1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn thử nghiệm ương nuôi cá lóc bông(channa micropeltes) từ bột lên hương với các mật độ khác nhau

55 496 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thử nghiệm ương nuôi cá lóc bông (Channa micropeltes) từ bột lên hương với các mật độ khác nhau
Tác giả Dương Thiên Kiều
Trường học Trường Đại Học Cần Thơ
Chuyên ngành Nuôi Trồng Thủy Sản
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2006
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 610,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày nay ngành nuôi trồng thủy sản đã và đang phát triển ở các nước thuộc khu vực Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng. Trong đó khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) là khu vực khá nổi trội. Sản lượng nuôi thủy sản nước ngọt của toàn vùng đạt 363.359 tấn chiếm 61,7% sản lượng thủy sản nước ngọt của cả nước

Trang 1

KHOA THỦY SẢN

DƯƠNG THIÊN KIỀU

THỬ NGHIỆM ƯƠNG NUÔI CÁ LÓC BÔNG

(Channa micropeltes) TỪ BỘT LÊN HƯƠNG

Trang 2

MỤC LỤC

Lời cảm tạ i

Tóm tắt ii

Mục lục iii

Danh sách các bảng v

Danh sách các hình vi

Chương 1: Giới thiệu 1

Chương 2: Lược khảo tài liệu 3

2.1 Phân loại và tập tính sống của cá Lóc bông 3

2.2 Đặc điểm dinh dưỡng 4

2.3 Đặc điểm sinh trưởng 7

2.4 Đặc điểm sinh sản 7

2.5 Ảnh hưởng của một số yếu tố thủy lý hóa lên sinh trưởng của cá 8

2.5.1 Ngưỡng nhiệt độ 8

2.5.2 Ngưỡng Oxy 8

2.5.3 Ngưỡng pH 9

Chương 3: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 11

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 11

3.2 Nguồn cá thí nghiệm 11

3.3 Vật liệu nghiên cứu 11

3.4 Phương pháp nghiên cứu 12

3.4.1 Bố trí thí nghiệm 12

3.4.2 Phương pháp thu và phân tích mẫu 13

3.4.3 Các chỉ tiêu tính toán 14

3.4.4 Xử lý số liệu 15

Chương 4: Kết quả và thảo luận 16

4.1 Khảo sát một số yếu tố môi trường trong quá trình ương cá lóc bông 16

4.1.1 Biến động các yếu tố thủy lý trong quá trình ương cá lóc bông 16

4.1.2 Biến động các yếu tố thủy hóa trong quá trình ương cá lóc bông 17 Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 3

4.2 Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng của cá lóc bông 20

4.2.1 Đối với hình thức ương cá lóc bông trong bể 20

4.2.2 Đối với hình thức ương cá lóc bông trong giai 23

4.2.3 Sự phân hóa sinh trưởng cá lóc bông trong quá trình ương 27

4.3 Ảnh hưởng của mật độ đến tỉ lệ sống của cá lóc bông ở 2 thí nghiệm ương trong bể và giai 28

Chương 5: Kết luận và đề xuất 30

Tài liệu tham khảo 31

Phụ lục .32

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 4

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 3.1:Thành phần dinh dưỡng thức ăn chế biến 12

Bảng 4.1: Kết quả theo dõi các yếu tố thủy lý 16

Bảng 4.2: Kết quả theo dõi các yếu tố thủy hóa 18

Bảng 4.3: Tốc độ tăng trưởng về khối lượng cá lóc bông trong bể 20

Bảng 4.4: Tốc độ tăng trưởng về chiều dài cá lóc bông trong bể 22

Bảng 4.5: Tốc độ tăng trưởng về khối lượng cá lóc bông trong giai 24

Bảng 4.6: Tốc độ tăng trưởng về chiều dài cá lóc bông trong bể 26

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 5

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 3.1: Cá lóc bông dùng làm thí nghiệm 11

Hình 3.2: Hệ thống bể xi măng dùng trong thí nghiệm 12

Hình 3.3: Hệ thống giai ương dùng trong thí nghiệm 13

Hình 4.1: Tăng trưởng về khối lượng cá lóc bông trong bể 21

Hình 4.2: Tăng trưởng về chiều dài cá lóc bông trong bể 23

Hình 4.3: Tăng trưởng về khối lượng cá lóc bông trong giai 24

Hình 4.4: Tăng trưởng về chiều dài cá lóc bông trong giai 26

Hình 4.5: Sự phân hóa kích cở ở cá lóc bông 28

Hình 4.6: Tỉ lệ sống của cá lóc bông ở 2 thí nghiệm 28

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 6

TÓM TẮT

Nghiên cứu này được thực hiện trên cá lóc bông nhằm tìm ra mật độ ương thích hợp ở 2 hình thức ương trong bể và ương trong giai

Thí nghiệm ương cá lóc bông trong bể với các mật dộ khác nhau 600 con/m2,

900 con/m2, 1200 con/m2 Cá được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên trong 9 bể (1 m2/bể), cá được cho ăn theo nhu cầu với các loại thức ăn như moina, trùn chỉ và thức ăn chế biến Sau 30 ngày ương thu được kết quả về tăng trưởng và

tỉ lệ sống ở các nghiệm thức tương đương, trong đó với mật độ 1200 con/m2cho kết quả về tỉ lệ sống cao hơn 2 mật độ còn lại Như vậy cá lóc bông có thể được ương với 3 mật độ 600 con/m2

, 900 con/m2, 1200 con/m2 vẫn đảm bảo tăng trưởng tốt và tỉ lệ sống tương đối, trong đó với mật độ ương 1200 con/m2

là tối ưu nhất

Ở thí nghiệm ương cá lóc bông trong giai đặt ngoài trời (9 giai, 1m2

/giai) cũng với mật độ ương và điều kiện chăn sóc như trên bể, ở 3 mật độ 600 con/m2,

900 con/m2 và 1200 con/m2 đều cho kết quả tương tự nhau về tốc độ tăng trưởng, tỉ lệ sống với các giá trị tương ứng là (39,1%, 35,9% và 37,5%,)

Trong 2 thí nghiệm ương trong bể và ương trong giai thì ở thí nghiệm ương trong bể cho tỉ lệ sống cao hơn ở thí nghiệm ương giai

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 7

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU

Ngày nay ngành nuôi trồng thủy sản đã và đang phát triển ở các nước thuộc khu vực Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng Trong đó khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) là khu vực khá nổi trội Sản lượng nuôi thủy sản nước ngọt của toàn vùng đạt 363.359 tấn chiếm 61,7% sản lượng thủy sản nước ngọt của cả nước

Các hình thức nuôi thủy sản như: nuôi bè, nuôi ao, nuôi đăng quần, nuôi kết hợp,… đã góp phần cho người nuôi tăng thu nhập đáng kể Trong đó phải kể đến sự gia tăng nhanh chống cả về diện tích, mức độ thâm canh và sản lượng

cá da trơn mà chủ yếu là ở hình thức nuôi bè Cá bè là nghề nuôi truyền thống

ở ĐBSCL, các đối tượng chính là cá tra, cá basa, cá he vàng, cá rô phi, cá lóc bông, Đây là những loài dễ nuôi, có khả năng chịu đựng cao với điều kiện môi trường bất lợi nên người dân có thể nuôi chúng với mật độ khá cao

