Và Người đã vận dụng nhuần nhuyễn, sáng tạo, linh hoạt chủ nghĩa Mác– Lênin vào phong trào cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam, xây dựng nên một hệ tư tưởng Hồ Chí Minh vừa có tính chi
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BÙI ANH TUẤN
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON ĐƯỜNG GIẢI PHÓNG
DÂN TỘC
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60.22.80
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PHÓ GIÁO SƯ- TIẾN SĨ VŨ VĂN GẦU
TP Hồ Chí Minh – 2006-
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, luận văn này là công trình khoa học do cá nhân tôi thực hiện và chưa từng được công bố lần nào Nếu có sự gian dối,
tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Bùi Anh Tuấn
Trang 3MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5 Cái mới của luận văn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
7 Kết cấu của luận văn
Chương 1 NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON ĐƯỜNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC
1.1 Tình hình kinh tế- chính trị của thế giới cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
1.2 Tình hình kinh tế- chính trị- xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
1.3 Tiền đề tư tưởng, lý luận của bước chuyển tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường giải phóng dân tộc
Trang 4Chương 2 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON ĐƯỜNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC
2.1 Xác định đối tượng cách mạng thuộc địa và con đường cách mạng thuộc địa
2.2 Tập hợp lực lượng, xây dựng lực lượng bằng sức mạnh dân tộc
2.3 Mối quan hệ quốc tế và đoàn kết cách mạng thuộc địa với cách mạng thế giới
2.4 Phương pháp cách mạng và vai trò lãnh đạo của Đảng
PHẦN KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của Đảng cộng sản Việt Nam, của dân tộc Việt Nam Cuộc đời của Người đã hiến dâng trọn vẹn cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, trong đó có 30 năm bôn ba khắp bốn biển năm châu tìm con đường đưa dân tộc thoát khỏi gông xiềng nô lệ Từ tấm lòng yêu nước, Người đã vượt qua muôn vàn gian khó, tìm ra con đường đến với chủ nghĩa Mác– Lênin Và Người đã vận dụng nhuần nhuyễn, sáng tạo, linh hoạt chủ nghĩa Mác– Lênin vào phong trào cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam, xây dựng nên một hệ tư tưởng Hồ Chí Minh vừa có tính chiến đấu, tính cách mạng của người chiến sĩ vô sản quốc tế, vừa thấm đượm tính nhân văn sâu sắc
Việc định ra con đường giải phóng dân tộc đúng đắn cho cách mạng Việt Nam đã trở thành một trong những đóng góp xuất sắc, sáng tạo của hệ
tư tưởng Hồ Chí Minh, làm phong phú thêm cho chủ nghĩa Mác– Lênin về cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản
Đồng thời, việc định hướng được con đường giải phóng dân tộc cũng chấm dứt thời kỳ khủng hoảng của đường lối cách mạng Việt Nam những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, xác định được một con đường đúng đắn để đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi xiềng xích nô lệ của thực dân, phong kiến
Khi hệ thống chủ nghĩa xã hội Đông Âu sụp đổ, cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa trên toàn thế giới đang ở giai đoạn khó khăn, việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường giải phóng dân tộc góp phần
Trang 6khẳng định con đường gắn liền giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội do Người định ra là con đường đúng đắn nhất để đưa loài người tiến đến một thế giới dân chủ, công bằng và văn minh
Trong giai đoạn hiện nay, khi nền kinh tế thế giới đang theo hướng hội nhập toàn cầu hóa, dân tộc vẫn luôn là vấn đề nổi lên hàng đầu Có những quốc gia từ hội nhập quốc tế đã hòa tan đánh mất mình Có những quốc gia rơi vào chủ nghĩa dân tộc cực đoan Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường giải phóng dân tộc góp phần vô cùng quan trọng trong việc vận dụng vào bảo vệ chủ quyền dân tộc cũng như giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong thời đại ngày nay
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Dân tộc, một vấn đề luôn mang tính nóng hổi trong lịch sử phát triển của nhân lọai Vì bản năng sống còn, ngay từ thuở xã hội loài người còn trong thời kỳ mông muội, cuộc đấu tranh sinh tồn giữa các bộ tộc, bộ lạc
đã diễn ra quyết liệt Cùng với sự phát triển của xã hội loài người là những cuộc chiến tranh trên qui mô ngày càng lớn, nhiều cuộc chiến mang tính toàn cầu, đưa các dân tộc này trở thành nô lệ của dân tộc khác Và gắn cùng lịch sử nhân loại, song song với việc phát triển kinh tế- xã hội, vấn đề giải phóng dân tộc luôn trở thành tâm điểm của mọi thời đại Đặc biệt ở những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỳ XX, chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang chủ nghĩa đế quốc, vươn vòi ra khắp năm châu, đưa hàng trăm dân tộc vào trong vòng xiềng xích nô lệ thì phong trào giải phóng dân tộc càng bùng lên mãnh liệt, sôi nổi hơn bao giờ hết
Trang 7Vấn đề giải phóng dân tộc trong lịch sử dân tộc Việt Nam cũng được thể hiện đậm nét qua các thời đại Xuyên suốt chiều dài của lịch sử dân tộc Việt Nam là cả một quá trình dựng nước và giữ nước, lịch sử chống ngoại xâm của một dân tộc anh hùng Những kẻ thù hung hãn nhất của nhân loại từng chinh phục các dân tộc từ Đông sang Tây cũng đã phải dừng gót giày xâm lược ý chí kiên cường bảo vệ chủ quyền đất nước của dân tộc Việt Nam Và mỗi thời đại, Việt Nam luôn xuất hiện những cá nhân tiêu biểu đứng lên gánh vác sứ mệnh của lịch sử, đưa dân tộc thoát khỏi vòng nô lệ
Đó là tấm gương ngời sáng của Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung… Và khi thực dân Pháp áp đặt lên đất nước Việt Nam một chế độ cai trị nửa thực dân, nửa phong kiến, dìm trong biển máu các cuộc khởi nghĩa do các
sĩ phu yêu nước, do giai cấp tư sản dân tộc non yếu lãnh đạo, thì xuất hiện Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đã vượt qua muôn dặm khó khăn, tìm ra con đường giải phóng dân tộc, con đường kết hợp giữa sức mạnh của dân tộc Việt Nam với sức mạnh của thời đại
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về Hồ Chí Minh từ các tác giả trong nước và quốc tế trên nhiều lĩnh vực: hồi ký, nghiên cứu, dịch thuật, phim ảnh… Với các tác phẩm ngoài nước về đề tài Hồ Chí Minh, có thể kể đến “Đồng Chí Hồ Chí Minh” của E Cô-bê-lép, Nhà Xb Thanh Niên, Hà Nội- NXb Tiến bộ, Matxcơva.1985, do hai tác giả Nguyễn Minh Châu và Mai Lý Quảng dịch sang tiếng Việt Đây là một trong những tác phẩm lớn
về Hồ Chí Minh Với 385 trang sách, tác giả đã thể hiện sự công phu, tỷ
mỷ của mình trong việc nghiên cứu, sưu tầm về con người Chủ tịch Hồ
Trang 8Chí Minh, từ nguồn gốc xuất thân, truyền thống quê hương, bối cảnh xã hội Việt Nam đến việc ra đi tìm đường cứu nước, những năm bôn ba hải ngoại, về nước lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc, đưa cả nước đi lên theo con đường chủ nghĩa xã hội Từ thập niên chín mươi của thế kỷ hai mươi đến nay, hàng loạt tác phẩm nghiên cứu về Hồ Chí Minh đã được công bố, tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về các lĩnh vực dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc; tư tưởng Hồ Chí Minh về triết học, về giải phóng dân tộc, về chủ nghĩa xã hội và quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, về Đảng Cộng sản, về Nhà nước của dân, do dân và vì dân, về đạo đức, văn hóa, nhân văn…
