1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chiến lược phát triển nguồn lực thông tin của hệ thống thư viện đại học quốc gia tp hồ chí minh đến năm 2015

266 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 266
Dung lượng 6,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA THƯ VIỆN – THÔNG TIN HỌC --- NGUYỄN THỊ XUÂN ANH CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC THÔNG TIN CỦA

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA THƯ VIỆN – THÔNG TIN HỌC -

NGUYỄN THỊ XUÂN ANH

CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC THÔNG TIN CỦA HỆ THỐNG THƯ VIỆN ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ

HỒ CHÍ MINH ĐẾN NĂM 2015

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC THƯ VIỆN

CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC THƯ VIỆN

MÃ SỐ: 60.32.20

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TSKH BÙI LOAN THÙY

TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2007

Trang 2

Lời cảm ơn

Tôi xin chân thành cảm ơn:

- PGS TSKH Bùi Loan Thùy đã hướng dẵn tận tình, truyền đạt

các kiến thức, kinh nghiệm quý báu giúp tôi thực hiện và hoàn thành luận văn

- Các Thầy, Cô giáo Khoa Thư viện – Thông tin học trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn – Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh cùng toàn thể các Thầy, Cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn đúng thời hạn

- Phòng Đào tạo Sau đại học trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn – Đại học Quốc gia TP.HCM đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn

- Ban Giám Hiệu, các bạn đồng nghiệp Thư viện trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn – Đại học Quốc gia TP.HCM đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi có cơ hội để học tập

- Ban Giám đốc các Thư viện thành viên trong hệ thống HCM, các Bạn đồng nghiệp tại các Thư viện đã cung cấp các thông tin, số liệu, chia sẻ kinh nghiệm giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn

ĐHQG-TP.HCM, ngày 02 thánh 12 năm 2007

Nguyễn Thị Xuân Anh

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu cuả riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa công bố ở công trình nào khác

Tác giả

Trang 4

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

5 KHXH&NV Khoa học xã hội & nhân văn

8 ĐHQG-HCM Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh

12 TVĐHBK Thư viện trường Đại học Bách khoa

13 TVĐHKHXH&NV Thư viện trường Đại học Khoa học Xã hội và

Nhân văn

14 TVĐHQT Thư viện trường Đại học Quốc tế

15 TVĐHTN Thư viện trường Đại học Khoa học Tự nhiên

17 TVVMT Thư viện Viện Môi trường – Tài nguyên

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu .7

6 Hướng tiếp cận tư liệu 7

7 Ý nghĩa khoa học và ý nghiã thực tiễn 7

8 Bố cục luận văn 8

CHƯƠNG I Cơ sở xây dựng chiến lược phát triển nguồn lực thông tin hệ thống thư viện Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh 10

1.1 Cơ sở lý luận của việc xây dựng chiến lược phát triển nguồn lực thông tin thư viện đại học 10

1.1.1 Khái niệm thông tin 10

1.1.2 Khái niệm nguồn lực thông tin 12

1.1.2.1 Định nghĩa 12

1.1.2.2 Đặc trưng của nguồn lực thông tin 13

1.1.2.3 Tầm quan trọng của nguồn lực thông tin 15

1.1.2.4 Tiêu chí đánh giá nguồn lực thông tin 16

1.1.2.5 Xu hướng phát triển nguồn lực thông tin 21

1.1.3 Phương pháp luận xây dựng chiến lược 28

1.1.3.1 Khái niệm về chiến lược 29

1.1.3.2 Các bước xây dựng chiến lược phát triển nguồn lực thông tin 30

1.2 Cơ sở pháp lý của việc xây dựng chiến lược phát triển nguồn lực thông tin hệ thống thư viện ĐHQG-HCM 33

1.3 Cơ sở thực tiễn 39

1.3.1 Hệ thống thư viện ĐHQG-HCM 39

1.3.2 Người dùng tin của hệ thống thư viện ĐHQG-HCM 47

1.3.2.1 Đặc điểm người dùng tin hệ thống thư viện ĐHQG-HCM 48

1.3.2.2 Phân tích nhu cầu tin của người dùng tin hệ thống thư viện ĐHQG-HCM 49

Trang 6

CHƯƠNG II Hiện trạng công tác tạo lập và phát triển nguồn lực

thông tin hệ thống thư viện ĐHQG-HCM 57

2.1 Hiện trạng nguồn lực thông tin và công tác phát triển nguồn lực thông tin của hệ thống ĐHQG-HCM từ năm học 2004 đến 2007 .57

2.1.1 Nguồn lực thông tin của thư viện Trung Tâm ĐHQG-HCM 57

2.1.2 Nguồn lực thông tin của thư viện trường Đại hoc Bách Khoa 61

2.1.3 Nguồn lực thông tin của thư viện trường Đại học Tự Nhiên 63

2.1.4 Nguồn lực thông tin của thư viện trường Đại học Khoa học Xãhội & Nhân văn 66

2.1.5 Nguồn lực thông tin của thư viện khoa Kinh Tế 69

2.1.6 Nguồn lực thông tin của thư viện Viện Môi Trường - Tài nguyên 71

2.1.7 Nguồn lực thông tin của thư viện trường Đại học Quốc tế 73

2.2 Nhận xét, đánh giá về nguồn lực thông tin của hệ thống thư viện ĐHQG-HCM .74

2.2.1 Nhận xét của người dùng tin trong hệ thống về vốn tài liệu – nguồn lực thông tin 74

2.2.1.1 Về nội dung vốn tài liệu – nguồn lực thông tin 74

2.2.1.2 Khả năng đáp ứng nhu cầu về vốn tư liệu-nguồn lực thông tin, mức độ cập nhật thông tin, mức độ đáp ứng về số lượng và nguyên nhân chưa đáp ứng 79

2.2.2 Nhận xét, đánh giá hiện trạng nguồn lực thông tin của hệ thống thư viện ĐHQG-HCM 82

CHƯƠNG III Chiến lược phát triển nguồn lực thông tin hệ thống thư viện ĐHQG-HCM từ nay đến 2015 91

3.1 Cơ hội và thách thức đối với việc phát triển nguồn lực thông tin của hệ thống thư viện ĐHQG-HCM 91

3.1.1 Cơ hội đối với việc phát triển nguồn lực thông tin cuả hệ thống thư viện ĐHQG-HCM 91

3.1.2 Thách thức đối với việc phát triển nguồn lực thông tin cuả hệ thống thư viện ĐHQG-HCM 92

3.2 Cây mục tiêu chiến lược 95

3.2.1 Mục tiêu tổng quát 95

3.2.2 Các mục tiêu cụ thể 97

3.2.3 Các trọng điểm cần ưu tiên phát triển 99

Trang 7

hệ thống thư viện ĐHQG-HCM 99

3.3.1 Xây dựng chính sách phát triển nguồn lực thông tin 99

3.3.2 Áp dụng hiệu quả các nguyên tắc và các bước lựa chọn nguồn tài nguyên thông tin phù hợp với đặc thù của từng thư viện 103

3.3.3 Phối hợp phát triển và chia sẻ nguồn tài nguyên thông tin 109

3.3.4 Tăng cường kinh phí bổ sung 115

3.3.5 Phát triển nguồn tài nguyên nội sinh 116

3.3.6 Tạo lập và phát triển vốn tư liệu số 117

3.3.7 Xây dựng và phát triển các ngân hàng thông tin dựa trên hệ thống mạng tin học hóa .120

3.3.8 Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ làm công tác phát triển nguồn lực thông tin 121