Cá lóc bông (Channa micropeltes Cuvier, 1831) là loài có giá trị kinh tế cao

được nuôi phổ biến ở một số tỉnh ĐBSCL Giống cá lóc gồm nhiều loài như cá

lóc bông (Ophicephalus micropeltes), cá chành dục (O.gachua), cá dày (O.lucius), cá lóc đen (O.striatus), phân bố rộng ở các nước Châu Á Ở Việt

Nam cá lóc bông phân bố rất nhiều ở đầu nguồn sông Mekong, nơi giáp biên giới nước bạn Campuchia và Vườn Quốc Gia Tràm Chim, huyện Tam Nông,

tỉnh Đồng Tháp (Dương Nhựt Long và ctv, 2004)

Kết quả khảo sát về tình hình và kinh nghiệm nuôi dân gian cá lóc bông trong

bè ở 2 tỉnh An Giang và Đồng Tháp năm 1996 của khoa Thủy Sản Đại Học Cần Thơ (ĐHCT) cho thấy, ngoài tự nhiên trong quá trình phát triển cá lóc bông thường ăn động vật tươi sống như cá tạp, tôm, cua,…Khi nuôi trong bè

cá vẫn có thể tồn tại và sử dụng nhiều loại thức ăn khác nhau như tấm, cám, cá tạp,…(Nguyễn Đình Chiến, 1996)

Hiện nay thức ăn phổ biến dùng cho việc ương cá lóc bông bột vẫn là thức ăn tươi sống mà chủ yếu là moina, trùn chỉ, thức ăn chế biến, cá tạp tươi sống (cho ăn nguyên con hay xay nhỏ mịn, thô), tùy theo giai đoạn phát triển của cá nuôi (Nguyễn Thị Ngọc Lan, 2004)

Nguồn giống cá lóc bông hiện nay nuôi trong bè hoàn toàn dựa vào tự nhiện, thường được mua ở Bác Đai (biên giới Việt Nam-Campuchia), Hồng Ngự-Đồng Tháp, xã Vĩnh Hội Đông huyện An Phú-An Giang, nông trường Sông Hậu-Cần Thơ (Nguyễn Đình Chiến, 1996) Do đó dẫn đến tình trạng kích cỡ Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 8

giống không đồng đều, không tập trung và quá trình đánh bắt giống có thể bị xay sát, cá có thể bị nhiễm bệnh và tỷ lệ sống thấp Trong những năm qua có nhiều nghiên cứu trên loài cá lóc bông và đạt được các kết quả rất tốt góp phần thúc đẩy nghề nuôi cá lóc bông phát triển Các đề tài nghiên cứu trước đó tập trung ở nhiều lĩnh vực như: Sinh học, sinh lý, dinh dưỡng, kỹ thuật sinh sản nhân tạo và ương nuôi cá lóc bông, Đặc điểm và các kỹ thuật kích thích sinh sản nhân tạo ngày càng hoàn thiện và có thể sản xuất một lượng lớn cá bột Nhưng vấn đề đặt ra là làm sao tăng được năng xuất cũng như tốc độ tăng trưởng và tỉ lệ sống của cá lóc bông tối ưu Từ những yêu cầu trên, được sự

chỉ đạo của khoa Thủy sản – Đại Học Cần Thơ đề tài “Thử nghiệm ương cá

lóc bông (Channa micropeltes) từ bột lên hương với các mật độ khác

nhau” được thực hiện nhằm góp phần cải thiện được phần nào những khó

khăn trên

Mục tiêu của đề tài

Đánh giá tỷ lệ sống và tăng trưởng của cá lóc bông được ương trong bể xi măng và trong giai ở các mật độ khác nhau Nhằm tìm ra mật độ ương cá lóc bông thích hợp

Nội dung nghiên cứu

Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng và tỉ lệ sống của cá lóc bông ương trong bể xi măng

Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng và tỉ lệ sống của cá lóc bông ương trong giai

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 9

CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

2.1 Hệ thống phân loại cá lóc bông

Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) các loài cá lóc có đặc điểm như sau: đầu giống đầu rắn, cơ thể hình trụ, thon dài, phần sau dẹp bên Góc vi lưng và vi hậu môn dài, cá có thể hô hấp khí trời bằng màng nhày xoang miệng hầu Các loài cá lóc ở Đồng Bằng Sông Cửu Long được Trương

Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương định danh có: cá lóc bông (Ophicephalus micropeltes), cá chành dục (O.gachua), cá dày (O.lucius), cá lóc đen (O.striatus)

Năm 1831 Cuvier and Valenciennes đã đặt tên cho cá lóc bông là

Ophicephalus micropeltes nhưng do có sự nhầm lẫn nên cũng trong năm này Cuvier đã đổi lại tên là Channa micropeltes và tên này được sử dụng phổ biến

cho tới nay, cá lóc bông được xếp theo vị trí phân loại của Cuvier (1831) như sau (Rebert, 1989 được trích bởi Nguyễn Thị Ngọc Lan, 2004):

Lớp Osteichthyes

Bộ Perciformes

Họ Channidae Giống Channa Loài Channa micropeltes Couvier and Valenciennes, 1831

2.2 Tập tính sống của cá lóc bông

Lóc bông là loài có kích thước lớn nhất trong họ cá Lóc, kích thước tối đa tới trên 1 m và nặng trên 20 kg Do có cơ quan hô hấp phụ nên chúng có thể sống một thời gian dài trong điều kiện ẩm ướt và có thể nuôi với mật độ khá cao (Phạm Văn Khánh, 2003)

Cá lóc bông có thể sống trong các loại hình thủy vực như sông, kênh, rạch, đồng ruộng, lung bàu,…Nhiệt độ thích hợp cho quá trình sống của cá dao động từ 20-350

C Cá lóc bông cũng có khả năng sống trong điều kiện chất nước là kiềm tính hoặc bị nhiễm phèn Mặt dù là loài cá phân bố phổ biến ở vùng nước ngọt nhưng cá lóc bông cũng có khả năng sống và phát triển ở vùng nhiễm mặn, có nồng độ muối thấp (Dương Nhựt Long, 2003)

Theo Nguyễn Văn Hoàng (2002) cá lóc bông chủ yếu được nuôi bè (lồng) đặt trên sông, rạch có nước chảy nên nguồn nước dể bị ô nhiễm và lây lan dịch Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 10

bệnh từ bè này sang bè khác Cá lóc bông và cá lóc đen giống thả nuôi quanh năm nhưng cá lóc bông tập trung vào tháng 7 dương lịch, cá lóc đen tập trung vào tháng 6 dương lịch

Trong quá trình ương, cá lóc bông thể hiện sự phân hóa sinh trưởng rất rõ với các mức độ khác nhau và chịu ảnh hưởng của thức ăn (Nguyễn Thị Ngọc Lan, 2004)

2.3 Đặc điểm dinh dưỡng

Theo Dương Nhựt Long (2003) thì cá lóc bông là loài cá dữ điển hình, cá rất thích các loại thức ăn là động vật tươi sống như cá, tép, ếch,…Giai đoạn mới

nở dinh dưỡng bằng noãn hoàng khoảng 3-4 ngày Sau khi hết noãn hoàng, cá bắt mồi là các loài động vật phù du (luân trùng, giáp xác chân chèo,…) vừa cở miệng Khi cá dài khoảng 3-8 cm đã có thể bắt các loài cá tép nhỏ, khi cơ thể đạt chiều dài trên 10 cm cá có tập tính ăn như cá trưởng thành Sau 1 tháng tuổi cá đã có thể rượt bắt mồi nhỏ như tép và các loại cá con khác (Phạm Văn Khánh, 2003)

