Khái niệm về khủng hoảng tài chính Khủng hoảng tài chính là một biến cố mà khi đó các khu vực tài chính và các tổchức kinh tế có sự vỡ nợ với số lượng lớn, các tập đoàn và định ch
Trang 1I Lý luận về khủng hoảng tài chính
1 Khái niệm về khủng hoảng tài chính
Khủng hoảng tài chính là một biến cố mà khi đó các khu vực tài chính và các tổchức kinh tế có sự vỡ nợ với số lượng lớn, các tập đoàn và định chế tài chính phải đối mặt vớirất nhiều khó khăn với những hợp đồng đến hạn thanh toán
2 Một số dạng khủng hoảng tài chính đặc thù
2.1 Khủng hoảng tiền tệ (Goldstein, Kaminsky và Reinhart)
Là trạng thái mà ở đó, có một cuộc tấn công vào đồng tiền nội tệ dẫn đến sự thâmhụt phần lớn dự trữ ngoại hối và làm mất giá nhanh chóng đồng tiền nội tệ
2.2 Khủng hoảng ngân hàng (Demirgu Kunt và Detragiache 1998)
Khủng hoảng ngân hàng xảy ra nếu ít nhất 1 tiêu chí xảy ra:
+ Tỷ lệ nợ xấu NPLs so với tổng vốn cho vay trong hệ thống ngân hàng vượt quá10%
+ Chi phí cho hoạt động cứu trợ ngân hàng tối thiểu bằng 2% GDP
+ Giai đoạn cứu trợ kéo theo hoặc là quốc hữu hóa các ngân hàng ở quy mô lớn,hoặc là hiện tượng rút tiền gửi ồ ạt khỏi ngân hàng, hoặc các biện pháp khẩn cấp khác nhưđóng băng tiền gửi, cho phép ngân hàng nghỉ giao dịch, phát hành bảo lãnh Chính phủ
2.3 Khủng hoảng nợ: là tình trạng một quốc gia không có khả năng chi trả các
khoản nợ vay đến hạn
2.4 Khủng hoảng kép
+ Khủng hoảng kép loại 1: là một cuộc khủng hoảng tiền tệ theo sau khủnghoảng ngân hàng
+ Khủng hoảng kép loại 2: là khủng hoảng nợ đi kèm với khủng hoảng tiền tệ
3 Các mô hình khủng hoảng cơ bản
3.1 Mô hình khủng hoảng thế hệ thứ nhất
Mô hình khủng hoảng thế hệ thứ nhất được xây dựng bởi P Krugman (1979), môhình này chủ yếu đặc trưng cho các cuộc khủng hoảng cán cân vãng lai trong điều kện tỷ giá
cố định bị các hoạt động đầu cơ tấn công
Trang 23.2 Mô hình khủng hoảng thế hệ thứ hai
Mô hình khủng hoảng thế hệ thứ hai được Obstfeld (1994 và 1995) xây dựng.Môhình này đề cập về kỳ vọng của các nhà đầu tư về chính sách tỷ giá của Chính phủ là thả nổihay cố định từ đó đưa ra các cuộc tấn công tiền tệ
3.3 Các mô hình khủng hoảng thế hệ thứ ba
Mô hình khủng hoảng thế hệ thứ ba được Yoshitomi và Ohno (1999) xây dựng,đặc trưng cho các cuộc khủng hoảng tài khoản vốn trong cán cân thanh toán quốc tế Việc tự
do hóa tài khoản vốn thiếu một trình tự thích hợp đã dẫn đến hai hệ quả là tiền đề cho cuộckhủng hoảng kép:
+ Luồng vốn đổ vào ồ ạt vượt quá mức thâm hụt cán cân vãng lai: điều này dẫnđến sự bành trướng tín dụng, đầu tư và tiêu dùng trong nước quá mức và kém hiệu quả
+ Vốn ngắn hạn chiếm tỷ trọng quá lớn
II Thực trạng thị trường tài chính Việt Nam
1 Mô hình giám sát tài chính hiện hành của Việt Nam
Hiện nay mô hình giám sát tài chính Việt Nam theo mô hình phân tán dựa trên cơ
