ngắn trong lòng bàn tay (theo nhà nghiên cứu Donald Keene) Từ năm 1962 đến 1964 là thời kỳ cuối cùng Kawabata viết những truyện ngắn trong lòng bàn tay Toàn bộ “Chưởng chi tiểu thuyết” gồm 146 truyện được nhà xuất bản Tân Triều Xã (Shinchousha) ấn hành năm 1960

Những truyện ngắn trong lòng bàn tay thường làm chi tiết cho những tiểu thuyết lừng danh của Kawabata như “Xứ tuyết”, “Ngàn cánh hạc” và “Cố đô”

Đặc điểm nổi bật của thể loại “truyện ngắn trong lòng bàn tay” mà Kawabata đã khai sinh là “tính truyện” và “tính ngắn” Phân loại về “truyện ngắn trong lòng bàn tay” rất phong phú và đa dạng Học giả Matsuyaka là người đã đưa ra định nghĩa đầu tiên về cách phân loại Trong bài viết “truyện ngắn trong lòng bàn tay- tự chương nghiên cứu”, Matsuyaka đã nghiên cứu số tờ giấy

Trang 25

Nhật (genkojoshi) , mỗi tờ khoảng bốn trăm chữ, và đưa ra nhận định “truyện ngắn trong lòng bàn tay của Kawabata có thể coi là những truyện cực ngắn, trung bình trên dưới bảy tờ, ngắn thì hơn một tờ, dài thì trên mười sáu tờ giấy Nhật Chẳng hạn các truyện “tật xấu khi ngủ” và “lập trường của những đứa con” chỉ hơn một tờ giấy còn “viễn vọng kính và điện thoại thì hơn mười sáu tờ giấy Nhật”

Một học giả khác là Suzumura Yoshiko đã nghiên cứu về số lượng câu trong “truyện ngắn trong lòng bàn tay” Ông đã nhận xét “truyện ngắn trong lòng bàn tay là tác phẩm tập hợp các truyện cực ngắn từ mười bảy câu như

“lập trường của những đứa con” đến truyện dài 199 câu như “người Nhật như thế”, trung bình mỗi truyện khoảng 70 câu

Nhà nghiên cứu Ishikawa Takumi trong tác phẩm “truyện ngắn trong lòng bàn tay- luận tự thuyết” đã xem xét các dòng chữ trên giấy genkojoshi Kết quả cũng không khác gì hơn so với học giả Toshio Matsuyaka Nhưng ông Ishikawa Takumi so sánh rằng truyện “viễn vọng kính và điện thoại” gồm 273 dòng, truyện “lập trừơng của đứa con” là 28 dòng Nếu cho rằng mỗi tờ giấy Nhật genkojoshi có thể viết được 20 dòng thì “lập trừơng xủa đứa con” chiếm 1,4 trang giấy còn “viễn vọng kính và điện thoại” chiếm 13,7 trang giấy Nhật Như vậy về mức độ ngắn thì thể loại “truyện ngắn trong lòng bàn tay” từ 1 đến

Trang 26

và ngỏ lời cầu hôn với Naeko Naeko biết rõ điều đó Nàng đến từ biệt Chieko rồi đi mất, từ chối đám cưới với Hideo

2.5 Ngàn cánh hạc

Kizuki trên đường đến dự tiệc trà ở nhà Chikako, đã gặp Yukiko, người con gái có mang chiếc khăn tay thêu ngàn cánh hạc và bà Ota Bà Ota là người tình cũ của cha Kizuki, còn Fumiko là con gái của bà ta Khi gặp Kizuki, hình bóng người tình xưa trở về, bà Ota lao vào cuộc yêu đương cuồng si với Kizuki Còn chàng thì cũng không từ chối Bị dằn vặt bởi cảm giác tội lỗi, bà Ota uống thuốc ngủ tự tử Và rồi sau khi bà Ota chết, Kizuki lại tìm thấy hình bóng của bà qua hình hài của Fumiko