3.3.9 Tăng cường ứng dụng CNTT trong công tác phát triển quản lý và phát triển nguồn lực thông tin 122

3.3.10 Thiết lập tốt các mối quan hệ với các nhà xuất bản, các nhà cung cấp 123

KẾT LUẬN 125

Tài liệu tham khảo

Phụ lục 1

Phụ lục 2

Phụ lục 3

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Xã hội Việt Nam đang phát triển theo hướng toàn cầu hóa và hội nhập, tiến tới một xã hội thông tin Điều này đã đặt các cơ quan thông tin – thư viện nói chung và các tổ chức thông tin – thư viện đại học nói riêng trước nhiều cơ hội và thách thức Nó đòi hỏi các tổ chức thông tin – thư viện đại học phải là nơi tạo ra nội dung thông tin, góp phần làm giàu thêm nguồn tin của mỗi quốc gia, đồng thời phải là nơi có thể trực tiếp khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn lực thông tin này, góp phần cùng nhà trường và xã hội đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, có phẩm chất đạo đức tốt, có đủ năng lực và kỹ năng đáp ứng nhu cầu của xã hội, của đất nước Sự phát triển nội dung thông tin phải bảo đảm bằng các chính sách thích hợp với từng giai đoạn phát triển Các nguồn tin của trường đại học được xem là nguồn tài nguyên, nguồn lực thông tin không thể thay thế cho quá trình

phát triển

Thư viện đại học phải là nơi mà thông tin được sử dụng một cách rộng rãi nhất, phổ biến nhất, mọi người đều có quyền bình đẳng trong việc khai thác, truy nhập và sử dụng thông tin; Phải đảm nhận chức năng một cổng thông tin kết nối trường ĐH với bên ngoài và ngược lại

Thư viện đại học phải là nơi tạo cho người dùng tin những thói quen, kỹ năng và tri thức cần thiết trong việc khai thác và sử dụng thông tin phục vụ cho quá trình sống, học tập, lao động và giải trí của con người

Để đạt được các đòi hỏi trên, các tổ chức thông tin – thư viện đại học phải được triển khai theo mô hình các hệ thống thống tin hiện đại, đồng bộ, có khả năng tương thích cao với bên ngoài, có khả năng tích hợp được các nguồn tin đã, đang và sẽ hình thành

Trang 9

Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh (ĐHQG-HCM) là một trong những đơn vị đi đầu thực hiện đào tạo tín chỉ, tạo nhiều thuận lợi, chủ động trong học tập, tạo khả năng liên thông giữa các bậc đại học, các cơ sở đào tạo ở trong và ngoài nước Tính đến đầu năm học 2006-2007, tất cả các trường thành viên, khoa trực thuộc của ĐHQG-HCM đều áp dụng đại trà học chế tín chỉ Phương châm của phương thức đào tạo theo tín chỉ là lấy người học làm trung tâm, phát huy tính sáng tạo, tính độc lập tư duy của người học trong học tập và nghiên cứu khoa học, đào tạo người học có kỹ năng tìm kiếm và chắt lọc thông tin, có khả năng lý giải các thông tin và biến chúng thành kiến thức của mình, có khả năng thích nghi với phương pháp giảng dạy trong nhà trường lấy việc tự học có hướng dẫn của thầy làm chính

Trong học chế tín chỉ, vai trò của thư viện giữ một vị trí đặc biệt quan trọng, thư viện trở thành “giảng đường thứ hai” của nhà trường, là nơi cung cấp và thỏa mãn nhu cầu thông tin của người học, là nơi giúp cho người học có cơ hội khám phá, thực hành và phát triển những kiến thức đã thu nhận, là nơi người học có thể tự mình nêu ra những câu hỏi, vấn đề, tìm tòi và hình thành câu trả lời Thư viện là nơi giảng viên và sinh viên được cập nhật kiến thức, củng cố, mở rộng, nâng cao các bài giảng, bài học trên lớp, đáp ứng các nhu cầu học tập, nghiên cứu và giải trí,… Để làm được điều này thư viện từng trường đại học phải trở thành trung tâm thông tin – thư viện, các trung tâm của cùng một hệ thống đại học quốc gia phải kết hợp lại với nhau thành một hệ thống thông tin, có chức năng quản trị tri thức và thông tin (Knowledge Management System), có nguồn tài nguyên thông tin phong phú, đa dạng, thỏa mãn được nhu cầu thông tin, tư liệu của người dạy và người học

Hệ thống thư viện ĐHQG-HCM có nhiệm vụ giúp cho mỗi thư viện thành viên của hệ thống có khả năng quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn thông tin tri thức đã có (của trường và bên ngoài) và làm giàu nguồn tri thức do chính

Trang 10

từng trường đại học tạo ra, phục vụ tốt cho người dùng tin của toàn hệ thống, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao

Mỗi thư viện đại học thành viên là một bộ phận hữu cơ của ĐHQG-HCM, là thành viên của hệ thống thông tin – thư viện ĐHQG-HCM , và cũng là một thành viên của hệ thống thông tin – thư viện quốc gia Vì thế, chiến lược phát triển hoạt động thông tin – thư viện phải được xây dựng và triển khai trên quan điểm phát triển của toàn hệ thống, xác định rõ mục tiêu cần đạt được, từ đó, xây dựng các chương trình, kế hoạch hoạt động cụ thể cho từng thư viện thành viên cũng như của toàn hệ thống

Hệ thống thư viện ĐHQG-HCM hiện nay gồm 9 thư viện Trường, Viện, Khoa thành viên Các thư viện này hoạt động như một đơn vị độc lập, riêng lẻ, khép kín trong phạm vi của mỗi trường đại học Các thư viện thành viên ĐHQG-HCM chưa được tổ chức thành một tổ chức thống nhất, thiếu sự liên thông, chia sẻ các nguồn lực vì vậy không thể phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống Phần lớn các thư viện chưa nhận thức đúng về tầm quan trọng của việc xây dựng một chiến lược phát triển hoạt động chung của toàn hệ thống mà chỉ đưa ra chiến lược phát triển của từng thư viện riêng lẻ Ngay trong chiến lược phát triển của ĐHQG-HCM cũng chưa định hướng lâu dài, cụ thể cho hoạt động này, mà chỉ dừng lại ở định hướng chung cho sự phát triển của Thư viện Trung tâm (chỉ là một đơn vị thư viện thành viên của hệ thống), chưa đề ra được chiến lược phát triển nguồn lực thông tin chung của toàn hệ thống thư viện ĐHQG-

HCM Chính vì thế tôi chọn đề tài: “Chiến lược phát triển nguồn lực thông tin

của hệ thống Thư viện Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2015” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học Thư viện – Thông tin với mong

muốn góp phần định hướng cho sự phát triển nguồn lực thông tin của toàn hệ

Trang 11

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

- Vấn đề xây dựng, tổ chức quản lý và khai thác nguồn lực thông tin của các thư viện, cơ quan thông tin đã được nghiên cứu trong các luận văn cao học:

“Tổ chức và khai thác nguồn lực thông tin tại Trung tâm thông tin – thư viện ĐH Thái Nguyên” của tác giả Hà Thị Thu Hiếu; “Tăng cường nguồn lực thông tin tại Viện Thông tin Khoa học Xã hội trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước” của tác giả Phạm Bích Thủy; “Tăng cường công tác bổ sung tư liệu khoa học tại Trung tâm Thông tin tư liệu thuộc Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ quốc gia” của tác giả Nguyễn Thị Như Tùng ; “Xây dựng và khai thác nguồn lực thông tin nhằm đáp ứng nhu cầu tin tại Trung tâm thông tin Khoa học – Viện Khoa học công an” của tác giả Nguyễn Thị Liên Hoa; “Xây dựng và phát triển nguồn lực thông tin tại Viện Nghiên cứu Đông Nam Á trong xu thế hội nhập khu vực” của tác giả Nguyễn Thị Đức Hạnh; “Tăng cường nguồn lực thông tin của Trung tâm Thông tin – thư viện ở trường Đại học văn hóa Hà Nội trong giai đoạn đổi mới giáo dục đào tạo” của tác giả Nguyễn Thị Tùng; “Xây dựng vốn tài liệu đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, giảng dạy, học tập tại Phân viện Hà Nội Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh” của tác giả Nông Thị Phương; và một vài luận văn khác có đề cập đến vấn đề xây dựng và phát triển nguồn lực thông tin của những thư viện đại học riêng lẻ như Đại học Khoa học Tự nhiên hay Đại học Bách khoa hay Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Các tác giả đi sâu nghiên cứu nguồn lực thông tin của một trường đại học hay một viện nghiên cứu, hầu hết ở phía Bắc Việt Nam Các tác giả đều khảo sát khá tỉ mỉ hiện trạng vốn tài liệu của từng trường, Viện nghiên cứu mà mình nghiên cứu, đưa ra các giải pháp (phương hướng hay biện pháp) nâng cao chất lượng vốn tài liệu – nguồn lực thông tin của thư viện Các giải pháp nêu ra chưa được đề cập đầy đủ và chỉ mang tính đặc thù, riêng lẻ của từng trường đại học hay viện nghiên cứu, chưa đưa ra được chiến lược phát triển