sở thể chế Theo đó NHNN thực hiện hoạt động thanh tra giám sát hoạt động các TCTD, BộTài chính thực hiện giám sát hoạt động chứng khoán và Bảo hiểm (chịu sự giám sát trực tiếpcủa Ủy Ban chứng khoán Nhà nước và Cục Bảo hiểm)
Trang 32 Định hướng cấu trúc hệ thống tài chính Việt Nam
Lịch sử Việt Nam đã trải qua hơn 4.000 năm, nhưng có thể nói rằng hệ thống tàichính Việt Nam - hệ thống tài chính do các ngân hàng đóng vai trò chủ đạo (theo trường pháiĐức – Nhật, các trung gian tài chính, nhất là các ngân hàng đóng vai trò chính) bắt đầu hìnhthành rõ nét từ năm 1858, năm Việt Nam trở thành một nước phong kiến nửa thuộc địa củaPháp Đến cuối những năm 80, hệ thống Ngân hàng Nhà nước về cơ bản vẫn hoạt động như làmột công cụ ngân sách, chưa thực hiện các hoạt động kinh doanh tiền tệ theo nguyên tắc thịtrường Sự thay đổi về chất trong hoạt động của hệ thống ngân hàng - chuyển dần sang hoạtđộng theo cơ chế thị trường chỉ được bắt đầu khởi xướng từ cuối những năm 80, và kéo dài chotới ngày nay Sau sự đổ bể của hệ thống các quỹ tín dụng trong giai đoạn 1986-1990, hai pháplệnh Ngân hàng ra đời (Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh Ngân hàng, hợptác xã tín dụng và công ty tài chính) đã chính thức chuyển cơ chế hoạt động của hệ thống Ngân hàngViệt Nam từ 1cấp sang 2 cấp – trong đó lần đầu tiên đối tượng nhiệm vụ và mục tiêu hoạtđộng của mỗi cấp được luật pháp phân biệt rạch ròi:
Ngân hàng Nhà nước thực thi nhiệm vụ Quản lý nhà nước về hoạt động kinhdoanh tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và ngân hàng; Thực thi nhiệm vụ của một Ngânhàng Trung ương - là ngân hàng duy nhất được phát hành tiền; Là ngân hàng của các ngân hàng và
là Ngân hàng của Nhà nước
Cấp Ngân hàng kinh doanh thuộc lĩnh vực lưu thông tiền tệ, tín dụng, thanh toán,ngoại hối và dịch vụ ngân hàng trong toàn nền kinh tếquốc dân do các Định chế tài chính Ngânhàng và phi ngân hàng thực hiện
3 Bức tranh thị trường tài chính Việt Nam năm 2011 và những triển vọng tài chính năm 2012
3.1 Bức tranh thị trường tài chính Việt Nam 2011
Bước vào năm 2011, khó khăn và thách thức đều lớn hơn so với dự báo Giálương thực thực phẩm, giá dầu thô và nguyên vật liệu trên thị trường quốc tế tăng cao; thịtrường chứng khoán sụt giảm mạnh; khủng hoảng nợ công ở nhiều nước; tăng trưởng kinh tếthế giới chậm lại, lạm phát cao tại hầu hết các quốc gia tác động tiêu cực vào nền kinh tế
Trang 4nước ta Ở trong nước, lạm phát và mặt bằng lãi suất tăng cao; nhập siêu lớn, cán cân thanhtoán quốc tế thâm hụt, dự trữ ngoại hối giảm mạnh gây áp lực lên thị trường tiền tệ và tỷ giá;giá vàng trên thị trường biến động bất thường Sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn.Nguy cơ mất ổn định kinh tế vĩ mô trở thành thách thức lớn