2.7 Đẹp và buồn

Trái với tên gọi của nó, truyện thật dữ dội và bạo tàn chứa trong những câu văn đẹp và trong suốt như thơ Môtiv đuổi bắt tam giác tình yêu thường xuyên chi phối các các phẩm khác của Kawabata được đẩy lên cùng cực Ueno Otoko quen biết với ông Oki vào năm nàng 16 tuổi và có thai Trong khi nàng vật vã trước tin con mình chết vì sinh thiếu tháng và phải vào bệnh viện tâm thần thì Fumiko, vợ ông Oki cũng vật vã vì ghen tuông, thường bế đưa con trai Taichiro đi lang thang rồi mửa ra mật xanh mật vàng Mối tình của hai người được Oki tường thuật trong tiểu thuyết “Cô gái mười sáu” và tác phẩm này trở thành kiệt tác của văn nghiệp của ông Sau hơn hai mươi năm không gặp nhau, ông Oki khi biết tin người yêu xưa đã trở thành một họa sĩ danh tiếng ở Kyoto, đã lấy cớ đi nghe chuông chùa cuối năm ở Kyoto để gặp mặt nàng Và bi kịch nảy sinh ra từ đây Oki gặp một người học trò nữ của Otoko là Keiko và bị cuốn hút bởi nhan sắc true trung và đẹp như yêu ma của nàng Còn Otoko qua những lần gần gũi xác thân với người học trò nữ Keiko, đã tìm lại được những cảm giác với ông Oki một thuở nào Keiko yêu Otoko như điên dại Mối tình đồng tính nữ say đắm này đã làm cho Keiko nuôi ý định trả thù

Trang 27

nhà ông Oki bằng cách quyến rũ cả người con trai Taichiro lẫn ông bố Oki Cuối cùng, lấy cớ đi hồ Biwa, Keiko đã cho dìm xuồng máy để giết chết Taichiro như là một cách trả thù cho cô giáo và là người tình của mình Otoko

Truyện quá dữ dội và say đắm phũ phàng Thật bao nhiêu bút lực đã được đổ vào để miêu tả tính say mê dục tính tội lỗi

Truyện mở đầu bằng âm vọng tiếng chuông thanh tẩy đón chào năm mới “ tiếng chuông cách quãng của một đại hồng chung cổ, âm ba lướt thướt như tiếng thời gian, gợi lại linh hồn của nước Nhật xa xưa” Tiếng chuông này

có lẽ dọn sẵn đường cho một bản bi ca sám hối của lửa dục tình đam mê đã thiêu cháy linh hồn con người “đêm từng đêm lửa tình yêu ngút cháy trong tim, tuổi vào yêu biết nẻo đâu tìm”, để có thể nghĩ ra những chiêu trả thù tàn độc kéo suốt hơn trăm trang tiểu thuyết Những chi tiết vô cùng tinh tế đã được gạn lọc xuất hiện trong tác phẩm một cách liên tục làm người đọc sửng sốt với tầm

cỡ của Kawabata Chẳng hạn như Taichiro bị hút vào mối tình với Keiko nhưng anh vẫn nghĩ rằng đó là để trả thù cho mẹ mình, còn Keiko đến với ông Oki và Taichiro là để trả thù cho Otoko Những nước cờ mà người trong cuộc đi đã làm cho ta bất ngờ sửng sốt hết lần này đến lần khác

Ta có thể tóm tắt tác phẩm này như sau đầu tiên là trùng trùng duyên khởi tình yêu, sau đó đến nhân quả nhãn tiền và cuối cùng với cái chết của Tachiiro sẽ khơi thêm vết thương sâu của trận đòn thù tiếp nối Một vòng luẩn quẩn tử sinh mà nhân gian không thoát khỏi Một tác phẩm đẹp dữ dội như

“đẹp và buồn” được dịch ra Việt ngữ đúng là một món quà vô giá với những độc giả quan tâm tìm hiểu văn học và văn hóa Nhật Bản hiện đại

II MURAKAMI HARUKI

1.Cuộc đời

Murakami Haruki2 (Thôn Thượng Xuân Thụ), sinh năm 1949 tại Kyoto, trong một gia đình gia giáo, cha là giáo viên dạy văn cấp ba, ngay từ nhỏ,

2 Hiện nay có một nhà văn khác cũng tên là Murakami Ryu cũng đang làm mưa làm gió trên văn đàn Nhật Bản

Trang 28

Murakami đã có khuynh hướng phản kháng lại truyền thống Nhật Bản Ông say

mê văn hóa và âm nhạc Tây Phương và năm 1972, ông bỏ dở việc học tập ở đại học Waseda để cùng vợ là bạn đồng học Takahashi Yoko mở một quán cà phê nhạc jazz ở Tokyo Điều này đã gây ra sự thất vọng lớn đối với cha mẹ ông, vốn hy vọng ông sẽ tốt nghiệp đại học và làm một viên chức bình thường

Và trong khi xem một trận đấu bóng chày vào năm 1978, ý nghĩ viết văn đến với ông như một định mệnh Và tác phẩm đầu tay “Lắng nghe gió hát” được giải thưởng Gunzo- tác giả mới vào năm 1979

