Tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu, một tỉnh nằm trong vùng trọng điểm kinh tế phía Nam, là một trong bảy trung tâm du lịch của cả nước, với tài nguyên thiên nhiên phong phú, hệ sinh thái và cấu trúc
Trang 1NGÔ THỊ LIÊN
ĐẢNG BỘ TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH
(1991- 2006)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
TP HỒ CHÍ MINH – 2008
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học : TH.S NGÔ QUANG TY
TP HỒ CHÍ MINH -200 8
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đế tài
Kinh tế du lịch có vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế của các quốc gia trên thế giới Nhiều nhà kinh tế khẳng định rằng: du lịch là một ngành công nghiệp “không khói” làm tăng nhanh tích lũy, trở thành một yếu
tố thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển, và là động lực lớn góp phần làm tăng trưởng kinh tế Một số quốc gia đã coi phát triển kinh tế du lịch là quốc sách Ở Việt Nam, từ khi Đảng thực hiện đường lối đổi mới, phát triển du lịch được coi là một hướng chiến lược quan trọng trong đường lối phát triển kinh tế- xã hội của Đảng và Nhà nước nhằm góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu, một tỉnh nằm trong vùng trọng điểm kinh tế phía Nam, là một trong bảy trung tâm du lịch của cả nước, với tài nguyên thiên nhiên phong phú, hệ sinh thái và cấu trúc địa lý đa dạng đã để lại cho tỉnh nhiều di tích văn hóa, kiến trúc, lịch sử nhằm phát triển du lịch Từ khi thành lập tỉnh, nhằm phát huy tiềm năng thế mạnh để phát triển kinh tế- xã hội, trên cơ sở những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, Đảng
bộ, chính quyền tỉnh đã có nhiều Nghị quyết, Chỉ thị về phát triển kinh tế du lịch Nhờ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng bộ, ngành kinh tế du lịch của tỉnh ngày càng phát triển, cơ sở hạ tầng ngày một đồng bộ, đời sống của nhân dân được nâng cao
Vì vậy, nghiên cứu các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng bộ tỉnh trong quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch để thấy được sự năng động, sáng tạo và rút ra những bài học kinh nghiệm là điều cần thiết Từ nhận thức đó, tôi đã chọn đề tài “Đảng bộ tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch (1991-2006)” làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
Trang 42.Lịch sử nghiên cứu
Trong xu thế hội nhập, du lịch đã, đang là một ngành kinh tế rất quan trọng Chính vì vậy, nghiên cứu về du lịch đã được sự quan tâm của nhiều nhà lãnh đạo, nhà khoa học từ Trung ương đến các địa phương Đã có nhiều cuốn sách, công trình khoa học, hội thảo, bài báo, viết về du lịch dưới nhiều góc độ và phạm vi khác nhau:
- Tác giả Trần Đức Thanh với “Nhập môn khoa học du lịch” giới thiệu
tổng quan những vấn đề chung về du lịch phục vụ cho sinh viên nghiên cứu trong lĩnh vực du lịch, Nxb Đại học quốc gia, 1999
- Tác giả Trần Nhạn với “Du lịch và kinh doanh du lịch” trình bày
những lý luận chung về du lịch và những hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực
du lịch, Nxb Văn hóa, 1996
- Tác giả Đinh Trung Kiên, “ Một số vấn đề về du lịch Việt Nam” trình
bày tổng quan những vấn đề về du lịch Việt Nam, đánh giá thực trạng và nêu nhiều giải pháp nhằm phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2004
- Luận án phó tiến sĩ Kinh tế của Trịnh Xuân Dũng, Hà Nội, 1989 về
“ Một số vấn đề về tổ chức và quản lý các hoạt động kinh doanh du lịch ở Việt Nam” Tác giả đã nêu lên những bất cập về tổ chức và quản lý các hoạt
động kinh doanh du lịch ở Việt Nam và đưa ra những phương hướng nhằm giúp cho ngành du lịch và hoạt động kinh doanh du lịch ở Việt Nam tốt hơn
- Luận văn Thạc sĩ Quản lý hành chính công của Đổ Thị Ánh Tuyết, Hà
Nội, 2005 về “ Một số giải pháp phát triển du lịch Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế” Tác giả đã đánh giá những thành tựu và chỉ ra
những tồn tại cần khắc phục và đề xuất một số giải pháp cho cơ quan quản lý ngành du lịch tham khảo nhằm đưa ngành du lịch nước ta phát triển nhanh mạnh và bền vững trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 5- Luận văn Thạc sĩ Quản lý Nhà nước của Huỳnh Công Minh Trường,
TPHCM, 2000 về “ Hoàn thiện quản lý nhà nước về du lịch tại Thành phố
Hồ Chí Minh” Tác giả đã phân tích thực trạng quản lý nhà nước về du lịch
nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, từ đó xây dựng một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Luận văn Thạc sĩ Quản lý hành chính công của Phạm Quang Hưng,
Hà Nội, 2005 về “Tăng cường quản lý nhà nước về bảo vệ mội trường du lịch bền vững từ thực tiễn đảo Cát Bà” Tác giả tập trung đánh giá thực trạng
môi trường tác động tiêu cực và tích cực đến hoạt động du lịch, qua đó đề ra định hướng, giải pháp phù hợp cho phát triển du lịch bền vững ở đảo Cát Bà nói riêng và cho du lịch các vùng biển đảo nói chung
Ở Bà Rịa- Vũng Tàu, vấn đề du lịch cũng được đề cập đến rất nhiều qua các công trình khoa học, các hội thảo, bài báo:
- Luận văn Thạc sĩ kinh tế của Trần Quốc Nhật, Hà Nội, 1996 về “ Phát triển du lịch ở Bà Rịa- Vũng Tàu” Tác giả đã phân tích những hoạt
động của du lịch từ năm 1991 đến năm 1996 và đưa ra những giải pháp phát triển du lịch trong những năm tiếp theo
- Bảo tàng tổng hợp Bà Rịa- Vũng Tàu cũng phát hành cuốn sách “ Di tích, danh thắng Bà Rịa- Vũng Tàu”, Nxb Chính trị quốc gia, 1996 nhằm giới
thiệu, quảng bá những danh lam, thắng cảnh ở Bà Rịa- vũng Tàu tới du khách gần xa
- UBND tỉnh BRVT phối hợp với Sở du lịch phát hành ấn phẩm “ Sắc màu du lịch Bà Rịa- Vũng Tàu”, 2006 nhằm giới thiệu với du khách về các
địa điểm du lịch, các sản phẩm du lịch, các loại hình du lịch hấp dẫn ở Bà Rịa- Vũng Tàu
Trang 6- Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tại Bà Rịa- Vũng Tàu cũng biên soạn và giới thiệu đến các doanh nghiệp, các nhà đầu tư cuốn sách
“Bà Rịa- Vũng Tàu Festival Biển 2006- Du lịch và cơ hội đầu tư” nhằm
quảng bá những thông tin về du lịch, giới thiệu về các lĩnh vực hợp tác kinh tế
và thu hút đầu tư tại tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu
Trên đây là một số công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề du lịch nói chung và du lịch Bà Rịa- Vũng Tàu nói riêng đã được xuất bản Tuy nhiên, chưa có một công trình nào trực tiếp nghiên cứu về vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu trong qúa trình phát triển ngành kinh tế
du lịch Nhưng những cuốn sách, luận án, luận văn, bài báo…nói trên là nguồn tư liệu quý giúp tác giả kế thừa, phát triển để hoàn thành tốt đề tài của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
* Mục đích của đề tài
Làm rõ quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch của Đảng bộ tỉnh
Bà Rịa- Vũng Tàu (từ 1991- 2006) Chứng minh được sự năng động, sáng tạo của Đảng bộ trong lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch của tỉnh Qua đó, tổng kết những kinh nghiệm để tiếp tục phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng bộ trong việc phát triển kinh tế du lịch đáp ứng yêu cầu giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa
*Nhiệm vụ của đề tài
Để đạt được mục đích trên, đề tài đặt ra những nhiệm vụ cần phải giải quyết sau:
- Nêu bật được những lợi thế tiềm năng của tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu trong phát triển kinh tế du lịch
- Phân tích các chủ trương, chính sách của Đảng bộ tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu về phát triển kinh tế du lịch từ 1991- 2006
Trang 7- Đánh giá được những thành tựu và hạn chế trong quá trình lãnh đạo kinh tế du lịch của Đảng bộ tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu từ 1991- 2006