Theo Nguyễn Minh Vương (2003) thì cá lóc bông trưởng thành là loài cá ăn động vật và là loài cá dử Phổ dinh dưỡng của loài cá này gồm có: cá con (60,05%), mùn bã hữu cơ (33,53%), Phytoplankton (5,95%) và Zooplankton (0,07%) Còn phổ dinh dưỡng của cá lóc bông con gồm có: Cladocera (63,53%), Copepoda (23,56%), Nauplius (12,11%), Protatoria (0,78%), Protozoa (0,02%) và tảo (0,01%) trong đó Cladocera là thức ăn quan trọng nhất

Quan sát hình thái cấu tạo ống tiêu hóa cho thấy cá lóc bông là loài ăn động vật kích thước lớn (Nguyễn Minh Vương, 2003) thể hiện thông qua các đặc điểm sau:

- Miệng cá lóc bông cận trên, to, rạch miệng vượt qua đường thẳng kẻ từ bờ sau mắt

- Răng: cá có răng rất cứng chắc và sắc nhọn Răng phân bố ở hai hàm, xương

lá mía, xương khẩu cái và hầu Ở hàm dưới, xương lá mía và xương khẩu cái

có răng chó

- Lưỡi khá phát triển và thon dài

- Lược mang có dạng núm gai nằm trên xương cung mang hướng vào xoang miệng hầu

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 11

- Thực quản là phần nối tiếp xoang miệng hầu Thực quản ngắn, có vách dày, mặt trong thực quản có nhiều nếp gấp nên co giản được do đó có thể nuốt được mồi to

- Dạ dày: hình chử Y, to, vách dày, mặt trong có nhiều nếp gấp, có độ giản nở

- Cơ quan hô hấp khí trời của cá lóc bông là màng nhày xoang miệng hầu, rất nhớt và có nhiều mạch máu nhỏ phân bố trên đó Màng nhày phân bố ở trên hầu và bên ngoài các phiến xương ở trên mang Quan sát cơ quan hô hấp của

cá lóc bông con cho thấy hai nắp mang của cá con phồng ra làm cho đầu cá to hơn, vây ngực xòe rộng có thể phủ gần hết chiều cao thân vừa giúp cá bơi lội vừa hỗ trợ cho quá trình hô hấp

Cá lóc bông bột có khả năng sử dụng hiệu quả thức ăn chế biến và thời gian thích hợp để cá sử dụng thức ăn chế biến lá từ ngày thứ 7 sau khi cá nở (Nguyễn Thị Ngọc Lan, 2004)

Theo Nguyễn Anh Tuấn và ctv (2004) thì các nghiên cứu trước đây cũng cho

thấy việc thay thế thức ăn tự nhiên hoàn toàn bằng thức ăn nhân tạo không thể thực hiện được trong ương nuôi hầu hết các loài cá do thức ăn nhân tạo không kích thích cá bắt mồi vì không kích thích thị giác cá Cá bột rất khó bắt mồi là thức ăn nhân tạo nên không ăn đủ lượng thức ăn cần thiết Nhưng nghiên cứu

của Kolkovski và ctv (1997) được trích bởi Nguyễn Anh Tuấn và ctv (2004)

kết quả khả quan của việc kết hợp giữa thức ăn tươi sống và thức ăn chế biến Một số nghiên cứu đã cho thấy hoạt tính của enzyme tiêu hóa thấp ở ngày đầu

ăn thức ăn ngoài và tăng dần trong suốt giai đoạn ấu trùng trước khi chuyển sang giai đoạn khác (Walford và Lam, 1993 được trích bởi Nguyễn Anh Tuấn

và ctv., 2004) Vì vậy, ở hầu hết các loài cá bột, khi bắt đầu ăn thức ăn ngoài,

chúng đòi hỏi có thời gian nhất định để phát triển khả năng thích nghi với thức

ăn bên ngoài

Theo Lê Thị Ngọc Thanh (2000) khi ương cá lóc bông bằng cá loại thức ăn như (trùn chỉ, cá tạp và thức ăn chế biến) thì cá tạp là loại thức ăn thích hợp cho cá trong giai đoạn ương từ hương lên giống nhưng khi cho cá ăn hoàn toàn Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 12

trùn chỉ thì có tỷ lệ sống cao hơn cá tạp và thức ăn chế biến, còn cho ăn cá tạp thì có tăng trọng bình quân theo ngày cao Đối với ương cá rô đồng trong giai đoạn cá hương thì mật độ và thức ăn cho hiệu quả là 500 con/m2

và sử dụng thức ăn chế biến (Hồ Mỹ Hạnh, 2000)

Cá lóc bông là loài trong quá trình sống đòi hỏi hàm lượng protein trong thức

ăn rất cao (Wee, 1980 được trích từ Lê Thị Ngọc Thanh, 2000) Trong quá trình ương ở giai đoạn giống nhỏ (5,7 g/con), tăng trọng và tốc độ tăng trưởng của cá thấp nhất ghi nhận được ở nghiệm thức 14 % protein (0,78 g/ngày và 0,52 %/ngày) và cao nhất ở nghiệm thức 54 % protein (2,39 g/ngày và 1,29

%/ngày) Đối với cá giống lớn (12,4 g/con), tăng trọng và tốc độ tăng trưởng cao nhất thu được ở nghiệm thức thức ăn chứa 44 % protein (3,63 g/ngày và 0,94 %/ngày) Nhu cầu đạm (protein) đối với cá lóc bông giống nhỏ cho tăng trưởng tốt nhất ở mức 50,8 % và hàm lượng dao động từ 30,7 - 36,8 % là giới hạn thích hợp cho cá tăng trọng Đối với cá giai đoạn giống lớn, hàm lượng protein tốt nhất là 46,5 % Hệ số tiêu tốn thức ăn cao nhất ở nghiệm thức 14 % protein là 3,48 giai đoạn giống nhỏ và 1,44 ở giai đoạn giống lớn Thức ăn chứa 54 % protein có hệ số thức ăn thấp nhất 1,53 (cá giống nhỏ) và 0,95 (cá giống lớn) đồng thời cho tăng trưởng của cá là nhanh nhất (Dương Nhựt Long

và ctv, 2004) Còn đối với cá lóc 30 ngày tuổi tốc độ sinh trưởng về chiều dài

và khối lượng nhanh nhất ở hàm lượng protein 50% và chậm nhất ở hàm lượng protein 30% tức tốc độ tăng trưởng của cá tăng theo hàm lượng protein

có trong thức ăn (Ngô Thị Hạnh, 2001)

Theo Sumantaray và Mohanty (1997), trong quá trình ương cá lóc (Channa striata) giống có trọng lượng từ 10-13,8 g thì cá tăng trọng tốt nhất ở mức

protein 40%, lipid 13%

Trong cùng điều kiện ương từ giai đoạn hương lên giống, cá lóc đen và cá lóc môi trề sử dụng thức ăn chế biến có hàm lượng đạm 30% thì tốc độ tăng trưởng nhanh hơn cá sử dụng thức ăn có hàm lượng đạm 25% (Đặng Thụy Mai Thy, 2002)

2.4 Đặc điểm sinh trưởng

Quá trình sinh trưởng của cá lóc bông trước lúc đạt đến trạng thái thành thục sinh dục lần đầu chủ yếu là cá tăng nhanh về kích thước, sau đó tốc độ tăng trưởng về chiều dài giảm nhường bước cho sự tăng trưởng về khối lượng Quá trình được thể hiện ở mối tương quan giữa chiều dài và trọng lượng của cá với phượng trình tương quan sau y = 0,0023.x 3,4189 với hệ số tương quan là R =