Trong cuốn Một số chuyên đề về môn học tư tưởng Hồ Chí Minh do Phó Giáo sư, Phó Tiến sĩ Mạch Quang Thắng chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.1997, đã trình bày 12 chuyên đề về tư tưởng Hồ Chí Minh Trong chuyên đề thứ ba “Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và tiến lên chủ nghĩa xã hội”, đã phân tích rõ Hồ Chí Minh chỉ ra con đường giải phóng dân tộc là con đường cách mạng vô sản Theo các tác giả, giữa lúc Quốc tế Cộng sản và các Đảng Cộng sản ở chính quốc chưa đánh giá đúng vị rtí của cách mạng thuộc địa, chưa quan tâm đúng mức đến việc giải phóng các nước thuộc địa khỏi ách đế quốc, tư bản thì quan điểm của Hồ Chí Minh về con đường giải phóng dân tộc Việt Nam phải đi theo con đường cách mạng vô sản , do Đảng cộng sản lãnh đạo là một đóng góp to lớn về mặt lý luận vào kho tàng chủ nghĩa Mác- Lênin
Trang 9Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường giải phóng dân tộc T.s Nguyễn Đình Thuận với tác phẩm Sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc (1911-1945), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.2002, đã trình bày về tư tưởng của Người về việc tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Tác giả Nguyễn Bá Linh với công trình nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc, con đường dẫn đến chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.2004, đã đi sâu vào nghiên cứu việc vận dụng tư tưởng giải phóng dân tộc vào thực tiễn cách mạng, giành những thắng lớn to lớn trong chiến dịch Điện Biên Phủ…
Kỷ niệm 30 năm thực hiện di chúc Hồ Chí Minh, tác giả Mai Văn Bộ
đã công bố cuốn sách Con đường vạn dặm của Hồ Chí Minh, NXB Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2000 Với 388 trang sách, tác giả Mai Văn Bộ đã khái quát 30 năm bôn ba xứ người tìm con đường cứu nước của Hồ Chí Minh, phân tích quá trình chuyển biến trong tư tưởng Hồ Chí Minh từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác- Lênin, vai trò của Người trong phong trào cách mạng thế giới Đặc biết, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về con đường giải phóng dân tộc được đặt ra xuyên suốt trong quá trình đấu tranh cách mạng Theo Mai Văn Tạo thì cùng một lúc, Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra con đường cứu nước- con đường đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội- và chiến lược cứu nước- tức chiến lược của Lênin gắn cách mạng vô sản các nước tư bản với phong trào đòi giải phóng ở các nước thuộc địa và phụ thuộc
Trang 10Cuốn sách Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.1997, thực hiện trên cơ sở kết quả
của đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước “Tư tưởng Hồ Chí Minh và
con đường cách mạng Việt Nam” (mã số KX.02.01) thuộc chương trình
khoa học và công nghệ cấp Nhà nước KX.02 Đây là một đề tài có quy mô rộng lớn, nội dung phong phú, do Đại tướng Võ Nguyên Giáp trực tiếp làm chủ nhiệm đề tài Đề tài đã thu hút được đông đảo các nhà khoa học và các nhà nghiên cứu có tên tuổi thuộc nhiều ngành khoa học tham gia nghiên cứu trong 4 năm và đã được Hội đồng khoa học cấp Nhà nước nghiệm thu
và đánh giá đạt loại xuất sắc Sách gồm 3 phần với mười chương, đã trình bày một cách có căn cứ khoa học, toàn diện những vấn đề lý luận cơ bản,
về tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, làm rõ và có những đóng góp mới về quá trình hình thành, phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh Qua nội dung cuốn sách, bạn đọc sẽ được giới thiệu một cách hệ thống những luận điểm sáng tạo lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh về đường lối và phương pháp, về chiến lược và sách lược cách mạng, về tổ chức các lực lượng cách mạng, về tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, tư tưởng nhân văn, đạo đức, văn hoá Hồ Chí Minh, phương pháp luận Hồ Chí Minh Những luận điểm lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong cuốn sách đã được phân tích sâu sắc và trình bày thành một hệ thống các luận điểm gắn bó chặt chẽ với nhau, và nêu lên một định nghĩa bao quát về tư tưởng Hồ Chí Minh Đó là hệ thống lý luận về đường lối chiến lược, sách lược của cách mạng Việt Nam: cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã hội, không qua giai đoạn phát triển chế độ
tư bản chủ nghĩa nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người, xây dựng đất nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới…
Luận văn Tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường giải phóng dân tộc nhằm mục đích đi sâu vào nguồn gốc, quá trình hình thành và nội dung tư
Trang 11tưởng và những sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc tìm ra con đường và sự kiên định của Người trong việc bảo vệ luận điểm của mình giữa thực tiễn sóng gió của phong trào cộng sản quốc tế và điều kiện trong nước của cách mạng Việt Nam bấy giờ
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu luận văn
Mục đích của luận văn là làm rõ nguồn gốc, quá trình hình thành và nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường giải phóng dân tộc cho cách mạng Việt Nam Xem xét tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường giải phóng dân tộc trong mối liên hệ với hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác- Lênin Từ đó thấy rõ tính sáng tạo của Hồ Chí Minh trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác- Lênin vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của cách mạng Việt Nam
Để thực hiện mục đích trên, nhiệm vụ đặt ra trong luận văn cần thực hiện tốt các vấn đề:
- Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường giải phóng dân tộc
- Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường giải phóng dân tộc
- Bài học lịch sử cho cách mạng Việt Nam trong công cuộc đổi mới hiện nay từ tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường giải phóng dân tộc
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trang 12Nhằm thực hiện tốt những yêu cầu được đặt ra, luận văn được nghiên cứu trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, quan điểm chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam
Trong quá trình nghiên cứu thực hiện, người viết phối hợp các phương pháp phân tích và tổng hợp, qui nạp và diễn dịch, lịch sử và lo gíc… Trong quá trình thực hiện, các vấn đề được nghiên cứu dưới góc độ triết học
chính trị
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Việc định ra lộ trình giải phóng dân tộc đúng đắn cho cách mạng Việt Nam đã trở thành một trong những đóng góp xuất sắc, sáng tạo của hệ tư tưởng Hồ Chí Minh, làm phong phú thêm cho chủ nghĩa Mác- Lênin về cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản
Đồng thời, việc định hướng được con đường giải phóng dân tộc cũng chấm dứt thời kỳ khủng hoảng của đường lối cách mạng Việt Nam những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, xác định được một con đường đúng đắn để đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi xiềng xích nô lệ của thực dân, phong kiến Hồ Chí Minh đã thực hiện xong bước chuyển của hệ tư tưởng Nho giáo trong xã hội Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX- đầu thế kỷ XX sang
hệ tư tưởng chủ nghĩa Mác- Lênin
Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, khi hệ thống chủ nghĩa xã hội Đông Âu sụp đổ, cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa trên toàn thế giới đang
ở giai đoạn khó khăn nhất, việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về con
