1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Cảng thị nagasaki trong quan hệ thương mại và văn hóa giữa nhật bản với các nước thời edo (1603 1867)

132 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cảng Thị Nagasaki Trong Quan Hệ Thương Mại Và Văn Hóa Giữa Nhật Bản Với Các Nước Thời Edo (1603-1867)
Tác giả Vũ Đoàn Liên Khê
Người hướng dẫn Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Lực
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Châu Á Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2008
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 2,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bối cảnh lịch sử đó đã làm cho Nagasaki có vai trò đặc biệt quan trọng trong quan hệ thương mại giữa Nhật với các nước, đồng thời đưa vị thế của Nagasaki nổi bật so với các thành phố cản

Trang 1

VŨ ĐOÀN LIÊN KHÊ

CẢNG THỊ NAGASAKI TRONG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VÀ VĂN HÓA CỦA NHẬT VỚI

CÁC NƯỚC THỜI EDO (1603-1867)

Chuyên ngành: CHÂU Á HỌC

Mã số: 60.31.50

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TIẾN SĨ NGUYỄN TIẾN LỰC

Thành phố Hồ Chí Minh- Năm 2008

Trang 2

VŨ ĐOÀN LIÊN KHÊ

CẢNG THỊ NAGASAKI TRONG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VÀ VĂN HÓA GIỮA NHẬT

BẢN VỚI CÁC NƯỚC THỜI EDO

(1603-1867)

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành Châu Á học

Mã số: 603150 Người hướng dẫn khoa học: TS.Nguyễn Tiến Lực

TP.HỒ CHÍ MINH – 2008

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn T.S Nguyễn Tiến Lực đã tận tình hướng dẫn phương pháp nghiên cứu khoa học, giúp đỡ em thực hiện và hoàn thành một cách trọn vẹn luận văn

Em xin cảm ơn quý thầy cô trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, các thầy cô khoa Đông Phương học đã dạy bảo, truyền đạt kiến thức cho em trong quá trình học tập

Xin cảm ơn tất cả người thân và bạn bè đã động viên, khuyến khích tôi trong suốt quá trình làm luận văn

Tp.HCM, ngày 26 tháng 3 năm 2008

Vũ Đoàn Liên Khê

Trang 4

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

4 Phương pháp nghiên cứu 6

5 Đóng góp của luận văn 7

6 Bố cục của luận văn 7

Chương 1: TRIỀU TIÊN TRONG QUAN HỆ NHẬT BẢN VÀ TRUNG QUỐC THỜI CỔ–TRUNG ĐẠI 10

1.1 TRIỀU TIÊN – NHỊP CẦU NỐI LIỀN NHẬT BẢN VÀ TRUNG QUỐC 11

1.1.1 Vị trí địa lý tự nhiên 11

1.1.2 Con đường giao lưu văn hóa Trung Quốc – Triều Tiên – Nhật Bản 14

1.2 VẤN ĐỀ TRIỀU TIÊN TRONG QUAN HỆ NHẬT BẢN VÀ TRUNG QUỐC THỜI TRUNG ĐẠI 22

1.2.1 Hai cuộc tấn công của đế quốc Nguyên Mông 22

1.2.2 Chính sách bành trướng vào lục địa của Hideyoshi 29

Chương 2: VẤN ĐỀ TRIỀU TIÊN VÀO CUỐI THẾ KỶ XIX VÀ CHIẾN TRANH NHẬT – THANH (1894 – 1895)38 2.1 VỊ THẾ CỦA BA NƯỚC ĐÔNG BẮC Á CUỐI THẾ KỶ XIX 39

2.1.1 Nhật Bản duy tân đất nước theo con đường “phú quốc, cường binh” 39

2.1.2 Sự suy vong của Đại Thanh 52

2.1.3 Thách thức đối với Triều Tiên 65

2.2 VẤN ĐỀ TRIỀU TIÊN VÀ CHIẾN TRANH NHẬT–THANH (1894–1895) 80

2.2.1 Nguyên nhân chiến tranh 80

2.2.2 Chiến tranh Nhật–Thanh 85

2.2.3 Kết quả 92

Chương 3: VẤN ĐỀ TRIỀU TIÊN SAU CHIẾN TRANH NHẬT–THANH 97

3.1 SỰ CAN THIỆP CỦA BA NƯỚC NGA – ĐỨC – PHÁP 98

3.2 QUAN HỆ NHẬT BẢN–TRIỀU TIÊN–TRUNG QUỐC SAU CHIẾN TRANH 108

3.2.1 Tình hình Trung Quốc sau chiến tranh 108

3.2.2 Sự đổi ngôi ở khu vực Đông Bắc Á 116

KẾT LUẬN 124

TÀI LIỆU THAM KHẢO 129

PHỤ LỤC 139

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Nhật Bản là một quốc gia có nhiều hải cảng lớn và nổi tiếng trong hệ thống cảng thương mại ở Đông Bắc Á nói riêng và khu vực châu Á nói chung Trong đó, Nagassaki là một trong những tỉnh có những cảng biển thương mại nổi tiếng ở Nhật qua nhiều thế kỷ Ngoài ra, Nagasaki còn được thế giới biết đến qua sự kiện bị Mỹ thả quả bom nguyên tử trong thế chiến thứ hai

Về mặt địa lý, Nagasaki nằm trên rìa đất phía tây nam đảo Kyushu, nơi tiếp giáp với các biển lớn trong hệ thống giao thông đường biển của khu vực Châu Á- Thái Bình Dương Cảng này cũng được xem là một trong những cửa ngõ giao lưu kinh tế-văn hoá quan trọng giữa Nhật Bản với các nước Đông Nam Á và Đông Á Trong quá khứ, Nagasaki không chỉ được xem là một trong những điểm dừng chân của các nhà lữ hành, thương nhân phương Tây trên con đường tìm kiếm phương Đông mà còn là một trung tâm giao lưu và tiếp biến văn hoá của Nhật Bản trong thời cận đại Về mặt kinh tế,

từ thời cổ đại Nagasaki được biết đến bởi một thị trường kim loại quý đến mức một thương nhân người Ý tên Marco Polo (1254-1324) trong chuyến du hành phát kiến ra vùng đất phương Đông đã ghi chép trong cuốn Lữ hành ký với tên gọi “Nhật Bản- (Đông Phương) kiến văn lục” ( ), xuất bản năm 1298 rằng Nhật Bản là một quốc gia của vàng, trong đó vùng Kyushu và Kyoto đương thời được xem như là kho trữ lượng vàng và bạc lớn nhất Nhật Bản Ngoài ra, kỹ thuật đánh bắt hải sản đã phát triển từ thời sơ khai đưa Nhật Bản vào hàng quốc gia có nguồn hải sản dồi dào với những hải sản quý thu hút các nước phương Đông cũng như phương Tây đến trao đổi,

Trang 6

buôn bán Chính từ cửa ngõ này, các quốc gia phương Đông và phương Tây

đã tìm đến, ngoài những sản phẩm đặc trưng của quốc gia mình họ đã đem theo những tinh hoa văn hóa, thành tựu văn minh tiên tiến đến tựu trung và hòa quyện trong một xã hội truyền thống, tạo nên một bản sắc văn hóa mới

trong một giai đoạn hội nhập

Do nằm ở vị thế quan trọng như vậy mà ngay từ rất sớm, Nagasaki đã được xếp vào danh sách khu vực cảng quan trọng ở Nhật và Đông Á trong giai đoạn thế kỷ XV- XVI- XVII, một trong những giai đoạn có nhiều biến cố nhất của lịch sử Nhật Bản kể từ khi đất nước lần đầu tiên mở cửa giao lưu với phương Tây Giai đoạn này vừa thể hiện sự tiến bộ trong thương pháp, chính pháp trước sự thay đổi của chính quyền nhưng đồng thời bộc lộ những trăn trở, những lo âu trong công cuộc giữ nước của những nhà lãnh đạo nhằm đưa đến một quốc gia độc lập, thống nhất, bình yên Việc kiến tạo một thể chế mới đòi hỏi người chủ nhân phải rút tỉa những kinh nghiệm quý báu từ những

vị tiền bối của mình Thế kỷ XV, XVI, XVII chứng kiến sự chuyển biến từ thời kỳ Sengoku (Chiến Quốc - – từ 1467-1573), sang thời đại Azuchi Momoyama (An Thổ Đào Sơn - – từ 1568-1603) rồi đến Edo (Giang Hộ - – từ 1603- 1867) Trong đó sự ra đời của ba nhân vật kiệt xuất Oda Nobunaga, Toyotomi Hideyoshi và Tokugawa Ieyasu đã ghi một dấu son cho sự biến chuyển của lịch sử Nhật Bản mà Nagasaki là một trong những khu vực chủ chốt chứng kiến từng động thái chuyển mình trong hệ thống chính trị, xã hội của Nhà nước Trước thời Edo, khi Oda Nobunaga nổi dậy thống nhất đất nước, Nagasaki cũng nằm trong tầm ngắm của Oda trong việc tiến hành quan hệ ngoại giao với nước ngoài do vị trí địa lý đặc biệt của

nó Khi chính quyền Tokugawa Ieyasu ban bố lệnh đóng cửa Nhật Bản

Trang 7

(sakoku), Nagasaki vẫn nắm vai trò quan trọng với danh nghĩa là một thành phố cảng duy nhất được phép mở cửa giao lưu buôn bán với thế giới bên ngoài Bối cảnh lịch sử đó đã làm cho Nagasaki có vai trò đặc biệt quan trọng trong quan hệ thương mại giữa Nhật với các nước, đồng thời đưa vị thế của Nagasaki nổi bật so với các thành phố cảng khác của Nhật Bản