Trước bối cảnh đó, Chính phủ đã nhất quán điều hành chính sách tài chính-tiền tệ thắt chặt
- Tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước, cắt giảm đầu tư công;đồng thời, miễn, giảm nhiều loại thuế cho doanh nghiệp và cá nhân Kết quả là, bội chi ngânsách nhà nước cả năm 2011 giảm xuống còn 4,9% GDP (kế hoạch là 5,3%), thu ngân sáchtăng, đáp ứng nhu cầu chi và dành một phần để tăng chi trả nợ
- Chính sách tiền tệ được xử lý chặt chẽ, linh hoạt và có nhiều quyết đoán mạnh mẽhơn: ước cả năm, tổng dư nợ tín dụng tăng 12%, lãi suất tín dụng đã có xu hướng giảm
- Thị trường ngoại hối chuyển biến tích cực, tỷ giá dần ổn định, trạng thái ngoại hốicủa hệ thống ngân hàng, dự trữ ngoại tệ và cán cân thanh toán quốc tế được cải thiện Muabán ngoại tệ và kinh doanh vàng được kiểm soát khá chặt chẽ và có kết quả bước đầu
- Nợ công được giữ ở mức an toàn (cuối năm 2011 ước khoảng 54,6% GDP)
- Xuất khẩu tăng cao, nhập khẩu được kiểm soát Nhập siêu giảm mạnh, cả năm dự kiếnkhoảng 10 tỷ USD, bằng 10,5% tổng kim ngạch xuất khẩu, thấp hơn chỉ tiêu kế hoạch (khôngquá 18%), đã góp phần tích cực cải thiện cán cân thanh toán và ổn định tỷ giá
Tuy nhiên, năm 2011 vẫn ghi nhận những cú ”sốc” kinh tế trên nhiều lĩnh vực
- Điển hình là việc dồn dập điều chỉnh tỷ giá và tăng giá xăng, dầu, điện
- Sự chênh lệch kéo dài giá vàng trong và ngoài nước gây khá nhiều tranh cãi và tạo
lúng túng cho ngân hàng
- Những nghi ngại của người dân về cố gắng kiểm soát thị trường ngoại hối theo tinhthần Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 23/2/2011 của Chính phủ đặc biệt là các động thái cố gắngkhống chế trần lãi suất huy động và hạn mức tín dụng, hạn chế đối tượng được tiếp cận giaodịch tín dụng ngoại tệ, thậm chí tịch thu ngoại tệ buôn bán ”ngoài luồng”; lập rào cản hành
Trang 5chính „tiêu chuẩn hóa” nhằm giảm thiểu đối tượng đủ chuẩn được phép thực hiện nhiệm vụđộc quyền Nhà nước về nhập khẩu, sản xuất và buôn bán vàng miếng.
- Sự gia tăng nợ khó đòi ngân hàng & đổ vỡ tín dụng đen Dù được tiên liệu từ đầunăm, song dư luận cũng không tránh khỏi sốc khi nghe tin nợ xấu của khối ngân hàng thươngmại tăng vọt tính đến cuối tháng 10/2011 lên 76000 tỷ đồng, tức tới trên 3,5% tổng dư nợ(trong khi có tổ chức nước ngoài cho rằng con số thực là 13,5%), trong đó 47% là nợ khó đòi.Đặc biệt, dư luận càng sốc hơn khi biết các DNNN chiếm tới 60% tổng dư nợ và 70% nợ xấucủa các ngân hàng thương mại Hơn nữa, những vụ đổ vỡ tín dụng đen bùng nổ trên nhiều địaphương cả nước, nhất là ở các đô thị lớn vào những tháng cuối năm 2011 làm tăng sự e ngại
về độ lành mạnh và nguy cơ tạo sốc đổ vỡ đômino của thị trường tín dụng trong nước
- Sự bùng nổ những đợt đại hạ giá các bất động sản và chứng khoán vốn trong tìnhtrạng ế dài trước đó