Trang 13đường giải phóng dân tộc càng góp phần khẳng định con đường gắn liền giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội do Người định ra là con đường đúng đắn nhất để đưa loài người tiến đến một thế giới dân chủ, công bằng
và văn minh
Trước yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng nước ta hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối chiến lược đúng đắn Đường lối đó luôn luôn quán triệt, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Kiên trì đi theo con đường mà Hồ Chí Minh đã vạch
ra ngay từ đầu khi Đảng ta mới thành lập Con đường đó đã đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi vòng nô lệ và hôm nay đang là kim chỉ nam để dân tộc ta thoát khỏi nghèo nàn và lạc hậu, vươn lên sánh vai với các cường
quốc năm châu
6 Kết cấu của luận văn
Luận văn bao gồm phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo Phần nội dung gồm phần dẫn luận, tổng quan
đề tài và 2 chương Chương 1 gồm 4 tiết, chương 2 gồm 3 tiết
Trang 14Chương 1 NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ CON ĐƯỜNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC
1.1 TÌNH HÌNH KINH TẾ- CHÍNH TRỊ THẾ GIỚI CUỐI THẾ
KỶ XIX, ĐẦU THẾ KỶ XX
Những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn tư bản độc quyền, tức chủ nghĩa đế quốc, xác lập sự thống trị của chúng trên toàn thế giới Trong quá trình tranh giành xâu xé thuộc địa, chủ nghĩa đế quốc đã bộc lộ những mẫu thuẫn giữa chúng với nhau lên đến đỉnh điểm, mặt khác chúng vào hùa lẫn nhau để nô dịch các dân tộc nhỏ yếu trong vòng kìm kẹp của chúng Vì vậy, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc sang thế kỷ XX không còn là hành động riêng rẽ của nước này chống lại sự xâm lược, thống trị của nước khác như trước kia, mà đã trở thành cuộc đấu tranh chung của các dân tộc thuộc địa chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân gắn liền với cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản thế giới Học thuyết Mác- Lênin về chủ nghĩa cộng sản không còn là “bóng ma ám ảnh châu Âu”,
mà đã trở thành hiện thực khi cuộc Cách mạng Tháng Mười vĩ đại do Lênin lãnh đạo thành công, đưa nước Nga trở thành nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới
Chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn tự do cạnh tranh chuyển dần lên giai đoạn độc quyền của chủ nghĩa đế quốc Quy luật và mâu thuẫn cơ bản của
Trang 15xã hội tư bản vẫn tồn tại Nổi bật là mâu thuẫn giữa sản xuất mang tính chất xã hội với việc chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất
và quy luật phát triển không đồng đều giữa các nước tư bản, đế quốc Mâu thuẫn này làm cho mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản ngày càng thêm gay gắt
Hầu hết các nước nhỏ ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ la tinh đã trở thành thuộc địa và phụ thuộc Các nước đế quốc đặt ách áp bức thực dân dưới các hình thức khác nhau ở hầu hết các nước thuộc địa với đặc điểm chủ yếu chung là việc phá huỷ mọi tiềm năng, truyền thống vốn có, trình
độ văn minh, nền kinh tế khá phát triển, biến các nước này phải phụ thuộc vào chủ nghĩa đế quốc Từ đó đã nảy sinh mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa, bị áp bức với chủ nghĩa đế quốc, thực dân Mâu thuẫn này trở thành một trong những mâu thuẫn cơ bản của thời đại đế quốc chủ nghĩa
Nó trở thành điều kiện khách quan cho phép phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa gắn bó với phong trào cách mạng quốc tế, đặc biệt là phong trào cách mạng ở chính quốc Bị áp bức bóc lột nặng nề, nhân dân các dân tộc thuộc địa không ngừng đứng lên đấu tranh chống đế quốc để giành độc lập, tự do bất chất giai cấp phong kiến thống trị trong nước đã nhanh chóng đầu hàng làm tay sai cho chúng Song cho đến chiến tranh thế giới thứ nhất, phong trào giải phóng dân tộc chưa đủ sức làm lung lay nền móng của hệ thống thuộc địa, một mặt do chủ nghĩa đế quốc còn tương đối mạnh, mặt khác do phong trào giải phóng dân tộc chưa kết hợp được với phong trào cách mạng vô sản ở các nước tư bản Chiến tranh đế quốc làm cho các thuộc địa càng chồng chất khó khăn về kinh tế- xã hội Với sự
Trang 16thành công của Cách mạng Tháng Mười, phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ trên khắp thế giới, đặc biệt là châu Á với các nước Trung Quốc, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Indonêxia… Phong trào giải phóng dân tộc đã trở thành lực lượng cách mạng quan trọng của thời đại, đồng minh
tự nhiên của phong trào cách mạng vô sản
V.I Lênin đã tiếp tục phát triển chủ nghĩa Mác trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, đề ra lý luận cách mạng vô sản có thể thành công ở một
số nước, thậm chí trong một nước tư bản phát triển trung bình; đồng thời nêu lên nguyên lý về cách mạng giải phóng các thuộc địa, về sự đoàn kết giữa giai cấp vô sản ở các nước đế quốc và các nước thuộc địa trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc Thực tiễn chứng minh lý luận của V.I.Lênin là đúng với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm
1917 dưới sự lãnh đạo của Người Năm 1919, V I Lênin cùng các nhà cách mạng chân chính ở các nước thành lập Quốc tế Cộng sản – một tổ chức quốc tế của phong trào cách mạng thế giới Quốc tế Cộng sản ra đời đánh dấu bước phát triển mới về chất của phong trào cách mạng vô sản và phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên phạm vi toàn thế giới
Với tư tưởng “Tam dân” của mình, Tôn Trung Sơn đã làm cuộc cách mạng Tân Hợi (1911) mang ý nghĩa lịch sử vô cùng to lớn, lật đổ nền quân chủ chuyên chế Mãn Thanh, chấm dứt ách thống trị hàng ngàn năm của chế độ phong kiến trong lịch sử Trung Quốc Những tư tưởng cộng hòa dân chủ thấm sâu trong quảng đại quần chúng nhân dân, tao điều kiện cho
sự xâm nhập, nảy sinh các tư tưởng dân chủ cách mạng ở Trung Quốc Tuy nhiên, tư tưởng “Tam dân” của Tôn Trung Sơn cũng chỉ đưa cuộc cách
Trang 17mạng Tân Hợi đi đến nửa vời Lúc này, Trung Quốc từ một nước phong kiến độc lập trở thành một nước phong kiến nửa thuộc địa Triều đình Mãn Thanh vừa tăng cường đàn áp cuộc đấu tranh chống phong kiến của nhân dân Trung Quốc, vừa nhượng bộ ngày càng nhiều hơn nữa đối với đế quốc phương Tây Tinh thần yêu nước, cách mạng của nhân dân Trung Quốc lên cao Khuynh hướng duy tân theo con đường phát triển tư bản chủ nghĩa phương Tây càng mạnh mẽ, đặc biệt trong giới trí thức, xuất phát từ sĩ phu phong kiến, hay giai cấp tư sản mới hình thành Tuy phong trào duy tân do Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu phát động đã thất bại và các biện pháp của vua Quang Tự không được thi hành, nhưng nhân dân Trung Quốc được thức tỉnh bởi tinh thần yêu nước Họ đề cao ý thức độc lập dân tộc chống ngoại xâm, ý thức dân chủ chống chuyên chế và trào lưu tư tưởng văn hoá tiến bộ phương Tây đã thâm nhập Trung Quốc
Phong trào Duy tân Trung Quốc tạo điều kiện khách quan thuận lợi cho tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây vào Việt Nam Trào lưu tư tưởng mới này đã có cơ sở xã hội ở Việt Nam để tiếp nhận thông qua một số sĩ phu tiến bộ trong giai cấp phong kiến cho xu hướng tư sản hoá
Giữa thế kỷ XIX, Anh hoàn thành việc xâm lược và biến Ấn Độ thành một nước thuộc địa Đảng Quốc đại của giai cấp tư sản non trẻ Ấn
Độ nắm ngọn cờ lãnh đạo phong trào yêu nước, đấu tranh vì một nước Ấn