0,9593 (Dương Nhựt Long và ctv, 2004) Trong điều kiện tự nhiên do cạnh

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 13

tranh thức ăn nên cá lớn không đều và tỷ lệ hao hụt cao Trong điều kiện nuôi,

cá có thể đạt 1-1,5 kg/con/năm (Phạm Văn Khánh, 2003)

Cá lóc bông ương trong giai có tốc độ tăng trưởng khá nhanh trước 21 ngày tuổi sau đó tốc độ tăng trưởng chậm lại và tốc độ tăng trưởng ở các mật độ 500 con/m2, 1000 con/m2, 1500 con/m2 tương đương nhau Tỷ lệ sống cá ương ở mật độ 500 con/m2 cao hơn tỷ lệ sống của 2 mật độ còn lại (Lê Thị Quyên, 2004) Còn đối với cá rô đồng ương trong bể ximăng với mật độ 300 con/m2cho tỷ lệ sống (69%) và tốc độ tăng trưởng (24,5%/ngày) cao hơn mật độ 600 con/m2 (tỉ lệ sống 42% và tốc độ tăng trưởng 23,3%/ngày) và 900 con/m2 (tỉ

lệ sống 20% và tốc độ tăng trưởng 25,4%/ngày) (Trần Thị Trang, 2001)

Theo Nguyễn Phúc Cường (2001) khi ương cá hú giai đoạn 3-45 ngày tuổi ở 3 mật độ (7 con/lít, 9 con/lít và 11 con/lít trong bể có thể tích 50 lít) có tốc độ tăng trưởng theo ngày lần lượt là 0,0157 g/ngày, 0,0163 g/ngày, 0,0143 g/ngày, tốc độ tăng trưởng đặc biệt 14,064 %/ngày, 14,114 %/ngày, 13,84

%/ngày và tỉ lệ sống 42%, 39%, 37% Nhưng sự khác biệt giữa các mật độ này đều không có ý nghĩa thống kê (p<0,05)

Theo Nguyễn Minh Vương (2003) khi kích thước L < 20 cm tương đương với khối lượng P < 150 g cá lóc bông tăng trưởng nhanh về chiều dài Còn khi đạt kích thước L > 35 cm tương đương với khối lượng P >900 g cá lóc bông tuy

đã tăng nhanh về khối lượng nhưng vẫn còn tiếp tục tăng về chiều dài

Theo Mai Đình Yên (1983) thì cá lóc bông 3 tuổi nặng 3-4 kg Đối với cá có chiều dài 5,28-7,14 cm và khối lượng 1,35-2,30 g thì mỗi ngày cá gia tăng khối lượng lên 0,104 g/ngày Cá có chiều dài từ 7,14-9,20 cm, khối lượng 2,30-5,92 g mỗi ngày cá tăng trọng 0,353 g/ngày Cá có chiều dài 9,20-11,02

cm cá tăng trọng mỗi ngày 0,632 g/ngày (Dương Nhựt Long, 2003)

2.5 Đặc điểm sinh sản

Cá lóc bông thành thục vào 23-24 tháng tuổi Mùa vụ phát dục và sinh sản kéo dài từ tháng 4-10, tập trung vào tháng 6-7 dương lịch Cá đẻ tái phát dục 3-4 lần trong năm Lượng trứng có thể đạt từ 7.000-15.000 trứng/kg cá cái Cá đực, cái ghép cặp, đẻ trứng trong tổ và bảo vệ trứng rất kỹ cho đến khi cá con

đã có thể sống độc lập và chủ động bắt mồi (Phạm Văn Khánh, 2003)

Cá lóc bông là loài đẻ trứng nổi, thụ tinh ngoài, có tập tính giữ trứng Mùa vụ sinh sản của cá trong thủy vực tự nhiên chủ yếu xảy ra từ tháng 5-8 dl, mùa mưa khi các cánh đồng ngập lũ, cá sẽ bắt cặp làm tổ, tham gia sinh sản và cá con sinh trưởng, phát triển cho đến mùa nước rút vào thánh 11 dl (Dương

Nhựt Long và ctv., 2004)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 14

2.6 Ảnh hưởng của một số yếu tố thủy lý hóa lên sự sinh trưởng của cá lóc bông

2.6.1 Ngưỡng nhiệt độ là nhiệt độ thấp nhất hay cao nhất làm cho cá chết

nóng hay chết lạnh

Khoảng nhiệt độ 42-430C là ngưỡng nhiệt độ cao của cá lóc bông (điểm cực hại cao) Khoảng nhiệt độ từ 14-180C thuộc vùng căng thẳng sinh lý của cá và nhiệt độ từ 14-160C là ngưỡng nhiệt độ thấp của các giai đoạn cá (điểm cực

hại thấp) (Huỳnh Hiếu Lộc, 2003) Theo Dương Nhựt Long và ctv (2004)

nhiệt độ thích hợp cho cá lóc bông sống và phát triển dao động từ 19-400C

2.6.2 Ngưỡng Oxy là lượng oxy hòa tan trong nước có giá trị thấp nhất hay

cao nhất (tại điểm cực hại thấp hay cực hại cao) làm cho cá chết ngạt Đơn vị tính là mg/l hay ml/l

Ngưỡng oxy của cá lóc bông ở các giai đoạn là khác nhau Cá ở giai đoạn nhỏ

có ngưỡng oxy cao hơn cá ở giai đoạn lớn, Ngưỡng oxy của cá 13 ngày tuổi là 2,29 mg/l, cá hương là 0,27 mg/l, cá giống nhỏ 0,13 mg/l và giống lớn 0,11 mg/l Cá lóc bông là loài có cơ quan hô hấp phụ, cấu tạo cơ quan hô hấp phụ của cá lóc bông không có dạng mê lộ (ở cung mang thứ nhất, Jayaram, 1981 được trích từ Trần Thị Mỹ Phương, 2004) như cá rô hay dạng các túi xếp như

cá trê mà là những đôi xếp trong vùng hầu được sử dụng làm cơ quan hô hấp phụ Khi ở trên cạn 30-170 phút cá sẽ bị chết Lai, (1985) được trích từ Huỳnh Hiếu Lộc (2003) nhưng ở trong môi trường nước cá sống được trong điều kiện oxy hòa tan thấp và nhờ vào điều kiện này cá được nuôi trong ao, bè ở mật độ cao

2.6.3 Ngưỡng pH là giá trị pH thấp nhất hoặc cao nhất gây cho cá chết

pH thích hợp cho tất cả các động vật đều gần bằng 7 Theo Swingle (1969) được trích bởi Trương Quốc Phú (2000) thì pH = 6,5-9 là thích hợp cho các loài tôm cá nuôi

Theo Dương Nhựt Long và ctv (2004) giá trị pH từ 4-10 cho thấy cá lóc bông

vẫn sống và hoạt động bình thường

2.7 Tình hình nuôi cá lóc bông ở Việt Nam và trên thới giới

Trên thế giới, nghề nuôi cá lóc bông phát triển rất mạnh với nhiều phương thức nuôi khác nhau như: mô hình nuôi bán thâm canh trong ao với thời gian nuôi từ 6 - 7 tháng, thức ăn gồm có bột cá, tấm, cám theo tỉ lệ 8:1:1 đôi khi tỉ

lệ bột cá lên đến 13,… phổ biến ở Thailand, Hồng Kông Mô hình nuôi cá bè Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 15

với mật độ cá thả từ 30 - 50 con/m3, thành phần thức ăn gồm các loại cá tạp, bí

đỏ, chuối, tấm Cá có thể đạt trọng lượng từ 1,5 - 2,5 kg/con sau 8 tháng nuôi, phổ biến ở Campuchia Mô hình nuôi ghép với cá chép, rô phi năng suất thu hoạch sau khi nuôi đạt rất cao, phổ biến nhiều ở Đài Loan (Lo-Chai Chen,

1990 được trích từ Dương Nhựt Long và ctv., 2004).