Trang 12

lâu dài về công tác phát triển nguồn lực thông tin cho các trường đại học và Viện nghiên cứu này, nên khả năng ứng dụng trong thực tế bị thu hẹp Cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu về vấn đề xây dựng chiến lược phát triển nguồn lực thông tin của toàn hệ thống thư viện Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh

- Một số bài nghiên cứu đăng trên tạp chí Thông tin và Tư liệu như: “Lựa chọn và tổ chức các nguồn tin điện tử” của Kirill Fesenko, tác giả nêu lên các tiêu chuẩn lựa chọn, cách thức tiến hành bổ sung, vấn đề thay thế xuất bản phẩm in bằng xuất bản phẩm điện tử, cách tổ chức các nguồn tin điện tử, và phương thức bảo quản loại tài liệu này;

“Vấn đề phát triển và chia sẻ nguồn lực thông tin số hóa tại Việt Nam”,

“Cách nhìn hệ thống trong quản lý các nguồn tin tài liệu khoa học nội sinh ở Việt Nam” của PGS.TS Nguyễn Hữu Hùng: Tác giả trình bày các khái niệm và luận chứng về vai trò quan trọng của nguồn tài nguyên thông tin số trong hệ thống thông tin quốc gia; Giới thiệu 3 cách tạo lập tài nguyên số, đưa ra các điều kiện và yếu tố cần thiết để thực hiện việc chia sẻ nguồn tài nguyên số trên quy mô hệ thống;

Trong bài “Chính sách thông tin quốc gia và việc chia sẻ nguồn tài liệu” của Tiêu Hy Minh, trình bày về tầm quan trọng của chính sách thông tin quốc gia trong việc chia sẻ nguồn tài liệu, làm rõ các vai trò như: vai trò chỉ đạo, điều tiết, can thiệp, quy phạm, và hoàn thiện môi trường chia sẻ nguồn tài liệu của Trung Quốc

Nhìn chung đó là những bài viết đề cập đến những vấn đề liên quan đến quá trình tổ chức xây dựng và khai thác nguồn tài nguyên thông tin điện tử của các thư viện, cơ quan thông tin Các tác giả chưa đề cập toàn diện đến vấn đề phát triển các loại nguồn lực thông tin của hệ thống thư viện nói chung, thư viện

Trang 13

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

a Mục đích nghiên cứu: Xây dựng chiến lược phát triển nguồn lực thông tin của

hệ thống thư viện ĐHQG-HCM trong giai đoạn 2007-2015

b Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Nghiên cứu phương pháp luận xây dựng chiến lược phát triển nguồn lực thông tin; cơ sở pháp lý của việc xây dựng chiến lược phát triển nguồn lực thông tin;

- Nghiên cứu đặc điểm, nhu cầu người dùng tin của hệ thống thư viện HCM;

ĐHQG Điều tra, khảo sát thực trạng công tác xây dựng, phát triển nguồn lực thông tin của hệ thống thư viện ĐHQG-HCM;

- Tìm hiểu và đánh giá khả năng phối hợp, hợp tác, phân công và chia sẻ nguồn lực thông tin của toàn hệ thống thư viện ĐHQG-HCM;

- Đề xuất chiến lược phát triển nguồn lực thông tin của hệ thống thư viện ĐHQG-HCM đến năm 2015

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu:

+ Nhu cầu tin của người dùng tin ĐHQG-HCM;

+ Nguồn lực thông tin của hệ thống thư viện ĐHQG-HCM;

+ Khả năng phối hợp, hợp tác và chia sẻ nguồn lực thông tin của toàn hệ thống ĐHQG-HCM

- Phạm vi nghiên cứu:

Khảo sát thực trạng công tác xây dựng, phát triển nguồn lực thông tin của

7 thư viện thành viên trong hệ thống thư viện ĐHQG-HCM, bao gồm: Thư viện Trung tâm, Thư viện trường Đại học Bách khoa TP Hồ Chí Minh, Thư viện trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Thư viện trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Thư viện Khoa Kinh tế, Thư viện Viện Môi trường – Tài nguyên, Thư viện trường Đại học Quốc tế

Trang 14

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu;

- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế bằng bảng hỏi;

- Phương pháp phỏng vấn, trao đổi trực tiếp với cán bộ thư viện;

- Phương pháp thống kê, so sánh;

- Phương pháp phân tích – tổng hợp

6 Hướng tiếp cận tư liệu để thực hiện đề tài

- Tài liệu chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về công tác thông tin, thư viện;

- Phương hướng hoạt động, chiến lược phát triển ĐHQG-HCM, và của các trường thành viên trong ĐHQG-HCM;

- Báo cáo tổng kết và phương hướng hoạt động của các thư viện thành viên trong hệ thống ĐHQG-HCM;

- Các “Kỷ yếu hội thảo” của ngành thông tin – thư viện;

- Các loại tài liệu tham khảo, báo, tạp chí, cơ sở dữ liệu có nội dung liên quan đến những vấn đề cần nghiên cứu

7 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài:

a Ý nghĩa khoa học:

- Góp phần khẳng định vị trí quan trọng của việc xây dựng chiến lược phát triển nguồn lực thông tin

- Xác định tầm quan trọng, sự cần thiết của việc phối hợp, hợp tác, phân công và chia sẻ nguồn lực thông tin đối với thư viện đại học

b Ý nghĩa thực tiễn:

- Đề ra chiến lược phát triển nguồn lực thông tin của hệ thống thư viện HCM từ nay đến năm 2015 để lãnh đạo các thư viện nghiên cứu chỉnh sửa chiến lược phát triển nguồn lực thông tin của thư viện mình cho phù hợp với chiến lược

Trang 15

- Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo bổ ích cho Ban Giám đốc ĐHQG-HCM và các thư viện đại học ở Việt nam

ĐHQG-8 Bố cục luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được chia

CHƯƠNG II Hiện trạng công tác tạo lập và phát triển nguồn lực thông tin hệ thống thư viện ĐHQG-HCM

Nội dung bao gồm các kết quả khảo sát thực tiễn hiện trạng nguồn lực thông tin và công tác phát triển nguồn lực thông tin của hệ thống thư viện ĐHQG-HCM từ năm học 2004 đến 2007 Trên cơ sở đó nhận xét, đánh giá về nguồn lực thông tin của hệ thống thư viện này

CHƯƠNG III Chiến lược phát triển nguồn lực thông tin hệ thống thư viện ĐHQG-HCM từ nay đến 2015

Nêu lên những cơ hội và thách thức đối với việc phát triển nguồn lực thông tin của hệ thống thư viện ĐHQG-HCM, mô tả cây mục tiêu chiến lược,

Trang 16

đưa ra các giải pháp cụ thể thực hiện chiến lược phát triển nguồn lực thông tin

của hệ thống thư viện ĐHQG-HCM

Trang 17

CHƯƠNG I

CƠ SỞ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC THÔNG TIN HỆ THỐNG THƯ VIỆN ĐẠI HỌC QUỐC

GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

1.1 Cơ sở lý luận của việc xây dựng chiến lược phát triển nguồn lực thông tin thư viện đại học

1.1.1 Khái niệm thông tin

Thông tin là một khái niệm rất phổ biến liên quan đến tất cả các hoạt động của con người, trong các quá trình quản lý xã hội, và là khái niệm cơ bản của nhiều ngành khoa học,… Ở mỗi ngành khoa học cũng như ở các lĩnh vực hoạt động thực tiễn khác nhau, thông tin được xem xét dưới các góc độ khác nhau, theo các

quan niệm khác nhau

Hiểu theo nghĩa thông thường thông tin là thông báo tin tức, các dữ liệu phản ánh hiện thực khách quan, là thuộc tính đặc biệt của vật chất, có thể được truyền đạt, bảo quản và xử lý để phục vụ cho các hoạt động lý luận và thực tiễn của con người Thông tin là một bộ phận tri thức nhất định, được con người tiếp nhận có lựa chọn và sử dụng qua các phương thức thích hợp trong hoạt động có mục đích, có định hướng của mình Thông tin được giải thích trong các từ điển

như sau:

- Theo từ điển tiếng Việt thông dụng năm 1996 thì “Thông tin là tin tức về các sự

kiện diễn ra trong thế giới xung quanh”(1);

- Theo từ điển triết học năm 2001 “Thông tin trước hết là những tin tức, tập hợp

những tài liệu, những sự hiểu biết nào đó Lý thuyết thông tin thường gắn bó chặt chẽ với phản ánh Đặc tính phản ánh và nhận thức thế giới xung quanh là một

(1) Nguyễn Như Ý (Chb.) , Nguyễn Văn Khang, Phan Xuân Thành: Từ điển tiếng Việt thông dụng, NXB Giáo dục, H., 1996, tr 1088

Trang 18

khâu trong sự phát triển của những quá trình liên quan với việc truyền và xử lý thông tin”(1);

- Theo từ điển Larouse: “Thông tin là những tri thức có thể được mã hóa để bảo

quản, để xử lý hoặc để truyền đạt”;

- Theo từ điển Oxford năm 1995 thì “Thông tin là những sự thực được kể, được

nghe hoặc được phát hiện về ai đó hoặc cái gì đó”

Thông tin - nguồn lực có một không hai, được chính xã hội tạo ra trong quá trình hoạt động sống của nó Khái niệm “thông tin” thuộc loại các phạm trù triết học chung như các khái niệm “không gian“, “thời gian”, “vận động”, “năng

lượng” Theo Winer N.: “Thông tin – đó là cái chỉ nội dung thu được từ thế giới

bên ngoài trong các cảm giác của chúng ta Quá trình thu nhận và sử dụng thông tin là quá trình chúng ta thích ứng với những ngẫu nhiên của môi trường bên ngoài và hoạt động sống của chúng ta trong môi trường đó” Theo Abdeev R.F

lưu ý, “Thông tin đang biến thành một nguồn tài nguyên toàn cầu, về nguyên tắc

là không thể cạn của loài người khi nó đã bước vào thời đại phát triển mới của nền văn minh - thời đại làm chủ về chiều sâu nguồn tài nguyên đó và những khả năng chưa từng có của hiện tượng quản lý” (2)

Theo quan điểm của giáo sư John Ward thì “Thông tin là cái mà con người

cần để họ có thể sử dụng kinh nghiệm và các kỹ năng cuả họ làm thay đổi kiến thức” Còn theo G.E Nicols cho rằng: “Thông tin là tập hợp các dữ liệu được trình bày theo một cách thức cụ thể và tại một thời điểm thích hợp nhằm cải thiện kiến thức của người nhận để tăng cường khả năng của họ trong việc đảm nhận một công việc cụ thể hoặc để ra một quyết định cụ thể”

Khác với các nguồn tài nguyên khác mà loài người đã từng sử dụng, nguồn tài nguyên thông tin có khả năng tự tái sinh Đồng thời, có một tính quy

(1) Cung Kim Tiến (Chb.) : Từ điển triết học, NXB Thông tin, H., 2001, tr 1095

Trang 19

luật rất quan trọng – tốc độ xuất hiện thông tin mới tỷ lệ thuận với lượng thông tin đã tích lũy, đang ở dạng tích cực, tức là ai cũng có được Điều đó đảm bảo cho sự tăng trưởng rất nhanh các nguồn tài nguyên thông tin

Như vậy có thể định nghĩa thuật ngữ “thông tin” như sau:

Thông tin là tổng thể các tin tức dữ kiện cần cho sự tác động tích cực tới hệ bị quản lý nhằm tối ưu hoá nó;

Thông tin là tập hợp các dữ liệu chuyên ngành hẹp được sản sinh ra với những khối lượng rất lớn trong mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội;

Thông tin là nguồn dữ liệu và nguồn lực cần thiết để phát triển xã hội về mặt kinh tế - xã hội cũng giống như các nguồn lực: lao động, năng lượng, vật chất;

Thông tin là nguồn lực trí tuệ có giá trị nhất trong hệ thống bảo đảm đời sống xã hội, bộ phận sở hữu trí tuệ quan trọng nhất của nó, là cái có tỷ phần không ngừng tăng lên trong thế giới ngày nay

Đặc điểm nổi bật của thông tin là mặc dù việc sử dụng nó ngày càng tăng, nó vẫn không ngừng được tích lũy với khối lượng ngày một lớn hơn

Việc có thông tin đầy đủ và đáng tin cậy, sử dụng nó một cách hiệu quả là những điều kiện cần thiết để phát triển bền vững các lĩnh vực kinh tế, xã hội và chính trị, nhà nước và xã hội nói chung

1.1.2 Khái niệm nguồn lực thông tin

Trang 20

Ở dạng chung nhất, nguồn lực thông tin được hiểu như là tổ hợp các thông tin nhận được và tích lũy được trong quá trình phát triển khoa học và hoạt động thực tiễn của con người, để sử dụng nhiều lần trong sản xuất và quản lý xã hội Nguồn lực thông tin phản ánh các quá trình và hiện tượng tự nhiên được ghi nhận lại trong kết quả của các công trình nghiên cứu khoa học và trong các dạng tài liệu khác của hoạt động nhận thức và thực tiễn

Nguồn lực thông tin bao gồm các dữ liệu thể hiện dưới dạng văn bản, hình ảnh hoặc âm thanh được ghi lại trên phương tiện theo quy ước và không theo quy ước, các sưu tập, những kiến thức của con người, những kiến thức của tổ chức và ngành công nghiệp thông tin(1)

Phó Giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Hữu Hùng định nghĩa: “Nguồn lực thông tin

là một dạng sản phẩm trí óc, trí tuệ của con người, là phần tiềm lực thông tin có cấu trúc được kiểm soát và có ý nghĩa thực tiễn trong quá trình sử dụng”(2)

Nguồn lực thông tin là một phần của sản phẩm trí tuệ, là sản phẩm lao động có khoa học, kiến thức, suy nghĩ, sáng tạo của con người, phản ánh những kiến thức được kiểm soát và ghi lại dưới một dạng vật chất nào đó Những thông tin đó phải được cấu trúc, tổ chức lại giúp con người có thể tìm kiếm được chúng theo nhiều cách khác nhau, và có thể khai thác được chúng theo nhiều phương thức khác nhau Vì thế, nguồn lực thông tin được coi là phần tích cực của tiềm lực thông tin, được tổ chức, kiểm soát sao cho người dùng tin có thể truy nhập, tìm kiếm, khai thác, sử dụng được và phục vụ cho các lợi ích khác nhau của xã hội

1.1.2.2 Đặc trưng của nguồn lực thông tin

Nguồn lực thông tin có 5 đặc trưng cơ bản là:

(1) Đường Vinh Sường (2004), Thông tin kinh tế với việc quản lý nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, NXB Thống kê, Hà Nội

Trang 21

- Tính vật lý: nguồn lực thông tin là những phần thông tin hoặc tri thức được ghi lại, cố định lại, lưu giữ lại thông qua một hệ thống dấu hiệu và được lưu giữ trên các vật mang tin như giấy, đĩa từ, băng từ, phim ảnh,… đó là những thực thể sống, tồn tại xung quanh chúng ta và ở bên trong chúng ta