Độ độc lập, dân chủ cũng bị đế quốc Anh đàn áp dã man, đi đến thất bại Nhật Bản vào đầu thế kỷ XX đã bắt đầu chuyển sang giai đoạn đế quốc gần 30 năm duy tân kể từ thời Minh Trị lên ngôi 1868 đến năm nổ ra chiến tranh Trung – Nhật (1894) Trong giai đoạn này, Nhật Bản đã tạo
Trang 18nên một kỷ nguyên Minh Trị Duy tân mở rộng nền dân chủ đại nghị, ban hành quyền bình đẳng trong nhân dân, mở rộng cửa bang giao quốc tế, đổi mới và phát triển đất nước Phong trào dân quyền và tự do là sự biểu hiện quyết tâm của chính quyền Minh Trị Nhật bản (1868 – 1912) trong việc kết hợp các giá trị truyền thống nền tảng với tư tưởng cách tân học tập phương Tây về kinh tế kỹ thuật lẫn văn hoá Quá trình kết hợp các giá trị phương Đông và phương Tây đã được phản ánh trong sinh hoạt tư tưởng lúc bấy giờ
Công cuộc Duy tân Minh Trị đã làm biến đổi xã hội Nhật Bản một cách toàn diện và sâu sắc từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở thành một nước tư bản với nền công nghiệp phát triển và hiện đại Tư tưởng chỉ đạo lực lượng xã hội làm nên một kỳ tích trong giai đoạn quá độ đó của nước Nhật là tư tưởng cải cách Duy tân của đẳng cấp quý tộc tư sản hoá, phù hợp với quy luật phát triển của thời đại Những khẩu hiệu giành quyền bình đẳng cho nhân dân, xây dựng chính thể lập hiến, đòi dân chủ về chính trị… đã góp phần làm phát triển và hoàn chỉnh cơ cấu chính quyền mới, hiến pháp Nhật Bản đầu tiên ra đời vừa làm thoả mãn nhu cầu quyền lực của giai cấp thống trị, đồng thời cũng phản ánh sự thắng lợi của cuộc đấu tranh của nhân dân Nhật Bản Chính vì lẽ đó, Nhật không những không rơi vào số phận của các nước thuộc địa hay phụ thộc của thực dân phương Tây
mà lại tiến hành xâm lược các nước châu Á như Trung Quốc, Triều Tiên
để làm thuộc địa Trong cuộc chiến tranh giành thế lực ở phương Đông, chiến tranh Nga – Nhật (1904-1905) nổ ra và kết thúc bằng thắng lợi của Nhật Bản Chiến thắng của Nhật Bản có tác dụng cổ vũ một số nhà yêu
Trang 19nước Việt Nam Song lúc bấy giờ không phải không có người đã nhìn thấy
“tâm địa đế quốc chủ nghĩa” của Nhật Bản và cảnh giác với việc cầu viện Nhật Bản để đánh Pháp Tăng Bạt Hổ cho rằng dựa vào Nhật để đánh Pháp chẳng khác gì đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau, điều mà sau này Nguyễn Tất Thành cũng đã nhấn mạnh Với tư tưởng canh tân, những thành tựu của cuộc cải cách Minh Trị đã tạo nên sức mạnh kinh tế, chính trị, quân sự đưa nước Nhật từ một quốc gia phong kiến lạc hậu trở thành một nhà nước quân chủ có thế lực kinh tế hùng hậu ở phương Đông Tuy nhiên, cùng với lợi thế về vị trí địa lý, Nhật Bản lúc bấy giờ cũng chỉ đủ mạnh để thoát khỏi sự thống trị của chủ nghĩa thực dân Còn lại hầu như cả phương đông phong kiến bấy giờ nằm trong bàn tay cai trị của chủ nghĩa
đế quốc
Cũng trong bối cảnh lịch sử này, trước sự xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây, hầu hết các nước Đông Nam Á đều trở thành thuộc địa của các nước đế quốc Indonêxia là thuộc địa của Hà Lan, Phi líp pin là thuộc địa của Tây Ban Nha, Malaixia và Miến Điện là thuộc địa Anh Cùng với Việt Nam, Lào và Cam Pu Chia trở thành thuộc địa của Pháp Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của các nước Đông Nam Á cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX diễn ra mãnh liệt và liên tục với nhiều hình thức và chiều hướng khác nhau, làm lung lay nền thống trị của chủ nghĩa thực dân phương Tây nhưng cuối cùng đều đi đến thất bại vì không có một con đường đúng đắn
Trang 201.2 TÌNH HÌNH KINH TẾ- CHÍNH TRỊ- XÃ HỘI VIỆT NAM CUỐI THẾ KỶ XIX, ĐẦU THẾ KỶ XX
Năm 1802, sau khi dẹp xong Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi vua mở đầu cho triều đình phong kiến nhà Nguyễn với chế độ chuyên chế cực đoan Triều Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng dựng lên bằng một cuộc chiến tranh phản cách mạng nhờ thế lực xâm lược của nước ngoài Năm 1815, Nhà Nguyễn ban hành Luật Gia Long, nhưng thực chất đã gạt
bỏ hết những điều tiến bộ của Luật Hồng Đức triều Lê mà chủ yếu sao chép luật Mãn Thanh ở Trung Quốc Các vua nhà Nguyễn có uy quyền tuyệt đối, thâu tóm tất cả quyền lập pháp, hành pháp Giai cấp địa chủ và
hệ thống quan lại phong kiến là rường cột của chế độ phong kiến Triều Nguyễn không còn khả năng phát huy được tiềm lực của nhân dân Ngược lại với pháp luật hà khắc, quân đội đông đảo, Nho giáo phản động đã tiếp tục kìm kẹp nhân dân mọi mặt Mẫu thuẫn giữa giai cấp địa chủ phong kiến với nông dân ngày càng gay gắt, dẫn tới đỉnh cao là các cuộc chiến tranh nông dân nổ ra liên tiếp với các lãnh tụ tiêu biểu như Phan Bá Vành, Cao Bá Quát Các triều nhà Nguyễn thẳng tay đàn áp, dìm phong trào nông dân trong bể máu Đúng lúc triều Nguyễn khủng hoảng thì thực dân Pháp xâm lược Việt Nam Giai cấp phong kiến Việt Nam đã nhanh chóng đầu hàng đế quốc, phản bội quyền lợi nhân dân Từ một quốc gia phong kiến độc lập, thống nhất, có chủ quyền, Việt Nam biến thành một nước thuộc địa, nửa phong kiến, không có độc lập, không có tự do
Trước khi thực dân Pháp sang xâm lược nước ta, chế độ phong kiến Việt Nam đang đứng trước những thử thách to lớn: hoặc là mở cửa ra thế
Trang 21giới, mạnh dạn cách tân, cải tổ bộ máy nhà nước, kích thích phát triển công thương nghiệp hoặc bế quan toả cảng, duy trì lề thói, phong tục, cách thức
tổ chức đời sống xã hội cũ xưa Trong sự do dự ấy của triều đình nhà Nguyễn, đã xuất hiện các nhà canh tân, cải cách Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Bùi Viện Tuy nhiên, triều Nguyễn cực đoan đã từ chối mọi đề nghị cải cách, thực hiện bế quan toả cảng Sự thất bại của những tư tưởng cải cách ở Việt Nam hồi ấy là sự thất bại của cái mới, cái tiến bộ trước cái cũ, cái lỗi thời đang còn khá mạnh Hậu quả của nó là sự thất bại nhanh chóng trước sức mạnh xâm lược của thực dân Pháp
Nhằm đảm bảo lợi ích thống trị, thực dân Pháp đã không thủ tiêu lợi ích của giai cấp phong kiến – địa chủ bản xứ, mà tìm mọi cách dung dưỡng
nó, biến nó thành cơ sở xã hội vững chắc cho sự thống trị của chúng ở thuộc địa Mặt khác, thực dân Pháp đã câu kết với giai cấp địa chủ quý tộc phong kiến Việt Nam thi hành một chính sách kinh tế thực dân rất bảo thủ
và phản động: duy trì phương thức sản xuất phong kiến kết hợp với việc thiết lập một cách hạn chế phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Tuy chưa chiếm ưu thế, nhưng phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa có tính chất quyết định phương hướng nền kinh tế quốc dân Phương thức sản xuất
tư bản chủ nghĩa ra đời ở Việt Nam chủ yếu là phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa mang màu sắc thực dân
Thực dân Pháp thi hành thủ đoạn độc quyền kinh tế và đặc biệt coi trọng thủ đoạn bóc lột phi kinh tế theo thời kỳ trung cổ Đó là chế độ thuế khoá vô cùng nặng nề và hết sức vô lý Toàn bộ chính sách kinh tế của thực dân Pháp dẫn tới kết quả tất yếu là nền kinh tế Việt Nam phải phụ