- Sốc giảm giá trên thị trường chứng khoán còn thê thảm hơn, khi mà có những chứngkhoán rớt giá thê thảm, còn không đến 900 đ/cổ phiếu, trong khi tuyệt đại đa số hàng hóa vàdịch vụ khác đều đồng loạt tăng giá theo mức lạm phát
3.2 Triển vọng tài chính năm 2012
Trang 6Việt Nam tiếp tục phải xử lý các tồn tại và vấn đề tài chính đã, đang và sẽ tiếptục đặt ra Kinh tế tiếp tục chịu ảnh hưởng tiêu cực từ khủng hoảng tài chính và suy thoáikinh tế toàn cầu và biến động chính trị ở nhiều nước trên thế giới có thể đột biến, kéo dài vànặng nề Trong năm 2012, do độ mở cửa cao, nền kinh tế Việt Nam chắc chắn sẽ chịu tácđộng tiêu cực mạnh từ xu hướng nói trên của kinh tế thế giới
Một số khó khăn và thách thức tài chính và thị trường có thể lớn hơn và khólường hơn so với dự báo: Giá nhiều mặt hàng tiêu dùng điện và điện tử sẽ có xu hướng giảm,giá lương thực thực phẩm, giá dầu thô và nguyên vật liệu trên thị trường quốc tế có thể tăngcao dần; thị trường chứng khoán tiếp tục trầm lắng, trì trệ Tuy nhiên, những cú sốc hạ giátrên thị trường bất động sản và chứng khoán sẽ còn tiếp diễn chưa có điểm dừng Đặc biệt,lạm phát và mặt bằng lãi suất có thể vẫn khá cao; nợ xấu của hệ thống ngân hàng sẽ tiếp tụcgia tăng áp lực; thanh khoản của một số ngân hàng thương mại sẽ thêm khó khăn; nhập siêu,cán cân thanh toán quốc tế, dự trữ ngoại hối, tỷ giá, cũng như giá vàng trên thị trường cónhiều khả năng lớn là sẽ vẫn biến động bất thường Sản xuất kinh doanh tiếp tục gặp nhiềulực cản chưa dễ tháo gỡ, dù có dấu hiệu nới lỏng tín dụng từ ngân hàng Nguy cơ mất ổn địnhkinh tế vĩ mô có thể trở thành thách thức lớn hơn nếu không có giải pháp quyết liệt, hiệu quả
4 Việt Nam đang trải qua giai đoạn khủng hoảng kép?
4.1 Khủng hoảng Ngân hàng
Trong thời gian gần đây, các chuyên gia kinh tế đã bày tỏ lo ngại về sự lành mạnhcủa hệ thống ngân hàng Việt Nam sau khi lạm phát tăng vọt và giá nhà đất sụt mạnh Cónhững lời đồn đoán trong nhiều tháng nay cho rằng một số ngân hàng nhỏ đã vỡ nợ trên lýthuyết, nhưng chưa có ngân hàng nào sụp đổ một cách công khai và ngân hàng trung ương đãcam kết ngăn chặn những vụ phá sản của ngân hàng Ngoài ra, nợ xấu tăng nhanh trong thờigian gần đây và giới hữu trách đề ra các kế hoạch để tái cơ cấu khu vực gặp khó khăn này đãlàm tăng thêm sự lo ngại về hệ thống tài chính Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Tuy nhiên, trong cuộc đối thoại trực tuyến với nhân dân, do Cổng thông tin điện
tử Chính phủ tổ chức sáng ngày 12/1/2012 vừa rồi, thống đốc Ngân hàng Nhà Nước NguyễnVăn Bình đã khẳng định, “chúng ta không có khủng hoảng ngân hàng” Thống đốc Nguyễn
Trang 7Văn Bình thừa nhận “nợ xấu đã tăng, và với tốc độ nhanh trong thời gian gần đây, nhưng tìnhhình nợ xấu vẫn nằm trong tầm kiểm soát”.