-Tổng kết những kinh nghiệm lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch của Đảng bộ để vận dụng những kinh nghiệm đó hiệu quả hơn trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hóa
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu
Dưới góc độ khoa học Lịch sử Đảng, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu trong lãnh đạo phát triển kinh tế
*Cơ sở lý luận: Dựa trên những quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước về lĩnh vực kinh tế du lịch Kế thừa có chọn lọc quan điểm của các tác giả về lĩnh vực kinh tế du lịch trong nhiều công trình nghiên cứu
* Cơ sở thực tiễn: Dựa trên cơ sở thực tiễn quá trình lãnh đạo của Đảng bộ
tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu trong lĩnh vực kinh tế du lịch, đồng thời có tham khảo một số tỉnh có cùng đặc điểm về phát triển du lịch như tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu
*Nguồn tư liệu
Đề tài thực hiện dựa trên các nguồn tư liệu sau:
- Các Văn kiện của Đảng từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay
- Các Nghị quyết của Hội nghị Trung ương Đảng qua các kỳ Đại hội
Trang 8- Các Văn kiện của Đảng bộ tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu qua các kỳ Đại hội
- Các Nghị quyết của Hội nghị Đảng bộ tỉnh qua các nhiệm kỳ Đại hội
- Các văn bản của Chính phủ chỉ đạo cho ngành du lịch
- Báo cáo của Tổng cục Du lịch
- Báo cáo của Sở du lịch tỉnh Bà Bịa- Vũng Tàu
- Các bài viết, công trình nghiên cứu đã được công bố rộng rãi trên báo, tạp chí, các luận văn, luận án về phát triển du lịch…
*Phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở phương pháp luận: Dựa trên quan điểm và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
- Phương pháp cụ thể: Sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, trong đó các phương pháp sử dụng chính là: Phương pháp lịch sử, logic, phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, tổng kết thực tiễn
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Trên cơ sở phân tích những chủ trương, chính sách của Đảng bộ tỉnh
Bà Rịa- Vũng Tàu trong lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch, đề tài góp phần làm rõ sự đúng đắn, năng động, sáng tạo trong lãnh đạo phát triển kinh tế của Đảng nói chung và Đảng bộ tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu nói riêng
- Đề tài có thể làm tư liệu cho Đảng bộ tỉnh nghiên cứu phục vụ cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo phát triển ngành kinh tế du lịch tỉnh nhà
- Đề tài dùng làm tư liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy môn Lịch sử Đảng ở phần “Đảng lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa và công cuộc đổi mới” (khi liên hệ ở địa phương)
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm có hai chương, 7 tiết:
Trang 9Chương 1
VAI TRÒ VÀ NHỮNG LỢI THẾ, TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN KINH
TẾ DU LỊCH CỦA TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
1.1 Vai trò của du lịch trong sự phát triển kinh tế- xã hội
Từ thời xa xưa, du lịch được ghi nhận như một sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi của con người Du lịch là một trong những nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống xã hội loài người Du lịch bắt nguồn từ những cuộc di chuyển của con người từ nơi này đến nơi khác trên thế giới để khám phá thiên nhiên và tìm hiểu nền văn hóa ngoài nơi họ sinh sống
Ngày nay, du lịch không chỉ là hoạt động nghỉ ngơi mà còn là hoạt động kinh tế tồn tại phổ biến ở nhiều quốc gia, nhất là những quốc gia có nền kinh tế phát triển Tuy nhiên, cho đến nay khái niệm về du lịch chưa có sự thống nhất, tùy thuộc vào hoàn cảnh, thời gian và góc độ nghiên cứu mà người ta có những cách hiểu về du lịch khác nhau
Nhà khoa học Guer Freuler (Đức) đưa ra quan niệm: “Du lịch là một hiện tượng của thời đại chúng ta, dựa trên sự tăng trưởng về nhu cầu khôi phục sức khỏe và sự đổi thay của môi trường xung quanh, dựa vào sự phát sinh, phát triển những tình cảm đối với vẻ đẹp của tự nhiên”[25, tr.8 ]
Nhà kinh tế học Kalfiotis cho rằng: “Du lịch là sự di chuyển tạm thời của cá nhân hay tập thể từ nơi ở đến một nơi khác nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần, đạo đức và do đó tạo nên các hoạt động kinh tế” [ 25,tr.8]
Năm 1963, tại Hội nghị Liên Hợp Quốc về du lịch ở Roma (Italia), các nhà khoa học tham gia đã thống nhất đưa ra một định nghĩa có tính quốc tế
về du lịch và được Tổ chức Du lịch thế giới (WTO) chính thức thông qua là:
“Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên
Trang 10ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ” [25,tr.9]
Ngày 28-6-1991, tại Hội nghị quốc tế về lữ hành và thống kê du lịch ở
Canađa, người ta lại đưa ra quan niệm: “ Du lịch là hoạt động của con người
đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình) trong một khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước Mục đích của chuyến đi không phải để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm”[29, tr.15]
Điều 4, Chương I, Luật Du lịch nước ta quy định: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”[45 ]
Ngày nay, trong xu thế hội nhập, du lịch không còn bó hẹp trong phạm
vi của một quốc gia hay một khu vực mà phát triển rộng khắp toàn thế giới
Du lịch không chỉ đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí mà có thể thông qua du lịch để hợp tác, đầu tư, liên kết, liên doanh…
Du lịch có vai trò rất lớn đối với sự phát triển kinh tế- xã hội, là một trong những ngành kinh tế hấp dẫn và ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong thu nhập quốc dân của nhiều quốc gia Hội đồng Lữ hành và Du lịch Quốc tế (World Travel Tourism Council- WTTC ) đã công nhận du lịch là một ngành kinh tế lớn nhất thế giới Theo Tổ chức Du lịch thế giới (WTO ) lượng khách
du lịch quốc tế trong các năm từ 1995 đến năm 2000 và dự báo đến năm
2020 (Xem biểu đồ 1.1: Hiện trạng và dự báo mức tăng trưởng khách du lịch quốc tế trên thế giới đến năm 2020)
Trang 11Biểu đồ 1.1: Hiện trạng và dự báo mức tăng trưởng khách du lịch quốc tế
trên thế giới đến năm 2020
Lượt khách quốc tế (triệu)
Năm 2020, số lượt khách quốc tế vượt 1,6 tỷ (Nguồn: WTO)
Tổ chức du lịch thế giới (WTO) cũng đã thống kê được mức tăng trưởng thu nhập du lịch quốc tế từ năm 1996 là 423 tỷ USD đến năm 2000
tăng lên 476 USD và dự báo đến năm 2020 tăng lên là 2000 USD (Xem Biểu
đồ 1.2: Hiện trạng và dự báo mức tăng trưởng thu nhập du lịch quốc tế đến năm 2020)
Ở nhiều nước, du lịch đã chiếm tỷ trọng trên 10% GDP, có nước chiếm 20% GDP, thu nhập hàng năm của du lịch là hàng tỷ USD Với nguồn thu nhập ngoại tệ tăng như vậy, nhiều nước đã coi du lịch là một ngành kinh tế mũi nhọn, có khả năng vực dậy nền kinh tế quốc dân Các quốc gia trong khu vực như Thái Lan, Singapo, Malaixia, Philippin đã thoát khỏi nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu và nhanh chóng giàu lên nhờ phát triển nền công nghiệp
du lịch Mỗi năm những nước này đều vược qua con số đón 5 triệu lượt khách
và thu nhập hàng tỷ USD từ du lịch Năm 2000, Malaixia đón 10 triệu lượt
Trang 12khách quốc tế, Thái Lan đón 9 triệu, Singapo đón 7 triệu Việt Nam và Philippin là hai nước có số lượng khách quốc tế cao hơn so với các nước ở Đông nam Á nhưng cũng chỉ bằng 1/3 so với các nước nói trên
Biểu đồ 1.2: Hiện trạng và dự báo mức tăng trưởng thu nhập du lịch
Năm 2020 thu nhập du lịch đạt con số 2000 tỷ USD (Nguồn: WTO)
Du lịch hiện nay được xem là một ngành công nghiệp không khói chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Du lịch phát triển sẽ thu hút được một lực lượng lao động trực tiếp và gián tiếp vào quá trình hoạt động phục vụ du khách, thúc đẩy và kích thích sản xuất hàng hóa của các ngành kinh tế như: xây dựng, ăn uống, thủ công mỹ nghệ, giao thông vận tải, bưu điện… góp phần quan trọng tạo nguồn thu ngoại tệ cho ngân sách, tác động tổng hợp tới quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy các ngành kinh tế khác cùng phát triển