Trang 22thuộc vào kinh tế chính quốc và không phát triển toàn diện được Nhân dân Việt Nam bị bần cùng hoá Trên lĩnh vực văn hoá, thực dân Pháp đã thực hiện một chính sách văn hoá nô dịch, nhằm làm cho nhân dân Việt Nam đoạn tuyệt với những giá trị truyền thống tốt đẹp, đồng thời phục hồi những mặt lạc hậu, phản động trong văn hoá phong kiến Cùng với việc hạn chế đi tới sự thủ tiêu Nho học, thực dân Pháp đào tạo những người Tây học để phục vụ bộ máy thống trị của thực dân Pháp Xã hội Việt Nam đã trì trệ hàng bao thế kỷ lại bị chế độ thực dân kìm hãm trong vòng lạc hậu Thực trạng đó dẫn tới hai mâu thuẫn cơ bản trong xã hội nước ta: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa đế quốc; mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam, chủ yếu là giai cấp nông dân với giai cấp địa chủ quý tộc phong kiến Hai mâu thuẫn này có mối quan hệ khắng khít với nhau, vì sự câu kết giữa đế quốc và phong kiến là đặc trưng của chế độ thuộc địa Thực dân Pháp muốn bóc lột nhân dân phải dựa vào giai cấp địa chủ phong kiến; giai cấp địa chủ phong kiến muốn bóc lột nhân dân phải dựa vào thực dân Pháp Bản chất sâu xa của hai mâu thuẫn này là vì nước Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân Pháp và phong kiến tay sai đã mất độc lập; dân tộc Việt Nam không có hạnh phúc, tự do; nông dân Việt Nam không có ruộng đất Họ bị tước hết mọi quyền về chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục Nỗi nhục lớn nhất của nhân dân Việt Nam lúc bấy giờ
là mất nước, mất mọi quyền về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, luật pháp, thậm chí cả chủ quyền và nhân phẩm… Nhân dân Việt Nam vừa không có quyền sống, quyền tự do, lại còn bị xâm phạm về thân thể, chịu nhục hình, bị đối xử dã man, vô nhân đạo, bị hạ thấp nhân phẩm
Trang 23Dưới chế độ thuộc địa, người bản xứ có thể bị bắt bớ, giam giữ bất cứ lúc nào Người Việt Nam không có quyền tự do di chuyển và lựa chọn cho mình nơi cư trú trong nước và ra nước ngoài Chế độ thực dân giam hãm con người trong sự què quặt, méo mó về trí tuệ Họ không thể có sự phát triển tự do của cá nhân trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục, sức khoẻ, nghề nghiệp…
Từ đó, có thể nói rằng xã hội Việt Nam muốn đi lên phải đồng thời giải quyết cả hai mâu thuẫn trên Đánh đổ chủ nghĩa đế quốc phải đi đôi xoá bỏ chế độ phong kiến; đấu tranh gìanh độc lập dân tộc không thể tách rời đấu tranh giành dân chủ, tự do, đáp ứng yêu cầu của nông dân muốn làm chủ ruộng đất; của công nhân muốn làm chủ xí nghiệp, của trí thức muốn được phát triển văn hoá dân tộc, của toàn dân muốn làm chủ đất nước Độc lập và tự do ở nước ta lúc này quan hệ khăng khít với nhau và là yêu cầu bức thiết trước mắt của toàn thể dân tộc Việt Nam
Trước khi giai cấp công nhân Việt Nam bước lên vũ đài chính trị và nắm quyền lãnh đạo cách mạng, cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do của nhân dân ta đã diễn ra liên tục và rất anh dũng, nhưng đều không giành được thắng lợi
Năm 1858 mở đầu cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống Pháp khi chúng nổ súng đánh chiếm Đà Nẵng Năm 1859, Pháp đánh chiếm thành Gia Định Trước sự do dự của triều đình phong kiến Việt Nam, nhân dân vẫn nhất tề đứng lên đánh giặc Năm 1862, triều đình Huế
ký hiệp ước “hoà bình và hữu nghị” dâng ba tỉnh Gia Định, Định Tường, Biên Hoà cho Pháp, gây nên sự phản đối kịch liệt của nhân dân ta Tinh
Trang 24thần yêu nước lại dâng cao trong nhân dân Sĩ phu Nam Kỳ tuyên bố bất hợp tác với địch Nhân dân ta kẻ trước người sau đứng dậy, mưu cầu giải phóng song chưa có đường lối đúng nên cách mạng chưa thành công Phan Bội Châu chủ trương cầu ngoại viện, dùng bạo lực để khôi phục độc lập không thành Phan Chu Trinh muốn "ỷ Pháp cầu tiến bộ" khai thông dân trí, nâng cao dân khí để tính chuyện giải phóng cũng không thành Lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế - Hoàng Hoa Thám dũng cảm trong đấu tranh chống Pháp, song còn nặng cốt cách phong kiến, chưa có phương hướng chính xác, chưa có lối thoát rõ ràng cũng đi đến thất bại Con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc vạch ra đã chấm dứt thời
kỳ khủng hoảng đường lối cách mạng Việt Nam Cách mạng Việt Nam từ
đó tiến bước theo dạng thức tiến bộ của lịch sử Sự áp bức, nô dịch các dân tộc của chủ nghĩa tư bản đế quốc nhất định sản sinh ra phong trào dân tộc, đấu tranh để giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do cho dân tộc, cho Tổ quốc Đó là một quy luật của bản thân chủ nghĩa tư bản đế quốc Cách mạng vô sản chủ trương giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức của chủ nghĩa thực dân đế quốc đồng thời với cuộc cách mạng giải phóng giai cấp vô sản khỏi sự thống trị của chủ nghĩa tư bản Chủ trương đó của cách mạng vô sản vì thế tự thân nó đã lôi cuốn được cuộc cách mạng giải phóng dân tộc hoà vào dòng thác cách mạng chung Mặt khác, sự độc lập tự do của mỗi dân tộc lại chính là tiền đề tư tưởng cho sự thống nhất quốc tế xã hội chủ nghĩa mà các dạng thức tiến bộ lịch sử phải tiến tới để hợp lưu Hồ Chí Minh đi theo con đường cách mạng vô sản chính là bắt nhập được quy luật
ấy của lịch sử
Trang 25Một quy luật nữa của chủ nghĩa tư bản đế quốc là sự phá vỡ hàng rào ngăn cách giữa các dân tộc Sự quốc tế hoá đời sống kinh tế chung gắn với
sự xuất khẩu tư bản, khai thác các thuộc địa Tất nhiên gắn với nó đã từng
là sự nô dịch, bạo lực, bóc lột nhân lực, vật lực, tài lực các thuộc địa mà các dân tộc phải đứng lên chống lại chủ nghĩa đế quốc thực dân Song về mặt khách quan mà nói, dù chỉ giới hạn trong sự quốc tế hoá đời sống kinh
tế theo chiều dọc của hệ thống thuộc địa của một nước đế quốc nhất định,
sự quốc tế hoá đời sống kinh tế ấy cũng đã tạo ra tiền đề kinh tế cho sự phát triển, kể cả tạo ra giai cấp vô sản bản xứ, ở các thuộc địa, tạo tiền đề vật chất, tiền đề kinh tế cho sự thống nhất và hoà nhập quốc tế về sau này Giai cấp vô sản chủ trương liên minh với các dân tộc bị áp bức chính là hoà theo dạng thức ấy của sự tiến bộ lịch sử Cách mạng giải phóng dân tộc vì vậy dễ bắt nhập với xu thế của thời đại Hồ Chí Minh đi theo con đường cách mạng vô sản chính là đã dựa trên cơ sở khách quan đó, đi theo quy luật của sự phát triển
Hồ Chí Minh xuất hiện trên trường quốc tế đúng vào lúc Lênin và Cách mạng Tháng Mười đã vạch ra con đường giải phóng giai cấp và dân tộc nhằm giải phóng triệt để loài người khỏi sự áp bức giai cấp và dân tộc Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam của Hồ Chí Minh đã vươn tới nhận thức đúng quy luật của lịch sử, vươn tới chân lý của thời đại là độc lập dân tộc dân chủ và chủ nghĩa xã hội kết hợp chặt chẽ với nhau Cách mạng vô sản tuyên bố rõ mục tiêu là xây dựng hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa mà các cuộc cách mạng của thời đại nhất định sẽ dẫn tới Đó là một hình thái kinh tế - xã hội vượt hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa
Trang 26Nó chủ trương giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người Hệ tư tưởng của cuộc cách mạng ấy là đỉnh cao của sự phát triển tư tưởng của nhân loại mà cho tới nay chưa có bất cứ học thuyết nào đạt tới, ngoài học thuyết cách mạng và khoa học của Mác Hồ Chí Minh bắt nhập
tư tưởng của thời đại Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, yếu tố thời đại và bản thân thiên tài trí tuệ của Người đã tạo cho Người trở thành con người lịch sử
Trong bài viết trên báo Nhân Dân ngày 7.9.1969, đồng chí Gớt Hôn, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Mỹ đã khẳng định: "Đồng chí Hồ Chí Minh là con người cần thiết xuất hiện đúng lúc, đúng yêu cầu của lịch sử, vào lúc
mà lịch sử loài người đang ở bước ngoặt có tính cách mạng nhất"
1.3 TIỀN ĐỀ TƯ TƯỞNG, LÝ LUẬN CỦA BƯỚC CHUYỂN
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON ĐƯỜNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC
Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng của Người về con đường giải phóng dân tộc là cả một kho tàng mà chúng ta được thừa hưởng Và chính cái kho tàng ấy được Người xây dựng nên từ những kho báu của nhân dân ta và của nhân loại, từ tinh hoa của dân tộc và của thời đại Có thể nêu lên mấy nguồn gốc chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh như sau:
1.3.1 Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam
Trang 27Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam được hun đúc nên bởi cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước của nhân dân ta, của dân tộc ta Tinh thần yêu nước đã trở thành đạo lý, triết lý sống, niềm tự hào của con người Việt Nam Bởi vậy, ở mỗi người dân Việt Nam gắn mình với vận mệnh của Tổ quốc, của dân tộc thì chủ nghĩa yêu nước ấy lại nhân sức mạnh của bản thân, biến thành một sức mạnh thúc đẩy mình vượt qua mọi khó khăn, nguy hiểm, mọi thử thách gian nan Chính từ thực tiễn, Hồ Chí Minh đã đúc kết chân lý ấy: "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh
mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả
lũ bán nước và cướp nước" [37, 55] Chính sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, của chủ nghĩa yêu nước mang tính cộng đồng ấy, đã nhân sức mạnh của bản thân Nguyễn Ái Quốc để Người có thể vượt lên mọi khó khăn, thử thách, vươn lên hoàn thành sứ mệnh mà lịch sử giao phó Và anh phụ bếp Văn Ba trên chiếc tàu lênh đênh trên biển khơi sang Pháp, quét tuyết ở Luân Đôn, từ Á sang Âu, từ Phi sang Mỹ, sang Đức, sang Nga, qua Trung Quốc lăn lội, bôn ba nơi hải ngoại; đấu tranh, lao động và học tập
Chính sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trở thành động lực
tư tưởng, tình cảm chi phối mọi suy nghĩ, hành động trong suốt cuộc đời
Hồ Chí Minh, là cơ sở dẫn Người đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tiếp thu
lý luận cách mạng và khoa học đó để thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc, hoài bão của các thế hệ cách mạng Việt Nam "Lúc đầu, chính là chủ
Trang 28nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba" [36, 270] Và khi Hồ Chí Minh tìm được con đường cứu nước đúng đắn thì chủ nghĩa yêu nước Việt Nam lại được nâng lên một tầm cao mới: giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người
1.3.2 Tinh hoa triết học, văn hoá phương Đông và phương Tây
Ngay từ thuở thiếu thời, Hồ Chí Minh đã là một học trò thông minh, chăm chỉ và ham tìm hiểu những điều mới lạ Người ham đọc văn thơ, am hiểu Nho học, rồi quốc ngữ, tiếp xúc với văn hoá phương Tây
Trong thời kỳ từ 1911 đến khi gặp được chủ nghĩa Mác - Lênin, Người đã lao động, học tập và hoạt động thực tiễn Người tiếp xúc với các danh nhân văn hoá chính trị của Pháp; Người tiếp xúc với những tư tưởng nhân văn qua văn học Pháp, Nga, Anh, Mỹ Trên con đường học hỏi, Hồ Chí Minh đã làm giàu vốn trí tuệ của mình qua nghiên cứu và tiếp thu có phương pháp chọn lọc những di sản quý báu của nhân loại, của triết học và văn hoá, cả phương Đông và phương Tây
Tư duy Văn hoá phương Đông là tổng hợp và trực giác, trong khi tư duy phương Tây là theo lôgic và phân tích Hồ Chí Minh là người nắm chắc tư tưởng phương Đông từ Khổng học đến Phật học, Lão học, lại biết vận dụng tư duy phương Tây là lôgic, lý tính, phân tích Đọc những gì Hồ Chí Minh viết, ta thấy ngay tư duy khoa học rất lôgic, mới mẻ và hiện đại Một điều khác nữa: văn hoá phương Đông dựa hoàn toàn trên cơ
sở tinh thần cộng đồng, còn phương Tây phát triển trên cơ sở đề cao ý thức
Trang 29cá nhân Hồ Chí Minh trong khi vẫn giữ được tinh thần cộng đồng của phương Đông đặt cao vị trí của gia đình, của làng nước, đồng thời lại có khái niệm hiện đại về quan hệ của vai trò của cá nhân, tôn trọng cá thể, không hy sinh cá nhân vì tập thể
Nói về thái độ của mình đối với các học thuyết chính trị và tôn giáo, Người viết:
"Học thuyết Khổng tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân Tôn giáo Giêsu có ưu điểm là lặng nhịn cao cả Chủ nghĩa Mác có ưu điểm
là phương pháp làm việc biện chứng Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm
là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta
Khổng tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng phải đã có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn "muốn hạnh phúc cho loài người mưu phúc lợi cho xã hội" Nếu hôm nay, họ còn sống trên đời này, nếu họ họp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy”[2, 23]
Lời nói trên đây càng chứng tỏ Hồ Chí Minh đã biết kế thừa những tinh hoa triết học, văn hoá cả cổ kim, Đông Tây, làm giàu cho tư tưởng của mình Tất cả những hiểu biết ấy đã góp phần quan trọng vào việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh sau này
Trang 301.3.3 Chủ nghĩa Mác - Lênin
Chính thế giới quan và phương pháp luận Mác- Lênin đã giúp Hồ Chí Minh tổng kết kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn của mình mà tìm ra con đường cứu nước Ảnh hưởng sâu sắc và quyết định ấy được thể hiện trong quan niệm của Người: "Chủ nghĩa Lênin là cái cẩm nang thần kỳ", hoặc:
"Lúc đầu chính là chủ nghĩa yêu nước chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản
đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế III Trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng, chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và giai cấp công nhân thế giới" "Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin" Và "Chính do cố gắng vận dụng những lời dạy của Lênin một cách sáng tạo, phù hợp với thực tế Việt Nam mà chúng tôi đã chiến đấu và giành được thắng lợi to lớn" [29, 17] Sang nửa sau của thế kỷ 19, các nước châu Á đều phải hiện đại hoá, Tây phương hóa mới tồn tại được Nhưng ở Việt Nam, lời khuyên của các nhà Nho tân tiến như Nguyễn Trường Tộ đã không được giải quyết Với sự gặp nhau của văn hóa Đông - Tây, Hồ Chí Minh làm được Người kết hợp văn hóa Đông - Tây vì trước khi sang Châu Âu, ý thức dân tộc tính đã thấm nhuần cùng vốn hiểu biết về văn hoá cổ truyền dân tộc, nên khi gặp nền văn hoá lạ, Người đã tìm ra cái đẹp, cái tốt và thể hiện trong đời sống văn hóa và đường lối chính trị
Với truyền thống không bao giờ chấp nhận sự thống trị của kẻ xâm lược, nhân dân ta từ Nam đến Bắc, từ đồng bằng đến miền núi đã liên tục
Trang 31cầm vũ khí đứng dậy chống thực dân Pháp xâm lược Cuối thế kỷ XIX, dưới sự lãnh đạo của các văn thân sĩ phu yêu nước, các cuộc khởi nghĩa vũ trang chống thực dân Pháp đã diễn ra trên khắp cả nước Nhưng thực dân Pháp đã tập trung đàn áp dìm các cuộc khởi nghĩa trong bể máu Các cuộc khởi nghĩa chưa có đường lối đúng đắn, kết cục đều thất bại Sang thập niên đầu tiên của thế kỷ XX, các cựu sĩ phu chuyển hoá lập trường tư tưởng thực hiện các cuộc vận động cứu nước theo lập trường tư sản Tiêu biểu như những phong trào Đông Du, Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục đứng đầu là những chí sĩ yêu nước nổi tiếng như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Lương Văn Can
Nguyễn Tất Thành khi đó được mời thực hiện Đông Du, nhưng đã từ chối để rồi ba năm sau Người tham gia phong trào chống thuế ở Trung Kỳ (1908) Người đã phải chứng kiến phong trào bị đàn áp đẫm máu, bản thân Người cũng bị chính quyền thực dân phong kiến không cho tiếp tục học nữa Chứng kiến và tham gia cuộc đấu tranh bi hùng của dân tộc cuối thế
kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Người đã nhận xét: cuộc đấu tranh cứu nước của nhân dân ta đến đầu thế kỷ XX lâm vào ngõ cụt Rằng chỉ bằng sức mạnh yêu nước truyền thống không thôi thì không đủ sức chiến thắng kẻ thù mới