Trong điều kiện Việt Nam, theo tài liệu tổng kết ở các địa phương vùng ĐBSCL và miền Đông Nam Bộ, thì trong tổng số 30 loài đã xác định, có đến 5

loài cá lóc được chọn làm đối tượng nuôi chính ở các nước là: Ophiocephalus striatus, O marulius, O punctatus, O maculatus, O micropeltes Phong trào nuôi cá lóc và được biết nhiều là cá lóc bông (Ophiocephalus micropeltes)

nuôi bè đã có từ lâu, phổ biến ở các tỉnh như An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Kiên giang và Đồng Nai hiện nay Năng suất và hiệu quả lợi nhuận từ mô hình nuôi thời gian qua đã góp phần cải thiện điều kiện thu nhập cho ngư dân trong

vùng (Dương Nhựt Long và ctv, 2004) Bè có kích thước từ 200-500m3 năng xuất đạt từ 123-166 kg/m3 An Giang và Đồng Tháp là hai tỉnh có phong trào nuôi cá Lóc Bông bè phát triển mạnh nhất và nuôi với nhiều mật độ, thể tích khác nhau Ở mật độ 230-300con/m2 năng xuất đạt 156,5 kg/m3 (Huỳnh Hiếu Lộc, 2003).

Theo Nguyễn Văn Kiểm (2004) hiện nay những cơ sở ương nuôi cá giống ở Đồng Bằng Sông Cửu Long ương với các mật độ như sau: Mè vinh, cá he: 400-500 con/m2, cá chép: 150-200 con/m2, cá trôi Ấn Độ: 200-250 con/m2, cá trê: 300-400 con/m2, cá tra: 800-1000 con/m2, cá rô: 300-400 con/m2, cá tai tượng: 200-250 con/m2

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 16

CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian từ tháng 02/2006 đến tháng 06/2006 Địa điểm Trại thực nghiệm khoa Thủy Sản - ĐHCT

Thức ăn cho cá gồm moina, trùn chỉ và thức ăn chế biến

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 17

Bảng 3.1 Công thức thức ăn chế biến

Bảng 3.2: Thành phần dinh dưỡng thức ăn chế biến

Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng và tỉ lệ sống của cá lóc

bông ương trong bể xi măng

Thí nghiệm được tiến hành trong bể xi măng có diện tích 1m2 Bể được đặt trong nhà hạn chế các điều kiện môi trường (nắng, mưa) tác động vào, nguồn nước dùng cho thí nghiệm lấy từ ao lắng thông qua bể chứa Thời gian thí nghiệm 30 ngày Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 nghiện thức và mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần như sau:

• Nghiệm thức I với mật độ là 600 con/m2

• Nghiệm thức II với mật độ là 900 con/m2

• Nghiệm thức III với mật độ là 1200 con/m2

Chăm sóc và quản lý: Thí nghiệm được bố trí trong bể xi măng có sục khí Cá

được cho ăn theo nhu cầu Tuần đầu cho ăn moina, tuần 2 cho ăn trùn chỉ sau

đó cho ăn thức ăn chế biến, khoảng 8-10 ngày tập cá ăn thức ăn chế biến dần (thức ăn đặt trong sàng và cho ăn từ từ) Cho cá ăn mỗi ngày khoảng 3-5 lần tùy giai đoạn, thường xuyên theo dõi sự bắt mồi của cá, xi phông thức ăn thừa Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 18

Hình 3.2: Hệ thống bể xi măng dùng trong thí nghiệm

Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng và tỉ lệ sống của cá lóc

bông ương trong giai

Thí nghiệm được tiến hành trong giai có diện tích 1m2 đặt trong ao đất Thời gian thí nghiệm 30 ngày Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 nghiệm thức và mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần như sau:

• Nghiệm thức I với mật độ là 600 con/m2

• Nghiệm thức II với mật độ là 900 con/m2

• Nghiệm thức III với mật độ là 1200 con/m2

Chăm sóc và quản lý: Thí nghiệm được bố trí trong giai có sục khí với mực

nước khoảng 60-80 cm, giai được đặt trong ao đất Giai được may 2 lớp, lớp ngoài bằng lưới cước với kích thước mắt lưới 1mm, lớp trong bằng vải Khi cá chuyển sang giai đoạn ăn trùn chỉ thì cắt bỏ lớp vải phía trong Hàng ngày cho

ăn và theo dõi cũng tương tự như bố trí trong bể xi măng

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 19

Hình 3.3: Hệ thống giai ương dùng trong thí nghiệm

3.4.2 Phương pháp thu và phân tích mẫu

Khi bố trí thí nghiệm cá được xác định khối lượng ban đầu bằng cách cân lấy trung bình khối lượng cá Khi kết thúc thí nghiệm cũng cân lấy trung bình khối lượng cá, đếm số cá còn lại ở mỗi giai và bể để xác định tỉ lệ sống cá

Chỉ tiêu tăng trưởng: định kỳ 10 ngày/lần bắt mỗi giai và bể 30 con để kiểm tra tốc độ tăng trưởng chiều dài, khối lượng của cá ương Cá sau khi thu xong thả trở lại bể/giai nuôi tiếp, để kết thúc thí nghiệm tính tỉ lệ sống

Các chỉ tiêu oxy, nhiệt độ, pH (đo bằng máy), định kỳ 3 ngày/lần đo trực tiếp

ở mỗi giai và bể vào lúc sáng sớm và chiều

Các yếu Ammonia (bảo quản lạnh), COD (dùng hóa chất cố định) thu định kỳ

1 tuần/lần vào buổi sáng khoảng 8-10 giờ Ammonia được xác định theo phương pháp Indophenol blue

COD được xác định theo phương pháp oxy hóa chất hữu cơ trong môi trường kiềm

3.4.3 Các chỉ tiêu tính toán

Tỉ lệ sống của cá (Survival Rate, SR)

Số cá thu được SR(%) = *100

Số cá thả lúc đầu Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 20

Chiều dài trung bình

Tổng chiều dài cá đo được L(cm) =

Số cá đem đo

Khối lượng trung bình

Khối lượng cá cân được P(g) =

Trong đó: P1, P2: Khối lượng trung bình tại t1, t2 (g)

L1, L2: chiều dài trung bình tại t1, t2 (cm)

t1, t2: Thời gian kiểm tra

Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối theo ngày (Daily Weight Gain) về khối lượng (g/ngày) và chiều dài (cm/ngày)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 21

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Khảo sát một số yếu tố môi trường trong quá trình ương cá lóc bông

4.1.1 Biến động các yếu tố thủy lý trong quá trình ương cá lóc bông

Kết quả theo dõi các chỉ tiêu thủy lý trong quá trình ương cá lóc bông được trình bày ở Bảng 4.1

Bảng 4.1: Kết quả theo dõi các yếu tố thủy lý

(28,1 – 30,2)