Hiện nay, chúng ta đặt vấn đề tái cấu trúc lại hệ thống ngân hàng không phải là
do hệ thống ngân hàng của chúng ta yếu kém đến mức độ không tái cấu trúc nó thì nó đổ vỡngay lập tức Việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng hiện nay xuất phát từ nhu cầu của đất nướctrong bối cảnh thay đổi lại mô hình phát triển kinh tế Mỗi nền kinh tế có hệ thống huyếtmạch của nó, cơ thể như thế này thì cần huyết mạch tương ứng Chúng ta nếu muốn xây dựng
cơ thể khác, thì nội dung cơ bản của cơ thể đó là trái tim và huyết mạch cũng phải có điềuchỉnh khác đi
Như vậy, nhu cầu tái cấu trúc hệ thống ngân hàng trước tiên xuất phát từ nhu cầutái cấu trúc lại nền kinh tế theo hướng chuyển từ kinh tế phát triển theo chiều rộng sang kinh
tế phát triển có chiều sâu, theo hướng từ số lượng sang chất lượng Để đáp ứng nhu cầu đó,chúng ta cũng kèm theo là giải quyết những yếu kém đang tồn tại trong hệ thống ngân hàng
Hệ thống ngân hàng của chúng ta về cơ bản vẫn đáp ứng được những yêu cầu củacuộc sống đặt ra và trên thực tế những năm vừa qua, ví dụ như năm 2008, lạm phát cao, rấtnhiều khó khăn, hệ thống ngân hàng của chúng ta vẫn đứng vững Sau đó, năm 2009, khi cókhủng hoảng tài chính toàn cầu, ngân hàng thế giới, kinh tế thế giới chao đảo, hệ thống ngânhàng của chúng ta vẫn đứng vững
4.2 Khủng hoảng tiền tệ
Dường như thị trường đã trở nên ngày càng quan ngại về khả năng Việt nam cóthể đối mặt với một cuộc khủng hoảng tiền tệ tương tự như khủng hoảng tiền tệ châu Á năm
1997 sau việc Fitch Rating chỉnh sửa triển vọng của Việt nam xuống mức thấp hơn Công tyChứng khoán Nomura, Tokyo, trong Nghiên cứu Châu Á và các thị trường đang nổi của mình
đã kiểm tra khả năng xảy ra khủng hoảng tiền tệ tại Việt Nam từ 3 khía cạnh (1) cung cầungoại hối dựa trên cán cân thanh toán quốc tế, (2) khả năng của trụ vững Việt nam nếu luồngvốn chảy ra dựa trên cơ sở dự trữ ngoại hối và nợ nước ngoài, và (3) chính sách ngoại hốinhằm giữ tỷ giá hiệu lực ổn định
Trang 8 Về cán cân thanh toán quốc tế: các luồng vốn của Việt nam chủ yếu là vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài (FDI), hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và các luồng vốn dài hạnkhác, các luồng “tiền nóng” ngắn hạn là hạn chế Thâm hụt cán cân vãng lai nhanh chóng mởrộng cũng đáng lo, nhưng ít rủi ro xảy ra khủng hoảng tiền tệ do luồng vốn chảy ra trên quy
mô lớn là nguồn vốn ngắn hạn
Về khả năng trụ vững nếu các luồng vốn chảy ra: Theo Ngân hàng Phát triển
châu Á, dự trữ ngoại hối của Việt Nam tăng mạnh trở lại trong thời gian qua Trong quý
I/2012, theo ước tính của ADB, con số này đã đạt khoảng 17 tỷ USD, tăng khoảng 3,5 tỷUSD so với con số được Quỹ Tiền tệ quốc tế công bố vào giữa năm 2011 Trong khi đó, năm
2011, nợ nước ngoài bằng 41,5% GDP, vẫn nằm trong phạm vi an toàn 50%
Về chính sách ngoại hối: Chính phủ đang chuyển dần trọng tâm của chính sáchkinh tế tổng thể từ tăng trưởng kinh tế sang kiểm soát lạm phát Bài phát biểu của IMF đánhgiá rằng Chính phủ Việt Nam đã có những tiến bộ rất đáng hoan nghênh trong việc ổn địnhthị trường ngoại hối
Như vậy, đồng Việt Nam có ít rủi ro giảm giá mạnh do nhiều luồng vốn ngắn hạnrút khỏi Việt Nam, thay vì đó, đồng Việt Nam có lẽ sẽ chỉ chịu một sức ép khiêm tốn do nhucầu thực tế bắt nguồn từ thâm hụt cán cân thương mại Và do đó có thể nói trong giai đoạnhiện nay Việt Nam chưa xảy ra khủng hoảng tiền tệ
4.3 Khủng hoảng nợ công
Trước những dư luận trái chiều về vấn đề nợ công tại Việt Nam, Bộ Tài chính đã
khẳng định “Chỉ số nợ của Việt Nam hiện ở mức trung bình và nằm trong phạm vi an toàn Trong cơ cấu nợ của Việt Nam, chủ yếu là nợ vay dài hạn và lãi suất ưu đãi”.