- Tính cấu trúc: các thông tin được trình bày, diễn đạt, nhận dạng (về hình thức, và nội dung), sắp xếp, trật tự hóa theo các cấu trúc phù hợp và tiêu chuẩn nhất định nhằm giúp cho con người có thể bảo quản an toàn và truy nhập thông tin dễ dàng Thông tin có thể được sắp xếp theo chuyên đề, môn loại, số đăng ký,…tùy theo từng cơ quan lưu trữ và bảo quản

- Tính truy cập: nguồn lực thông tin được tổ chức có kiểm soát sao cho người dùng tin có thể truy nhập theo nhiều phương diện khác nhau, truy nhập tại chỗ hay truy nhập từ xa Muốn tổ chức truy nhập được, thông tin phải được tổ chức thành các cơ sở dữ liệu có cấu trúc giúp người sử dụng có thể dễ dàng truy nhập và tìm kiếm Nguồn lực thông tin này không bị hạn chế về không gian và thời gian sử dụng Chỉ cần có đủ điều kiện truy nhập mạng, người dùng tin có thể khai thác thông tin ở bất kỳ nơi nào và vào bất kỳ thời điểm nào

- Tính chia sẻ: các nguồn lực thông tin phải nằm trong mối quan hệ trao đổi nhiều chiều giữa các hệ thống thông tin với nhau Tiền đề công nghệ để trao đổi nhiều chiều này là sự tồn tại của các mạng máy tính Không gian trao đổi vượt ra xa khỏi phạm vi của một cơ quan Việc cung cấp thông tin, dữ liệu, tài liệu không chỉ giới hạn trong khuôn khổ những gì mà cơ quan thông tin có, mà còn có thể cung cấp những thông tin mà các cơ quan thông tin khác đang nắm giữ thông qua con đường hợp tác và chia sẻ nguồn lực

- Tính giá trị: là khả năng tác động của thông tin đối với quá trình ra quyết định và đến kết quả hoạt động của người sử dụng thông tin Tính giá trị phụ thuộc vào khả năng xác định các mối quan hệ giữa nội dung mà thông tin phản ánh và các hoạt động của người sử dụng tin, lợi ích mà thông tin đem lại

Trang 22

cho người sử dụng trong các hoạt động của họ Nó phụ thuộc vào việc xác định đúng người nhận thông tin và đúng thông tin mà họ cần Tuy nhiên, giá trị của thông tin còn tùy thuộc vào khả năng, trình độ hiểu biết của người sử dụng thông tin, điều kiện, hoàn cảnh và thời điểm mà người sử dụng nhận thông tin Giá trị của thông tin – tri thức càng cao khi càng có nhiều người sử dụng Mặc dù việc sử dụng nó ngày càng tăng, nó vẫn không ngừng được tích lũy với khối lượng ngày một lớn hơn Chính điều này kích thích việc phát triển và hoàn thiện công nghệ khai thác các nguồn lực thông tin – các công nghệ tích lũy và phổ biến thông tin, cái được gọi là các công nghệ thông tin - giao tiếp (IKT) Các công nghệ thông tin - giao tiếp đã trở thành phương tiện quan trọng nhất để nâng cao tính hiệu quả của quản lý trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người Sự phát triển các công nghệ này là cái quyết định năng lực của các cơ cấu tổ chức khác nhau trong việc giải quyết những nhiệm vụ của mình như nâng cao khả năng cạnh tranh - đối với các tổ chức kinh doanh, đáp ứng hiệu quả, phù hợp nhu cầu xã hội - đối với các cơ quan quyền lực nhà nước và tự quản địa phương

1.1.2.3 Tầm quan trọng của nguồn lực thông tin

Trong hoạt động thông tin – thư viện (TT-TV), nguồn lực thông tin có vai trò rất quan trọng:

- Nguồn lực thông tin chính là di sản văn hóa của dân tộc;

- Nguồn lực thông tin là cơ sở để vận hành hoạt động của một cơ quan thông tin, thư viện, là tài sản quý giá, là sức mạnh, là tiềm lực và là niềm tự hào của quốc gia Nguồn lực thông tin là thành phần của hệ thống thông tin, là nguyên liệu của mọi quá trình trong hoạt động của hệ thống Cũng như bất kỳ nguyên liệu của một ngành sản xuất nào, nếu nguyên liệu không được đảm bảo tốt thì sẽ không có các sản phẩm đáp ứng đúng yêu cầu Chính vì vậy mà nguồn lực thông tin giữ vị trí chủ chốt và là một trong những yếu tố quyết định sự tồn

Trang 23

- Nguồn lực thông tin chính là cơ sở để tạo ra các sản phẩm và dịch vụ thông tin trong các cơ quan thông tin, thư viện Nếu có nguồn lực thông tin tốt mới có thể có những sản phẩm thông tin đạt chất lượng cao và có giá trị sử dụng;

- Nguồn lực thông tin chính là tiền đề, là cơ sở để hình thành sự hợp tác và chia sẻ nguồn lực giữa các cơ quan TT-TV trong và ngoài nước

1.1.2.4 Tiêu chí đánh giá nguồn lực thông tin

Để đánh giá giá trị của thông tin phải dựa trên các tiêu chí như: độ chính xác của thông tin (mức độ tin tưởng, tính hiệu lực của thông tin); tính kịp thời (thời điểm thông tin được cung cấp); mức độ đầy đủ, chi tiết của thông tin; tính độc quyền của thông tin; tác động của thông tin đối với việc ra quyết định và kết quả của quyết định;…

Muốn đánh giá nguồn lực thông tin phải đánh giá thông qua kết quả đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống TT – TV

Thực tiễn vận hành các hệ thống thông tin – thư viện được đặc trưng bằng các thông số sau:

- Khối lượng thông tin của hệ thống (X1): lượng tin tối đa mà hệ thống có thể kiểm soát và lưu trữ mà không ảnh hưởng tới hoạt động bình thường của hệ;

- Tần suất sử dụng hệ (X2): số lượng yêu cầu thông tin trong một đơn vị thời gian mà hệ thống có thể phục vụ;

- Tốc độ đưa tin tức (X3): khoảng thời gian kể từ lúc hệ thống thông tin nhận được yêu cầu đến khi đưa tin đến người sử dụng;

- Tính đầy đủ (X4): tỷ số giữa lượng tin đưa ra đúng yêu cầu với lượng tin thực tế có trong hệ thống phù hợp với yêu cầu;

- Tính chính xác (X5): tỷ số giữa lượng tin đưa ra đúng yêu cầu với toàn bộ số tin có trong lượt đưa;

- Độ bền vững của hệ thống (X6): tính an toàn và ổn định trong việc sử dụng hệ thống;

Trang 24

- Tính kinh tế của hệ thống (X7): tổng số các phí tổn để duy trì hệ thống hoạt động

Nếu gọi Y là hiệu quả hoạt động của hệ thống TT-TV, thì có thể xác định hiệu quả của hệ thống thông qua hàm số:

Y= f(Xi); i = 1,7

0 ≤ Xi ≤ ∞

Hệ thống hoạt động tốt nhất nếu thỏa mãn điều kiện:

+ X1, X2, X6: vô cùng lớn, có nghĩa là: X1, X2, X6=> ∞

+ X3, X7: vô cùng bé, nghĩa là: X3, X7 => 0

+ X4, X5: đạt tới giá trị lý tưởng, nghĩa là: X4, X5 => 1

Các thông số đặc trưng của hệ thống không tồn tại độc lập mà liên hệ chặt chẽ, phụ thuộc với nhau, như giữa 2 thông số X4 (tính đầy đủ) và X5 (tính chính xác) có mối quan hệ tỉ lệ nghịch với nhau trong việc tìm và cung cấp thông tin của hệ thống Trong từng hệ thống thông tin – thư viện cụ thể, khi đạt tới một giá trị cân bằng, việc tăng giá trị của thông số đầy đủ sẽ dẫn đến giảm giá trị của thông số chính xác và ngược lại Điều này thể hiện qua kết quả thực nghiệm trên các hệ thống cụ thể Nhóm các nhà khoa học Anh – Mỹ do C.W Cleverdon chủ trì dự án nghiên cứu về đánh giá các hệ thống thông tin – thư viện ở Cranfied, đã chứng minh độ chính xác càng cao thì độ đầy đủ càng thấp và ngược lại Điều này được thể hiện qua đồ thị sau:

Trang 25

Hiệu quả của hệ thống thông tin – thư viện được đánh giá trên cơ sở của hai hệ số đầy đủ và chính xác xuất phát từ quan điểm của người dùng tin chỉ quan tâm đến việc nhận các tài liệu thỏa mãn nhu cầu thông tin của họ Tuy nhiên, ở mỗi người dùng tin yêu cầu đó cũng không giống nhau, có người cần độ chính xác cao, nhưng người khác lại cần độ đầy đủ lớn hơn Nhưng trên thực tế, để đánh giá chất lượng hoạt động của hệ thống thông tin – thư viện còn cần phải dựa vào nhiều thông số (tiêu chí) khác như phụ thuộc vào số lượng tài liệu, vào chất lượng định chỉ số tài liệu, yêu cầu mô tả nội dung tài liệu và yêu cầu ngôn ngữ tìm tin, và phụ thuộc nhiều vào cường độ làm việc của hệ thống Cường độ

Trang 26

làm việc xác định bởi số lượng yêu cầu mà hệ thống phục vụ trong một đơn vị thời gian

Nếu gọi:

V3 : Số lượng tài liệu của hệ thống

V4 : Số lượng yêu cầu mà hệ thống phải phục vụ trong một đơn vị thời gian

L : Số người dùng tin của hệ thống

β : Số lượng yêu cầu trung bình của một người

Thì Số lượng yêu cầu tin về một ngành sẽ được tính theo công thức:

V4 = β L e –a/V3

Trong đó:

a : hằng số

e : giá trị logarit tự nhiên (= 2,17)

Nếu V3 lớn, tức là đạt tới mức tối đa, có nghĩa là V3 => ∞ thì:

V4 = β L Như vậy số yêu cầu V4 phụ thuộc vào số tài liệu có trong hệ thống hay năng lực truy nhập thông tin của hệ thống Nếâu trong kho tài liệu của thư viện càng bổ sung nhiều tài liệu có giá trị hoặc khả năng với tới thông tin từ các nơi khác của hệ thống càng cao thì số lượng yêu cầu mà hệ thống có thể phục vụ trong một đơn vị thời gian càng lớn

Từ các phân tích trên đây cho phép chúng ta kết luận: các thông số của hệ thống TT-TV phụ thuộc vào số lượng tài liệu phù hợp với chủ đề được quản trị của hệ thống đó Như vậy, tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá hiệu quả của hệ thống TT-

TV là số lượng tài liệu phù hợp với diện bao quát cùng với năng lực tương tác của hệ thống (liên quan đến kết quả của quá trình tìm tin như: độ chính xác, độ đầy đủ, số lượng yêu cầu mà hệ thống có thể phục vụ được trong một đơn vị thời

Trang 27

rằng, tăng số lượng tài liệu không phải là không có giới hạn, khi bổ sung tài liệu

- xây dựng nguồn lực thông tin, mở rộng kích cỡ của hệ thống nếu đạt được giá trị “ngưỡng” mà còn tiếp tục phát triển thì các thông số khác của hệ thống sẽ ảnh hưởng không tốt Do vậy để xây dựng hệ thống cần xác định số tài liệu tối

ưu mà hệ thống có thể quản trị cùng với mở rộng năng lực tương tác của hệ thống

Ngày nay trong các cơ quan thông tin - thư viện có một loại nguồn lực thông tin đặc biệt đó là các cơ sở dữ liệu (CSDL) Việc đánh giá giá trị của một CSDL là một việc làm cần thiết Việc đánh giá này dựa trên các tiêu chuẩn như: việc cập nhật kịp thời các kết nối đã hết hiệu lực và các mối liên quan được xác định ngày tháng là cơ sở trực tiếp để đánh giá tính trong sạch của một CSDL Qua đó một số vấn đề khác cũng có thể xuất hiện, như các biểu ghi thư mục cũng có thể bị cắt xén trong các CSDL truyền thống, hoặc các CSDL trên Internet được lập bảng tra tự động cũng có thể bị mất dữ liệu, thiếu bảng tra đầy đủ về một tư liệu Tuy nhiên, có một số vấn đề cần lưu ý khi đánh giá và sử dụng các CSDL trên Internet Đó là tính chính xác và tính kịp thời của dữ liệu, tính chính xác của các công cụ tìm tin và tính phù hợp của các cấp bậc chủ đề Một CSDL phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau:

- Có tính hệ thống, tập trung và phân cấp rõ ràng

- Bảo đảm lưu trữ được lâu dài, tính an toàn thông tin;

- Đảm bảo tính cập nhật của thông tin;

- Là công cụ tin cậy trợ giúp lập kế hoạch, quy hoạch sử dụng và phát triển bền vững nguồn lực thông tin;

- Linh hoạt, có khả năng mở rộng, phát triển trong tương lai (cấu trúc của CSDL là một hệ thống mở);

- Không trùng lặp thông tin;

- Dữ liệu được mô tả theo tiêu chuẩn quốc tế;

Trang 28

- Tương thích và có khả năng trao đổi, chia sẻ thông tin

1.1.2.5 Xu hướng phát triển nguồn lực thông tin

a/ Sự phát triển đột biến của nguồn tài nguyên thông tin:

Trong xã hội thông tin, thông tin có tính toàn cầu, thông tin mang tính xuyên quốc gia và thực sự nằm ngoài tầm kiểm soát của bất kể mọi quốc gia, dù cho điều đó có lợi hay có hại, dù con người có muốn hay không

Các số liệu thống kê trên thế giới cho thấy số lượng thông tin lưu hành trong xã hội tăng lên theo hàm số mũ, cứ sau 10 - 15 năm lượng thông tin lại tăng lên gấp đôi Trong vòng 30 năm cuối thế kỷ XX, thế giới đã sản xuất ra một lượng thông tin khổng lồ bằng toàn bộ 5 nghìn năm trước đó cộng lại Mỗi một ngày có tới 20 triệu từ ngữ thông tin kỹ thuật được in trên các vật mang tin khác nhau (như các báo, tạp chí, sách, báo cáo, các đĩa mềm, các đĩa CD, chưa kể tới các bằng phát minh sáng chế,… ) Khối lượng thông tin hiện có tăng càng nhanh thì nó càng được tích lũy nhiều hơn Tức là thông tin tự nó có khả năng kích thích mức tăng trưởng của nó Trong lĩnh vực thông tin khoa học & công nghệ, khối lượng thông tin tăng nhanh đến mức, nếu không có các thiết bị kỹ thuật hiện đại và phương pháp khoa học thì khó có thể kiểm soát và sử dụng được các dòng thác thông tin khổng lồ hiện nay

Trong khoa học - công nghệ, trong số các nguồn thông tin công bố của các nước, thì các tạp chí khoa học định kỳ, các thông tin về phát minh, sáng chế có tầm quan trọng đặc biệt Các tạp chí khoa học định kỳ ngày càng được đưa lên mạng thông tin Internet nhiều hơn Trong đó phải kể đến 5 tập đoàn lớn nhất xuất bản loại tài liệu này, đó là:

- Elsevier Electronic Subscription đã đưa tới hơn 1200 thư mục tạp chí khoa học công bố định kỳ trên thế giới vào mạng thông tin điện tử Internet, trong đó hơn 400 tạp chí phải trả tiền

Trang 29

- Blackwell – đưa hơn 200 tạp chí khoa học với nội dung toàn văn (Fulltext) lên Internet

- John & Sons – với hơn 300 tạp chí khoa học

- Academic Press – đã đưa toàn bộ tất cả các bài của tất cả các tạp chí khoa học do tập đoàn này kiểm soát lên mạng Internet

Ngoài ra còn có các công ty nổi tiếng như: Thomson Gale, Wilson, EBSCO, MacGrawhill, Macmillan,… là các nhà cung cấp nắm giữ và chuyên cung cấp tài liệu in, tạp chí điện tử, sách điện tử, và các cơ sở dữ liệu có giá trị khoa học cao đủ các lĩnh vực khoa học khác nhau

b/ Đa dạng hóa các hình thức lưu trữ nguồn lực thông tin:

Với cuộc cách mạng thông tin lần thứ năm, việc thể hiện các số liệu và dữ kiện chuyển từ kỹ thuật tương tự (Analog) sang kỹ thuật số (Digital) đã làm thay đổi căn bản hoạt động xử lý, lưu trữ, khai thác thông tin, cũng như các dịch vụ thông tin (thu thập, tàng trữ, tìm kiếm, xử lý, phổ biến thông tin) Hiện có hơn

8000 cơ sở dữ liệu và ngân hàng dữ liệu trên thế giới đã được số hóa Diễn ra sự thay đổi về căn bản các phương thức truy cập tới các nguồn tin này (truy cập từ

xa, bằng điện thoại hữu tuyến và vô tuyến di động, fax, vệ tinh,…)

Trên thế giới hiện nay có tới 72 ngân hàng dữ liệu sáng chế được đưa lên mạng Internet Trong đó có 21 ngân hàng dữ liệu có trên 5 triệu tài liệu tham khảo và 5 ngân hàng dữ liệu có trên 10 triệu tài liệu tham khảo Tất cả các ngân hàng dữ liệu này đều có thể truy cập thông qua 20 tổ chức máy chủ, trong đó các tổ chức Questel – Orbit, KRI (Mỹ), STIN (Mỹ), Lexis – Nexis chiếm 3/4 tổng số các ngân hàng dữ liệu nói trên

Tại Việt Nam, việc tiếp cận, khai thác nhanh chóng và có hiệu quả các nguồn lực thông tin này theo quy mô công nghiệp trên cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia và khu vực có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với việc nâng cao tiềm lực

Trang 30

thông tin và giảm bớt khoảng cách tụt hậu công nghệ với các nước trong khu vực, cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh về công nghệ của đất nước

c/ Xu thế hình thành nền công nghiệp thông tin:

Vào những năm cuối cùng của thế kỷ XX , hơn 50% hoạt động của các nước công nghiệp phát triển đều gắn liền với việc sản xuất, xử lý và phổ biến thông tin, chuyển giao thông tin, làm việc từ xa Bởi vậy, đối với mỗi quốc gia, điều sống còn trong tương lai là phải không chỉ nắm được một cách đầy đủ các dòng tin và các nguồn tin quốc gia, quốc tế, mà còn phải biết cách tổ chức khai thác chúng ở quy mô công nghiệp Trong đó việc nắm vững sự phân bố của các nguồn thông tin chủ yếu trên quy mô quốc tế có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc tổ chức khai thác chúng

d/ Mô hình quản lý nguồn lực thông tin của thư viện hiện nay và trong tương lai:

Tập quán khai thác, sử dụng thông tin của con người vẫn cho phép sự tồn tại và phát triển của tài liệu dạng in (hardcopy) trong một thời gian dài nữa, tài liệu điện tử vẫn chưa có đầy đủ khả năng hoàn toàn thay thế được các loại tư liệu in truyền thống Vì thế, thư viện trong xã hội thông tin phải là một mô hình quản lý đa dạng, vừa coi trọng các phương thức lưu trữ và xử lý thông tin số hóa, đồng thời vẫn phải chú trọng đúng mức đến các nguồn thông tin lưu trữ dưới dạng truyền thống, đặc biệt là dạng in ấn Khi đó, thư viện sẽ là cơ quan quản lý nguồn thông tin khổng lồ, đa dạng, phong phú,và sẽ trở thành nơi tạo lập và quản trị một nguồn dữ liệu khổng lồ trên siêu lộ thông tin Thư viện có nhiệm vụ bảo tồn các tư liệu in ấn, có khả năng tạo cho mọi người dùng tin khai thác, truy nhập được thông tin thông qua các mạng Internet Thư viện mang chức năng truyền thông tin mang tính chất của doanh nghiệp, chức năng triển khai các dịch vụ tư vấn và chức năng đáp ứng những nhu cầu giải trí

Trong thời đại của xã hội thông tin, vốn tài liệu thu thập không nhất thiết

Trang 31

liệu này Để hấp dẫn người sử dụng, tồn tại trong thể thống nhất nhưng vẫn mang tính đặc thù, riêng biệt, mỗi thư viện cần có những nguồn tài liệu, thông tin mang tính đặc thù, riêng biệt thể hiện ở vốn tài liệu, nguồn lực thông tin riêng biệt về một số lĩnh vực, hay chuyên ngành được xác định, phù hợp với cơ sở đào tạo hay những bộ sưu tập tài liệu, thông tin đặc thù gắn với địa phương, góp phần hiểu về địa phương và phục vụ địa phương Đó là những bộ sưu tập đầy đủ, có tính hệ thống, được tổ chức thành bộ, tập,… nói về địa phương, vùng/ miền mà ít nơi nào có được, hay không đâu có được Hơn nữa, nhờ những nguồn tài nguyên thông tin đặc thù của riêng mình, thư viện có thể tiến hành việc chia sẻ thông tin bình đẳng và có lợi hơn Đồng thời, thư viện còn phải có khả năng phối hợp khai thác các nguồn tài nguyên thông tin của các thư viện, trung tâm thông tin khác trong và ngoài hệ thống thư viện của mình Ngoài đối tượng chính của thư viện trường đại học là giảng viên, sinh viên trong trường, thư viện đại học còn phải có đủ khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin của giảng viên và sinh viên các trường đại học khác ở trong và ngoài nước trong các lĩnh vực khoa học mà thư viện đang quản lý

đ/ Xuất hiện nhiều thách thức khi quản lý nguồn tài nguyên thông tin điện tử:

Ngày nay kỹ thuật mới cho phép xác định các nguồn tài nguyên thông tin tiềm năng, nhiều quá trình mới xuất hiện cho phép tìm kiếm các nguồn tin điện tử nói chung và các nguồn tin trên mạng nói riêng, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sưu tầm, bổ sung, lưu trữ và tìm kiếm thông tin, mở ra những cơ hội mới cho hoạt động của các cơ quan thông tin – thư viện, trong đó có thư viện đại học Bên cạnh đó, các cơ quan thông tin – thư viện hiện nay và trong tương lai gần còn phải đối mặt với nhiều vấn đề và thách thức cần được giải quyết, đó là: Vấn đề lưu trữ nguồn thông tin số hóa, vấn đề bản quyền và việc hỗ trợ người dùng tin

Trang 32

Vốn tài liệu – nguồn lực thông tin của thư viện sẽ dựa trên nền tảng của cả hai loại hình tư liệu đó là tư liệu của thư viện truyền thống và thư viện số Thách thức đầu tiên mà thư viện hiện nay phải giải quyết là vấn đề thuộc về kỹ thuật – vấn đề lưu trữ nguồn tài liệu dạng số Bối cảnh của việc lưu trữ số mà thư viện đang phải đối mặt là một nửa số trang web sẽ biến mất hàng tháng, trong khi mạng Internet hàng năm tăng gấp đôi về số lượng Để có thể cung cấp lượng thông tin cần thiết, cả dạng số và dạng truyền thống, các thư viện phải thu thập và lưu trữ một số lượng lớn thông tin chất lượng cao, nhất là nguồn thông

tin số hóa Theo Well G.A.: “Thông tin phải được thu thập một cách bền vững, có

thể là độc lập với môi trường số, có thể nằm trong môi trường này, điều đó có thể đảm bảo rằng sẽ có cơ hội để những thông tin này sẽ hiện hữu trong một thời gian dài đủ để cung cấp cho bạn đọc trên các địa chỉ web công cộng” [ 49 ]