Du lịch phát triển còn có tác động đến việc chăm lo cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội như: xây dựng đường xá, bến cảng, nhà cửa, trường
Trang 13học, bệnh viện, tôn tạo các di tích lịch sử, văn hóa… làm cho diện mạo đô thị, nông thôn chỉnh trang, sạch đẹp hơn và đời sống nhân dân khá lên
Du lịch không chỉ đem lại những lợi ích kinh tế- xã hội mà còn góp phần tăng cường mối quan hệ quốc tế, củng cố hòa bình, thúc đẩy giao lưu văn hóa giữa các nước
Nhận thức rõ tầm quan trọng của kinh tế du lịch và việc quản lý phát triển du lịch, ngày 19/7/2007 tại Hammamet-Tuynidi, Tổ chức Du lịch thế giới (WTO) đã nhóm họp với sự tham dự của 95 quốc gia, để xem xét vai trò của du lịch trong quan hệ với các xu thế vận động toàn cầu và kết luận như sau:
Du lịch vượt qua những trở ngại về chính trị, tư tưởng, tạo nền tảng cơ bản duy nhất cho sự cởi mở, đối thoại văn hóa giữa các quốc gia, tăng cường
sự hiểu biết lẫn nhau và phát triển hòa bình
Sự đi lại của khách du lịch trên toàn cầu với mục đích kinh doanh và giải trí đã trở thành một nhân tố quan trọng trong sự phát triển hài hòa của xã hội hiện tại Quyền đi du lịch nhằm giao lưu, phám phá, kinh doanh thương mại và trải nghiệm là một nhân tố gắn kết ngày càng quan trọng trong thế giới toàn cầu hóa
Ngành du lịch tiếp tục đóng góp một cách bền vững và mạnh mẽ đối với sự tăng trưởng kinh tế toàn cầu và mỗi đất nước, tạo ra việc làm, thúc đẩy giao lưu thương mại, đem lại nhiều lợi ích cho các nước đang phát triển và các khu vực nghèo tại tất cả các quốc gia
Cùng với sự quản lý bền vững, ngành du lịch có thể góp phần lâu dài vào sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia và thế giới Du lịch là ngành liên ngành có thể hổ trợ cho nhiều ngành kinh tế ở cấp độ quốc gia, khu vực, toàn cầu, cụ thể là cơ sở hạ tầng, thông tin và đầu tư
Trang 14Du lịch đóng vai trò góp phần giải quyết hai khó khăn lớn trong thời đại hiện nay- đó là vấn đề nghèo đói và thay đổi khí hậu
Việt Nam ở khu vực Đông Nam Á- nơi diễn ra những hoạt động kinh tế
du lịch sôi động Việt Nam còn có vị trí địa lý, kinh tế và giao lưu quốc tế thuận lợi, có chế độ chính trị ổn định là những điều kiện tốt để du lịch phát triển Thực tế cho thấy trong thời gian qua, du lịch Việt Nam ngày càng trở thành một ngành kinh tế quan trọng và năng động Năm 2005 với 18 triệu lượt khách du lịch, trong đó 3,2 triệu lượt khách quốc tế , đạt doanh thu 30.000 tỷ đồng, du lịch đã đóng góp đáng kể vào tăng trưởng GDP của đất nước Việt Nam phấn đấu đến năm 2010 sẽ đón 5 - 6 triệu lượt khách quốc tế, nhịp độ
tăng trưởng bình quân 11,4%/ năm và 25 triệu lượt khách nội địa (Xem biểu đố1.3: Dự báo khách du lịch quốc tế và nội địa của việt Nam đến 2010)
Biểu đố1.3: Dự báo số lượt khách du lịch quốc tế và nội địa
Của Việt Nam đến năm 2010
Trang 15Dự tính thu nhập du lịch năm 2010 đạt 4- 4,5 tỷ USD đưa tổng sản
phẩm du lịch đạt 6,5% tổng GDP của cả nước (Xem biểu đồ 1.4: Dự báo thu nhập du lịch của việt Nam đến năm 2010)
Biểu đồ 1.4: Dự báo thu nhập du lịch của Việt Nam đến 2010
Đối với tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu- vùng đất giàu tiềm năng về du lịch thì kinh tế du lịch được xác định là một ngành mũi nhọn, chiếm vị trí hết sức quan trọng, là nguồn mang lại ngoại tệ cho tỉnh nhanh và đầy triển vọng
Trang 16Năm 1991, tổng doanh thu của ngành du lịch đạt 85 tỷ VNĐ và 1,6 triệu USD Nếu tính theo cơ cấu kinh tế của tỉnh năm 1994 thì giá trị sản xuất của ngành dịch vụ chiếm 48% trong lúc đó nông nghiệp chiếm 34% và công nghiệp chiếm 18% Năm 1995 ngành du lịch đạt gần 500 tỷ VNĐ vượt mức
dự kiến theo kế hoạch 70 tỷ
Từ 1996- 2000 doanh thu du lịch từ 290 tỷ đồng tăng lên 477 tỷ đồng Năm 1999, tổng doanh thu toàn ngành = 10% doanh thu du lịch của cả nước, tăng 11% so với năm 1998 Tổng doanh thu 5 năm đạt 2.070 tỷ đồng, tăng 8,5%/ năm
Từ 2000-2005 doanh thu ngành du lịch tăng 1.87 lần, tốc độ tăng bình quân 13,29%/ năm
Du lịch phát triển sẽ góp phần tăng nhanh nguồn thu cho tỉnh, nhất là nguồn thu ngoại tệ, thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển theo, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, góp phần thực hiện xóa đói giảm nghèo Du lịch phát triển cơ sở hạ tầng sẽ được đầu tư đồng bộ làm cho bộ mặt đô thị khang trang hơn, tạo cho tỉnh vị thế mới Thông qua hoạt động du lịch, bạn bè trong nước và khách du lịch quốc tế sẽ biết đến Bà Rịa- Vũng Tàu nhiều hơn, đây cũng là một kênh thông tin tạo điều kiện để thu hút đầu tư
Có thể khẳng định rằng, du lịch có vai trò rất quan trọng đóng góp rất nhiều vào thành tựu chung phát triển kinh tế- xã hội Hiện nay, du lịch được đánh giá là một ngành kinh tế quan trọng trong cơ cấu kinh tế của nhiều nước
và được coi là một trong những ngành kinh tế hàng đầu của nền kinh tế thế giới
1.2 Những tiềm năng, lợi thế phát triển kinh tế du lịch của tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu
1.2.1 Đặc điểm lịch sử, địa lý tự nhiên
Trang 17Năm 1698, mảnh đất Bà Rịa - Vũng Tàu chính thức được khai sinh, khi mà chúa Nguyễn Phúc Chu cử Thống suất Lê Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lý vùng Đồng Nai- Gia Định, lập ra phủ Gia Định gồm hai huyện Phước Long và Tân Bình Huyện Phước Long được chia làm 4 tổng trong đó có Phước An là phần đất ngày nay của tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu
Năm 1808, Gia Long đổi trấn Gia Định làm Gia Định thành, vùng đất
Bà Rịa- Vũng Tàu được gọi là huyện Phước An, thuộc trấn Biên Hòa, thành Gia Định
Năm 1832, cơ cấu hành chính được thay đổi, bỏ cấp Gia Định thành ,
Bà Rịa- Vũng Tàu lúc này thuộc huyện Phước An của tỉnh Biên Hòa
Năm 1850, phủ Phước Tuy được nhà Nguyễn đặt lại gồm 2 huyện Long Thành và Phước An
Ngày 05 tháng 06 năm 1862, Hòa ước Nhâm Tuất được ký kết gồm 12 khoản, trong đó có 3 khoản ghi: nhường trọn chủ quyền cho Pháp 3 tỉnh là Biên Hòa (trong đó có vùng đất Bà Rịa- Vũng Tàu), Gia Định, Định Tường
và đảo Côn Lôn
Tháng 4 năm 1865, Phủ Phước Tuy được đổi thành Sở tham biện Bà Rịa
Năm 1876, Phủ Phước Tuy trở thành tỉnh Bà Rịa mới
Năm 1887, thực dân Pháp chia tỉnh Bà Rịa thành Bà Rịa và Cap Saint Jacques (Vũng Tàu)
Ngày 01 tháng 5 năm 1895, thực dân Pháp thành lập thành phố Cap Saint Jacques (Vũng Tàu)
Năm 1899, thực dân Pháp lập lại tỉnh Bà Rịa bao gồm cả thành phố Vũng Tàu
Năm 1929, thành phố Vũng Tàu được tách ra khỏi Bà Rịa để thành lập một tỉnh mới có tên là Cap Saint Jacques
Trang 18Tháng 5 năm 1951, Xứ ủy và Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ quyết định hợp nhất 2 tỉnh Bà Rịa và Chợ Lớn thành Tỉnh Bà- Chợ
Năm 1955, tỉnh Bà -Chợ được tách ra làm hai tỉnh: Bà Rịa và Chợ Lớn Tỉnh Bà Rịa lúc này gồm các huyện Xuyên Mộc, Long Điền, Đất Đỏ, Châu Thành, Thị xã Vũng Tàu và Cần Giờ
Tháng 10 năm 1956, chính quyền Sài Gòn cải tổ địa giới hành chính các tỉnh Nam Bộ, sát nhập Vũng Tàu vào Bà Rịa, đổi tên thành tỉnh Phước Tuy
Tháng 3 năm 1963, theo chủ trương của Khu ủy miền Đông, 2 tỉnh Biên Hòa và Bà Rịa sát nhập thành tỉnh Bà Biên
Tháng 12 năm 1963, tỉnh Bà Biên bị giải thể chia thành hai tỉnh Bà Rịa
Tháng 8 năm 1972, Trung ương Cục quyết định thành lập lại Khu ủy miền Đông Nam Bộ, thành lập lại tỉnh Bà Rịa - Long Khánh gồm các huyện Định Quán, Xuân Lộc, Long Khánh, Cao Su, Châu Đức, Long Đất, Xuyên Mộc, thị xã Cấp và thị xã Bà Rịa
Ngày 30 tháng 5 năm 1979, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quyết định thành lập Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo
Trang 19Ngày 12 tháng 9 năm 1991, Quốc hội khóa VII kỳ họp thứ 9 quyết định thành lập tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trên cơ sở Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo và
3 huyện Long Đất, Châu Thành, Xuyên Mộc tách từ tỉnh Đồng Nai
Tháng 12 năm 2001, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu
tổ chức kỷ niệm 10 năm thành lập tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thuộc khu vực miền Đông Nam Bộ, nằm trong vùng trọng điểm kinh tế phía Nam, có diện tích tự nhiên khoảng 2.006 km2 , dân số khoảng 800.000 người
Lãnh thổ của tỉnh gồm hai phần: đất liền và hải đảo Bà Rịa- Vũng Tàu
có địa giới hành chính chung dài 16,33 km với thành phố Hồ Chí Minh ở phía Tây; 116,5 km với Đồng Nai ở phía Bắc; 29,26 km với Bình Thuận ở phía Đông; phía Nam và Tây Nam là biển Đông; chiều dài bờ biển hơn 100 km với trên 100.000 km2 thềm lục địa Bà Rịa- Vũng Tàu nằm trên trục đường xuyên Á, có hệ thống cảng biển, sân bay và mạng lưới đường sông, đường biển thuận lợi Các đường quốc lộ 51,55,56 cùng với hệ thống đường tỉnh lộ, huyện lộ là những mạch máu chính gắn kết quan hệ toàn diện của Bà Rịa- Vũng Tàu với các tỉnh khác trong cả nước và quốc tế
Địa hình của tỉnh bao gồm núi, đồi, đồng bằng nhỏ và các đồi cát, dải cát chạy vòng theo bờ biển Phần đất liền chiếm 96% diện tích của tỉnh, quần đảo Côn Đảo chiếm 4% diện tích của tỉnh gồm 16 đảo lớn nhỏ, trong đó đảo Côn Sơn có diện tích lớn nhất rộng 57,5 km2, cách Vũng Tàu 180 km
Toàn tỉnh có hơn ¾ diện tích đồi núi, thung lũng thấp, có trên 50 ngọn núi cao 100 m trở lên, khi ra biển tạo thành nhiều vũng, vịnh, mũi, bán đảo, đảo
Bà Rịa - Vũng Tàu thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, từ tháng 5 đến tháng 10 có gió mùa Tây Nam, thời gian này là mùa mưa Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau có gió mùa Đông Bắc, thời gian này là mùa khô Nhiệt
Trang 20độ trung bình hàng năm 27°C, ít gió bão, giàu ánh nắng Khí hậu Bà Rịa- Vũng Tàu nhìn chung mát mẻ, rất phù hợp với du lịch
Nguồn nước của Bà Rịa- Vũng Tàu chủ yếu do ba con sông lớn cung cấp, đó là sông Thị Vải, đoạn chảy qua tỉnh dài 25 km; sông Dinh đoạn chảy qua tỉnh dài 30 km; sông Ray dài 120 km trên các con sông này có 3 hồ chứa nước lớn là hồ Đá Đen, hồ sông Ray, hồ Châu Pha
Bà Rịa- Vũng Tàu có hai khu rừng nguyên sinh là khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu- Phước Bửu có diện tích 11,392 ha và khu vườn quốc gia Côn Đảo diện tích gần 5.998 ha Rừng Bà Rịa- Vũng Tàu có tầm quan trọng rất lớn trong tạo cảnh quan, môi trường, phòng hộ và phát triển du lịch
Tài nguyên khoáng sản Bà Rịa- Vũng Tàu rất phong phú và đa dạng, đáng kể nhất là dầu mỏ, khí thiên nhiên và khoáng sản làm vật liệu xây dựng Tổng trữ lượng tiềm năng dầu khí theo xác minh năm 2000 vào khoảng 2.500- 3.500 triệu m3 Khoáng sản làm vật liệu xây dựng gồm: đá xây dựng,
đá ốp lát, cát thủy tinh, cao lanh, cát xây dựng…Hiện nay, tỉnh đã xây dựng
19 mỏ với tổng trữ lượng 32 tỷ tấn, phân bố hầu khắp các huyện trong tỉnh
Bà Rịa- Vũng Tàu được thiên nhiên ưu đãi có chiều dài bờ biển hơn 100km, trong đó khoảng 70 km có bãi cát thoai thoải, nước xanh, có thể dùng làm bãi tắm quanh năm Với diện tích thềm lục địa trên 100.000 km2đã tạo cho tỉnh không những có vị trí quan trọng về an ninh quốc phòng, mà còn tạo
ra một tiềm năng to lớn để phát triển kinh tế biển Thềm lục địa của Bà Rịa- Vũng Tàu có 661 loài cá, 35 loài tôm, 23 loài mực, hàng ngàn loài tảo, trong
đó có nhiều loài có giá trị kinh tế cao Trữ lượng hải sản có thể khai thác tối
đa hàng năm từ 150.000 – 170.000 tấn
Đặc điểm lịch sử, địa lý tự nhiên nói trên của Bà Rịa- Vũng Tàu rất thuận lợi cho phát triển kinh tế du lịch, và nhiều ngành kinh tế khác
Trang 211.2.2Tình hình kinh tế, xã hội
Bà Rịa- Vũng Tàu thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Hoạt động kinh tế của tỉnh trước hết phải nói về tiềm năng dầu khí Trữ lượng, tài nguyên dầu khí đã đưa Bà Rịa- Vũng Tàu trở thành một trung tâm khai thác
và chế biến dầu khí lớn nhất Việt Nam Trên thềm lục địa Đông Nam Bộ, tỷ lệ các mũi khoan thăm dò, tìm kiếm gặp dầu khí khá cao, tại đây đã phát hiện các mỏ dầu có giá trị thương mại lớn như: Bạch Hổ (175- 300 triệu thùng),
Mỏ Rồng (100-150 triệu thùng), Đại Hùng (300- 600 triệu thùng), Thanh Long (250- 500 triệu thùng) Sản lượng khai thác dầu thô của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đạt khoảng 15 triệu tấn/ năm, đưa Việt Nam trở thành quốc gia thứ
4 ở Đông Nam Á và 44 trên thế giới về khai thác dầu thô và xuất khẩu dầu, đóng góp một phần quan trọng trong GDP của tỉnh
Ngoài lĩnh vực khai thác dầu khí, Bà Rịa -Vũng Tàu còn là một trong những trung tâm năng lượng, công nghiệp nặng, du lịch, cảng biển của cả nước Trung tâm điện lực Phú Mỹ và nhà máy điện Bà Rịa chiếm 40% tổng công suất điện năng của cả nước ( 4000MW trên tổng số gần 10.000 MW của
cả nước) Tỉnh hiện có 7 khu công nghiệp: Đông Xuyên, Mỹ Xuyên A1, Phú Mỹ I, Mỹ Xuân A, Mỹ Xuân A2, Mỹ Xuân B1, Cái Mép Các khu công nghiệp này đã được Chính phủ quy hoạch để triển khai đầu tư và xây dựng hạ tầng kỹ thuật cơ bản Công nghiệp nặng có: sản xuất phân đạm urê (800.000 tấn/năm), sản xuất polyethylene (100.000 tấn/năm), sản xuất clinker, sản xuất thép…
Về lĩnh vực cảng biển, kể từ khi Chính phủ có chủ trương di dời các cảng tại nội ô Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa- Vũng Tàu trở thành trung tâm cảng biển chính của khu vực Đông Nam Bộ Hệ thống các cảng biển, cảng sông, kho bãi được hình thành bao gồm các cụm cảng phục vụ dầu khí, khu công nghiệp, xuất nhập khẩu, thủy sản đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế trên
Trang 22địa bàn Các cảng lớn tập trung chủ yếu ở Vũng Tàu, Thị Vải, nơi có độ sâu đảm bảo cho tàu có tải trọng trên 50.000 tấn cập cảng
Bà Rịa- Vũng Tàu được thiên nhiên ưu đãi với bờ biển dài và nhiều bãi cát đẹp, nhiều danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử nổi tiếng Do đó ngành
du lịch đang phát triển thành ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp đáng kể vào
sự tăng trưởng của tỉnh Mỗi năm, tỉnh đón khoảng 3,6 - 4,4 triệu lượt khách đến tham quan nghỉ ngơi, vui chơi tắm biển Sự gắn kết của các điều kiện tự nhiên (các bãi tắm, rừng nguyên sinh, các ngọn núi…) và các danh lam thắng cảnh, các di tích lịch sử, văn hóa trên địa bàn tỉnh, kết hợp với kết cấu hạ tầng khá đã tạo cho Bà Rịa- Vũng Tàu có thế mạnh vượt trội về du lịch Ngành du lịch đang thu hút được nhiều thành phần kinh tế tham gia, đặc biệt là các
dự án liên doanh, liên kết của các công ty du lịch trong và ngoài nước
Biển Bà Rịa - Vũng Tàu có vùng nước sâu, tiếp cận hải lưu và cửa sông lớn giàu phù sa thu hút nhiều sinh vật biển, nhiều loại thức ăn thực vật tạo nên một vùng có môi trường sinh trưởng tốt cho cá Nước biển ấm quanh năm, đáy biển bằng phẳng, có diện tích lớn với nhiều cửa sông, cửa rạch chảy vào nên rất phong phú về chủng loại hải sản.Theo tài liệu điều tra, biển Bà Rịa- Vũng Tàu có trên 661 loài cá, 35 loài tôm, 23 loài mực, khả năng cho phép khai thác các loại hải sản khoảng 200.000 tấn/ năm Hiện nay, toàn tỉnh có trên 4.600 tàu đánh cá với công suất 408.200CV, trong đó tàu có công suất khai thác vùng ngoài khơi hơn 2000 chiếc
Mặc dù công nghiệp, dịch vụ chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế của tỉnh, nhưng nông nghiệp cũng có những thế mạnh nhất định Diện tích đất nông nghiệp toàn tỉnh là 126.973 ha, trong đó diện tích đất gieo trồng cây hàng năm là 68.500 ha, cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả là 58.473 ha Quỹ đất của tỉnh rất đa dạng, phong phú, có 9 trong tổng số 12 nhóm đất của toàn quốc, trong đó có nhóm đất đỏ bazan thuộc loại rất tốt, có diện tích gần