là bọn đế quốc thực dân cấu kết chặt chẽ với bọn đại địa chủ phong kiến Lịch sử dân tộc Việt Nam đến đầu thế kỷ XX đặt ra một đòi hỏi khách quan là cần có một con đường cứu nước mới, với khả năng tạo ra cho dân tộc một sức mạnh mới đủ sức đánh đuổi kẻ thù mới là thực dân phong kiến làm cho dân tộc được độc lập, đưa đất nước vào quỹ đạo phát triển, nhân dân được sống trong hoà bình, tự do mưu cầu hạnh phúc
Trang 32Với tấm lòng yêu nước nhiệt thành, thương dân thương nước phải sống trong cảnh nô lệ, bị đoạ đầy đau khổ, Nguyễn Tất Thành nuôi chí giúp dân tìm con đường giải phóng Người tâm sự: Vào lúc 13 - 14 tuổi, lần đầu tiên Người tiếp xúc với khẩu hiệu tự do, bình đẳng, bác ái của cách mạng Pháp Lý tưởng đẹp đẽ này đã có sức hấp dẫn Người muốn đi sang Pháp, sang các nước phương Tây để xem họ làm như thế nào, sau đó Người sẽ về giúp đồng bào mình Ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành lấy tên là Văn Ba quyết định xuống làm thuê trên chiếc tàu buôn của Pháp và Người tạm biệt Tổ quốc từ Sài Gòn đi Pháp Ngày 6-7-1911, tàu buôn Đô đốc Latútsơ Tơrêvin đưa Nguyễn Tất Thành đến nước Pháp tại cảng Mácxây, bắt đầu những năm tháng dài lao động, nghiên cứu, học hỏi của Người ở các nước phương Tây
Từ nước Pháp, Nguyễn Tất Thành lại quyết định xuống tàu làm thuê của hãng vận tải hợp nhất Sác-giơ Rê-uy-ni và thực hiện cuộc hành trình xung quanh châu Phi, tới nhiều nước thuộc địa của Pháp Rời châu Phi, vượt Đại Tây Dương đến nước Mỹ, Người ở đây suốt những năm 1912,
1913 Từ Mỹ, Người trở lại châu Âu và sống ở Anh liên tục từ 1913 đến cuối 1917 mới trở lại nước Pháp sống ở Pari Tháng 6-1923, Người bí mật rời nước Pháp về làm việc tại Mátxcơva thủ đô nước Nga Suốt 30 năm từ năm 1911 đến 1941, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã thực hiện một cuộc khảo sát toàn diện ở các nước thuộc địa, các nước tư bản phát triển khắp thế giới Quá trình đó Nguyễn Ái Quốc đã gắn mình với phong trào công nhân thế giới, với phong trào chính trị - xã hội của các nước Người đã chứng kiến những trận roi da mà bọn thực dân giáng vào đầu
Trang 33những người nô lệ, chúng coi người dân như súc vật Người nhận xét: Trên thế giới không có dân tộc chiến bại nào bị đàn áp và hành hạ như người dân thuộc địa Sau này Người đã tổng kết nó trong tác phẩm viết bằng
tiếng Pháp nổi tiếng của Người: "Bản án chế độ thực dân Pháp", xuất bản
tại Pari năm 1925 Ở Niu-oóc, đến khu Hác-lem của những người da đen,
"giống người bị áp bức và bóc lột nặng nề nhất trong loài người", Nguyễn Tất Thành đã nhiều lần dành những đồng xu cuối cùng để giúp đỡ họ Ở Anh, Người hoà mình vào phong trào công nhân và công đoàn Anh, tham
gia Hội những người lao động hải ngoại, tham dự những buổi diễn thuyết
chính trị, lên tiếng ủng hộ cuộc đấu tranh yêu nước của nhân dân Ai-Len Tại Pari, Nguyễn Tất Thành dần dần làm quen với nhiều nhà hoạt động công đoàn nổi tiếng và Người đã hăng hái tham gia các hoạt động của tổ chức công đoàn
Tháng 6-1919, lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, Người đã gửi đến hội nghị
của các nước đế quốc thắng trận trong chiến tranh lần thứ nhất bản Yêu
sách của những dân An Nam để Chính phủ Pháp và các cường quốc đế
quốc phải thừa nhận quyền tự do, bình đẳng của dân tộc Việt Nam Tại
Pari, Nguyễn Ái Quốc đã ra sức tổ chức lại Hội những người Việt Nam yêu
nước, khơi gợi lòng yêu nước của bà con, hướng cho bà con đi vào hoạt
động có tổ chức chặt chẽ Người tham gia Đoàn thanh niên Xã hội Pháp và sau đó vào năm 1919 tham gia Đảng Xã hội Pháp Thời gian này Nguyễn
Ái Quốc có bước tiến lớn trong nhận thức chính trị và hoạt động thực tiễn
Xuất thân trong một gia đình nhà Nho yêu nước, Bác sớm được theo học chữ Nho của thánh hiền và chữ quốc ngữ, tiếp xúc với nền văn
Trang 34minh phương Tây Sự tác động của bối cảnh lịch sử, của hoàn cảnh xuất thân đã sớm hun đúc cho Người một tấm lòng yêu nước, sớm hoà nhập vào các phong trào yêu nước Từ đó, bằng trí thông minh và khả năng phân tích xuất chúng, Người nhận ra những nhược điểm và sự bế tắc của mỗi phong trào, mong muốn tìm một con đường đúng đắn nhất để giải phóng cho dân tộc Sự tiến bộ vượt bậc của Bác so với các nhà cách mạng đương thời như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh là đi tìm một con đường cứu nước không dựa dẫm vào ngoại lực đế quốc, thực dân để tránh cảnh “đưa hùm cửa trước, rước beo cửa sau” Những bước đường gian lao của cuộc hành trình khắp năm châu bốn biển đã giúp Bác có nhận thức đầu tiên về người Pháp, về người lao động Pháp: Cũng có nhiều người Pháp tốt, chỉ có bọn thực dân Pháp mới xấu- đến cảm tưởng dưới tượng thần Tự Do: “Ánh sáng trên đầu thần Tự do toả rộng khắp trời xanh, còn dưới chân tượng thần Tự do thì người da đen đang bị chà đạp Bao giờ người đấu tranh da đen được bình đẳng với người da trắng? Bao giờ người phụ nữ bình đẳng với nam giới?” (36, 73] Bác đã nâng cao tầm nhận thức: Giai cấp vô sản, nhân dân lao động ở đâu cũng là bạn, chủ nghĩa đế quốc ở đâu cũng là thù
Quá trình khảo cứu thế giới, Nguyễn Ái Quốc rất quan tâm nghiên cứu kinh nghiệm nhiều cuộc cách mạng của các nước Trong đó Người đặc biệt chú ý tới cách mạng Mỹ 1776, cách mạng Pháp 1789 và Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 Tiêu chí Nguyễn Ái Quốc học tập kinh nghiệm ở các cuộc cách mạng trên thế giới là: cuộc cách mạng nào đem lại độc lập cho dân tộc và tự do, hạnh phúc cho nhân dân Đó cũng là đòi hỏi của dân tộc và khát vọng cháy bỏng của nhân dân Việt Nam Nguyễn Ái
Trang 35Quốc chủ trương cách mạng Việt Nam phải học tập những tư tưởng hay, những bài học tốt, rút kinh nghiệm không hay từ hai cuộc cách mạng này Nhưng cách mạng Việt Nam không đi theo con đường của những cuộc
"cách mạng không đến nơi" Mỹ và Pháp Ngược lại nghiên cứu cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, Nguyễn Ái Quốc nhận thấy: Cách mạng Tháng Mười Nga là cuộc cách mạng đến nơi, nghĩa là cách mạng thắng lợi rồi, chẳng những đem lại tự do, bình đẳng thật cho những người lao động Nga mà còn muốn giúp đỡ các dân tộc thuộc địa đi tới giải phóng Vì vậy, cách mạng Việt Nam muốn có độc lập dân tộc, tự do hạnh phúc cho nhân dân phải noi theo con đường cách mạng Tháng Mười Nga
Hoạt động trong Đảng Xã hội Pháp, Nguyễn Ái Quốc có bước trưởng thành vượt bậc diễn ra vào nửa cuối năm 1920 Tháng 7 năm 1920,
lần đầu tiên Nguyễn Ái Quốc tiếp xúc với Lênin qua văn kiện: Sơ thảo lần
thứ nhất Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa mà Lênin sẽ đọc
tại Đại hội lần thứ hai của Quốc tế Cộng sản vào cuối tháng 7 đầu tháng 8 năm 1920
Sơ thảo luận cương ra đời trong bối cảnh lịch sử các nước tư bản đế quốc sau chiến tranh đã lâm vào cuộc khủng hoảng trầm trọng Bọn chúng
đã trút gánh nặng của cuộc khủng hoảng kinh tế đó lên đầu giai cấp vô sản
và quần chúng lao động, cả ở chính quốc và các nước thuộc địa, khiến cảnh khốn cùng của họ cứ tăng lên mãi Trong tình hình ấy, lòng căm phẫn của công nhân và nhân dân lao động thêm sục sôi, khí thế và tư tưởng cách mạng của họ thêm sâu sắc Sơ thảo Luận cương của V.I.Lênin đặt vấn đề dân tộc đi đôi với vấn đề thuộc địa Theo V.I.Lênin, quyền tự quyết của các dân tộc bao gồm quyền tự quyết của các dân tộc thuộc địa phải đi đến