Chân dung Murakami Haruki

Sau đó, ông cho ra đời một loạt các tác phẩm lấy đề tài là tình yêu và tuổi trẻ lồng trong khí hậu văn chương ẩn dụ đầy khói sương nhưng cũng rất thực tiễn như “Cuộc phiêu lưu theo những con cừu”, “Giáng sinh của Người cừu”, “Người Tình vệ tinh” và đặc biệt là “Rừng Na Uy”, một kiệt tác của văn học Nhật hiện đại với những nghi vấn thiên thu của tuổi trẻ muôn thuở cô đơn

Từ Điển Bách Khoa Columbia 2001, ghi rằng Murakami Haruki "là một trong những tiểu-thuyết-gia-thế-kỷ-20 quan trọng nhất của Nhật Bản" Matsuda Tetsuo của Nhật báo Yomiuri có số in lớn nhất ở Nhật, viết:" Trong bất cứ trận

Trang 29

bão lớn nào cũng có những nhà văn giương cao ngọn đèn soi cho quần chúng Murakami Haruki đang và sẽ lãnh vai trò đó" Báo The Guardian viết: "không có nhiều tác giả cùng thời mà tác phẩm lôi cuốn được giới độc giả trẻ trực tiếp

đến như thế, không chỉ trong nước ông mà còn trên khắp thế giới"

2.Tác phẩm

2.1 Rừng Na Uy

Trang bìa tác phẩm Rừng Na Uy bản Tiếng Việt

“Rừng Na Uy” là tác phẩm đầu tiên thành công vang dội của Murakami, mang đến cho ông tiếng tăm và ảnh hưởng quốc tế Được so sánh với “Bắt trẻ đồng xanh” (Catcher in the Rye) của J.S, “Rừng Na Uy” xô đẩy ta vào cơn sóng loạn cuồng của những nghi vấn thiên thu của tuổi trẻ muôn thuở

cô đơn về tình yêu, nỗi đau và cái chết

Câu truyện đưa ta trở về hồi ức của Watanabe, người đàn ông 37 tuổi đang đáp xuống phi trường Hamburg Bản nhạc “Rừng Na Uy” vang lên, đưa anh trở về miền kỷ niệm những ký ức xa xưa đưa Watanabe trở về thời sinh viên của hai mươi năm trước với tình yêu bạn bè và cuộc sống giảng đường những người bạn, người tình và người đời đã đi qua đời anh như cái bóng

Kizuki, bạn thân thời trung học với Watanabe, tự sát vào năm 17 tuổi

“Cái đêm Kizuki chết đã vạch một đường ranh và từ đó tôi không thể xem cái chết hoặc cuộc sống một cách đơn giản như vậy nữa Cái chết không phải là

Trang 30

phản đề của cuộc sống mà đã là một phần bản chất nguyên khôi của tôi và tôi không thể nào chối bỏ được sự thật đó, dù gắng sức bao nhiêu đi nữa” Đó là điều đầu tiên mà Watanabe cảm nhận về kiếp người sau cai chết của Kizuki

Sau cái chết ấy, Naoko (người yêu của Kizuki) bị sốc và nàng bắt đầu

có những triệu chứng thần kinh Watanabe đến với Naoko như một điều tự nhiên để xoa dịu nỗi niềm từ tình bạn, hai người tiến đến tình yêu

Cùng năm đó, Watanabe thi đậu vào đại học và đến ở ký túc xá, làm quen với giảng đường đại học và những người bạn mới như Kamikaze, Nagasawa Còn Naoko theo học tại một trường nữ sinh nằm ngoài thành phố Musashino

Mối tình của hai người trải qua thời sinh viên xa nhà với khung cảnh giảng đường và trại điều dưỡng tâm thần Naoko phải vào trại điều dưỡng vì chững bệnh thần kinh Watanabe thường đến thăm nàng và làm quen được với Reiko, người bạn cùng phòng với Naoko Reiko đánh đàn ghita tuyệt hay, đặc biệt là bản “Rừng Nauy” mà Naoko rất thích

Watanabe với cuộc sống giảng đường và bươn chải làm thêm vẫn thư từ đều đặn với Naoko, thỉnh thoảng đến thăm nàng và Reiko Naoko và Reiko viết thư cho Wanatabe kể về cuộc sống trong trại điều dưỡng của mình

Họ không giấu diếm với nhau điều gì kể cả việc Watanabe quen Midori như người tình khi thiếu vắng Naoko Năm 21 tuổi Naoko tự sát Reiko đến báo tin cho Watanabe Hai người làm tình và Reiko ra đi, vĩnh viễn biến mất trên đời Watanabe

Watanabe vô vọng gọi điện cho Midori, chỉ để nghe được giọng nói của nàng trong cơn mưa hay nước mắt đời day dứt, triền miên