7,69±0,32 (7,71 – 7,67)

(28,1 – 30,1)

7,60±0,29 (7,64 – 7,57)

Bể

(28,1 – 30,2)

7,72±0,28 (7,74 – 7,71)

(30,2 – 32,8)

8,40±0,97 (7,45 – 9,35)

(30,2 – 32,8)

8,42±0,97 (7,48 – 9,36) Giai

(30,2 – 32,9)

8,39±0,99 (7,43 – 9,36)

Ghi chú: Giá trị thể hiện là số trung bình và độ lệch chuẩn Giá trị thể hiện giữa dấu (-) là 2 giá trị sáng và chiều

Nhiệt độ

Qua kết quả trình bày ở Bảng 4.1 cho thấy nhiệt độ nước giữa các nghiệm thức của 2 hình thức ương trong bể và ương trong giai dao động không đáng kể (bể dao động 29,1-29,20C và giai từ 31,5-31,60C) Nhiệt độ sáng, chiều của mỗi thí nghiệm chênh lệch không cao (trong bể 28,1-30,20C, trong giai 30,2-32,90C), nhiệt độ ở trong giai cao hơn nhiệt độ ở trong bể do giai bố trí ở ngoài trời chịu ảnh hưởng trực tiếp của ánh nắng mặt trời làm nhiệt độ tăng, bể được

bố trí trong nhà ít chịu ảnh hưởng trực tiếp của ánh nắng mặt trời

Nhiệt độ là một trong những yếu tố môi trường có ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến các hoạt động sống của thủy sinh vật nói chung và tôm cá nói riêng như sinh trưởng, dinh dưỡng, sinh sản,…vì cá là động vật biến nhiệt Theo Niconski (1951) được trích bởi Trương Quốc Phú (2000) cho biết cá chỉ hoạt động bình thường khi nhiệt độ của cơ thể cá chênh lệch với nhiệt độ của môi trường khoảng 0,50C-10C Đối với cá khi nhiệt độ môi trường gia tăng, cá tăng cường

độ trao đổi chất, cường độ hô hấp

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 22

Theo Trương Quốc Phú (2000), nhiệt độ thích hợp cho đa số các loài cá nuôi

là từ 200C-300C, giới hạn cho phép là từ 100C-400C và theo Dương Nhựt Long

và ctv (2004) nhiệt độ thích hợp cho cá lóc bông sống và phát triển dao động

từ 19-40oC Như vậy, nhiệt độ của thí nghiệm nằm trong khoảng thích hợp cho

sự phát triển của cá

pH

Qua Bảng 4.1 cho thấy pH giữa các nghiệm thức của 2 hình thức ương trong

bể và ương trong giai biến động không nhiều (các nghiệm thức trong bể dao động từ 7,60-7,72, các nghiệm thức ương trong giai là 8,37-4,42) pH giữa sáng và chiều của thí nghiệm ương trong bể thì chênh lệch không cao (sáng từ 7,64-7,74 và chiều từ 7,57-7,71) do các bể bố trí trong nhà ánh sáng mặt trời không chiếu trực tiếp vào Ngược lại, pH giữa sáng và chiều ở thí nghiệm ương trong giai thì có sự chênh lệch khá lớn (sáng từ 7,43-7,48 và chiều từ 9,35-9,36) do giai đặt ngoài trời ánh sáng chiếu trực tiếp vào môi trường nước tảo phát triển nhiều, quang hợp mạnh làm giảm hàm lượng CO2 trong nước dẫn đến pH tăng cao vào buổi chiều

pH là một trong những nhân tố môi trường có ảnh hưởng rất lớn trực tiếp hoặc gián tiếp đối với đời sống thủy sinh vật như sinh trưởng, tỷ lệ sống, dinh dưỡng,… pH thích hợp cho tất cả các động vật đều gần bằng 7 Theo Swingle (1969) được trích bởi Trương Quốc Phú (2000) thì pH = 6,5-9 là thích hợp cho các loài tôm cá nuôi

Theo Trương Quốc Phú (2000), thực vật phù du phát triển mạnh vào sáng sớm

pH nước khoảng 6,5, sau buổi trưa khi quá trình quang hợp xảy ra mạnh pH

nước có thể lên đến 9-10 Còn theo Dương Nhựt Long và ctv (2004) ngưỡng

pH cho cá lóc bông dao động lớn, ngưỡng pH trên của cá lóc bông là 11,67 và ngưỡng pH dưới là 1,95-2,1 Giá trị pH từ 4-10 cho thấy cá vẫn sống

11,33-và hoạt động bình thường Vì vậy pH ở thí nghiệm này nằm trong khoảng thích hợp cho cá phát triển

4.1.2 Biến động các yếu tố thủy hóa trong quá trình ương cá lóc bông

Bên cạnh một số yếu tố thủy lý làm ảnh hưởng đến đời sống thủy sinh vật nói chung và tôm cá nói riêng thì một số yếu tố thủy hóa cũng ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển và tỉ lệ sống của tôm cá, nếu chúng không nằm trong khoảng thích hợp Kết quả nghiên cứu sự biến động một số yếu tố thủy hóa trong quá trình ương nuôi cá lóc bông từ bột lên hương được trình bày cụ thể ở Bảng 4.2 Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 23

Bảng 4.2: Kết quả theo dõi các yếu tố thủy hóa

là do máy thổi khí và một phần do oxy không khí khuếch tán vào, còn oxy do thực vật quang hợp là không đáng kể vì lúc này thí nghiệm trong nhà không có ánh sáng mặt trời chiếu vào nước, vì vậy thực vật không hấp thu được năng lượng ánh sáng mặt trời và không quang hợp được Qua kết quả trình bày trong Bảng 4.2 cho thấy hàm lượng oxy giữa các nghiệm thức dao động không cao (trong bể dao động từ 4,82-5,06 mg/l và giai là 7,00-7,07 mg/l), hàm lượng oxy ở hình thức ương trong giai cao hơn trong bể do giai được đặt ngoài trời, ánh sáng chiếu trực tiếp vào làm tảo phát triển nhiều và quang hợp mạnh thải ra nhiều khí oxy Hàm lượng oxy giữa sáng, chiều ở hình thức ương trong

bể dao động không cao sáng từ 4,72-4,97 mg/l và chiều từ 4,93-5,15 mg/l, mặt khác hệ thống thí nghiệm có lắp sục khí nên hàm lượng oxy tương đối ổn định Còn hàm lượng oxy ở thí nghiệm ương trong giai có sự khác biệt rất lớn giữa sáng và chiều (sáng 3,55-3,61 mg/l và chiều từ 10,4-10,5 mg/l), oxy buổi chiều trong giai cao là do oxy có được từ quá trình quang hợp của thực vật thủy sinh (do giai được bố trí ngoài trời nên ánh sáng chiếu trực tiếp vào nước làm cho tảo quang hợp mạnh), từ máy thổi khí và từ không khí khuếch tán vào