Theo số liệu thống kê của Bộ Tài chính, tính đến ngày 31/12/2011, nợ nước ngoàicủa quốc gia ước tính ở mức khoảng 1.042 nghìn tỷ đồng, bằng 41,5% GDP năm 2011 Đây
là mức nằm trong phạm vi giới hạn an toàn Bởi, theo Nghị quyết của Quốc hội, kiểm soát dư
nợ công đến năm 2015 dưới 65% GDP, nợ Chính phủ, nợ quốc gia dưới 50% GDP
Trang 9Kết luận này cũng phù hợp với đánh giá của các tổ chức tài chính quốc tế nhưNgân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) Các tổ chức này nhận định, ViệtNam là nước có mức nợ nằm trong tầm kiểm soát và không nằm trong nhóm các nước cógánh nặng về nợ (HIPCs).
Nếu xét về khía cạnh bền vững nợ cho thấy, nợ vay dài hạn, lãi suất ưu đãi là chủyếu trong cơ cấu nợ của Việt Nam Trong tổng số nợ của nước ta, số vốn vay ODA chiếm75% và phần lớn số vốn này có lãi suất thấp
Theo Phạm Thế Anh (Trung tâm nghiên cứu chính sách phát triển bền vững)
-Nợ công Việt Nam: Rủi ro và thách thức, ông nghiên cứu các chỉ tiêu cơ bản về nợ công và
hiện trạng vĩ mô và so sánh với các ngưỡng an toàn gợi ý trong nghiên cứu của Manasse vàRoubini (2005) nhằm có cái nhìn chính xác hơn về thực trạng nợ công và kinh tế vĩ mô củaViệt Nam
Khả năng thanh toán
Các thước đo khả năng thanh toán nợ của Việt Nam cho thấy, ước tính cho tới hết năm
2010, tỷ lệ nợ công/GDP, nợ nước ngoài/GDP, và nợ công nước ngoài/GDP của Việt Namlần lượt ở mức trên 55%, 40%, và 30% Rất khó có thể đưa ra được ngưỡng an toàn với các
Trang 10chỉ tiêu này bởi mỗi nghiên cứu thường đưa ra các khuyến cáo khác nhau với từng quốc gia
cụ thể Ví dụ như nghiên cứu của Li và cộng sự (2010) chỉ ra rằng, các nước Đông Âu vàTrung Á rơi vào khủng hoảng nợ với tỷ lệ nợ nước ngoài/GDP tăng vọt từ 42 lên tới 88%.Ngược lại, các nước thu nhập thấp và trung bình thấp lại rơi vào khủng hoảng nợ với các tỷ lệ
nợ nước ngoài thấp hơn nhiều Tổng nợ nước ngoài và nợ công nước ngoài ở các nước nàykhi rơi vào khủng hoảng chỉ chưa đến 40% GDP Tuy nhiên, có thể dễ dàng nhận thấy rằngkhả năng thanh toán nợ của Việt Nam đang giảm nhanh trong những năm gần đây Theo sốliệu của MoF, chỉ trong vòng hai năm từ 2008-2010, tỷ lệ nợ công/GDP đã tăng khoảng trên
20 điểm phần trăm, từ 36,2% lên 57,3% Trong khi đó tỷ lệ nợ công nước ngoài/GDP cũngtăng hơn 6 điểm phần trăm, từ 25,1% lên tới hơn 31,1% Xu hướng này rõ ràng đang ảnhhưởng nghiêm trọng đến an toàn tài chính và Việt Nam cần phải có những định hướng điềuchỉnh kịp thời