Trang 36công nhận, thực hiện quyền độc lập tự chủ chứ không phải chỉ có tự trị văn hóa Quyền độc lập tự chủ này không phải riêng cho các dân tộc da trắng, mang cho tất cả các dân tộc thuộc mọi màu da Luận cương nêu rõ trách nhiệm trọng đại của các đảng cộng sản ở các nước đế quốc là phải ủng hộ, giúp đỡ một cách tích cực nhất đối với phong trào giải phóng của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc Khẳng định các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc không những có nhiệm vụ giải phóng khỏi ách thống trị của nước ngoài, mà còn phải đấu tranh chống lại các lực lượng phản động ở ngay trong nước mình, những lực lượng đó thường là đồng minh của đế quốc thực dân Nhiệm vụ lớn của cách mạng thế giới, sự đoàn kết chặt chẽ giữa phong trào giải phóng các dân tộc thuộc địa bị áp bức với các nước đã làm cách mạng xã hội chủ nghĩa thành công V.I.Lênin còn nêu rõ: để chiến thắng hoàn toàn chủ nghĩa tư bản, đảm bảo cho các dân tộc giành lại được độc lập, thì phải thực hiện sự liên minh, thống nhất của giai cấp vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới Người khẳng định rằng “không có sự cố gắng tự nguyện tiến tới sự liên minh và
sự thống nhất của giai cấp vô sản, rồi sau nữa, của toàn thể quần chúng cần lao thuộc tất cả các nước và các dân tộc trên toàn thế giới, thì không thể chiến thắng hoàn toàn chủ nghĩa tư bản được” [91, 206] Chính những nội dung lớn đó đã mang lại sự vui mừng, phấn khởi cho Nguyễn Ái Quốc khi tiếp cận, tiếp thu những tư tưởng cơ bản của V.I.Lênin trong Sơ thảo luận cương Sau này, Hồ Chí Minh đã kể lại: “Bản Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi xúc động đến phát khóc lên Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ, đây là
Trang 37cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta” và “Từ
đó, tôi đã có một sự lựa chọn: tán thành Quốc tế thứ II và hoàn toàn tin theo Lênin” [41, 471] Dưới ánh sáng Luận cương của Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thấy rằng, tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc cần phải gắn
bó chặt chẽ với tinh thần quốc tế vô sản và vấn đề độc lập dân tộc của Việt Nam cần phải gắn bó khăng khít với phong trào cách mạng thế giới Muốn giành thắng lợi hoàn toàn, các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc phải thực hiện cuộc cách mạng không ngừng, phải giữ vững tính độc lập của phong trào vô sản, thực hiện cuộc cạch mạng giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của giai cấp vô sản – có thể liên minh tạm thời với giai cấp tư sản dân tộc
và các giai cấp, tầng lớp khác, nhưng không được xa rời mục tiêu của mình
là thủ tiêu giai cấp - ở các thuộc địa vẫn còn tồn tại những quan hệ tiền tư bản có khả năng thực hiện bước quá độ dần dần lên chủ nghĩa xã hội V.I.Lênin đã đưa ra bài học kinh nghiệm của việc giải quyết vấn đề về dân tộc ở nước Nga Xô viết Đồng thời, Người còn lưu ý là đặc biệt thận trọng đối với những tình cảm dân tộc trong quá trình giáo dục tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản trong nhân dân các nước thuộc địa lạc hậu Người cũng chỉ
rõ trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, cách mạng giải phóng dân tộc là một
bộ phận của cách mạng vô sản và những người cộng sản có nhiệm vụ phải giúp đỡ phong trào giải phóng dân tộc Nguyễn Ái Quốc đã tiếp thu, vận dụng và phát triển sáng tạo luận điểm này của Lênin Trong Lời phát biểu tại Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp, năm 1920, Nguyễn Ái Quốc kiên quyết đấu tranh cho tư tưởng này của Lênin được thực hiện trong thực
tế, đề nghị “Đảng phải tuyên truyền chủ nghĩa xã hội trong tất các các
nước thuộc địa” [30, tr23] Trên cơ sở phân tích những điều kiện lịch sử -
Trang 38xã hội của phương Đông, Nguyễn Ái Quốc khẳng định rằng, chế độ cộng sản hoàn toàn có thể thực hiện được ở châu Á và điều đó còn dễ hơn ở châu Âu
Cuối năm 1919, Nguyễn Ái Quốc đã tham gia tích cực vào uỷ ban Quốc tế III của Đảng Xã hội Pháp Mục đích của uỷ ban này là vận động Đảng gia nhập Quốc tế III và bảo vệ cách mạng Nga Đây có thể là cái mốc quan trọng đầu tiên phản ảnh sự chuyển biến cả trong tư tưởng lẫn hành động của Nguyễn Ái Quốc từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa xã hội khoa học; đánh dấu sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người; về đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế; về phương pháp cách mạng…
Chính vì vậy, cuộc đấu tranh lý luận mà chốt lại là giữ nguyên Đảng
Xã hội Pháp trong Quốc tế thứ hai hay thành lập Đảng Cộng sản Pháp thành phân bộ của Quốc tế thứ ba, diễn ra sôi nổi trong Đảng Xã hội Pháp suốt từ giữa năm 1920 đến cuối tháng 12-1920 tại Đại hội lần thứ 18 Đảng
Xã hội Pháp tại thành Tua Tại Đại hội này, Nguyễn Ái Quốc đã dứt khoát đứng về lập trường tham gia Quốc tế thứ ba và tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, và là người cộng sản đầu tiên của dân tộc Việt Nam Đây
là bước ngoặt căn bản trên hành trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc, bước ngoặt trong tiến trình hình thành tư tưởng của Người Người khẳng định: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản Bằng tư tưởng đó, mùa xuân 1930 khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã viết trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng rằng: ta chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản Tư tưởng này
Trang 39của Người đã đáp ứng đòi hỏi của lịch sử dân tộc là phản đế phản phong,
nó là bệ đỡ nâng dân tộc ta vươn mình lên làm cách mạng tháng Tám thành công và kháng chiến chống Pháp thắng lợi Vì vậy đến năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết cách mạng Việt Nam cả hai giai đoạn: cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa Như vậy Chủ tịch Hồ Chí Minh là người tìm đường cứu nước cho dân tộc, đồng thời cũng là người chỉ đường, vạch lối giải phóng cho dân tộc và cũng là người dẫn dắt dân tộc ta, nhân dân ta đi tới những thắng lợi, đưa dân tộc ta vào quỹ đạo phát triển
Như vậy, có thể nói rằng, chính từ việc tiếp thu tốt tư tưởng văn hóa nhân loại, chính từ chủ nghĩa yêu nước chân chính, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã có bước chuyển lớn trong việc hình thành tư tưởng giải phóng dân tộc của mình khi đến với Quốc tế thứ ba, đến với chủ nghĩa Mác- Lênin
Trang 40Chương 2 NỘI DUNG CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON
ĐƯỜNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC
2.1 XÁC ĐỊNH ĐỐI TƯỢNG CÁCH MẠNG THUỘC ĐỊA VÀ CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG THUỘC ĐỊA
Bằng những bài viết sắc sảo trong những năm 20 của thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc đã tố cáo tội ác của thực dân Pháp nói riêng, chủ nghĩa
đế quốc thực dân nói chung là vô cùng tàn bạo và man rợ “Tất cả những điều mà người ta có thể nói ra vẫn còn ở dưới mức sự thật Chưa có bao giờ, ở một nước nào mà người ta lại vi phạm mọi quyền làm người một cách dã man, độc ác trắng trợn đến thế” [31, 112] Theo Người, chủ nghĩa thực dân không chỉ là kẻ thù của các dân tộc Đông Dương mà còn là kẻ thù chung của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới, bản chất của chủ nghĩa thực dân là phản động, “Chế độ thực dân là ăn cướp…
là hiếp dâm và giết người” [31, tr 106] Cái gọi là khai phá văn minh của
thực dân là bịp bợm Để nhồi nhét văn minh “Đại Pháp” cho người Việt Nam, chúng không từ một thủ đoạn nào, kể cả những thủ đoạn bỉ ổi nhất
và những tội ác Rõ ràng, “Thật là một cách khai hóa kỳ khôi: để dạy mọi
người sống cho ra sống, người ta bắt đầu bằng việc giết họ đi đã!” [31, 33]
Người khái quát tình cảnh của nhân dân các thuộc địa, và nỗi thống khổ của nhân dân lao động ở các nước chính quốc, chỉ ra rằng, nhân dân các