Có thể nói rằng, trong thời đại Edo, Nagasaki chính là cầu nối quan trọng đưa thế giới tìm đến Nhật Bản cũng như đưa Nhật Bản bước ra thế giới

Về mặt kinh tế, Nagasaki ít nhiều góp phần đưa thương nghiệp Nhật Bản phát triển trong thời kỳ khủng hoảng do những cuộc nội chiến và ngoại chiến tràn lan, vực dậy một số ngành nghề thủ công truyền thống Về mặt văn hóa, Nagasaki góp phần trong việc cập nhật các tinh hoa văn hóa từ các nước ngoài củng cố cho giá trị văn hóa truyền thống của đất nước

Mục đích của việc nghiên cứu “Cảng thị Nagasaki trong quan hệ

thương mại và văn hóa giữa Nhật Bản với các nước thời Edo (1603-1867)” là nhằm tìm hiểu quá trình hoạt động thương mại của cảng thị

Nagasaki gắn liền với quá trình lịch sử, chính trị của Nhật Bản trong thời Edo, một thời đại bình an nhất trong lịch sử Nhật Bản, đồng thời nêu lên những giá trị văn hóa tìm ẩn trong quá trình giao lưu kinh tế qua Nagasaki, góp phần hình thành nên một ý thức hệ mới, tiến bộ nhất trong khu vực trong giai đoạn

“đóng mà mở, mở mà đóng” hay còn gọi là “đóng cửa mà không khép kín” Qua đó có thể làm sáng tỏ một số vấn đề lịch sử của cảng thị Nagasaki trong quá trình giao lưu, tiếp biến các nền văn hóa các nước cũng như những mối liên hệ lịch sử trong quan hệ ngoại giao của chính quyền Tokugawa, từ đó có thể hiểu rõ hơn lịch sử Nhật Bản vào thời Edo

Trang 8

Với bản thân là học viên cao học chuyên ngành Châu Á học, tác giả rất quan tâm đến mối quan hệ mang tính lịch sử của Nhật Bản gắn kết với các quốc gia trong khu vực Trong những năm gần đây, Nhật Bản đã tăng cường mối quan hệ với các nước trong đó có Việt Nam Đặc biệt, riêng tỉnh Nagasaki đã có những động thái tích cực trong quan hệ với Việt Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, cụ thể là từ năm 2000, khi hai Thành phố Hồ Chí Minh và Nagasaki ký hiệp định kết nghĩa với nhau, lần lượt sau đó những sự kiện giao lưu kinh tế, văn hóa hàng năm giữa hai thành phố được tổ chức đã khẳng định mối quan hệ hữu nghị giữa hai thành phố nói riêng và hai nước trong giai đoạn hội nhập Đây cũng chính là điều mà tác giả mong muốn nghiên cứu một cách sâu rộng hơn, mang tính học thuật hơn về quá trình lịch sử cũng như ý thức hệ của người dân bản địa, góp phần làm sáng tỏ những hoạt động quan hệ của Nagasaki nói riêng và Nhật Bản nói

chung trong giai đoạn này Với mục đích đó, tác giả chọn đề tài “Cảng thị

Nagasaki trong quan hệ thương mại và văn hóa giữa Nhật Bản với các nước thời Edo (1603-1867)” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp cao học của

mình dưới sự khuyến khích của các thầy cô bộ môn

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Cho đến nay, có nhiều công trình nghiên cứu về Nhật Bản vào thời kỳ Edo của các học giả trong và ngoài nước Trong đó có một số công trình nghiên cứu về Nhật Bản của các học giả Việt Nam đề cập đến Cảng thị Nagasaki với nhiều mức độ chuyên sâu khác nhau đã được công bố

Tại Việt Nam, liên quan đến vấn đề Cảng thị, Viện Sử học Hà nội

Trang 9

công bố công trình nhiều tác giả nghiên cứu về “Đô thị cổ Việt Nam” xuất

bản năm 1989 đã có trình bày về quá trình hình thành của một đô thị và

những đô thị cảng Cùng chuyên đề này, Đỗ Bang trong công trình “Phố

Cảng vùng Thuận Quảng, thế kỷ XVII-XVIII”, năm 1996 cũng nêu những ý

lớn trong cơ sở hình thành phố cảng ở Việt Nam Ngoài ra Đỗ Bang cũng nêu lên những hoạt động thương mại tại Thuận Cảng với Nagasaki Tuy những công trình này chỉ đề cập đến Việt Nam, nhưng đã giúp tác giả có cái nhìn rõ nét hơn về quá trình hình thành thương cảng ở Nagasaki cũng như quá trình giao lưu thương mại của Nagasaki với Việt Nam

Liên quan đến vấn đề Người Nhật, Phố Nhật ở Đông Nam Á và vai trò của các Cảng thị ở Đông Nam Á, tại hội thảo quốc tế về Đô thị cổ Hội An

năm 1991, các công trình nghiên cứu lớn trong và ngoài nước như “Người

Nhật, Phố Nhật ở Hội An” của Vũ Minh Giang, “Vai trò các cảng thị vùng ven biển Đông Nam Á từ đầu thế kỷ II TCN đến đầu thế kỷ XIX” của Ikuta

Shigeru đưa ra những dữ kiện xác thực để minh chứng quá trình hình thành các khu phố Nhật và những hoạt động của Nhật Bản tại Hội An cũng như quá trình hình thành các cảng thị sau này là đầu mối giao lưu thương mại với Nhật qua Nagasaki

Về quá trình thương mại của Nagasaki, Trịnh Tiến Thuận với luận án

tiến sĩ “Quan hệ Nhật Bản- Việt Nam thế kỷ XVI- XVII” năm 2001 có trình

bày sâu sắc về mối quan hệ thương mại giữa Nagasaki và Việt Nam, đặc biệt

là quá trình mậu dịch Shuinsen (Châu Ấn thuyền) Tuy nhiên có thể nói rằng công trình nghiên cứu này chỉ xoay quanh mối quan hệ giữa hai nước mà chưa làm rõ được vai trò của Nagasaki trong mối quan hệ này Ngoài ra,

Trang 10

trong công trình “Quan hệ của Nhật Bản với Đông Nam Á thế kỷ XV- XVII”

của Nguyễn Văn Kim năm 2003, Nguyễn Văn Kim có đề cập một phần đến cảng Nagasaki khi trình bày về các hoạt động thương mại của Nhật Bản với các nước Đông Nam Á Cũng với đề tài Nhật Bản trong một chuyên khảo

khác, công trình “Nhật Bản với Châu Á- Những mối liên hệ lịch sử và chuyển

biến xã hội” năm 2003 có phân tích những biến đổi về kinh tế- xã hội của

Nhật Bản, ngoài ra công trình có luận giải nhiều đến chính sách “đóng cửa” của Nhật và có đề cập đến Cảng thị Nagasaki Tuy nhiên trong hai công trình trên, Nguyễn Văn Kim chưa nêu được vai trò thiết yếu cũng như hệ thống hành chính của riêng Nagasaki mà chỉ đề cập đến quá trình thương mại thông qua thể chế Shuinsen-Châu Ấn thuyền

Riêng tại Nhật Bản, việc nghiên cứu những hoạt động thương mại thời đại Châu Ấn thuyền phải kể đến người tiên phong là giáo sư Iwao Seiichi Ông đã nghiên cứu nhiều công trình và trình bày tại những hội thảo quốc tế Trong số các công trình nghiên cứu quan trọng của ông có công trình

“Nghiên cứu lịch sử mậu dịch Châu Ấn thuyền” năm 1985 (bản mới) và

“Nghiên cứu phố Nhật ở Nam Dương” năm 1966 đề cập sâu đến vấn đề

mậu dịch Nhật Bản trong khu vực Đông Nam Á thông qua Nagasaki Tuy nhiên, Iwao Seiichi chưa nêu lên được lý do và mục đính trong việc chọn lựa

Nagasaki làm vùng trọng điểm so với các thành phố khác như Kyoto, Osaka,

Sakai, Edo lúc đương thời

Ngoài ra, nhà khảo cổ học Kikuchi Seiichi là một trong số những người tìm hiểu về khảo cổ học Việt Nam đã đi sâu nghiên cứu những di tích khảo cổ Nhật Bản còn sót lại trong thời hậu kỳ trung đại Những di vật tìm

Trang 11

được đã được ông tuyển chọn và trình bày trong tác phẩm mang tên “Lịch sử

giao lưu Nhật-Việt giai đoạn cận thế (hậu trung đại)” xuất bản năm 2002 đã

góp phần đưa ra những minh chứng xác thực về hoạt động thương mại giữa Nhật Bản với Việt Nam và các nước Ngoài ra, các nhà nghiên cứu khác cũng