Tương tự như vậy, tỷ lệ nợ công/tổng thu ngân sách nhà nước cũng tăng nhanh Ướctính đến hết năm 2010, tổng nợ công đã gấp hơn 2 lần tổng thu ngân sách nhà nước, tăngnhanh so với con số 1,6 lần của năm 2008 Trong khi đó, cán cân ngân sách liên tục thâm hụtcao trong những năm gần đây và chưa có dấu hiệu được cải thiện trong những năm tới Kếhoạch ngân sách cho thấy Chính phủ đang tiếp tục theo đuổi chính sách tài khóa lỏng vớimức thâm hụt ngân sách hàng năm vào khoảng 5% GDP Nếu điều này xảy ra, con số nợcông sẽ không dừng ở mức trên 57% như hiện nay
Khả năng thanh khoản
Khả năng thanh khoản phản ánh khả năng trả nợ nhanh của Việt Nam đối với cáckhoản nợ nước ngoài Do có tới trên 80% nợ nước ngoài là nợ dài hạn và với lãi suất ưu đãinên khả năng thanh khoản nợ nước ngoài của Việt Nam là khá an toàn Tỷ lệ nợ nướcngoài/dự trữ ngoại hối chỉ xấp xỉ 20% trong khi nghĩa vụ trả nợ nước ngoài/dự trữ ngoại hốihàng năm cũng ở mức thấp, dưới 10% So với ngưỡng an toàn được khuyến cáo thì các chỉtiêu này còn thấp hơn khá nhiều
Trang 11Có thể thấy rằng, từ năm 2011 đến 2013, nghĩa vụ nợ của Chính phủ chủ yếu là từ nợtrong nước Tổng nghĩa vụ nợ trong nước vào khoảng 215 ngàn tỷ đồng (hơn 10 tỷ USD)trong vòng 3 năm tới Con số này tương đương với hơn 40% tổng thu NSNN trong năm 2010
và xấp xỉ bằng với dự trữ ngoại hối hiện nay của Việt Nam Nghĩa vụ nợ trong nước lớn cộngvới thâm hụt ngân sách có thể sẽ gây sức ép tiêu cực đối với kế hoạch phát hành trái phiếuChính phủ, chính sách tiền tệ, và lạm phát trong thời gian tới
Nghĩa vụ nợ nước ngoài tương đối ổn định trong những năm tới Trong vòng 3 nămtới, trung bình mỗi năm Việt Nam phải trả nợ gốc và lãi nợ gốc khoảng 32 ngàn tỷ đồng (1,5
tỷ USD) Con số này chỉ tương đương khoảng trên 10% dự trữ ngoại hối hiện nay Tuy nhiên,thâm hụt thương mại kéo dài đang là nguy cơ làm thâm thủng dự trữ ngoại hối và đe dọa đến
an toàn nợ nước ngoài ngắn hạn của Việt Nam trong dài hạn
KẾT LUẬN: Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam vẫn chưa xảy ra khủng hoảng ngân hàng,
khủng hoảng tiền tệ và khủng hoảng nợ Do đó Việt Nam chưa có khủng hoảng kép Hệ thống quản lý tài chính của Việt Nam đang thay đổi để hệ thống tài chính tốt hơn, tạo môi trường lành mạnh hơn cho toàn bộ dòng vốn chuyển động trong nền kinh tế trong tương lai Tuy nhiên, đã có những dấu hiệu cho thấy Việt Nam hoàn toàn có thể rơi vào vòng xoáy của khủng hoảng kép Do đó bên cạnh việc khắc phục các bất cập, điểm yếu vốn có trong nền
Trang 12kinh tế, chúng ta cũng cần phải xây dựng và hoàn thiện hệ thống phòng ngừa rủi ro cho hệ thống tài chính.