Theo Swingle (1969) được trích bởi Trương Quốc Phú (2000) thì nồng độ oxy hòa tan trong nước lý tưởng cho tôm, cá là > 5 mg/l, với nồng độ 1-5 mg/l cá Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 24

sống được nhưng phát triển chậm Tuy nhiên, mỗi loài có một ngưỡng oxy khác nhau, cá lóc là một loài cá chịu được điều kiện khắc nghiệt của môi trường và có cơ quan hô hấp phụ nên có thể sống và tăng trưởng tốt trong môi

trường có hàm lượng oxy hòa tan thấp Theo Dương Nhựt Long và ctv (2004)

ngưỡng oxy của cá 3 ngày tuổi là 0,46 mg/l, cá 13 ngày tuổi là 0,30 mg/l, cá hương là 0,13 mg/l Vì vậy hàm lượng oxy ở 2 thí nghiệm trên là phù hợp cho

cá phát triển

COD

Qua Bảng 4.2 cho thấy COD giữa các nghiệm thức của hình thức ương trong

bể có sự chênh lệch không cao (dao động từ 10,7-10,9 mg/l) và COD giữa các nghiệm thức ở hình thức ương trong giai cũng biến động không nhiều (dao động từ 18,8-19,6 mg/l) COD ở hình thức ương trong giai cao hơn ở hình thức ương trong bể (dao động từ 10,9-19,6 mg/l) do trong ao COD có được ngoài chất thải của cá và thức ăn thừa như trong bể thì COD có được còn do quá trình phân hủy của xác bã động thực vật (vì trong ao tảo phát triển rất nhiều và có nhiều loài cá khác được nuôi trong lồng ở trong ao) COD Trong môi trường nước ngoài vật chất hữu cơ trong cơ thể sống của thủy sinh vật, chúng còn tồn tại ở nhiều dạng khác nhau như xác bã động thực vật, phân, rác, nước thải sinh hoạt và công nghiệp Trong môi trường càng có nhiều vật chất hữu cơ thì hàm lượng COD càng cao COD thích hợp cho các ao nuôi cá là từ 15-30 mg/l, COD từ 5-10 mg/l thì môi trường dinh dưỡng trung bình, COD từ 10-20 mg/l môi trường giàu dinh dưỡng (Trương Quốc Phú, 2000) Từ kết quả trên cho thấy COD trong thủy vực tuy không đạt tối ưu nhưng vẫn nằm ở mức thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cá

sẽ tăng khi hàm lượng oxy hòa tan thấp và pH cao Theo Colt và Armstrong (1979) được trích bởi Trương Quốc Phú (2000) tác dụng độc hại của NH3 đối với cá khi NH3 trong nước cao, NH3 khó được bài tiết từ máu cá ra môi trường Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 25

ngoài,… dẫn đến cá chết vì không điều khiển được quá trình trao đổi muối giữa cơ thể và môi trường ngoài

Nồng độ NH3 được coi là an toàn cho ao nuôi là 0,13 mg/l (Trương Quốc Phú, 2000) Bên cạnh NH3 cao có tác dụng độc đối với cá thì NH3 thấp cũng gây ảnh hưởng xấu đến cá Theo Smith và Piper (1975) được trích từ Trương Quốc Phú (2000) nếu NH3 ở nồng độ 0,006-0,34 mg/l cá sẽ phát triển chậm, ở nồng độ <0,02 mg/l sẽ làm cá con bị dị hình Hàm lượng NH3 của thí nghiệm này tuy thấp nhưng vẫn nằm trong khoảng thích ứng của cá nên cá sinh trưởng

và phát triển được

Tóm lại, Các yếu tố thủy lý hóa ở các nghiệm thức của từng thí nghiệm không

có sự biến động nhiều, sự chênh lệnh giữa sáng và chiều vẫn nằm trong khoảng giới hạn cho phép.Ở thí nghiệm ương trong giai có sự biến động giữa sáng và chiều cao hơn ở thí nghiệm ương trong bể Các yếu tố thủy lý hóa ở thí nghiệm ương trong bể tương đối ổn định hơn ở thí nghiệm ương trong giai

4.2 Ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng cá lóc bông 4.2.1 Đối với hình thức ương cá lóc bông trong bể

Trong quá trình ương cá lóc bông từ bột lên hương ở 3 mật độ 600 con/m2,

900 con/m2, 1200 con/m2 sau 30 ngày ương, thu được kết quả tăng trưởng về khối lượng và chiều dài ở thí nghiệm ương trong bể, cụ thể được trình bày trong Bảng 4.3 và Bảng 4.4

Bảng 4.3: Tốc độ tăng trưởng về khối lượng của cá lóc bông trong bể

Giá trị thể hiện là số trung bình và độ lệch chuẩn

Từ Bảng 4.3 cho thấy tăng trưởng về khối lượng của cá lóc bông sau 30 ngày ương trong bể ở 3 mật độ 600 con/m2

, 900 con/m2 và 1200 con/m2 cao nhất ở mật độ 600 con/m2 tiếp đến là mật độ 900 con/m2 và mật độ 1200 con/m2 có Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 26

tăng trưởng thấp nhất, tuy nhiên sự khác biệt giữa 3 mật độ nêu trên là không

có ý nghĩa thống kê (p<0,05) Sự tăng trưởng ở 3 mật độ 600 con/m2 ,900 con/m2 và 1200 con/m2 được thể hiện rõ ở Hình 4.1

0 0.2 0.4 0.6 0.8 1 1.2 1.4 1.6 1.8 2

Hình 4.1 Tăng trưởng về khối lượng cá lóc bông trong bể

Qua Bảng 4.3 và Hình 4.1 cho thấy tốc độ tăng trưởng đặc biệt về khối lượng của cá tăng ở giai đoạn 10 ngày đầu (25,1%/ngày ở mật độ 600 con/m2, 24,1%/ngày ở mật độ 900 con/m2, 23,6%/ngày ở mật độ 1200 con/m2), trong

10 ngày đầu tăng trưởng của cá ở 3 nghiệm thức có khác nhau nhưng không đáng kể, tăng trưởng nhanh nhất ở mật độ 600 con/m2

(0,1 g), 2 mật độ 900 con/m2 và 1200 con/m2 tăng trưởng thấp hơn và tương đương nhau (0,09 g)

Tốc độ tăng trưởng đặc biệt về khối lượng 10 này tiếp theo có sự giảm dần (14,1%/ngày ở mật độ 600 con/m2, 14,5%/ngày ở mật độ 900 con/m2, 13,8%/ngày ở mật độ 1200 con/m2), sau 20 ngày ương cá với 3 nghiệm thức thì sự tăng trưởng ở nghiệm thức I là cao nhất (0,41 g) và thấp nhất là nghiệm thức III (0,34 g), tuy nhiên tốc độ tăng trưởng g/ngày ở 3 nghiệm thức tương đương nhau

Giai đoạn 10 ngày cuối trong quá trình ương thì tốc độ tăng trưởng đặc biệt ở

3 nghiệm thức có sự ổn định và tương đương với 10 ngày trước Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p<0,05) về tăng trưởng của cá lóc bông, theo như quan sát nhận thấy khi mật độ càng cao thì tỉ lệ hao hụt ở giai đoạn đầu càng nhiều dẫn đến tỉ lệ sống ở giai đoạn đầu thấp đều nhau ở các nghiệm thức, nguyên nhân cá lóc bông chết nhiều ở giai đoạn đầu được trình bày cụ thể ở

phần sau Kết quả này tương tự như kết quả của Nguyễn Phúc Cường (2001)

khi ương cá hú giai đoạn 3-45 ngày tuổi ở 3 mật độ (7 con/L, 9 con/L và 11 con/L trong bể có thể tích 50 L) có tốc độ tăng trưởng theo ngày lần lượt là Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 27

0,0157 g/ngày, 0,0163 g/ngày và 0,0143 g/ngày, t ốc độ tăng trưởng đặc biệt 14,064%/ngày, 14,114%/ngày và 13,84%/ngày và sự khác biệt giữa các mật