đã trình bày đề tài này trong các kỳ hội thảo, báo cáo như Kato Eiichi, “Mậu

dịch với Đông Dương của các thương điếm thuộc công ty Đông Ấn Hà Lan tai Nhật Bản”; Shigeru Ikuta, Vai trò của các cảng thị vùng ven biển Đông

Nam Á từ thế kỷ II TCN đến đầu thế kỷ XIX (xem thư mục tham khảo) có

mô tả những hoạt động thương mại giữa Nhật Bản với Đông Nam Á thông qua đường biển bằng giấy phép Châu Ấn- Châu Ấn thuyền, trong đó có công

bố những tư liệu về hoạt động của thương mại của người Nhật, người Hà Lan

ở Nagasaki Tuy vậy, các bài viết này vẫn chưa làm sáng tỏ hoạt động giao lưu văn hóa tại Nagasaki

Gần đây nhất, công trình nghiên cứu của nữ tác giả Suzuki Yasuko với đề tài “Nghiên cứu hệ thống hành chính Nagasaki” đã trình bày một cách sâu sắc luận điểm của cá nhân đối với chính quyền Shogun Edo trong việc chi phối hệ thống thương mại của Nagasaki Tuy nhiên dù đã nêu hệ thống hành chính của Nagasaki nhưng vẫn chưa làm bật rõ vai trò tối quan trọng của cảng thị Nagasaki trong giai đoạn trước đóng cửa

Tại các nước khác, liên quan đến vấn đề tôn giáo, học giả người Anh

C.R Boxer với công trình “Thương nhân và các giáo sĩ Bồ Đào Nha trong

xã hội phong kiến Nhật Bản, 1543-1640” xuất bản năm 1968 đã mô tả quá

trình Thiên chúa giáo được các giáo sĩ sau đó là các thương nhân Bồ Đào Nha truyền bá và bị diệt vong tại Nagasaki Boxer cũng đã giới thiệu rõ nét

Trang 12

việc thực hiện thương mại của Bồ Đào Nha tại Nhật làm cơ sở cho tác giả lý giải được những suy nghĩ của Tây phương khi đem Thiên chúa giáo vào Đông phương tuy rằng chỉ mới gói gọn ở Nhật Bản

Trong khi đó, về quá trình thương mại biển, học giả Hoa Kỳ K.R Hall qua công trình “Thương mại biển và sự phát triển ở Đông Nam Á sơ kỳ” xuất bản năm 1985 đã giới thiệu một mang lưới đường biển hình thành giữa các khu vực đô thị ven sông, ven biển trong khu vực Đông Nam Á có liên hệ với các nước trên khu vực Đông Á Tuy nhiên, công trình này chỉ dừng lại ở giai đoạn sơ kỳ nên chưa mô tả được tầm quan trọng của thương mại biển trong giai đoạn hậu trung đại

Tuy nhiên, có thể nói rằng các công trình, bài viết kể trên chính là nguồn tư liệu, ảnh liệu quý giá cho bản thân tác giả trong việc nghiên cứu

một cách có hệ thống hơn về Cảng thị Nagasaki trong quan hệ thương mại

và văn hóa giữa Nhật Bản với các nước thời Edo (1603-1867)

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Như tên đề tài luận văn, đối tượng nghiên cứu là cảng thị Nagasaki trong hoat động thương mại và việc giao lưu văn hóa với các quốc gia Tây

Âu, Đông Á và Đông Nam Á trước và sau giai đoạn chính quyền Tokugawa Ieyasu thực thi chính sách đóng cửa Trong đó tác giả phác họa lại những nét chính bức tranh về cảng thị Nagasaki với những hoạt động của nó bao gồm hai cảng chính là Hirado và Nagasaki trong hệ thống cảng hoạt động sôi nổi của Nagasaki lúc đương thời Chủ yếu chính là làm sáng tỏ mối quan hệ thương mại giữa Nhật Bản với các nước trong giai đoạn này đồng thời nêu

Trang 13

lên những giá trị văn hóa mà Nhật Bản đã lĩnh hội qua quá trình hoạt động thương mại tại Nagasaki Trong luận văn, tác giả có trình bày một số luận điểm trong chính sách “đóng cửa” hay “bế quan” được dịch từ nguyên gốc tiếng Nhật là “sakoku” của chính quyền Tokugawa đồng thời cố gắng phân tích những yếu tố văn hoá, chính trị, lịch sử xét từ góc nhìn Nhật Bản để tìm hiểu lý do tại sao chính quyền Mạc phủ Tokugawa đã chọn Nagasaki làm cứ điểm mở cửa hoạt động thương mại mà không phải những thành phố nổi tiếng khác

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TƯ LIỆU

Trong quá trình nghiên cứu đề tài Cảng thị Nagasaki trong quan hệ

thương mại Nhật Bản thời kỳ Edo(1603-1867) tác giả gặp được nhiều thuận

lợi trong việc tiếp cận được nhiều nguồn tài liệu phong phú bằng tiếng Việt

và tiếng nước ngoài, đặc biệt là tiếng Nhật; đồng thời sự hướng dẫn tận tình của các giáo sư Nhật, Việt cùng với chuyến đi nghiên cứu thực tế tại Nagasaki đã góp phần xây dựng độ tin cậy cho chính bản thân tác giả trong việc nghiên cứu

4.1 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện, tác giả đã sử dụng những phương pháp sau:

- Phương pháp lịch sử: trình bày các sự kiện lịch sử theo lịch đại, đặt các sự kiện lịch sử trong hoàn cảnh cụ thể để đánh giá

- Phương pháp logic: tổng hợp, phân tích các sự việc trong mối quan

hệ chặt chẽ với nhau, vận dụng các thao tác quy nạp, diễn dịch để làm sáng tỏ bản chất của sự việc

Trang 14

- Phương pháp liên ngành: nghiên cứu về vai trò của cảng thị, tác giả thực hiện các phương pháp của khoa học lịch sử, các phân ngành sử học, văn hóa học, hàng hải học, khảo cổ học, kinh tế học…

- Tiến hành đi khảo sát thực tế tại địa phương, chụp ảnh tư liệu, phỏng vấn người dân bản địa đồng thời thu thập thông tin thực tế tại bảo tàng

ở khu vực hai cảng Nagasaki và Hirado

4.2 Nguồn tư liệu, ảnh, bản đồ và sơ đồ

1 ững thư tịch cổ Nhật Bản về mối quan hệ mậu dịch giữa Nhật Bản và các quốc gia Đông Nam Á, được các sứ thần đương thời ghi chép và lưu lại tại Thư viện Quốc gia Nhật Bản và viện bảo tàng Nagasak

4 luận văn, luận án, tạp chí nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến đề tài

5 ững bức ảnh quan trọng liên quan đến đề tài

5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

5.1 Ý nghĩa khoa học

Trên cơ sở nghiên cứu đề tài Cảng thị Nagasaki trong mối quan hệ

giữa Nhật Bản với các nước thời Edo (1603-1867), tác giả mong muốn sẽ

phát họa một cách tương đối đầy đủ về quan hệ giữa Nhật Bản và thế giới

Trang 15

bên ngoài thông qua cửa ngõ Nagasaki trong một giai đoạn lịch sử nhất định, góp phần làm sáng tỏ nhận thức về sự hiện diện của Cảng thị Nagasaki như một mấu chốt quan trọng trong quá trình giao lưu thương mại và văn hóa của Nhật Về mặt học thuật, đây sẽ làm tiền đề cho việc nghiên cứu sâu và có hệ thống hơn về vai trò của Cảng thị Nagasaki trong các mối quan hệ của Nhật với các nước cùng thời kỳ Qua đó, có thể đưa ra cái nhìn chung về hệ thống cảng thị của khu vực châu Á và thế giới

5.2 Ý nghĩa thực tiễn

Trong khuôn khổ nội dung luận văn cao học và do kiến thức còn hạn hẹp, tác giả mong muốn qua việc qua việc tập hợp có chọn lọc và xử lý

những những tư liệu từ nhiều nguồn khác nhau, đề tài Cảng thị Nagasaki

trong quan hệ thương mại Nhật Bản thời Edo(1603-1867), đề tài có thể bổ

sung về mặt tư liệu cho những nhà nghiên cứu trong tương lai trong việc tìm hiểu những nét văn hoá, chính trị, ngoại thương và hệ tư tưởng của con người Nagasaki và Nhật Bản trong giai đoạn bấy giờ Qua đó, nội dung nghiên cứu

có thể đóng góp nguồn tư liệu cho việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu lịch

sử Nhật Bản giai đoạn hậu trung đại-cận đại trong mối quan hệ với thế giới bên ngoài nói chung và Việt Nam nói riêng

Cuối cùng, trong xu thế hội nhập mới của Việt Nam, đề tài này mong muốn được đóng góp cho công tác giao lưu và quan hệ quốc tế giữa các tỉnh thành Việt Nam với Nagasaki nói riêng và giữa Việt Nam và Nhật Bản nói chung

6 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN

Trang 16

Với tiêu đề “Cảng thị Nagasaki trong quan hệ thương mại Nhật

Bản thời Edo (1603-1867)”, luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề

theo bố cục như sau:

Phần Mở đầu, trình bày lý do chọn đề tài, mục đích, ý nghĩa của việc

nghiên cứu đề tài cùng những phương pháp nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu

Phần Nội dung, gồm ba chương chính sau

Chương 1: Cảng thị và sự hình thành cảng thị Nagasaki

Trong chương này, tác giả nêu những khái niệm về đô thị cảng đồng thời giới thiệu về lịch sử hình thành hệ thống cảng thị ở khu vực Đông Á từ thời kỳ đầu công nguyên đến thế kỷ XVII Trong chương này, tác giả mô tả một cách khái quát về lịch sử cảng thị Nhật Bản trong quá trình giao lưu tiếp xúc với thế giới bên ngoài trong suốt giai đoạn hình thành đến thế kỷ XVII

Từ bối cảnh lịch sử đó, tác giả nêu vị trí địa lý và lịch sử của Nagasaki trong

sự hình thành của Nhật Bản

Chương 2: Cảng thị Nagasaki trong quan hệ thương mại Nhật Bản với

các nước thời Edo (1603-1867) Trong chương 2, tác giả hệ trình bày quá trình thương mại của Nhật Bản thông qua Nagasaki được phân chia làm hai giai đoạn, trước và sau khi đóng cửa Tác giả nêu những quan điểm như là những luận cứ của ba nhà lãnh đạo Oda Nobunaga, Toyotomi Hideyoshi và Tokugawa Ieyasu trong thương pháp đối với sự chọn lọc Nagasaki với hai cảng thị chính là Hirado và Nagasaki làm tiếp điểm nối kết Nhật Bản với thế giới bên ngoài đồng thời

Trang 17

đưa ra những quan điểm về vai trò thương mại và vai trò giao lưu quốc tế của hai cảng thị này trong thời đại thương nghiệp

Chương 3: Nagasaki và quá trình giao lưu văn hóa với các nước Trong chương này, tác giả tập hợp những giá trị văn hóa, tinh thần, những tri thức khoa học kỹ thuật, giáo dục hình thành qua việc giao lưu, tiếp nhận từ thế giới bên ngoài mà Nhật Bản tiếp thu được tựu trung tại khu vực Nagasaki, giúp Nagasaki nói riêng và Nhật Bản nói chung tiến bộ hơn so với các nước trong khu vực

Phần Kết luận, nhận định lại một cách tổng quát quá trình giao lưu

thương mại của Nhật Bản thông qua Nagasaki, đồng thời nêu lên những điểm quan trọng đưa Nagasaki có vị thế quan trọng đối với Nhật lúc bấy giờ Đồng thời đề tài còn gợi mở ra những hướng nghiên cứu mới về những vấn

đề liên quan

Phần Thư mục tham khảo, giới thiệu những công trình nghiên cứu

quan trọng của các tác giả trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài

Phần Phụ lục, giới thiệu những tài liệu, tranh ảnh quan trọng có liên

quan đến đề tài

Trang 18

Chương 1

CẢNG THỊ VÀ SỰ HÌNH THÀNH CẢNG

THỊ NAGASAKI

Trang 19

1.1 KHÁI NIỆM VỀ CẢNG THỊ VÀ LỊCH SỬ HÌNH

THÀNH CẢNG THỊ ĐÔNG Á

1.1.1 Khái niệm về cảng thị

Cảng thị trước hết là những đô thị, là những vùng tụ cư, mang đặc

điểm chung là không chủ yếu sản xuất nông nghiệp và không chủ yếu sinh sống bằng nông nghiệp mà là khu vực tập trung những người chuyên

sống bằng nghề thủ công, buôn bán, dịch vụ…[42, tr.9-10] Với sự phát triển của kinh tế hàng hóa, đánh dấu trình độ phát triển của nội thương kết hợp với

sự phát triển của các luồng ngoại thương hình thành nên một loại hình đô thị mới: đô- thị- cảng hay còn gọi là cảng thị hoặc phố cảng

Nói đến cảng thị hay phố cảng tức là đề cập đến địa điểm diễn ra hoạt động thương mại, giao lưu trao đổi hàng hóa của các khu phố ở ven sông, ven biển với các quốc gia khác thông qua con đường hàng hải Các quốc gia bên ngoài mang hàng hóa theo nhu cầu của đất nước sở tại đến trao đổi và buôn bán, đồng thời đem về cho quốc gia mình hoặc đem trao đổi với những quốc gia khác những sản phẩm cần thiết để sinh lợi Hoạt động thương mại phát triển sẽ là động lực thúc đẩy quá trình sản xuất tương hỗ giữa các quốc gia, góp phần làm giàu cho nền kinh tế vùng và kinh tế quốc gia, sâu xa hơn nữa

là phát triển kinh tế khu vực Từ mục đích ban đầu trong việc trao đổi hàng hóa, giữa các quốc gia lại nảy sinh quá trình giao lưu về khoa học kỹ thuật, tiếp nhận những truyền thống văn hóa Sự giao lưu giữa con người với con người ở các quốc gia, các thành thị góp phần hình thành nên một hệ tư tưởng, một thể chế riêng

Các tuyến hải trình phát triển theo đà của sự giao lưu kinh tế, đều có

Trang 20

tác dụng thúc đẩy sự phát triển của khu vực Đông Á Sự phát triển của thương nghiệp từng bước đã đưa những mặt hàng lâm, thổ, đặc sản của khu vực thâm nhập vào thị trường quốc tế, đồng thời nó cũng làm cho một số lượng lớn hàng hóa nước ngoài có cơ hội thâm nhập vào khu vực đồng thời cũng tiếp thu những tinh hoa của văn hóa ngoại lai tạo đà cho sự thúc đẩy tiến bộ xã hội của khu vực Như thế mới trả lời cho câu hỏi tại sao các khu vực ven biển, các hải đảo, bán đảo cũng phát triển nhanh hơn các khu vực còn lại của nó trong nội địa; tại sao một số địa phương lại có khả năng phát triển đi lên Có thể xem những ý kiến trên như là một trong những nguyên nhân quan trọng Các tuyến hải trình xuất hiện cũng đã kéo theo sự giao lưu

về kinh tế, văn hóa và cũng ảnh hưởng không ít đến đời sống kinh tế- xã hội của người dân khu vực Đông Á, làm cho nhận thức về thế giới, về khu vực Đông Á ngày càng rõ nét hơn Chính cơ hội thâm nhập vào thế giới đã làm phong phú hơn nhận thức của nhân loại Thực tế đã chứng minh: sự mở rộng tiếp xúc, giao lưu lẫn nhau, chắt lọc những tinh hoa, tiếp nhận những cái mới

là quá trình tất yếu trong sự tiến bộ của các dân tộc từ cổ chí kim

Ngoài ra, các cảng thị còn được xem đồng thời là những trạm trung chuyển hàng hoá giữa các quốc gia, khu vực cùng một hệ thống giao thông biển Ngay những năm đầu công nguyên, Phù Nam đã giữ vai trò quan trọng trong giao thông biển Đông-Tây qua eo đất Kra với trung tâm là Óc Eo Thời gian sau đó, con đường biển qua khu vực hải đảo được khai thông, nhất là eo Sunda và Malacca, vai trò của Óc Eo và Phù Nam mất dần thế chủ đạo Thay thế nó là vai trò của các cảng thị khu vực hải đảo như Sri Vijaya, Mojopahit hay, Champa ở bán đảo Đông Dương Thời đại hoàng kim của khu vực Đông

Trang 21

Sử gia Ikuta Shigeru, Giáo sư khoa Quan hệ Quốc tế trường Đại học Daito Bunka, Nhật Bản đã đặt ra một từ là “cảng thị” để chỉ những những thành phố, những quốc gia có một phần đường ranh giới là biển, nơi thực hiện những cuộc giao lưu kinh tế, văn hóa với những nơi khác ngoài ranh giới quốc gia [8, tr.247] Tính cộng thông của đô thị cảng là các quốc gia, vương triều trong nước đều mong muốn các cảng thị này sẽ là cửa ngõ để du nhập các văn vật từ nước ngoài vào, mặt khác với nguồn tài nguyên dồi dào của vùng đất trung tâm, thông qua thương mại có thể thúc đẩy sản xuất trong nước, góp phần làm lưu thông nội lực, đẩy mạnh nội thương đất nước Những cảng thị có tiềm năng kinh tế trong thương mại này thường nằm trong

sự chi phối của vương triều chính của khu vực đó Sự đa dạng trong nền văn hoá của các cảng thị là kết quả của quá trình giao lưu kinh tế-văn hoá, văn hoá Châu Âu, văn hoá người Hoa, người Ấn vẫn còn hiện diện đâu đó trong những cảng thị đã ngủ sâu dưới lớp bụi của thời gian là minh chứng hùng hồn cho thời kỳ huy hoàng trong quá khứ Tiếp xúc và giao lưu văn hoá là quy luật phát triển của văn minh, một nhu cầu tự nhiên của con người, là quy luật của xã hội loài người, không có giao tiếp, giao lưu văn hoá giữa các dân tộc thì cũng không có sự phát triển