Trang 31

Nhân vật chính của câu chuyện là một cặp tình nhân hoàn hảo vào thời

đó Cả hai người lamg lớp trưởng trường cấp 3, học giỏi, biết chơi thể thao, là người kết lại những ý kiến trong cuộc thảo luận ở lớp, anh chị CLEAN như trong quảng cáo kem đánh răng Tình yêu của họ kéo dài suốt bốn năm nhưng cuối cùng tan vỡ vì giá trị truyền thống “Ngay đến những xúc chạm sinh lý, họ cũng có luật của mình Không bao giờ cởi bỏ quần áo, chỉ dùng tay sờ soạng nhau mà thôi Một tuần một lần, họ ở chung với nhau một buổi chiều trong phòng ngủ của người nay hay người kia Cả hai nhà đều yên tĩnh Cha đi vắng

mẹ ra ngoài có việc họ dành cho nhau từ mười đến mười lăm phút để sờ soạng nhau say sưa rồi quay trở về với việc học tập của mình, ngồi cạnh nhau

“Được rồi chứ nhỉ? Quay trở về sách vở thôi” Nàng nói và kéo thẳng chiếc áo

sơ mi của mình”

Nàng muốn giữ trinh tiết đến khi lập gia đình, chàng muốn chiếm hữu thân xác người yêu Nàng hứa rằng “Em sẽ ngủ với anh, nhưng không phải bây giờ Sau khi lập gia đình, em sẽ ngủ với anh Em hứa”

Và rồi hai người chia tay

Trang 32

Chàng vào làm một hãng kinh doanh Nàng lấy chồng là một đạo diễn nhưng không có con Nàng gọi điện cho chàng trong lúc chàng kinh doanh khó khăn nhắc lại việc thực hiện lời hứa năm xưa Nhưng đúng như chàng thuật lại

“chúng tôi ôm ghì nhau” Anh ta nói “nhưng tôi không ngủ với nàng Nàng không trút bỏ quần áo Chúng tôi dùng tay sờ soạng nhau như những ngày xưa

cũ Tôi nghĩ như thế là tốt nhất có lẽ nàng cũng nghĩ như vậy chúng tôi vuốt

ve nhau rất lâu, lâu lắm Không ai nói lời nào Có gì để chúng tôi nói? Đó là cách duy nhất để chúng tôi nhận ra nhau sau những năm xa cách Như khi chúng tôi còn học ở trường Tất nhiên, mọi thứ giờ đã khác có lẽ tình dục bình thường tự nhiên đơn giản sẽ giúp chúng tôi hiểu nhau hơn Và có lẽ nó sẽ làm cho chúng tôi cùng vui vẻ, hạnh phúc Nhưng chúng tôi đã trải qua một thời gian quá dài đến bây giờ, những ngày thơ dại xưa đã bị cất giữ, và không ai có thể mở dấu niêm phong”

Haruki Murakami không lên án quan niệm trinh tiết, cũng không lên án những giá trị đạo đức của những năm sáu mươi Nhưng như tác giả viết: “Và chỉ có một điều tôi muốn bạn hiểu: tôi chẳng có chút tự hào về thời đại mình” Sau khi ra trường, có việc làm, nhân vật chính của câu chuyện mới nhận ra rằng thế giới này đủ lớn để cho những giá trị khác nhau có thể cùng tồn tại Những giá trị làm nên con người nhưng cũng làm nên vết thương đời người Cảm thấy mình bơ vơ vì không bị “nhốt trong hộp” nữa là cảm giác vô cùng phi

lý Phi lý nhưng có thật Đó là cảm giác của nhân vật chính của câu chuyện này Bởi ngay từ nhỏ chúng ta đã như chim nhốt trong lồng, không làm chủ được cuộc đời mà chỉ biết tuân theo “các bậc cao niên” dạy bảo Cuối cùng là

gì ư? Chỉ là một cái ngục lớn giam hãm con người mà thôi Những thiên tài xuất hiện trong cơn thịnh nộ như Nietzsche, như Nagarjuna, như Bồ Đề Đạt Ma muốn phá hủy giá trị để âm thầm tái tạo bình minh Nào thấy gì ngoài cô đơn miên viễn, những lời nguyền rủa của đám đông hiện thế và bóng tối những cơn điên? Mỗi thời đại có những giá trị riêng của mình Chính vì thế mà những vết thương khác nhau, đặc biệt cho từng thế hệ Con người tự đâm chính mình

Trang 33

bằng những thứ ta tự mình huyễn hoặc, tự mình tấn phong, rồi tự mình làm

ngục thất cho chính mình

Và kết thúc công cuộc hiện sinh làm người bằng huyệt tự mình đào sẵn,

tay trắng như từ khi lạc bước vào thế giới này?