Trang 2364.000 ha thích hợp để phát triển cây công nghiệp dài ngày và cây màu như cao su, cà phê, điều, tiêu, cây ăn trái…
Hiện nay, kinh tế của tỉnh chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa với cơ cấu “công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp”
Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có 8 đơn vị hành chính:
Thành phố Vũng Tàu, là đô thị loại II, có diện tích tự nhiên 177,6 km2 ; dân số khoảng 220.000 người, hiện là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh Thành phố Vũng Tàu là một bán đảo gồm 17 phường và một xã đảo Long Sơn Vũng Tàu đã có tuổi đời hơn một trăm năm kể từ khi cái tên Cap Saint Jacques (tên Vũng Tàu xưa) ra đời vào năm 1895 Vũng Tàu có vị trí đặc biệt quan trọng, ba mặt giáp biển, là cửa ngỏ phía Nam của Việt Nam rất thuận lợi cho việc phát triển quan hệ giao lưu quốc tế Theo quy hoạch xây dựng tổng thể thành phố Vũng Tàu được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, nơi đây sẽ là thành phố du lịch, cảng biển, dầu khí, và là trung tâm tài chính thương mại Trong chiến lược phát triển kinh tế của cả nước và vùng Đông Nam Bộ, Vũng Tàu có vị trí đặc biệt quan trọng cùng với thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương hình thành một vùng kinh tế trọng điểm của cả nước Do có bờ biển dài trên 70 km, nhiều bãi biển đẹp, nên thành phố Vũng Tàu có một ưu thế rất lớn trong phát triển du lịch
Thị xã Bà Rịa, có diện tích tự nhiên khoảng 90 km2 , dân số trên 80.000 người Bà Rịa được nâng cấp thành thị xã vào năm 1995 gồm có 7 phường và 2 xã Thị xã Bà Rịa được xe như là đô thị thứ hai sau thành phố Vũng Tàu.Tương lai Bà Rịa sẽ trở thành đô thị loại II và là trung tâm hành chính, đào tạo, khoa học kỹ thuật, công nghiệp và văn hóa của tỉnh
Huyện Long Điền, diện tích tự nhiên là 7.699.36 ha; dân số khoảng 110.485 người; có 7 đơn vị hành chính gồm 5 xã và 2 thị trấn Huyện Long Điền được tách ra từ huyện Long Đất và đi vào hoạt động từ tháng 01 năm
Trang 242004 Huyện Long Điền có 15 km bờ biển với nhiều bãi tắm lý tưởng, có
thương hiệu “Du lịch Long Hải” Hiện nay, huyện đang hình thành các điểm
du lịch sinh thái rừng- biển ở khu vực Cửa Lấp- Phước Tỉnh- Phước Hưng, Long Hải, Đèo Nước Ngọt, chân núi Minh Đạm
Huyện Đất Đỏ, là huyện ven biển của tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu được chia tách từ huyện Long Đất vào cuối năm 2003 Diện tích tự nhiên 18.957.63 ha; dân số 62.683 người; có 8 đơn vị hành chính Huyện Đất Đỏ có rất nhiều các
di tích lịch sử thu hút du khách đến tham quan, trong đó có ngôi nhà tưởng niệm nữ anh hùng Võ Thị Sáu
Huyện Xuyên Mộc, là một huyện nông nghiệp, có diện tích tự nhiên là 64.219 ha, dân số trên130.000 người Đến Xuyên Mộc, du khách có thể tham quan, nghỉ dưỡng ở khu du lịch sinh thái Bình Châu- Phước Bửu, tắm suối nước nóng Bình Châu
Huyện Tân Thành, là một huyện cửa ngõ của tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu Tổng diện tích đất tự nhiên là 341, 52 km dân số hơn 92.000 người, đơn vị hành chính có 8 xã và 1 thị trấn Trong tương lai, các khu công nghiệp sẽ là yếu tố quan trọng thúc đẩy sản xuất công nghiệp phát triển Với ưu thế về địa
lý, thế mạnh về công nghiệp – dịch vụ, thương mại, huyện Tân Thành đã trở thành một trong ba địa phương có nền công nghiệp phát triển mạnh nhất của tỉnh
Huyện Châu Đức, có diện tích tự nhiên khoảng 422,598 km2 , dân số 143,997 người, đơn vị hành chính có 13 xã và một thị trấn Châu Đức là một huyện có tiềm năng lớn về sản xuất nông nghiệp, với ưu thế có một vùng đất
đỏ bazan, huyện đã xác định phát triển kinh tế theo cơ cấu “nông nghiệp-dịch vụ-công nghiệp”, trong đó nông nghiệp được coi là mặt trận hàng đầu Trong
13 năm qua , kể từ khi thành lập(2-6-1994), nông nghiệp luôn là ngành kinh
tế mũi nhọn và là niềm tự hào trong phát triển kinh tế của huyện Đến Châu
Trang 25Đức, du khách có thể tham gia lễ hội Cồng Chiêng của bà con dân tộc Châu
Các dân tộc sinh sống trên địa bàn tỉnh gồm: Dân tộc kinh chiếm đa số khoảng 97,25%, dân tộc Hoa chiếm khoảng 1,73%, dân tộc Tày chiếm
khoảng 0,07%, dân tộc Khơ Me chiếm khoảng 0,15%, dân tộc Châu Ro
chiếm khoảng 0,06%, còn lại các dân tộc khác chiếm tỷ lệ không đáng kể
1.2.3 Những tiềm năng phát triển kinh tế du lịch
Bà Rịa- Vũng Tàu là một trong bảy khu vực trọng điểm ưu tiên phát triển du lịch của cả nước, một địa bàn du lịch có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống tuyến điểm du lịch của vùng du lịch Nam Trung Bộ- Nam Bộ nói riêng và của cả nước nói chung Ngoài những lợi thế về điều kiện tự nhiên
và kinh tế xã hội, Bà Rịa- Vũng Tàu còn có rất nhiều thuận lợi khác để phát triển kinh tế du lịch
Tiềm năng du lịch tự nhiên:
Tiềm năng du lịch tự nhiên là những hiện tượng, cảnh quan, môi trường mà thiên nhiên ưu ái ban tặng, được con người đưa vào khai thác phục
vụ cho hoạt động du lịch
Trước hết, Bà Rịa- Vũng Tàu có vị trí địa lý rất quan trọng nằm trên đường giao lưu hàng hải quốc tế, nối liền Thái Bình Dương sang Ấn Độ
Trang 26Dương và vùng Đông Bắc Á; có hệ thống đường biển, đường sông, đường hàng không và đường bộ thuận lợi Phía Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận, phía Tây giáp huyện Cần Giờ của Thành phố Hồ Chí Minh, phía Nam và Đông giáp biển Bà Rịa- Vũng Tàu có quốc lộ 56 đi Đồng Nai, quốc lộ 55 đi Bình Thuận, quốc lộ 51 đi huyện Cần Giờ Vũng Tàu cách Thành phố Hồ Chí Minh 129 km, cách Biên Hòa 95 km, cách Nha Trang 513
km Từ Hồ Chí Minh đến Vũng Tàu có 6 tuyến xe chất lượng cao xuất phát từ chợ Bến Thành và bến xe miền Đông, 30 phút có một chuyến, thời gian chạy
từ 2,5 đến 3 giờ Ngoài ra còn có tàu cánh ngầm Hồ Chí Minh- Vũng Tàu, 15 phút một chuyến, chạy mất 75 phút Mỗi tuần có nhiều chuyến bay từ Hồ Chí Minh đi Côn Đảo và ngược lại
Bà Rịa- Vũng Tàu được sự ưu đãi của khí hậu, mặc dù nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhưng không có mùa đông, nhiệt độ trung bình hàng năm từ 26 -29oC, ít gió bão và nhiều ánh nắng Theo đánh giá của Viện Nghiên cứu phát triển du lịch, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu có khí hậu thuận lợi nhất
so với cả nước để phát triển du lịch Do vậy, các khu du lịch có thể hoạt động quanh năm
Bà Rịa- Vũng Tàu có chiều dài bờ biển 156 km trong đó có 72 km là vũng, vịnh và bãi tắm đẹp, với bãi cát dài thoai thoải, làn nước trong xanh quanh năm như: bãi Sau, bãi Trước, bãi Dâu, bãi Dứa ( thuộc thành phố Vũng Tàu); Bãi tắm Long Hải (huyện Long Đất); Bãi tắm Hồ Tràm, Hồ Cốc (huyện Xuyên Mộc); Bãi tắm Đất Dốc, bãi Đầm Trâu, bãi Hòn Tre (huyện Côn Đảo)…là những bãi tắm lý tưởng cho du khách Đến đây du khách có thể nghỉ ngơi và thường thức các món ăn đặc sản miền biển
Bà Rịa –Vũng Tàu có nhiều núi tập trung phần lớn ở phía Tây và Tây Nam như: núi Lớn, núi Nhỏ…đó là những điểm tựa che chắn gió tạo thành
Trang 27những vịnh nhỏ lặng sóng cho thuyền bè neo đậu và du khách tắm biển an toàn
Đặc biệt, Bà Rịa- Vũng Tàu có các khu rừng nguyên sinh thu hút khách
du lịch sinh thái và du lịch khảo cứu Đó là vườn quốc gia Côn Đảo với 16 hòn đảo lớn nhỏ, tổng diện tích của vườn là 19.998 ha, trong đó có 5.998 ha trên các đảo và 14.000 ha trên biển Vườn quốc gia còn có 20.500 ha vùng đệm trên biển Rừng ở vườn quốc gia chủ yếu là rừng nguyên sinh, thuộc hệ sinh thái rừng nhiệt đới hải đảo và rất phong phú về thực vật, động vật quý hiếm Qua thống kê, rừng Côn Đảo có tới 882 loài thực vật, 135 loài động vật
có xương sống ở cạn, 8 loài lưỡng thê, có 4 loài chim chỉ duy nhất có ở Côn Đảo, 25 loài bò sát, 34 loài ốc Dưới lòng đại dương, có trên 250 loài san hô
và sự tồn tại của chúng là môi trường sống cho các nguồn lợi thủy sản được phát sinh và phát triển Đã có hơn 1.300 loài sinh vật biển được tìm thấy, có những loài động vật biển nổi tiếng như rùa, vích, đồi mồi, Dugong (bò biển),