Trang 22

Tác giả Đỗ Bang trong nghiên cứu “Phố cảng vùng Thuận Quảng thế

kỷ XVII- XVIII” đã dùng chữ “phố cảng” để chỉ những loại hình đô thị nằm ven sông, ven biển Đỗ Bang cũng cho rằng tìm hiểu phố cảng là nghiên cứu

về một loại hình kinh tế- xã hội- văn hóa có quan hệ đến sản xuất hàng hóa, thương nghiệp, phát triển đô thị trong mối quan hệ giao lưu kinh tế và văn hóa với các nước bên ngoài.[1, tr.5]

Đặc trưng của cảng thị hay những quốc gia cảng thị là có sự cung cấp

cụ thể cho sự “giao dịch”, ở đây chính là sự tập trung nhân lực phục vụ cho công việc giao lưu kinh tế, thương mại, trao đổi hàng hóa Thomas Piless đã ghi trong cuốn “Đông phương chú quốc ký” ( ) rằng: “Ở Malacca

có người Ả Rập, người Berusia, người Thổ, người Acmenia, người Ấn Độ, người Nhật, người Lưu Cầu, ngoài ra, người Campuchia, Luzon, Brunei, Java cũng tập trung ở đây Những cư dân ở những vùng đất khác nhau, mang theo những hệ tư tưởng tôn giáo bản địa đến hòa nhập trong vùng đất mới Hầu hết ở những cảng thị, người nước ngoài đến và ngay lập tức họ lập ra một địa bàn cư trú cho mình, rồi lập ra một thể chế chính trị nhỏ…” [53, tr.51]

1.1.2 Lịch sử hình thành và đặc điểm của những cảng thị lớn ở Đông Á

Các cảng thị lớn ở khu vực Đông Á mà tác giả đề cập là các cảng thị tập trung trong giới hạn địa lý ở khu vực Đông Nam Á và Đông Bắc Á.Về mặt địa lý, các cảng thị này có mối quan hệ giao thông và thương mại diễn ra thường xuyên trong suốt chiều dài của lịch sử Mối quan hệ mật thiết này đã

Trang 23

Lịch sử hàng hải Đông Á đã hình thành từ những thế kỷ đầu Công nguyên trên cơ sở phát triển của đồ đồng, đồ sắt, sự manh nha của việc trao đổi hàng hóa đã dẫn đến quá trình di chuyển của một bộ phận tộc người sang những vùng đất khác Hai đại biểu tiên phong trong quá trình giao lưu với thế giới bên ngoài là Trung Quốc và Ấn Độ với nền văn minh và kỹ thuật sản xuất phát triển lâu đời nhất trong khu vực phương Đông Từ đầu thế kỷ thứ II, cùng với sự ra đời của các quốc gia cổ đại ở Đông Nam Á như Phù Nam, Lâm Ấp (Champa) ở phía Nam lục địa, Xích Thổ, Đốn Tốn ở hạ lưu sông Mê Nam và bán đảo Malaya, Taruma (Java), văn hóa Ấn thông qua những thương nhân Ấn Độ cũng được du nhập vào đây Từ thế kỷ thứ II TCN, Tần Thủy Hoàng đã chinh phục được miền Nam Trung Hoa, lập ra vương triều Tần Nhà Tần đánh dấu sự phát triển kinh tế bằng con đường tơ lụa trên bộ sang các nước Tây Á rồi đến Ấn Độ, đồng thời người Ấn Độ cũng theo lộ trình như trên tìm đến Trung Quốc để mua tơ lụa Tuy nhiên, ngay từ rất sớm, con đường tơ lụa trên bộ từ Trung Quốc đến Tây Á đã bộc lộ nhiều nhược điểm như lộ trình dài, ngoằn ngèo mất nhiều thời gian và sức lực Vì vậy, các thương nhân Ấn Độ đã bắt đầu biết sử dụng những thuyền buôn nhỏ để đến Trung Hoa bằng cách đi men theo các eo biển ở Đông Nam Á Do điều kiện

Trang 24

Cùng thời gian đó, vương quốc Lâm Ấp (Champa) thuộc phía Nam đèo Hải Vân Việt Nam ngày nay cũng đóng vị trí quan trọng là điểm dừng chân tiếp nước và lương thực trước khi lên đến Phù Nam, tuy không phát triển bằng cảng thị Óc Eo- Phù Nam nhưng Lâm Ấp cũng đóng vai trò trung gian tích cực cho con đường thương mại lên Trung Hoa Về sau, khi Phù Nam- Óc Eo bị suy vong, Lâm Ấp thuộc về vương quốc Champa, các cảng ở đây cũng đóng vai trò làm đầu mối mậu dịch quan trọng vì nằm trên trong độ giao thông hàng hải quốc tế nối liền Đông Tây

Vào thời Tần, Tần Phúc Đông đến Nhật Bản mang theo “hàng nghìn

đồng nam, đồng nữ cùng tơ lụa, ngũ cốc với hàng trăm thuyền bè” (Tây di,

Trang 25

Tiên phong trong kỹ thuật tàu biển là những người Mã Lai Ngay từ những thế kỷ đầu TCN, họ đã có những kinh nghiệm dày dặn trong việc định hướng, xác định khí hậu…Nhờ vào họ mà ngay từ thời gian đầu những quốc gia ở Bắc Phi, Địa Trung Hải hiểu được khái niệm tồn tại của phương Đông

Từ Malacca họ đã thực hiện những chuyến hành hương đi lại giữa hai vùng biển và dừng lại trên eo biển Sunda hoặc Malacca Sự sụp đổ của Phù Nam

đã biến hai eo biển trên trở thành nút giao thông quan trọng trên con đường giao lưu quốc tế Đông Tây Thế kỷ thứ VII, vương quốc Srivijaya ra đời cùng một số quốc gia hải đảo khác nằm trên tuyến đường quan trọng ở eo Malacca Người Hoa trên con đường tìm kiếm vùng đất mới đã lần xuống đến Malacca

và đã nhắm tới quốc gia này làm trạm trung chuyển mới cho con đường đem hàng hóa của mình ra Tây Á và Châu Âu Trong đó cảng Palembang thuộc Srivijaya trở thành cảng trung tâm quan trọng nhất ở Malacca Người Hoa thay vì sang tới Tây Á, họ đem hàng hóa đến Palembang, còn người Ba Tư,

Ả Rập cũng không cần thiết phải đi đến Trung Quốc mà chỉ cần dừng chân ở Malacca cũng có thể mua được hàng hóa theo nhu cầu Nhờ vào sự xuất hiện

Trang 26

Vào thế kỷ thứ VIII, con đường tơ lụa trên biển của Trung Quốc phát triển rực rỡ Với việc phát minh ra la bàn và kỹ thuật đóng tàu ngày càng tiến bộ hơn, Trung Quốc đã bắt đầu thực hiện những chuyến hải trình dài ngày, cho những thuyền lớn đi từ cảng Quảng Châu xuống khu vực phía Nam rồi từ đó đi men theo biển Đông đến các cảng thị ở miền Đông Nam Á, Ấn

Độ, từ cảng Kiệt Thạch, Đăng Châu lên hướng bắc buôn bán với Cao Ly, từ cảng Minh Châu ở Ninh Ba, thực hiện những chuyến đi dài sang các cảng ở Kyushu của Nhật Bản Từ các cảng ở Phúc Kiến, Trung Quốc lại có một phái

bộ khác sang cảng Naha của Vương quốc Ryukyu và các cảng ở Trung Quốc này đã đóng cai trò quan trọng trong quá trình thương mại qiữa hai quốc gia Thời gian này, cảng Tuyền Châu được xem là cảng mậu dịch lớn nhất ở phương Đông Nó hội đủ những yếu tố để thể hiện vai trò là một trong những cảng biển quốc tế của con đường tơ lụa trên biển [16, tr.145]

Đến thế kỷ XIV, sau khi lật đổ nhà Nguyên lập nên triều Minh, để giữ thế ổn định về xã hội, tránh nạn cướp biển Nhật và Trung quốc hoành hành nhưng thực tế là mong muốn quyền thương mại hàng hải nằm độc quyền trong tay triều đình nên nhà Minh ra lệnh đóng cửa đất nước, cấm các thuyền

bè tư nhân đi ra nước ngoài và hoạt động ngoại thương chỉ dành cho đội tàu của Hoàng đế, các thuyền nước ngoài muốn đến Trung Hoa phải theo hình