Đó là những tư tưởng gợi lên trong tác phẩm Nhìn qua nó giống y chang

như câu truyện cười “Và khi mọi chuyện kết thúc, nhà vua và cận thần phá lên

cười,” cuối cùng anh nói “ Tôi luôn nghĩ đến câu này khi nhớ lại ngày tháng đó

Tôi đoán nó là một phản xạ có điều kiện Tôi không biết có phải không, nhưng

thường trong nỗi buồn dường như luôn chứa đựng vài câu chuyện hài hước

Bởi câu chuyện là câu chuyện đời của tất cả chúng ta Chính vì thế mà tuy

không phải là một bài luân lý mới nhưng nó là kinh nghiệm sống của cả bao

nhiêu thế hệ “Đó là lý do tôi không thể cười nổi khi nghe anh nói chuyện Đến

bây giờ tôi vẫn không thể cười”

Đó có lẽ cũng là thái độ của chúng ta

2.3 Lưỡi dao săn

Còn trong “Lưỡi dao săn”, chúng có một cách hiểu khác về chức năng

gia đình Trong một chuyến dừng chân nơi khu nghỉ mát bờ biển, nhân vật tôi

đã gặp hai mẹ con người Mỹ tật nguyền bà mẹ bị co giật thần kinh, và người

con trai bị liệt phải ngồi xe lăn Đêm cuối cùng trước khi rời khỏi khách sạn,

nhân vật tôi do tắm nắng hay bơi quá nhiều nên đã không ngủ được và thức

dậy lang thang Trong ánh trăng, “tôi” đã gặp người thanh niên tật nguyền Hai

người nói chuyện với nhau về quan niệm sống và về những con dao Dù bị

dính chặt vào chiếc xe lăn, vô dụng như một cái cây nhưng anh ta vẫn tìm cho

mình một “lý do hiện hữu” anh phát hiện ra rằng gia đình là một hệ thống tồn

tại cho chính nó và một trong những đặc trưng quan trọng của gia đình là “sự

thiếu hụt sẽ bị hút về cái thiếu hụt lớn hơn và sự thừa mứa sẽ bị hút về cái

thừa mứa lớn hơn” Trong ý nghĩ đó thì “cái chân vô dụng của tôi là một ngọn

cờ mà gia đình tôi tập hợp lại Cái chân chết của tôi là một cái trục cho những

Trang 34

thứ khác xoay chung quanh” Theo anh, đó là sự phân công lao động và “mẹ con tôi cũng có vai trò của mình Đó là con đường hai chiều thật khó mà diễn

tả nhưng tôi nghĩ chúng tôi bù vào sự thừa mứa của họ bằng cách không làm

gì cả đó là lý do hiện hữu của chúng tôi (tiếng Pháp trong bản dịch: raison d’être)”

Người thanh niên lại kể cho “tôi” nghe về giấc mơ của mình “Có một con dao sắc chém vào phần mềm của đầu tôi, nơi mà ký ức hiện hữu nó mắc kẹt sâu trong đó Nhưng nó không làm tổn thương hay đè nặng lên tôi Nó chỉ mắc kẹt ở đó Và tôi đứng ở một bên, nhìn vào cảnh tượng đó như thể nó xảy ra với một ai khác Tôi muốn người nào đó rút con dao ra, nhưng không ai biết con dao bị mắc kẹt trong đầu tôi Tôi nghĩ về việc mình tự kéo nó ra nhưng tôi không thể đưa tay vào trong đầu mình được đó là đièu lạ lùng nhất Tôi có thể chém chính mình nhưng không thể kéo con dao ra được Và rồi tất cả mọi thứ bắt đầu biến mất Tôi cũng bắt đầu phai mờ đần Chỉ còn con dao ở lại Chỉ có con dao là luôn luôn ở đó – đến tận lúc cuối cùng Như xương của một động vật tiền sử trên bãi biển đó là giấc mơ của tôi” Anh ta nói

Một ẩn dụ tuyệt hay nói về những vết thương của ký ức Trong đêm khuya, thường niềm đau nỗi nhớ thức dậy khi tha nhân đã ngủ yên Những kỷ niệm đã qua kéo về trong đêm như những bóng ma ẩn ức Nhân vật “tôi” cũng

đã dùng dao chém vào ký ức “Không hình dạng, chỉ như sương mù Mọi thứ dường như ẩn trong lớp sương mù đó Những chiếc bè, biển cả, bầu trời, những chiếc trực thăng và những người phi công Tôi thử chém họ làm hai, nhưng viễn cảnh biến mất, và tất cả lại hiện diện ở xa tầm lưỡi dao tôi Tất cả đều là ảo ảnh hay chính tôi là ảo ảnh? Có lẽ không quan trọng Sáng ngày mai tôi đã không còn ở đây nữa”