cá heo Trong các loài động, thực vật kể trên, có khoảng 30 loài động, thực vật quý hiếm được ghi vào “sách đỏ Việt Nam” Vườn quốc gia Côn Đảo còn
là khu vực sinh thái duy nhất ở nước ta có chương trình nghiên cứu và bảo tồn loài bò biển (Dugong) quý hiếm Ngày 01 tháng 3 năm 1984 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng có quyết định số 85/CP công nhận rừng Côn Đảo là rừng cấm Quốc gia Đến với rừng quốc gia Côn Đảo, du khách như đến với thiên đường của du lịch sinh thái
Rừng nguyên sinh Bình Châu- Phước Bửu (huyện Xuyên Mộc) với diện tích 11.392 ha, trong đó có 4.065 ha là khu vực đầm nước sôi, có 15 km
bờ biển bao bọc phía Nam Khu vực Bình Châu có các cụm đồi núi nhỏ, với
hệ động thực vật rất phong phú, đa dạng Suối nước nóng Bình Châu (huyện Xuyên Mộc), cách bờ biển khoảng 3-4 km và nằm sát khu rừng nguyên sinh
Trang 28Bình Châu- Phước Bửu, do người Pháp phát hiện năm 1905, gọi là suối khoáng nóng Cù Mi (tên làng của đồng bào dân tộc Châu ro) Năm 1928, trên tạp chí “Nghiên cứu Đông Dương”, bác sỹ người Pháp Albert Sallet đã giới thiệu về mạch Cù Mi Đó là thời điểm suối nước nóng Bình Châu được nhiều người biết tới Suối này có công suất 8m3 /giây với 70 điểm phun; vùng suối khoáng nóng rộng khoảng 1km2 gồm nhiều hồ, vũng lớn nhỏ liên kết với nhau bởi các mạch ngầm thông nhau dưới lòng đất Đến suối nước nóng Bình Châu, du khách có thể tham quan các điểm phun nước có độ nóng khác nhau
từ 400C – 800C Dù nước suối khoáng nóng nhưng cây cối xung quanh vẫn mọc và xanh tốt Hiện nay, suối nước nóng Bình Châu được xây dựng thành
tổ hợp những khu du lịch an dưỡng, chữa bệnh Ông Nguyễn Xuân Trường, trưởng phòng kinh tế huyện Xuyên Mộc cho biết: tính dến cuối 2006, đã có
14 dự án du lịch đầu tư vào khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu- Phước Bửu
Cụ thể gồm các dự án: Khu du lịch sinh thái Hồ Cốc (60 ha), Vườn thú hoang
dã Safari Bình Châu (500ha), Khu giải trí phức hợp Hồ Tràm Asian Coast (135ha), Khu du lịch sinh thái Trung Thủy (100ha), Khu du lịch Hương Phong (5ha), Khu du lịch Minh Tú (16ha), Khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng Lộc Phúc (14ha), Khu du lịch sinh thái Hoàn Vũ (50ha), Khu du lịch Sài Gòn Times (5ha), Khu du lịch Lan Hảo (36ha)…Hiện nay, hầu hết các dự án nói trên đang trong quá trình triển khai thực hiện với nhiều loại hình phong phú như: du lịch nghỉ ngơi, thư giãn, tham quan, cắm trại; du lịch kết hợp điều dưỡng, chữa bệnh; du lịch thể thao, tắm biển, leo núi; du lịch kết hợp với nghiên cứu khoa học và khám phá Dự án Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu- Phước Bửu sớm hình thành sẽ cải thiện bộ mặt du lịch huyện Xuyên Mộc
Khu du lịch sinh thái Lộc An là một trong những điểm tập kết vũ khí của đường mòn Hồ Chí Minh trên biển Giờ đây, khu du lịch sinh thái Lộc An
Trang 29nằm lặng lẽ soi mình bên hồ nước rộng mênh mông với 40 phòng ngủ đầy đủ tiện nghi, bãi tắm sạch đẹp và nhiều dịch vụ vui chơi, giải trí thu hút nhiều du khách thập phương đến tham quan và nghỉ dưỡng
Tiềm năng du lịch nhân văn:
Tiềm năng du lịch nhân văn là những hiện tượng, cảnh quan, môi trường do bàn tay con người tạo ra Ở tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu tiềm năng du lịch nhân văn rất phong phú là lợi thế để phát triển kinh tế du lịch làm cho du lịch thêm đa dạng và đặc sắc hơn
Lịch sử Bà Rịa- Vũng Tàu được hình thành và phát triển chưa lâu nên không có những di tích lâu đời như các địa phương khác Nhưng đến Bà Rịa- Vũng Tàu, du khách còn có thể tham quan, chiêm ngưỡng các kiến trúc, danh lam thắng cảnh nổi tiếng, các di tích lịch sử, các lễ hội, đền chùa phản ánh đời sống văn hóa, tôn giáo như:
Quần thể di tích đình thần Thắng Tam, được xây dựng vào khoảng năm
Minh Mạng thứ 21 (1840) dùng để thờ cá Ông (theo truyền thuyết loài cá chuyên cứu người bị nạn trên biển) Ngôi đình này là địa điểm tập trung dân chài địa phương ôn lại truyền thống dân tộc, tổ tiên trong những ngày lễ hội vào ngày 16 tháng 8 âm lịch hàng năm
Thích Ca Phật Đài, xây dựng từ năm 1961- 1963 nằm phía bắc dưới chân
núi lớn Đây là một di tích lịch sử văn hóa và là một thắng cảnh rất nổi tiếng của thành phố Vũng Tàu, thu hút khách thập phương đến hành hương bởi phong cảnh u tịch và kiến trúc độc đáo
Ngọn Hải Đăng, đây là ngọn hải đăng được xây dựng sớm nhất ở nước ta
Ban đầu hải đăng xây dựng ở mõm cực Nam của núi Nhỏ, ở độ cao 149 m
Trang 30Năm 1913, hải đăng được chuyển lên vị trí hiện tại, cao chừng 170 m so với mực nước biển Đường ô tô dẫn lên hải đăng ngoạn mục uốn quanh triền núi
Tượng Chúa Giêsu, do Giáo hội Thiên Chúa giáo xây dựng năm 1974 trên
núi nhỏ, trông ra biển, tượng cao 32 m, lòng tượng rổng, có 129 bậc, du khách
có thể leo lên tượng để chiêm ngưỡng cảnh quan thành phố biển Vũng Tàu
Nhà lớn Long Sơn, Đây là một quần thể kiến trúc cổ uy nghi, bề thế tọa lạc
tại thôn 5 xã Long Sơn, do ông Trần, tên thật là Lê Văn Mưu, một tín đồ của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa ở An Giang đến lập nghiệp và xây dựng vào đầu thế
kỷ 20 Trên diện tích khoảng 2 ha, Nhà Lớn chia thành 3 khu: đền thờ; nhà hội, trường học, chợ, nhà bảo tồn Ghe Sấm và khu lăng mộ ông Trần
Niết Bàn Tịnh Xá, tọa lạc bên triền núi Nhỏ, khởi công xây dựng từ năm
1969, đến năm 1974 thì hoàn thành, với diện tích trên 10.000m 2 Nằm bên bờ biển, Niết bàn Tịnh Xá nổi bật với những đường nét kiến trúc Đông Tây kết hợp Lối lên Niết bàn Tịnh Xá men theo triền dốc Hai bên cổng là tượng ông Thiện, ông Ác cao lớn; bên phải có bức phù điêu long mã; bên trái có lầu chuông với hình long- ly- quy- phụng chạm trổ tinh vi
Bạch Dinh, được khởi công xây dựng năm 1898, theo kiểu kiến trúc của
Pháp Vẻ đẹp của Bạch Dinh còn được tôn thêm của rừng cây tự nhiên và nhân tạo trong một khuôn viên rộng, thoáng Bạch Dinh là nơi nghỉ của nhiều đời toàn quyền Đông Dương Bạch Dinh cũng từng là nơi an trí vua Thành Thái, một vị vua có tinh thần yêu nước, chống Pháp Ngày nay, Bạch Dinh được dùng làm bảo tàng, triển lãm Ngày 4 tháng 8 năm 1992, Bạch Dinh được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là di tích lịch sử văn hóa quốc gia
Dinh Cô Long Hải, cách thị trấn Long Hải khoảng 1 km trên sườn núi trông
ra biển, xuất hiện từ năm 1804 Dinh Cô là một kiến trúc hoành tráng, in đậm
Trang 31màu sắc văn hóa dân gian được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là di tích văn hóa
An Sơn Miếu, là một ngôi miếu có ở Côn Đảo Miếu được xây dựng từ năm
1785, sau đó được xây dựng lại vào năm 1958 để thờ bà Phi Yến, vợ của chúa Nguyễn Ánh Ngôi miếu này rất linh thiêng đối với những người dân trên đảo
và nó gắn liền với một câu chuyện bi thương của người phụ nữ tài sắc, giàu lòng yêu nước
Ngoài những danh lam thắng cảnh nổi tiếng, Bà Rịa- Vũng Tàu còn lưu giữ những di tích lịch sử ghi đậm một thời đầy gian khổ hy sinh nhưng hào hùng Đó là những di sản quý báu có tác dụng giáo dục truyền thống yêu nước, yêu quê hương cho mọi thế hệ Nhiều di tích lịch sử đã để lại dấu ấn và lòng cảm phục cho du khách khi đến tham quan, đặc biệt là khách quốc tế:
Di tích lịch sử nhà tù Côn Đảo, còn được gọi là “địa ngục trần gian” do thực
dân Pháp xây dựng, gồm 6 dãy chuồng cọp và 24 xà lim, đây là nơi giam giữ những chiến sỹ cách mạng Việt Nam yêu nước Nhà tù Côn Đảo là biểu tượng của chế độ tra tấn, tù đày dã man của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ; đồng thời cũng là biểu tượng của ý chí kiên cường, buất khuất, lòng yêu nước của những chiến sỹ cách mạng Việt Nam
Cầu tàu 914 Côn Đảo, được xây dựng năm 1873, kể từ khi xây dựng đến
khi hoàn thành có 914 người bỏ mạng tại đây dưới chế độ cũ