Trang 27

Vào thế kỷ XV, trên bán đảo Mã Lai (Malaya), vương quốc Malacca

ra đời, bên cạnh sự phát triển rực rỡ của thời đại thương mại trên biển Sự ra đời của Malacca có ý nghĩa rất lớn trong lịch sử thương mại lúc bấy giờ do vị trí địa lý của nó nằm ngay eo biển Malacca, nơi các thuyền bè từ Ấn Độ và Tây Á đến để gặp gỡ và trung chuyển hàng hóa về, nó đã rút ngắn được hải trình từ Tây Á đến Trung Quốc Malacca ban đầu là vùng đất cống của vương quốc Ayuthaya về sau được sự ủng hộ của Trung Hoa, năm 1430, Malacca thoát khỏi sự thống trị của Ayuthaya (Siam- Thái Lan ngày nay) nhưng sau lại bị người quân Sian tấn công lại nhưng với sự nổi dậy của dân chúng dưới sự giúp sức của cánh quân đạo Hồi Từ đó đạo Hồi là quốc giáo tại đây Malacca được xem là trạm trung chuyển lớn nhất Đông Nam Á thế

kỷ XV Trước sự hấp dẫn của thị trường mậu dịch này mà năm 1509 Bồ Đào Nha đại diện cho nước nhà nước tư bản đầu tiên bắt đầu thực hiện chuyến viễn chinh đến cảng Malacca nghe ngóng tình hình nhưng lập tức bị quân Malacca tấn công và đẩy lùi Quyết không bỏ cuộc, hai năm sau, Affonso de Albuquerque đã đưa hạm đội lớn trang bị súng ống hoàn bị sang tấn công và chiếm được Malacca mở ra thời đại thực dân trên khu vực cảng thị này và từ

từ đánh chiếm những vùng đất khác lập ra đế chế Bồ Đào Nha bắt đầu một sự truyền bá Cơ đốc giáo vào khu vực phương Đông Sau đó quân Bồ Đào Nha còn tiến sâu vào khu vực Đông Nam Á và chiếm được Manila của Philippines và sau đó nhanh nhẹn tiến lên Trung Quốc để đặt mối quan hệ ngoại thương và được triều Minh lập khu phố sinh sống ở Macao, từ đó Macao trở thành khu vực trung gian trong mối quan hệ giữa Nhật Bản và Trung Quốc thông qua thương nhân Bồ Đào Nha Người Bồ Đào Nha khi

Trang 29

Cảng Nagasaki và Hirado của Nhật

Con đường thuyền Tây Ban Nha đến

Con đường thuyền Bồ

Đào Nha đến Con đường thuyền Hà

Lan đến

1 Hình 1.1: Bản đồ thuyền Tây Âu đến khu vực Đông Nam Á và Nhật Bản từ thế kỷ XVI

1 Nguồn: Kawaguchi Yohei, Cảng thị Nagasaki-Hirado trên con đường mời gọi thế giới, Sinsensya

2007, tr 15

Trang 30

Từ thời Kofun, biển Setonai ( ) nối phía bắc Kyushu và Kinai ( ) là một trong những con đường giao thông biển quan trọng của Nhật Bản Đến cuối thời Heian, Cảng biển Kobe (thuộc tỉnh Hyogo) trở thành cứ điểm thương mại trong quan hệ mậu dịch với triều Tống của Trung Quốc, lúc này Fukuhara Kyo ( ) là kinh đô ở Nhật cũng thực hiện giao lưu thương mại Mậu dịch thời Tống phát triển thịnh vượng đến trung kỳ thời Kamakura Lúc đó Nhật Bản cũng buôn bán với Cao Ly thuộc bán đảo Triều Tiên thông qua phố cảng Hakata ở Kyushu Người Cao Ly và người Tống thường tập trung qua lại và sinh sống trên phố cảng này hình thành một đô thị quốc tế đầu tiên ở Nhật Bản

Trang 31

Từ cuối thời Kamakura, quan hệ nội thương giữa các đảo hoạt động nhộn nhịp, đặc biệt là mối quan hệ trên sông nước đã đẩy các cảng thị trong nước phát triển mạnh Cảng Kobe hàng năm đón trên 1000 thuyền lớn nhỏ tập trung đến, những cảng khác con số tàu thuyền đến cũng xấp xỉ Cùng thời điểm đó, đô thị cảng Lubeck thuộc miền bắc nước Đức là đại biểu tiêu biểu cho đô thị cảng sầm uất nhất Châu Âu đương thời cũng chỉ đạt vài trăm thuyền đến hàng năm Trong những di chỉ khảo cổ cũng xác định rằng thành phố Fukuyama (thuộc Hiroshima ngày nay) có vết tích của phố cảng vào thời Muromachi

Đến thời Edo, mối quan hệ giao thương trên biển đi vào giai đoạn phát triển cực thịnh, hải trình giao thông Đông Tây đã từng bước được định hình Những điểm trung chuyển trên con đường giao thương quốc tế được hình thành ở một số quốc gia như Đông Nam Á là Hội An của Việt Nam, Ayuthaya của Thái Lan; Trung Quốc là các cảng Ninh Ba, Tuyền Châu, Phúc Kiến…; ở Nhật Bản là Nagasaki

Đến thời Meiji, sau giai đoạn chấm dứt bế quan tỏa cảng, các cảng giao thương Yokohama, Hakodate, Otaru ở Hokkaido phát triển nhanh chóng Cảng Kobe cũng phát huy vai trò cho đến cuối Meiji, đầu thời Showa (Chiêu Hòa) trở thành một trong 04 hải cảng quốc tế lớn, phát triển vượt bậc Một mặt, đến giai đoạn này, hệ thống đường tàu lửa và đường bộ cũng phát triển trong nước nên việc vận chuyển hàng hóa trong nước giảm dần khiến vai trò của cảng thị cũng suy giảm dần

1.2.2 Vị trí địa lý Nagasaki

Trang 32

Nagasaki là tỉnh nằm ở phía Tây đảo Kyushu, diện tích 4095,31

km2 (đo ngày 1 tháng 1 năm 2007), chiều ngang Đông Tây là 213 km,

chiều dài Nam Bắc là 307 km, phía đông giáp với tỉnh Saga, 3 mặt còn lại

đều giáp biển với vô số những hòn đảo lớn nhỏ, đường bờ biển dài 4137km,

là tỉnh đứng thứ 02 toàn quốc, sau Hokkaido, có đường bờ biển dài nhất

nước nhưng nếu không tính phần lãnh thổ phía Bắc của Hokkaido thì

đường bờ biển của Hokkaido cũng chỉ là 2978km, như vậy Nagasaki đứng

vị trí thứ nhất toàn quốc về có đường bờ biển dài nhất nước Nagasaki có

13 thành phố, thành phố trực thuộc trung ương là thành phố Nagasaki

Hàng năm do phù sa bồi đắp mà diện tích tỉnh Nagasaki tăng lên đôi chút

Dân số Nagasaki đến đầu thế kỷ XIX vào khoảng 240000 người, tuy nhiên

sau trận thả bom của Mỹ năm 1945, dân số bị giảm đáng kể Từ năm 2000,

dân số Nagasaki đã dần tăng lên đến nay đã đạt con số gần 1,5 triệu người

Trang 33

Phường Higashi Sonogi 74.25 Phường Kawatana 37.25 Quận Higashi sonogi

Phường Hasami 55.97

Không rõ

Phường Ozika 25.46 Phường Emukae 32.07 Phường Shikamachi 30.24 Quận Kita Matsuura

Phường Saza 32.30

26,570

Quận Minami Matsuura Phường Shin kamigoto 213.93 24,334

Bảng1.1: Diện tích và dân số phân bố các vùng tỉnh Nagasaki năm 20072

Về địa hình, Nagasaki có rất ít diện tích đất bằng, đa số là núi đồi, cao nguyên giáp với biển là các bán đảo, vịnh nhỏ, nước biển ăn sâu vào vùng núi Đây là nơi có địa hình khúc khuỷu, hiểm trở, phức tạp Phía đông

là bán đảo Shimabara nhô ra, cách biển Ariake ( ) là tỉnh Kumamoto, tỉnh Fukuoka, phía nam là bán đảo Nagasaki, từ đây có thể nhìn thấy biển

2 Nguồn: Kawaguchi Yohei, sdd., [73, tr.88]

Trang 34

mở Amakusa ( ), phía tây là quần thể đảo Goto, phía tây bắc có đảo Iki

và Tsushima, theo hướng đó bên kia biển Triều Tiên có thể nhìn thấy đất nước Hàn quốc Những ngọn núi lớn chủ yếu của tỉnh gồm núi Unzen, Tara, Kunimi, về hệ thống sông ngòi thì tất cả các sông trong phố phường Nagasaki đều đổ ra biển, không có sông lớn, chỉ có vài sông chính như Honmyo ( ), Saza ( ), Aiura ( ), Kawatana ( ) Do đặc trưng địa hình mà toàn tỉnh Nagasaki có 83 cảng lớn nhỏ chiếm 7.4 % số cảng cả nước Trong đó hai cảng quan trọng nhất lúc đương thời là cảng Nagasaki và Hirado

1.2.3 Lịch sử hình thành Nagasaki

Về lịch sử, cái tên Nagasaki không rõ nguồn gốc du nhập từ khi nào, nhưng theo điển tích, năm Genko (Nguyên Hoằng) thứ 3 (năm 1333), giai đoạn Kamakura, khi Hojo3 bị quân của Nitta Yoshisada tấn công sau đó phải bỏ chạy đến đóng quân tại thôn Nagasaki, quận Tagata, thuộc tỉnh Izu (Shizuoka ngày nay) Trong thuộc hạ của Hojo, có một võ sĩ tên là Nagasaki Trong chuyến đi sứ bộ, Nagasaki đã lưu lạc đến một vịnh phía trong Kyushu và chiếm đóng tại dó, đặt tên là vịnh Nagasaki, Nagasaki sau