Sương mù khu vườn trí nhớ vẫn cứ lẩn quất bao vây ta không cách gì tránh khỏi Không làm sao quên được Mỗi người đều có những con dao trong đầu Đó là những nỗi niềm không thể sẻ chia cho người khác biết, nhưng chính

Trang 35

nó lại làm nên cuộc đời ta Ai cũng bị thương cả Cùng một con dao nhưng vết thương của mỗi người lại rất khác

Con dao là ký ức Nhưng ký ức là những mảnh đời qua thời gian Vì thế, Con dao chính là hình ảnh của thời gian Thời gian sẽ còn lại sau cùng khi hư

vô tàn phá tất cả Trong thời gian không có hư vô hay trong hư vô không có dấu ấn của thời gian? Những con sóng vỗ bờ đã nói thay ta những điều không thể nói

2.4 Người đàn ông băng

Câu chuyện là một ẩn dụ nên chúng ta chỉ có thể đọc bằng các biểu tượng Ẩn dụ này lại được viết theo văn phong hậu hiện đại Từ một cảm thức

cổ xưa, sự cô đơn của con người đi lang thang trên mặt đất Giọng văn Murakami tưng tửng, đùa cợt, không chú ý vào bất cứ sự kiện nào Nói theo ngôn ngữ của Krishnamurti là “đời không tâm điểm” Vì thế, rất khó tóm tắt truyện của Murakami cũng như các tác phẩm hậu hiện đại

Biểu tượng lớn nhất của truyện là người đàn ông băng và thế giới băng

Nó nói lên sự xa cách giữa con người và tha nhân, sự vắng mặt của hơi ấm người nên tuy “đồng sàng” mà “dị mộng” Dù gần gũi về xác thân nhưng chỉ còn lại sự lạnh toát vô hồn Chúng ta thử đọc đoạn nói về cảnh làm tình với người băng: “Khi người đàn ông băng làm tình với tôi, tôi thấy trong tâm trí mình một tảng băng mà tôi chắc là nó hiện hữu ở một nơi cô tịch Tôi nghĩ chắc anh biết tảng băng đó nằm ở đâu Nó đông cứng, cứng đến mức tôi nghĩ rằng không gì có thể cứng hơn Nó là tảng băng lớn nhất trên thế giới Tảng băng nằm ở một nơi nào xa xôi và người đàn ông băng vượt qua ký ức của tảng băng đó để đến với tôi, đến với thế giới” Tôi hình dung nhân vật đang miêu tả

“kim quy tháp” của người đàn ông băng Và con người mãi cô đơn trong thế giới riêng mình, rợn ngợp, đi qua thế giới này băng tuyết

Trang 36

Trong văn Murakami, chủ đề thường cũ Chỉ cách viết là mới lạ Không phải việc bị bỏ rơi trong thế giới băng là tiền đề hàng đầu của thuyết hiện sinh sao? Con người hiện hữu trong thế giới chỉ để hiện hữu, không có một căn nguyên nào; chính vì thế mà y lo âu, xao xuyến và cô đơn Chiếc máy bay định mệnh đưa ta đến vùng băng tuyết, rồi bỏ đi, mặc ta sống hết mùa đông cuộc đời Phải chăng đó là sự phi lý của Albert Camus? Nhân gian nói cười một ngữ ngôn ta không hiểu Ta không thể nhập cuộc Chỉ có thể dấn thân? Nhưng cuộc sống vẫn tiếp tục qua hình tượng bào thai Ta cũng biết rằng những thế hệ sau cũng cô đơn như người đi trước Niềm cô đơn không mới nhưng khác ở cách thể hiện Mùa đông của cuộc đời cũng chính là “một mùa địa ngục” của Arthur Rimbaud?

2.5 Con voi biến mất:

Truyện ngắn Con voi biến mất đầu tiên được đăng trên tạp chí Bungakkai (Văn học giới) số tháng 8 năm 1985 và đựơc Phạm Vũ Thịnh dịch

ra Việt ngữ Một con voi tự nhiên biến mất khỏi thành phố, không phải trốn thoát mà là biến mất cùng với Watanabe Noboru, người nuôi voi mà không rõ

lý do, không biết vì nguyên nhân gì Sự kiện này gây hoảng hốt bất an cho cả thành phố, gây băn khoăn cho cả tôi và nàng là hai nhân vật chính của truyện Sau một thời gian truy lùng không có kết quả, mọi chuyện cũng chìm vào lãng quên Người ta lại tiếp tục sống mà không nhớ gì về con voi đã từng hiện diện

ở thành phố này Và con voi cũng chẳng bao giờ quay trở lại

2.2.5 Đốt nhà kho:

Truyện này đã được trường đại học bang Cleveland, Ohio, Hoa Kỳ lấy làm chuẩn mực cho việc nghiên cứu về văn học hậu hiện đại Nhật Bản Đốt nhà kho đã được Philip Gabriel, giáo sư văn học Nhật bản của trường đại học Arizona, Hoa Kỳ, dịch ra Anh ngữ đăng trên tạp chí The New Yorker ngày 2/1/1992 và được Phạm Vũ Thịnh dịch ra Việt ngữ

Nhân vật tôi đã làm quen với nàng trong một tiệc cưới của người quen Nàng đang học lớp nghệ thuật kịch câm độc diễn với màn biểu diễn “lột

Trang 37

vỏ quít” độc đáo Bí quyết của nàng là “cốt là đừng có tin rằng quả quít có ở đấy mà chỉ cần quên rằng quả quít không có ở đấy là được Chỉ có thế thôi, nghe như công án Thiền Tông đã làm cho nhân vật tôi bội phục và làm quen Rồi sau vài lần gặp nhau, nàng đi Algeria Ba tháng sau ngày trở về nàng dẫn theo một anh chàng người Nhật mà nàng quen được ở Algeria Thỉnh thoảng

ba người gặp nhau Và có một lần sau khi ghé nhà “tôi’, và uống say sưa, nàng

đi nằm ngủ, còn “tôi” với anh chàng kia uống bia và hút cần sa Rồi anh chàng kia thổ lộ đôi khi anh ta đi đốt nhà kho, trung bình cứ hai tháng là đốt một cái Theo anh chàng thì có rất nhiều nhà kho cũ nát đang chờ bàn tay anh ta đốt đi, không chờ phán xét “giống như là mưa ấy Mưa xuống Sông đầy nước Vật gì rơi vào luồng nước thì bị cuốn đi Mưa có phán xét gì đâu… Đạo lý con người

là dung nhận sự hiện hữu đồng thời”… nên buộc tội là ta, mà tha thứ cũng là

ta Và lần này anh ta đến khu này là để điều nghiên một nhà kho để chuẩn bị đốt Điều này làm cho “tôi” tò mò cũng mua một cái bản đồ khu vực gần nhà, điều tra xem nhà kho nào có thể bị anh ta đốt Nhưng chờ mãi cả năm trời mà không thấy gì Rồi vào một thời gian sau, vô tình gặp lại anh chàng kia, nhân vật tôi hỏi về chuyện nhà kho Anh ta đáp đã đốt rồi, và thời gian đốt là không lâu sau bữa nhậu ấy Rồi anh chàng đi mất Cô nàng kia cũng biến mất Còn tôi thì vẫn xem xét các nhà kho gần nhà, nghĩ đến những nhà kho bị đốt và càng ngày càng già đi

Truyện kể các chi tiết gần như rời rạc, không phán xét Chỉ để các chi tiết tự nói lên tất cả Anh chàng lấy việc đốt nhà kho làm lẽ sống Tôi không biết anh ta đã đốt nhà kho nào mặc dù đã quan sát rất cẩn thận khu vực gần nhà Anh ta thì xác quyết là đã đốt nhà kho Chuyện thật như một giấc mơ “Ta mơ trong đời hay trong mộng / Vùng cúc bên ngoài đọng ướt sương” của Lưu Trọng Lư hay “Tâm giao quái ngã sầu đa mộng/ Thiên hạ hà nhân bất mộng trung” của Nguyễn Du thì cũng vậy thôi Cuối cùng sau khi cơ duyên hết, chàng kia tiếp tục cuộc sống của chàng ta, nàng thì biến mất về vùng trời xa xăm nào

Trang 38

Còn tôi cũng phải tiếp tục sống, suy gẫm về các nhà kho bị đốt và thấy mình già đi

Cuộc đời cuối cùng là như vậy đấy Chẳng có một lý do nào cả Như một triết gia đã nói: “Đời là một đam mê vô ích” Đây cũng chính là ý nghĩ của Cao Hành Kiện trong kiệt tác Linh Sơn

2.2.7 Chim vặn dây thiều và phụ nữ ngày thứ ba:

Truyện ngắn này là hạt nhân để sau này thành chương đầu tiên “Sáu ngón và bốn vú” và khai triển thành tiểu thuyết ‘Biên niên ký chim vặn dây thiều” xuất bản năm 1995 và đoạt giải văn học Yomiuri năm 1995