Nghĩa trang Hàng Dương, rộng 190.000 m2 gồm 3 khu: khu A, khu B và khu C Theo số liệu ước định có khoảng 20.000 tù nhân đã chết ở Côn Đảo Khu A nghĩa trang , nơi có phần mộ cụ Nguyễn An Ninh và đồng chí Lê Hồng Phong là nơi chôn những ngôi mộ đầu tiên Năm 1944, khu A đã chôn chật mộ, nhà tù đã mở rộng nghĩa trang về phía Nam, tức khu B hiện nay Hài
Trang 32cốt lớp tù nhân kháng chiến chống Pháp (1945-1954) được chôn kế tiếp từ đồi cát chạy dài xuống phía Đông nam, nơi có phần mộ người thiếu nữ anh hùng
Võ Thị Sáu Hài cốt lớp tù nhân chống Mỹ được chôn tiếp vào phần còn lại của khu B và chôn tiếp qua khu C gần 500 tù chính trị chống ly khai Đảng Cộng sản trong những năm 1957-1963 được chôn trong khu B Mỗi ngôi mộ trong nghĩa trang này không chỉ là một số phận bi hùng, một chứng tích tội ác của thực dân, đế quốc mà còn âm vang những trang sử hào hùng của cuộc đấu tranh trong tù, tỏa sáng chủ nghĩa nhân văn và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam Nghĩa trang hàng Dương được bảo tồn như một di tích lịch sử đặc biệt Nghĩa trang hàng Dương với hàng ngàn nấm mộ có tên và không tên là bằng chứng hùng hồn về tội ác của đế quốc, thực dân đối với dân tộc Việt Nam Đó là nơi yên nghỉ của hàng ngàn người con ưu tú của dân tộc đã đối mặt với kẻ thù giữa lao tù, xiềng xích, trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do
và chủ nghĩa xã hội
Địa đạo Long Phước, được những chiến sỹ du kích bám trụ xây dựng từ năm
1948, lúc đầu chỉ là những hầm trú ẩn, về sau phát triển thành nhiều hầm sâu, rộng nối thông với nhau với tổng chiều dài khoảng 20km, trở thành căn cứ kháng chiến của nhân dân Bà Rịa trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ
Nhà tưởng niệm nữ anh hùng Võ Thị Sáu, Ngôi nhà đơn sơ bên tỉnh lộ 23,
cách thị xã Bà Rịa 12 km về phía Tây, thuộc ấp Trường Thành, xã Phước Long Thọ, huyện Đất Đỏ Nơi đây, chị Sáu đã sống thời thơ ấu Cách nhà 50m về phía đông là khu công viên với những cây hoa sứ, ngọc lan và Lêkima tỏa hương thơm bốn mùa và tượng đài chị Võ Thị Sáu đúc bằng đồng cao 7m
Khu căn cứ Minh Đạm, Nằm phía Đông huyện Long Điền có dãy núi Châu
Long- Châu Viên dài 8 km, cao 200 m Năm 1948 để tưởng niệm hai đồng chí
Trang 33Bùi Công Minh, Mạch Thanh Đạm, Bí thư và Phó bí thư huyện Long Điền, đã anh dũng hy sinh khi bị địch phục kích dưới chân núi, nhân dân trong vùng đặt tên là núi Minh Đạm Khu gồm bốn khu vực chính: khu Đá Chẻ, khu chùa Giếng Gạch, khu Châu Viên, khu Đá Giăng
Bà Rịa- Vũng Tàu là vùng đất nơi tụ họp của cư dân từ nhiều địa phương khác trong cả nước về sinh sống, do đó mang bản sắc văn hóa, lễ hội, của nhiều vùng miền Các lễ hội dân gian ở Bà Rịa- Vũng Tàu rất phong phú:
Lễ hội Lệ Cô, Dinh Cô nằm dưới chân núi Thùy Vân- Trung tâm thị
trấn Long Hải Dinh thờ Trinh nữ Lê Thị Hồng, quê ở Phan Rang, trong một lần ra biển bị lâm nạn đã hiển linh phù hộ cho bá tánh trong vùng Lễ hội Lệ
Cô được dân trong vùng tổ chức long trọng theo nghi thức cổ truyền từ ngày
10 đến 12 tháng 2 âm lịch hàng năm thu hút hàng vạn dân trong vùng và các địa phương khác đến viếng
Lễ hội Nghinh Ông, lễ Nghing Ông diễn ra trọng thể tại lăng Cá Ông,
đường Hoàng Hoa Thám, thành phố Vũng tàu từ ngày 16 đến ngày 18 tháng 8
âm lịch hành năm Tại đây thờ bộ xương Cá Ông khổng lồ do ngư dân vớt được cách đây hơn 100 năm
Lễ hội Đình Thần Thắng Tam, Đình xây dựng thờ ba vị tiền nhân có
công dựng lên ba làng Thắng: Thắng Nhất, Thắng Nhì, Thắng Tam ở Vũng Tàu Lễ hội Đình ThầnThắng Tam được tổ chức từ ngày 17 đến 20 tháng 2
âm lịch hàng năm
Ngoài ra còn có các lễ hội đặc sắc khác như: Lễ hội Cồng Chiêng của người Châu Ro ở Châu Đức; lễ hội bắn súng Thần Công vào dịp tết cổ truyền
Trang 34Đến Bà Rịa -Vũng Tàu du khách không chỉ có tắm biển, nghỉ dưỡng, tham quan các danh lam thắng cảnh, tìm hiểu các lễ hội mà còn có dịp đến thăm các làng nghề truyền thống, thưởng thức các món ăn đặc sản…
Các làng nghề truyền thống ở Bà Rịa-Vũng Tàu như: làng nghề làm muối ở Long Hải, Làng nấu rượu Hòa Long, làng làm bún, bánh tráng ở Bà Rịa
Các món ăn đặc sản như: canh chua tương me nấu với cá biển thật tươi, các món ăn hải sản tôm, cua, nghêu, sò, ốc, hào biển, đặc biệt là món tiết canh tôm hùm và tôm tích rang muối
Sau những ngày tham quan vui chơi, tắm biển, du khách có thể mang chút hơi thở của biển về làm quà cho bạn bè, gia đình với những món quà đặc sản như mực khô, tôm khô, các sản phẩm làm từ vỏ sò, ốc
Hiện nay, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu có 4 khu vực có tiềm năng phát triển
du lịch lớn:
Thành phố Vũng Tàu là một trong mười trung tâm du lịch lớn của Việt Nam Rừng quốc gia Côn Đảo
Bờ biển Long Hải và vùng núi Minh Đạm
Rừng nguyên sinh Bình Châu- Phước Bửu và suối nước khoáng nóng Bình Châu
Trang 351.3 Kinh nghiệm phát triển du lịch của một số nước trong khu vực và địa phương trong nước
1.3.1 Thái Lan
Thái Lan là nước phát triển du lịch mạnh ở Châu Á Hàng năm, Thái Lan đón trên 10 triệu khách du lịch quốc tế Thị trường khách quốc tế chủ yếu của Thái lan là các nước trong khối ASEAN, Châu Á, Châu Âu Ở Thái Lan ngành du lịch là ngành thu được nguồn ngoại tệ chủ yếu và cao hơn các ngành sản xuất khác Cơ quan du lịch quốc gia Thái Lan gọi tắt là TAT, là
cơ quan trực thuộc Chính phủ, hoạt động độc lập, có trách nhiệm xúc tiến và phát triển du lịch
Trong nhiều năm liên tục, kinh nghiệm mang lại lợi nhuận cao nhất cho quốc gia của ngành du lịch là chiến dịch quảng bá và xúc tiến đa dạng Hàng năm Thái Lan đều có chủ đề về du lịch: Ví dụ, năm 1987 chủ đề là “ năm du lịch Thái Lan”, năm 1988 và 1999 là “chiến dịch Amazing Thailand”… năm
1997, khi Thái Lan rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế thì chính ngành du lịch
là ngành kinh tế chủ đạo góp phần đưa nền kinh tế Thái Lan từ chổ thâm hụt đến mức ổn định và tăng trưởng
Hiện nay, chính phủ Thái Lan đưa ra chính sách phát triển du lịch trong giai đoạn tiếp theo là:
- Khôi phục và giữ gìn các tài nguyên du lịch, bảo vệ môi trường văn hóa nghệ thuật thông qua việc ưu tiên phát triển du lịch bền vững
- Thúc đẩy hợp tác giữa các khu vực nhà nước và tư nhân, phối hợp với cộng đồng địa phương trong quá trình khai thác, phát triển và quản lý tài nguyên du lịch
- Hỗ trợ và phát triển các đối tượng cung cấp dịch vụ cho du khách thông qua việc áp dụng các tiến bộ về khoa học, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ thông tin
Trang 36- Tăng cường hợp tác với các nước láng giềng, phối hợp xúc tiến, quảng bá phát triển các hệ thống thông tin liên lạc, mạng lưới giao thông và các tiện ích phục vụ du lịch
- Khuyến khích phát triển nguồn nhân lực, tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ du lịch cả về số lượng và chất lượng
- Thực hiện nghiêm túc các quy định trong việc bảo đảm an ninh cho
du khách và môi trường kinh doanh lành mạnh cho các doanh nghiệp du lịch
1.3.2 Malaysia
Malaysia là quốc gia có nền kinh tế du lịch phát triển vào bậc nhất Đông Nam Á Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch của Malaysia là Cục xúc tiến Du lịch thuộc Bộ Văn hóa- Nghệ thuật và Du lịch Chính phủ Malaysia đã sớm nhận thức tầm quan trọng của du lịch trong nền kinh tế quốc dân nên đã có những chính sách phát triển du lịch từ rất sớm Malaysia mở nhiều tuyến bay nội địa và quốc tế, phát triển nhiều trung tâm du lịch, các khách sạn phân bố đều khắp cả nước Ngoài ra, Malaysia rất coi trọng công tác quảng bá sản phẩm và đa dạng sản phẩm du lịch đáp ứng thị hiếu cho du khách Chính phủ Malaysia mỗi năm chi hàng trăm triệu Ringgit cho việc nâng cấp trang thiết bị phục vụ cho du lịch và duy trì phát triển văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái
Chỉ trong vài năm, với chính sách đầu tư hợp lý ngành du lịch đã vươn lên dẫn đầu khu vực, thu hút trung bình 14-15 lượt khách quốc tế mỗi năm, với thời gian lưu trú trung bình của mỗi du khách từ 5-7 ngày Ngân sách của