đó được giữ chức quan khâm sai tả vệ môn của Kamakura Bakufu

Đương thời này, Nagasaki là một phần của han Hizen Han Hizen

bao gồm tỉnh Saga, và toàn bộ tỉnh Nagasaki ngoại trừ Iki và Tsushima Han Hizen và Iki, Tsushima được phân ra làm 3 tỉnh riêng biệt Hizen với quần đảo quần đảo Goto, là nơi xuất phát điểm cho lộ trình đi sứ Tùy Đường xuống phía Nam của Nhật Bản Vào giai đoạn hậu trung đại, cướp

3 Hojo là một chấp quyền, nắm mọi quyền hạn trong Bakufu, làm bá chủ vùng Kanto Tuy nhiên Hojo không thể trở thành Shogun vì xuất thân từ tầng lớp ngự gia nhân

Trang 35

biển Wako hay còn gọi là Thủy quân của các phái Matsuura hoạt động phát triển trong khu vực này, trong đó, Hizen và Tsushima trở thành cứ điểm tập hợp và ẩn nấp khắp nơi của bọn cướp biển Vào năm 1274 (năm Bunei- Văn Vĩnh) và 1281 (năm Koan-Hoằng An), Nhật Bản hai lần đón quân Nguyên Mông của Trung quốc và quân Cao Ly của Triều Tiên đến gây chiến tại Tsushima, Iki nhưng cả 2 lần đến xâm lược, ngoại quân đều thất bại phải quay về do gặp phải trận bão lớn với tên gọi Kamikaze (Thần phong) bất ngờ ập đến Nhờ trận cuồng phong bất ngờ tại vùng đất Kyushu này mà nhiều người cho rằng Nhật Bản đã thoát được 02 sự tấn công từ bên ngoài, tránh được những hậu quả nghiêm trọng mà dự đoán sẽ xảy ra Vì vậy các sử gia giả định rằng, nếu như thời đểm đó không xuất hiện hai trận cuồng phong thì lịch sử Nhật Bản không biết sẽ rẽ theo hướng nào

Nếu như những tài liệu xác định Nagasaki trong thư tịch giai đoạn

cổ đại còn hạn chế thì đến thời trung đại, sự hình thành hai thương cảng

Nagasaki và Hirado của Nagasaki thuộc han Hizen đã được ghi chép đầy

đủ trong những tài liệu khảo cổ, thư tịch ở Nhật và các nước Từ thế kỷ XVI Nagasaki và Hirado được biết đến như những đô thị cảng trong thời đại mậu dịch Vào thời kỳ trung đại, số lượng người tập trung đông nhất lên đến 50.000 người cho thấy đây là một đô thị sầm uất Tuy nhiên tính đặc sắc nhất của nó chính là việc Nagasaki đã hình thành một khu vực thành thị

có trọng tâm chính là thực hiện buôn bán với nước ngoài Với khuynh hướng đó, Nagasaki được biết đến với cái tên là “ cảng thị” Cảng thị trong giai đoạn này là những cảng được xem là cứ điểm giao dịch, được hình thành tại các khu vực biển châu Á hay nói cách khác đó là những đô thị nằm tiếp giáp vùng biển để thực hiện việc trao đổi buôn bán, trong đó việc

Trang 36

trao đổi buôn bán chính là với bên ngoài Tuy Nagasaki không phải là thương cảng quốc tế nhưng nó được xếp vào hàng những cảng thị quan trọng nhất châu Á lúc bấy giờ Giữa các cảng thị, hình thành nên một mạng lưới giao thông đường biển, ở đó nó vừa làm chức năng buôn bán vừa là điểm trung chuyển, trao đổi sản phẩm, hàng hóa, cảng thị đóng vai trò làm cho hàng hóa di chuyển trên khắp thế giới Giáo sư Anthony Reed thuộc trường Đại học Quốc gia Singapore đã gọi thời đại thương mại cảng thị này

ở các nước châu Á là “thời đại thương nghiệp” [71, tr.14]

1.2.4 Quá trình đi đến hình thành thương cảng Nagasaki

Thời kỳ trung đại, tại Nhật Bản những cứ điểm giao lưu thương mại với nước ngoài tập trung ở khu vực cảng Hakata, thuộc Fukuoka ngày nay Đến thế kỷ XVI, khi thuyền Tây Âu cập hai cảng Nagasaki và Hirado, cục diện thương mại tại đây đã thay đổi Người Tây Âu, do điều kiện địa lý, chính trị, kinh tế cũng như vấn đề thổ nhưỡng mà cuối cùng người Tây Âu đã chọn con đường thương mại thông qua Nagasaki và Hirado

Về phía chính quyền Bakufu, khi phân tích những đường lối của những nhà cầm quân trong ba giai đoạn, ta đều nhận thấy rằng trong thủ pháp quan hệ ngoại thương, những nhà cầm quân đã rất khôn khéo trong việc chọn Nagasaki trong 5 thành phố thương mại nổi tiếng đương thời là Edo, Osaka, Kyoto, Sakai, Nagasaki làm cửa ngõ giao thương, trong đó hai cảng Nagasaki và Hirado là hai đầu mối quan trọng tiếp xúc với nước ngoài với những nguyên nhân khách quan và chủ quan sau:

(1) Về mặt địa hình Nagasaki nằm ở vị trí lọt lòng giữa hai dãy núi

Trang 37

nhô ra biển Hai dãy núi này như hai tấm lá chắn khép lại giúp che chắn cho Nagasaki trước những cơn bão thường xuyên xảy đến vùng biển phía Nam khiến khu vực cảng tại đây luôn trong trạng thái tĩnh lặng, yên bình Nhờ vào vị thế địa hình tự nhiên như là một phát kiến địa lý quan trọng mà Nagasaki có ý nghĩa trong việc định hình cảng thị từ việc là một bến neo an toàn cho các thuyền bè qua lại hoặc dừng chân trong hải trình dài Trong khi đó thế kỷ XVI, kỹ thuật tàu biển còn nhiều hạn chế nên hầu hết các thuyền buôn đi lại trên biển đều nhờ vào sự thay đổi của gió mùa

mà Nagasaki trở thành bến neo và bãi đáp thuận lợi nhất của thuyền bè từ khắp nơi đến Nhật và ngược lại Điều này hết sức quan trọng trong việc hình thành nên một cảng biển an toàn và thuận tiện cho tàu thuyền cập neo thực hiện các cuộc trao đổi buôn bán theo đúng quy trình hình thành từ thời sơ kỳ của cảng

Óc Eo thuộc vương quốc Phù Nam ở Đông Nam Á và bán đảo Malacca thế kỷ đầu XV

(2) Nếu so với các cảng nổi tiếng đương thời như Kobe, Sakai, Hakata, thì về mặt địa lý hàng hải, Hirado và Nagasaki là cứ điểm gần nhất trên giao lộ hải hành Đông Tây Nếu như Kobe và Hakata chỉ thuận tiện cho việc giao thông với Trung Quốc và Cao

Ly thì đường Hirado và Nagasaki là nơi trung chuyển cho các thuyền đi vòng từ phía cảng Tuyền Châu của Trung Quốc lên lại thuận tiên cho chuyến hải hành đến Đông Nam Á Mặt khác, dù Tanegashima là nơi đón tàu Bồ Đào Nha đầu tiên nhưng, chính Nobunaga cũng nhận thấy điểm bất tiện trong việc trung chuyển

Trang 38

hàng hóa về trung ương khi các đảo thuộc Tanegashima nằm phía ngoài Nhật Bản, lại là nơi hứng chịu những cơn bão một cách thường xuyên

(3) Điểm đặc trưng khác của địa hình Nagasaki gồm những dãy núi cao nối kết trực tiếp ra biển khiến khu vực bờ biển là lưu vực sâu

có khả năng đón những thuyền trọng tải lớn neo đậu gần bờ Đương thời, kỹ thuật nạo vét biển chưa phát triển như hiện nay nên việc lợi dụng những đặc trưng của địa hình cũng là yếu tố quyết định cho việc chọn lựa của chính quyền

(4) Ngoài yếu tố địa lý, địa hình, Oda Nobunaga4, Toyotomi Hideyoshi5 và Tokugawa Ieyasu6 là ba nhà lãnh đạo chính quyền trong từng giai đoạn đã có những ý đồ riêng về mặt quân sự, chính trị cho việc chọn lựa này Trong đó phải kể đến kẻ tiên phong

trong mối quan hệ mạo hiểm là Nobunaga Sau khi thuyền Bồ

Đào Nha vào cập cảng Hirado, Nobunaga hiến đất cho Bồ Đào Nha như một phần thưởng cho việc du nhập súng ống, một mặt

hàng trên cả mức thần kỳ cho công cuộc chinh phục đất nước của

4 Oda Nobunaga (1534-1582) là con trai của một thủ lĩnh phong kiến Nobuhide, sau được làm daimyo (lãnh chúa) nhỏ ở tỉnh Owari, gần Kyoto Là người có ảnh hưởng lớn trong công cuộc thống nhất Nhật Bản thời chiến quốc Bằng tài mưu lược của mình từ những năm đầu của thế kỷ XVI, Nobunaga đã tạo một vị thế đáng kể vói một lực lượng quân sự hùng mạnh do tước đoạt được tài sản của các chủ đất lân cận Từ một daimyo nhỏ, Nobunaga đã lật đổ Shogun cuối cùng của dòng họ Ashikaga (năm 1573), đặt dấu chấm hết cho Mạc Phủ Muromachi, sau đó thống nhất một khu vực quan trọng của Nhật Bản,

và nắm toàn bộ thực quyền trong tay ông cho đến khi bị thuộc hạ của mình là Akechi Mitsuhide sát hại