Một ngày bình thường nhưng lộn xộn trôi qua trong đời nhân vật tôi, đang thất nghiệp Vợ đi làm, và tôi ở nhà làm việc nhà Tiếng con chim vặn dây thiều kêu “cót két” như lên dây cho cuộc sống lặng lẽ đều đặn Tôi nhận được một cú điện thoại khiêu dâm của một người phụ nữ xa lạ, rồi điện thoại của vợ bảo đến ngân hàng trả tiền gas và tiền điện thoại rồi đi kiếm con mèo đi lạc mấy ngày chưa về Trong lúc tôi lang thang qua khu đường trống tìm con mèo gặp một người em gái nhỏ gợi chuyện và mời vào vườn nhà cô ta chơi Rồi tôi ngủ quên và đến khi tỉnh dậy cô gái đó đã biến mất Bảy giờ rưỡi, vợ đi làm về,

ăn cơm và hỏi anh không tìm ra con mèo sao Tôi nói không và nàng khóc lặng

Trang 39

đường phát triển của trường văn hóa Nhật Bản hiện đại Tuy còn nhiều tác phẩm nữa còn cần được nghiên cứu nhưng chúng tôi cho đây là những dữ kiện ban đầu để có thể phân tích và đi sâu tìm hiểu về trường văn hóa Nhật bản truyền thống và hiện đại qua văn bản tác phẩm của hai tác gia này

Và trong suốt chiều dài lịch sử, mỗi dân tộc đã sáng tạo ra những giá trị văn hoá độc đáo riêng của mình Do đó, thời gian trở thành thời gian văn hoá Trong chương này chúng tôi khảo sát sự biến chuyển của trường văn hoá Nhật Bản theo ba khía cạnh đó Những điều mà chúng tôi đề cập đến chỉ mang tính đại diện tiêu biểu theo tác phẩm của mỗi tác gia

I Sự biến chuyển của trường văn hoá Nhật Bản qua thời gian văn hóa

Nếu nhìn sự hình thành và phát triển của nền văn hóa như một dòng chảy nhất quán và liên tục, thì tương lai về toàn cầu hóa là một tất yếu không thể tránh khỏi Có thể nói sự phát triển của nền văn hóa loài người chính là sự phát triển của toàn cầu hóa Thế giới này càng ngày càng trở nên nhỏ bé hơn,

Trang 40

khoảng cách địa lý xa xôi, không còn là một vấn đề quan trọng nữa Tác giả Nguyễn Trần Bạt đã chia sự phát triển này làm bốn giai đoạn:

• Giai đoạn thứ nhất: từ thời cổ đại đến cách mạng công nghiệp Quá

trình toàn cầu hóa trong giai đoạn này hết sức chậm chạp

• Giai đoạn thứ hai: từ khi có cuộc cách mạng công nghiệp đến sau

chiến tranh thế giới lần thứ hai Ởû quá trình này, toàn cầu hóa về kinh tế diễn ra với sự xung đột gay gắt với quyền lợi dân tộc

• Giai đoạn thứ ba: từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai đến những

năm 80 của thế kỷ trước Đây là giai đoạn tăng trưởng mạnh mẽ của các nước công nghiệp

Giai đoạn thứ tư: từ năm 1990 đến nay, kết thúc chiến tranh lạnh Sự phát triển mạnh mẽ của mạng lưới thông tin như Internet, sự mờ nhạt về ranh giới quốc gia và sự ra đời của các lực lượng đa quốc gia [Nguyễn Trần Bạt

2006 : 173, 174,175].

Và cùng với tiến trình toàn cầu hóa văn hóa, những cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã đẩy con người lên những tầm mức văn minh mới Theo tác giả Alvin Toffler, nhân loại đã trải qua ba nền văn minh lớn là văn minh nông nghiệp cách nay 10.000 năm trước, văn minh công nghiệp cách nay 300 năm và hiện nay là nền văn minh hậu công nghiệp hay “siêu công nghiệp” Văn hóa và văn minh có quan hệ mật thiết “Rất dễ dàng nhận thấy là nếu đặc trưng

cơ bản của văn hóa là sự hướng theo các giá trị tinh thần, hướng theo Chân – Thiện – Mỹ, thì đặc trưng cơ bản của văn minh lại là sự tự khẳng định của con người trước thế giới, kể cả thế giới tự nhiên lẫn thế giới của các cấu trúc xã hội Chính vì vậy người ta cũng dễ dàng nhất trí với nhau rằng các giá trị nhân văn mang sức mạnh bản chất của con người chỉ có thể được thể hiện một cách tốt nhất trong đời sống xã hội nhờ một nền văn minh phát triển Tương tự như vậy, một nền văn minh phát triển cao cũng không thể không được xây dựng trên cơ sở của văn hóa, mang ý nghĩa văn hóa và được sự cổ vũ mạnh

mẽ của văn hóa” [Mai Văn Hai, Mai Kiệm 2003 : 33,34] Mối quan hệ này là sự

Ngày đăng: 14/09/2021, 20:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w