cơ quan du lịch quốc gia khoảng trên 40 triệu USD / năm
1.3.3 Đảo Cát Bà
Cát Bà là bộ phận quan trọng của Quần thể du lịch Hạ Long đã được UNESCO công nhận là “Di sản thiên nhiên thế giới”, có rất nhiều tiềm năng để phát triển du lịch Cũng như Bà Rịa- Vũng Tàu, ngành du lịch ở Đảo
Trang 37Cát Bà được coi là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn, mang lại nguồn thu lớn cho ngân sách địa phương
Hàng năm khách du lịch đến Đảo Cát Bà ngày càng tăng Năm 1998 Cát Bà đón 73.1000 lượt khách; năm 2002 Cát Bà đón 205.000 lượt khách tăng gấp 3 lần so với năm 1998 Theo số liệu thống kê của Sở Du lịch, doanh thu du lịch năm 2001 là 55 tỷVNĐ, đến năm 2002 tăng lên 65 tỷ VNĐ, trong
đó doanh thu từ khách du lịch quốc tế tăng gấp đôi
Hiện nay định hướng phát triển du lịch của Cát Bà như sau:
- Phát triển thị trường du lịch, trong đó thứ tư ưu tiên: Nhật Bản; Trung Quốc; Tây Âu; Mỹ; Các nước ASEAN
- Phát triển các sản phẩm du lịch, trong đó chú trọng các loại hình du lịch như: du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng cao cấp, du lịch vui chơi giải trí, tắm biển, du lịch văn hóa, lễ hội, làng nghề Tạo ra các sản phẩm du lịch biển độc đáo, có sức cạnh tranh mạnh trong khu vực (du lịch lặn biển, leo núi, thám hiểm hang động, nghiên cứu khoa học)
- Chú trọng đầu tư du lịch: Xây dựng hệ thống cơ sở vật chất du lịch có chất lượng cao, đồng bộ, khai thác đi đôi với bảo vệ, tôn tạo và phát triển nguồn tài nguyên du lịch và cải thiện môi trường du lịch
- Quan tâm đến đào tạo nguồn nhân lực cho ngành du lịch
1.3.4 Khánh Hòa
Khánh Hòa là một tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ có vị trí thuận lợi về giao thông đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không Khánh Hòa có điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, lịch sử văn hóa, nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng, phong phú đã đem đến cho tỉnh một tiềm năng lớn để phát triển du lịch Nha Trang- Khánh Hòa hiện được xác định là một trong mười trung tâm du lịch- dịch vụ lớn của cả nước Vào tháng 6 năm 2003, vịnh Nha Trang được công nhận là Thành viên chính thức của Câu lạc bộ các vịnh
Trang 38đẹp nhất thế giới Hiện nay, tỉnh Khánh Hòa xác định ngành du lịch là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn để phát triển kinh tế- xã hội Quan tâm nhất của tỉnh Khánh Hòa để ngành du lịch phát triển là đa dạng sản phẩm du lịch, đầu tư cơ sở hạ tầng và đào tạo nguồn nhân lực cho ngành du lịch
Việc tìm hiểu kinh nghiệm của một số nước và địa phương về phát triển du lịch là những kinh nghiệm quý để Đảng bộ tỉnh và ngành du lịch Bà Rịa- Vũng Tàu tham khảo và học tập nhằm phát triển kinh tế du lịch tỉnh nhà Một số kinh nghiệm ngành du lịch tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu cần tham khảo:
Phải xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạchcho phát triển du lịch Phải mạnh dạn đầu tư hạ tầng kỹ thuật và cơ sở vật chất nhằm phát triển du lịch
Tạo ra những sản phẩm độc đáo, đa dạng, hấp dẫn đáp ứng nhu cầu của
du khách
Tăng cường công tác tuyên truyền, quảng bá về du lịch
Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cho ngành du lịch
Khai thác đi đôi với bảo vệ tài nguyên môi trường
Tóm lại, với điều kiện lịch sử địa lý thuận lợi, kinh tế- xã hội phát triển, nhiều tiềm năng du lịch, tương lai không xa, Bà Rịa- Vũng Tàu sẽ phát triển mạnh mẽ, tương xứng với vị thế của một trung tâm du lịch quan trọng của cả nước Tuy vậy, những lợi thế và tiềm năng du lịch vẫn chưa được đầu tư và khai thác một cách hiệu quả Do đó, muốn phát triển du lịch một cách bền vững, ngành du lịch Bà Rịa- Vũng Tàu phải có chiến lược phù hợp, đầu tư và khai thác đúng hướng, phát huy những thế mạnh, khắc phục những hạn chế, chủ động tạo ra nhiều loại hình du lịch và sản phẩm du lịch có sức hấp dẫn, có tính cạnh tranh Để làm được điều này, vai trò lãnh đạo của Đảng bộ trong việc hoạch định đường lối, chính sách, tạo điều kiện cho ngành du lịch phát triển là điều rất quan trọng
Trang 39Chương 2
QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH CỦA
ĐẢNG BỘ TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU (1991-2006)
2.1 Thực trạng kinh tế du lịch tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu thời kỳ trước 1991
Bà Rịa- Vũng Tàu là vùng đất du lịch đã được nhân dân trong nước biết đến từ rất lâu với những bãi biển đẹp Trước năm 1991, nhiều đoàn tham quan trong và ngoài nước đã về Vũng Tàu tắm biển, nghỉ ngơi Trước đây, ngành
du lịch trực thuộc Sở Thương mại- Du lịch và ở Vũng Tàu mới chỉ có một vài công ty du lịch hoạt động nhưng chỉ khai thác những dịch vụ như ăn uống, nghỉ ngơi, tắm biển Đặc biệt, do cơ chế bao cấp nên hoạt động du lịch chủ yếu là phục vụ, hình thức kinh doanh còn đơn giản, lợi nhuận chưa cao và chưa mang lại hiệu quả, các loại hình du lịch còn nghèo nàn Do chưa xác định kinh tế du lịch là ngành mũi nhọn, nên việc đầu tư cho du lịch chưa được quan tâm đúng mức
Cơ sở lưu trú chưa nhiều, chỉ có vài khách sạn, nhà nghỉ, các khách sạn đạt tiêu chuẩn còn quá ít, kém tiện nghi sinh hoạt Các khu vui chơi giải trí ít, hoạt động cầm chừng, một số khu du lịch hoạt động mang tính mùa vụ, chỉ nhộn nhịp vào lúc cao điểm như ngày lễ, tết hoặc ngày nghỉ cuối tuần
Sản phẩm du lịch chưa phong phú, đa dạng Du khách đến Bà Rịa- Vũng Tàu ngoài tắm biển, tham quan một số di tích văn hóa, lịch sử thì hầu như chưa có loại hình giải trí hấp dẫn nào khác
Công tác quảng bá du lịch thiếu sự chỉ đạo nên chưa phát triển, du khách ít thông tin khi đến Bà Rịa – Vũng Tàu Môi trường, cảnh quan du lịch chưa được quan tâm
Một trong những khó khăn và thách thức cơ bản của ngành du lịch là
cơ sở hạ tầng như giao thông, điện, thông tin liên lạc… chưa đáp ứng yêu cầu,
Trang 40chưa được đầu tư đồng bộ Giao thông đường bộ nối liền từ Vũng Tàu đến thành phố Hồ Chí Minh chỉ mới có độc đạo một quốc lộ 51A mà mật độ xe cộ lưu thông rất cao và quá tải Hệ thống đường nội tỉnh còn chật hẹp và xuống cấp Đường thủy phục vụ cho du lịch chưa có Đường không có 02 sân bay nhưng chưa đủ tiêu chuẩn đưa đón khách du lịch mà chủ yếu phục vụ cho việc thăm dò khai thác dầu khí Điện phục vụ cho nhu cầu của dân cư và các vùng du lịch chỉ đáp ứng khoảng 60%, hệ thống tải điện quá củ kỹ lạc hậu Thông tin liên lạc phục vụ cho du lịch chưa được trang bị hiện đại
Công tác quản lý, cấp phép kinh doanh ngành du lịch còn sơ hở, manh múm nên hiệu quả quản lý và kinh doanh khó khăn và chồng chéo Đội ngũ cán bộ, công nhân viên hoạt động trong ngành du lịch chưa qua đào tạo, chắp
vá do điều động từ nhiều ngành nghề khác nhau Rất ít cán bộ quản lý ngành
du lịch được đào tạo chính quy về nghiệp vụ du lịch, mà chỉ bồi dưỡng ngắn hạn Vì vậy công tác quản lý và kinh doanh hiệu quả còn thấp
Khách du lịch đến Bà Rịa- Vũng Tàu chỉ có du khách ở một số địa phương lân cận như thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Sông Bé… Khách nước ngoài chủ yếu là các chuyên gia dầu khí Tỷ lệ khách đến
Bà Rịa- Vũng Tàu rất ít, chiếm tỷ lệ thấp so với cả nước, chưa tương xứng với tầm vóc của một trung tâm du lịch có nhiều tiềm năng
Hiện nay, khi nghiên cứu về du lịch của Bà Rịa- Vũng Tàu trước năm 1991(Đặc khu Vũng Tàu- Côn Đảo) thì nguồn tài liệu rất hiếm, ngay cả Sở
Du lịch, cơ quan tham mưu về chuyên môn cũng không lưu trữ Điều này chứng tỏ ngành du lịch lúc đó cũng chưa được chú trọng và quan tâm
Những hạn chế của ngành du lịch Bà Rịa- Vũng Tàu trước năm 1991cũng nằm trong xu thế chung của du lịch cả nước và chịu tác động do nhiều nguyên nhân Trước hết, diễn biến phức tạp của tình hình quốc tế có những tác động bất lợi đến tình hình đất nước và địa phương Mặt khác, đất