5 Toyotomi Hideyoshi (1536-1598), là một võ tướng thuộc hạ của Oda Nobunaga, ông đã quay về giết chết Akechi Mitsuhide, tái thống nhất đất nước và thực hiện hai cuộc xâm lược sang Triều Tiên với tham vọng mở rộng bờ cõi nhưng cả hai lần đều gặp thất bại

6 Tokugawa Ieyasu (1542 - 1616) là con cả của Hirotada Matsudaira, chủ lâu đài Okazaki ở Mikawa (tỉnh Aichi ngày nay) Thời niên thiếu của Ieyasu là quãng thời gian làm tùy nhân cho cho dòng học Imagawa và Oda Năm 1550, khi Nobunaga đánh bại Imagawa, Ieyasu cảm kích Nobunaga và nguyện theo người thủ lĩnh tài ba này để hỗ trợ và giúp sức Năm 1600 với chiến thắng trong trận Sekigahara, danh tiếng Ieyasu nổi bật khắp Nhật Bản và năm 1603, ông được là Shogun mở ra thời đại mạc phủ Tokugawa thời Edo

Trang 39

ông, cục diện thương mại đã hoàn toàn thay đổi, với sự truyền bá

Cơ đốc giáo, Omura Sumitada ( 1533-1587) ở làng Nagasaki trở thành lãnh chúa theo Cơ đốc giáo đầu tiên ở Nhật Bản Đương thời, thành phố Sakai ở Osaka nắm một vị trí quan trọng trong thương mại tuy nhiên khi Nobunaga dời đô về trấn thủ thành Osaka, ông khôn khéo dành Sakai làm cảng nội địa cho triều đình Thiên hoàng vì khu vực Sakai được xem là nơi có nhiều

mỏ vàng và kim loại quý nhất Nhật Bản Oda cho các nước đến tập trung ở khu vực Nagasaki nhằm thể hiện tinh thần hợp tác mở cửa đón nước ngoài của ông, đồng thời tránh xa sự nhòm ngó của nước ngoài với vũ khí tiên tiến vào khu vực trung tâm Điều này cũng xảy ra ở Việt Nam khi đặt Phố Hiến làm trung tâm giao dịch với nước ngoài mà không phải kinh đo Thăng Long ở thời Trịnh

Lê Hideyoshi dù dè dặt hơn trong quan hệ với Tây Âu nhưng trong hơn 15 năm cầm quân vẫn duy trì cửa ngõ này vì vị trí địa lý hết sức thuận lợi của nó trên hải trình Đông Tây của các nước Đến thời Tokugawa, đất nước thống nhất, mặc dù đóng đô ở Edo,

phân chia lãnh thổ thành những han7 riêng biệt, Ieyasu vẫn chi

7 Han là đơn vị chỉ các lãnh địa của các daimyo địa phương Hệ thống chính quyền Mạc phủ Edo dựa trên hai guồng máy là Bakufu và Bakuhan cùng tồn tại song song Trong đó bakufu là thành phần trung tâm nắm quyền cai trị trực tiếp, đứng đầu là những Shogun Tokugawa tập trung chủ yếu ở Edo

còn Bakuhan thì do các daimyo nắm quyền tự trị ở các lãnh địa (han-phiên) Có khoảng 265 han tồn tại

và được phân ra nhiều thứ bậc:-Shimpan: (thân phiên) gồm 23 han là những han có các daimyo là người có liên hệ với tộc họ Tokugawa; Fudai daimyo (phổ đại-gồm 145 han): là những han có các daimyo là đồng minh của Tokugawa trước 1600; Tozama daimyo (ngoại dạng-97 han): là những daimyo chống lại Ieyasu trước 1600, đầu hàng khi bị thua trong trận Sekigahara Tuy bên ngoài được đối đãi công bằng, đúng nghi lễ nhưng thực chất, đây là những daimyo được bakufu liệt vào vòng nguy hiểm cần phải đề phòng Nổi bật trong đó là daimyo ở Choshu và Satsuma về sau đã cải cách tài chính

và nổi dậy lật đổ chính quyền Tokugawa mở đầu chế độ Meiji

Trang 40

phối tất cả các han trong đó có cả những Tozama đóng đô ở vùng

ven Kagoshima, Satsuma bằng việc giữ Nagasaki làm thành phố thương mại để thông qua chế độ Phụng hành8 của quan lại sẽ dùng Nagasaki làm khu vực “tai mắt” để kiểm soát những động

thái của Tozama

Như vậy, với những nguyên nhân và lý do nêu trên, Nagasaki xứng đáng trở thành một cầu nối đưa thế giới đến với Nhật Bản Thương cảng Nagasaki hội đủ những yếu tố để trở thành một thương cảng quốc tế có ý nghĩa cho Nhật Bản và cả khu vực châu Á trong giai đoạn này

8 Chế độ Phụng hành là hình thức các quan Phụng hành gọi là Bugyo trong hội đồng xét xử (Rojusho) của chính quyền Bakufu thực hiện các công việc giám sát các hoạt động tài chính, đền chùa, lễ nghi ở địa phương hoặc trung ương

Ngày đăng: 14/09/2021, 20:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng1.1: Diện tích và dân số phân bố các vùng tỉnh Nagasaki năm 200 72 - Cảng thị nagasaki trong quan hệ thương mại và văn hóa giữa nhật bản với các nước thời edo (1603   1867)
Bảng 1.1 Diện tích và dân số phân bố các vùng tỉnh Nagasaki năm 200 72 (Trang 33)
Hình 2.1: Bản đồ vị trí thương quán Hà Lan và Anh 13 - Cảng thị nagasaki trong quan hệ thương mại và văn hóa giữa nhật bản với các nước thời edo (1603   1867)
Hình 2.1 Bản đồ vị trí thương quán Hà Lan và Anh 13 (Trang 50)
Bảng 2 iểm n củ ềẤ Đô a mÁ 1604-1635 14 - Cảng thị nagasaki trong quan hệ thương mại và văn hóa giữa nhật bản với các nước thời edo (1603   1867)
Bảng 2 iểm n củ ềẤ Đô a mÁ 1604-1635 14 (Trang 58)
Bảng 2. 2: Số lượng thuyền từ lục địa Trung Quốc đến cảng Nagasaki 17 - Cảng thị nagasaki trong quan hệ thương mại và văn hóa giữa nhật bản với các nước thời edo (1603   1867)
Bảng 2. 2: Số lượng thuyền từ lục địa Trung Quốc đến cảng Nagasaki 17 (Trang 68)
Bảng 3.1: Số lượng hàng gốm Nhật xuất khẩu sang các nước Đông Na mÁ thông qua VOC22 - Cảng thị nagasaki trong quan hệ thương mại và văn hóa giữa nhật bản với các nước thời edo (1603   1867)
Bảng 3.1 Số lượng hàng gốm Nhật xuất khẩu sang các nước Đông Na mÁ thông qua VOC22 (Trang 79)
Hình thành khu phố - Cảng thị nagasaki trong quan hệ thương mại và văn hóa giữa nhật bản với các nước thời edo (1603   1867)
Hình th ành khu phố (Trang 115)
Hình: Soup Hikado - Cảng thị nagasaki trong quan hệ thương mại và văn hóa giữa nhật bản với các nước thời edo (1603   1867)
nh Soup Hikado (Trang 119)
(chèn hình) - Cảng thị nagasaki trong quan hệ thương mại và văn hóa giữa nhật bản với các nước thời edo (1603   1867)
ch èn hình) (Trang 120)
Mô hình khu nhà kho xây bằng gạch ngói đầu tiên của khu thương quán Hà Lan  - Cảng thị nagasaki trong quan hệ thương mại và văn hóa giữa nhật bản với các nước thời edo (1603   1867)
h ình khu nhà kho xây bằng gạch ngói đầu tiên của khu thương quán Hà Lan (Trang 123)
Mô hình kính lúp đ - Cảng thị nagasaki trong quan hệ thương mại và văn hóa giữa nhật bản với các nước thời edo (1603   1867)
h ình kính lúp đ (Trang 128)
Kính viễn vọng năm 1831 và hình ảnh các thiếu nữ Edo thưởng ngoạn phong cảnh  - Cảng thị nagasaki trong quan hệ thương mại và văn hóa giữa nhật bản với các nước thời edo (1603   1867)
nh viễn vọng năm 1831 và hình ảnh các thiếu nữ Edo thưởng ngoạn phong cảnh (Trang 129)
Hình thành khu phố - Cảng thị nagasaki trong quan hệ thương mại và văn hóa giữa nhật bản với các nước thời edo (1603   1867)
Hình th ành khu phố (Trang 132)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w