III Các mô hình cảnh báo khủng hoảng tài chính trên thế giới
1 Các phương pháp chính để theo dõi và cảnh báo khủng hoảng tài chính
Kỹ thuật theo dõi và cảnh báo đã được phát triển từ hơn 40 năm nay Chúng đadạng và áp dụng toán học khá phức tạp Người ta có thể chia ra hai phương pháp chính đểtheo dõi và cảnh báo là phương pháp tham số và phi tham số
1.1 Phương pháp tham số
Phương pháp tham số dựa trên cơ sở thống kê phân tích, có thể dùng phân tích
biệt số (discriminant) hoặc sử dụng mô hình định tính kiểu “logit” hay “probit” để ước
lượng xác suất xảy ra khủng hoảng Các biến giải thích có thể là định tính hay định lượng vàmang giá trị bất kỳ, trong khi đó kết quả của mô hình sẽ là 0 hay 1, nghĩa là khả năng xảy rahoặc không xảy ra của một sự kiện nào đó
Trong phương pháp tham số còn có 4 nhóm chính: hệ thống đánh giá cho điểm
ngân hàng (supervisory bank rating systems), hệ thống phân tích các nhóm tương đồng và các
tỷ số tài chính (financial ratio and peer group analysis system), hệ thống đánh giá một cách toàn diện rủi ro ngân hàng (comprehensive bank risk assessment system), phương pháp cảnh báo sớm có khủng hoảng (Early Warning System).
Mô hình này được phát triển tiên phong bởi Frankel và Rose (1996) Theo các ông thì khủng hoảng tiền tệ chiếm một vị trí trung tâm trong mô hình dự báo theo phương
pháp tham số Các ông cũng cho rằng khủng hoảng tiền tệ thường diễn ra cùng lúc hoặc kéotheo các dạng khủng hoảng khác như khủng hoảng ngân hàng (hay còn gọi là khủng hoảngkép loại 1)
Dermirgç-Kunt và Detragiache (1997) khi nghiên cứu mô hình theo phương
pháp này thì cho rằng khủng hoảng ngân hàng là một biến thể nghiêm trọng của tình trạngkiệt quệ ngân hàng
Kaminsky và Reinhart (1999) thì cho rằng khủng hoảng ngân hàng bắt đầu khi
tháo chạy tiền khỏi ngân hàng dẫn đến việc chính phủ phải đóng cửa, thâu tóm hoặc sáp nhậpcác ngân hàng hoặc chính phủ phải can thiệp với qui mô lớn để giúp đỡ một hoặc nhiều tổchức tài chính, nhưng sau đó lại phải can thiệp giúp đỡ càng nhiều hơn
1.2 Phương pháp phi tham số
Trong khi đó phương pháp phi tham số (trait recognition analysis, TRA, hay còn gọi là trait recognition model, TRM) không sử dụng giả thuyết thống kê như mô hình tham số
Trang 13mà xây dựng những chỉ số kinh tế với các mức giới hạn cho phép Khi những chỉ số này vượtkhỏi giới hạn thì chúng trở thành tín hiệu cảnh báo
Các tác giả điển hình của những mô hình này là Kaminsky và đồng sự (1998),
mô hình của các ông định nghĩa về khủng hoảng tiền tệ là việc giảm giá mạnh của đồng tiềnhoặc sự giảm mạnh của dự trữ ngoại hối vượt khỏi mức trung bình trên 3 phân phối chuẩn
2 Giới thiệu các mô hình cảnh báo khủng hoảng tài chính trên thế giới
2.1 Mô hình Probit
Mô hình Probit được phát triển tiên phong bởi Frankel và Rose (1996) , xây
dựng dựa trên việc tính mức độ ảnh hưởng của các biến số kinh tế vĩ mô (được đại diện bằngmột ma trận X đóng vai trò biến giải thích trong mô hình) lên xác suất xảy ra khủng hoảng tàichính
Mô hình xem xét khủng hoảng tài chính theo lý thuyết ( theo 3 loại ):
Ta có phương trình hồi quy: CCt = α + β X
Theo mô hình Probit, chúng ta có mô hình xác suất như sau:
Pt = F(CCt) = F (α + β X) Với: Pt là xác suất,
CCt nhận giá trị,
X là ma trận tập hợp các biến kinh tế từ X1, X2, X3 … Xn Các giá trị X phải ứng vớithời điểm t – 1 (nghĩa là dùng biến số kinh tế thời điểm t – 1 dự báo cho xác suất khủnghoảng thời điểm t)