độ này không có ý nghĩa thống kê (p<0,05)

Theo Dương Nhựt Long (2003) thì cá lóc bông là loài cá dể nuôi, lớn nhanh, đối với cá có chiều dài 5,28-7,14 cm và trọng lượng dao động từ 1,35-2,30 g thì mỗi ngày cá lóc bông gia tăng trọng lượng lên 0,14 g/ngày Cá có chi ều dài

từ 7,14-9,20 cm, trọng lượng 2,30-5,92 g mỗi ngày cá lóc bông tăng thêm trọng lượng là 0,353 g/ngày Trường hợp cá có chiều dài 9,20-11,02 cm trọng lượng cá tăng thêm 0,632 g/ngày Ở thí nghiệm này sau 30 ngày ương cá đạt khối lượng từ 1,50-1,74 g và chiều dài từ 5,25-5,63 cm (Bảng 4.4) thì mỗi ngày cá lóc bông gia tăng khối lượng là 0,13 g/ngày điều này phù hợp với kết quả của Dương Nhựt Long

Bảng 4.4: Tốc độ tăng trưởng về chiều dài của cá lóc bông trong bể

Giá trị thể hiện là số trung bình và độ lệch chuẩn

Qua Bảng 4.4 nhận thấy tăng trưởng về chiều dài của cá lóc bông sau 30 ngày ương ở 3 mật độ 600 con/m2

,900 con/m2 và 1200 con/m2 có sự sai khác, ở mật độ 900 con/m2 cho tăng trưởng chiều dài cao nhất (5,63 cm), thấp nhất ở mật độ 1200 con/m2 (5,25 cm) Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) giữa mật độ 1200 con/m2 so với mật độ 600 con/m2 và 900 con/m2 Tăng trưởng về chiều dài của cá lóc bông ở 3 nghiệm thức thể hiện rõ ở Hình 4.2

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Ngày đăng: 23/12/2013, 15:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1: Cá lóc bông dùng làm thí nghi ệm - LUẬN văn thử nghiệm ương nuôi cá lóc bông(channa micropeltes) từ bột lên hương với các mật độ khác nhau
Hình 3.1 Cá lóc bông dùng làm thí nghi ệm (Trang 16)
Hình 3.2: Hệ thống bể xi măng dùng trong thí nghiệm - LUẬN văn thử nghiệm ương nuôi cá lóc bông(channa micropeltes) từ bột lên hương với các mật độ khác nhau
Hình 3.2 Hệ thống bể xi măng dùng trong thí nghiệm (Trang 18)
Hình 3.3: Hệ thống giai ương dùng trong thí nghiệm - LUẬN văn thử nghiệm ương nuôi cá lóc bông(channa micropeltes) từ bột lên hương với các mật độ khác nhau
Hình 3.3 Hệ thống giai ương dùng trong thí nghiệm (Trang 19)
Bảng 4.1: Kết quả theo dừi cỏc yếu tố thủy lý - LUẬN văn thử nghiệm ương nuôi cá lóc bông(channa micropeltes) từ bột lên hương với các mật độ khác nhau
Bảng 4.1 Kết quả theo dừi cỏc yếu tố thủy lý (Trang 21)
Bảng 4.2: Kết quả theo dừi cỏc yếu tố thủy húa - LUẬN văn thử nghiệm ương nuôi cá lóc bông(channa micropeltes) từ bột lên hương với các mật độ khác nhau
Bảng 4.2 Kết quả theo dừi cỏc yếu tố thủy húa (Trang 23)
Bảng 4.3: Tốc độ tăng trưởng về khối lượng của cá lóc bông trong bể - LUẬN văn thử nghiệm ương nuôi cá lóc bông(channa micropeltes) từ bột lên hương với các mật độ khác nhau
Bảng 4.3 Tốc độ tăng trưởng về khối lượng của cá lóc bông trong bể (Trang 25)
Hình 4.1 Tăng trưởng về khối lượng cá lóc bông trong bể - LUẬN văn thử nghiệm ương nuôi cá lóc bông(channa micropeltes) từ bột lên hương với các mật độ khác nhau
Hình 4.1 Tăng trưởng về khối lượng cá lóc bông trong bể (Trang 26)
Bảng 4.4: Tốc độ tăng trưởng về chiều dài của cá lóc bông trong bể - LUẬN văn thử nghiệm ương nuôi cá lóc bông(channa micropeltes) từ bột lên hương với các mật độ khác nhau
Bảng 4.4 Tốc độ tăng trưởng về chiều dài của cá lóc bông trong bể (Trang 27)
Bảng 4.5: Tốc độ tăng trưởng về khối lượng của cá lóc bông trong giai - LUẬN văn thử nghiệm ương nuôi cá lóc bông(channa micropeltes) từ bột lên hương với các mật độ khác nhau
Bảng 4.5 Tốc độ tăng trưởng về khối lượng của cá lóc bông trong giai (Trang 29)
Hình 4.3 Tăng trưởng về khối lượng cá lóc bông trong giai - LUẬN văn thử nghiệm ương nuôi cá lóc bông(channa micropeltes) từ bột lên hương với các mật độ khác nhau
Hình 4.3 Tăng trưởng về khối lượng cá lóc bông trong giai (Trang 29)
Bảng 4.6: Tốc độ tăng trưởng về chiều dài của cá lóc bông trong giai - LUẬN văn thử nghiệm ương nuôi cá lóc bông(channa micropeltes) từ bột lên hương với các mật độ khác nhau
Bảng 4.6 Tốc độ tăng trưởng về chiều dài của cá lóc bông trong giai (Trang 31)
Hình 4.6 Tỉ lệ phân hóa kích cỡ cá lóc bông ở thí nghiệm ương trong giai  Qua Hình 4.6 nhận thấy với 3 nghiệm thức, thì cá lóc bông tập trung ở 2 nhóm  kích  cỡ  &lt;2  g  (54,5-61,7%)  và  từ  2-3  g  (33,3-42,2%) - LUẬN văn thử nghiệm ương nuôi cá lóc bông(channa micropeltes) từ bột lên hương với các mật độ khác nhau
Hình 4.6 Tỉ lệ phân hóa kích cỡ cá lóc bông ở thí nghiệm ương trong giai Qua Hình 4.6 nhận thấy với 3 nghiệm thức, thì cá lóc bông tập trung ở 2 nhóm kích cỡ &lt;2 g (54,5-61,7%) và từ 2-3 g (33,3-42,2%) (Trang 33)
Hình 4.7 Sự phân hóa kích cỡ cá lóc bông - LUẬN văn thử nghiệm ương nuôi cá lóc bông(channa micropeltes) từ bột lên hương với các mật độ khác nhau
Hình 4.7 Sự phân hóa kích cỡ cá lóc bông (Trang 34)
Hình 4.8 Tỉ lệ sống của cá lóc bông ở 2 thí nghiệm - LUẬN văn thử nghiệm ương nuôi cá lóc bông(channa micropeltes) từ bột lên hương với các mật độ khác nhau
Hình 4.8 Tỉ lệ sống của cá lóc bông ở 2 thí nghiệm (Trang 34)
Phụ lục A.1: Bảng theo dừi chỉ tiờu nhiệt độ ở trong bể - LUẬN văn thử nghiệm ương nuôi cá lóc bông(channa micropeltes) từ bột lên hương với các mật độ khác nhau
h ụ lục A.1: Bảng theo dừi chỉ tiờu nhiệt độ ở trong bể (Trang 39)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w