Tuy nhiên, đây lại là một nhiệm vụ nặng nề đối với thư viện Bởi vì việc lưu trữ và bảo quản tài liệu số cần có một số những yêu cầu cụ thể, nhất là đối với những tư liệu số đặc biệt, với những yếu tố đặc thù (riêng biệt) cần phải được lưu trữ, đó là khả năng cho phép sao chụp một cách hoàn hảo, cho phép truy cập không giới hạn về đồ họa, khả năng phổ biến mà không cần những chi phí phát sinh trong điều kiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật số vừa đủ, có thể truy cập, tìm kiếm thông tin đã lưu trữ một cách dễ dàng trong thời gian dài, và có thể xử lý bằng máy móc tự động để có thể sửa đổi, định dạng lại và thay đổi nội dung tùy ý trong mọi giai đoạn của quá trình tạo ra và phổ biến thông tin (đó chính là thách thức về mặt kỹ thuật do công nghệ trang thiết bị thay đổi theo thời gian, nhưng các thiết bị lưu trữ (vật mang tin) thông tin đã lỗi thời lại không thể thay đổi được) Giải pháp cho vấn đề này tốt nhất và đáng tin cậy nhất là chạy các phần mềm nguyên thủy dành cho từng loại tài liệu Cách thứ hai là sao lưu các phần mềm lỗi thời, sao cho những phần mềm đọc dữ liệu số này có thể chạy

Trang 33

Nhưng giải pháp về mặt quản lý cho vấn đề này là sự hợp tác chia sẻ nguồn lực giữa các cơ quan thông tin, thư viện nhằm phát huy tối đa ảnh hưởng của họ trong việc lưu trữ và bảo tồn thông tin điện tử (có thể thông qua liên minh giữa các thư viện, các viện thông tin,…)

Vấn đề bản quyền: Vấn đề bản quyền trong thế giới số là một thách thức,

bởi vì vật mang tin số không giống như các vật mang tin truyền thống như sách, báo, tạp chí bằng giấy hay CD-ROM,… thông thường Làm thế nào để giải quyết được mâu thuẫn giữa một bên là bảo vệ quyền sở hữu thông tin (thường là của các nhà xuất bản chứ không phải là tác giả) và bên kia là quyền được truy cập thông tin, được cung cấp thông tin miễn phí và không có giới hạn của người sử dụng? Người giữ bản quyền thường ít khi cấp giấy phép số hóa tài liệu vẫn đang còn trong thời hạn bản quyền, nhưng việc số hóa tài liệu quý hiếm trong các thư viện vẫn phải tiến hành do nhu cầu của người sử dụng và vì mục đích bảo quản tài liệu Nên các nhà xuất bản (hay các tác giả) xem thư viện như là mối đe dọa cho thị trường của họ Vì vậy, những xung đột lâu đời giữa thư viện và các nhà xuất bản vẫn tiếp tục diễn ra và không có gì sáng sủa hơn trong tương lai

e/ Xu thế phát triển nguồn tin nội sinh, nguồn tin tự số hóa trong các trường đại học, viện nghiên cứu:

Hiện nay trong các thư viện trường đại học, Viện nghiên cứu còn có loại nguồn lực thông tin quan trọng khác đó là nguồn tin nội sinh, nguồn tin tự số hóa các kho tư liệu của thư viện

Nguồn tin nội sinh của trường ĐH được tạo nên từ các loại hoạt động đào tạo, nghiên cứu Nguồn tin này phản ánh đầy đủ, hệ thống về các thành tựu cũng như tiềm lực, định hướng phát triển của trường đại học

Xét về tính chất quá trình tạo ra nguồn tin nội sinh, có thể phân loại nguồn tin nội sinh như sau:

Trang 34

- Nguồn tin phản ánh kết quả hoạt động học tập, đào tạo như: luận văn, luận án, niên luận, các tư liệu điền dã, các tư liệu điều tra, hồ sơ các thí nghiệm, hệ thống chương trình, giáo trình, đề cương bài giảng,…

- Nguồn tin phản ánh kết quả hoạt động nghiên cứu bao gồm các báo cáo kết quả nghiên cứu, các tư liệu trung gian được tạo nên từ việc triển khai các chương trình, đề tài nghiên cứu, các chương trình điều tra cơ bản, điền dã, các đề án, dự án sản xuất thử, thử nghiệm, các báo cáo, tham luận khoa học, kỷ yếu các hội nghị, hội thảo và các loại hình sinh hoạt học thuật khác,…

- Nguồn tin phản ánh tiềm lực về đào tạo và nghiên cứu khoa học, trong đó đặc biệt là cơ cấu, quy mô, trình độ đào tạo, nguồn nhân lực khoa học, cơ sở vật chất kỹ thuật để triển khai các hoạt động đào tạo, nghiên cứu, các thông tin phản ánh định hướng phát triển nói chung, quy mô về hợp tác trong các lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu

Từ quan điểm của người tổ chức lưu giữ, quản lý và khai thác thông tin, có thể nêu một số đặc trưng quan trọng của nguồn tin nội sinh như sau:

- Bộ phận chiếm tỷ trọng lớn của nguồn tin nội sinh trong trường đại học là tài liệu xám (Grey document) Nên lưu ý vấn đề liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ để có chính sách thích hợp cho việc sao chụp tài liệu xám, có thể thay thế dịch vụ này bằng việc cung cấp các tài liệu số hóa, các tệp được định dạng kiểu PDF hay dạng văn bản

- Các hoạt động tạo ra nguồn tin nội sinh về cơ bản đều là các hoạt động có kế hoạch, chịu sự quản lý trực tiếp của trường đại học, kinh phí triển khai hoạt động này một phần do nhà nước cấp, một phần do nguồn tự có của trường đại học hay các nguồn tài trợ khác Đây chính là một trong những yếu tố thuận lợi cho sự phát triển nguồn tin nội sinh này, nhưng trên thực tế còn có những khó khăn như : các giáo trình đáng ra phải trở thành các xuất bản phẩm được công bố

Trang 35

xám; các trường đại học rất khó có khả năng tạo lập và quản lý thống nhất được hệ thống giáo trình một cách đầy đủ, đồng bộ do chính sách trong việc tạo lập, quản lý và khai thác thông tin

- Sự kết hợp xuất bản điện tử và phát triển nguồn tin đã làm nguồn tin nội sinh dạng số có cơ hội phát triển, trở thành hiện thực, có thể thực hiện dễ dàng Nhờ công nghệ thông tin phát triển mà khả năng tích hợp các loại nguồn tin nội sinh với nhau và với các nguồn tin khác của trường đại học xét từ quyền lợi của người dùng tin đã được giải quyết một cách căn bản về mặt công nghệ

- Nguồn tin nội sinh được hình thành theo chu kỳ, thường đa dạng và có số lượng lớn

Số hóa tư liệu và xây dựng cơ sở dữ liệu toàn văn chính là xây dựng vốn

tư liệu số hóa của bản thân cơ quan thông tin – thư viện chủ quản Mục tiêu của số hóa tư liệu nhằm tạo tiền đề xây dựng thư viện số, phục vụ có hiệu quả cho công tác nghiên cứu, đào tạo, không nhằm mục đích kinh doanh, không vi phạm luật bản quyền, công ước Bern,… Kết quả đạt được nhằm tạo ra nguồn thông tin số từ vốn tư liệu quý hiếm cần bảo quản lâu dài của thư viện, xây dựng nguồn lực thông tin điện tử Công tác này đòi hỏi cán bộ thư viện phải đạt trình độ chuyên môn cao, có kỹ năng về tin học và hệ thống, biết chọn lọc, tổ chức nguồn tin, lý giải thông tin, phân bổ thông tin, phân phối thông tin, biết cách bảo đảm tính toàn vẹn, chính xác của thông tin, biết cách tập hợp, tổ chức các tài liệu số hóa sẵn sàng phục vụ hiệu quả cho người sử dụng

1.1.3 Phương pháp luận xây dựng chiến lược phát triển nguồn lực thông tin

Phát triển và chiến lược phát triển là những vấn đề cốt lõi được đặc biệt quan tâm cả trong lĩnh vực nghiên cứu lý luận và chỉ đạo thực tiễn Muốn phát triển mạnh mẽ không thể không có chiến lược, chiến lược là vấn đề hệ trọng đối với mỗi quốc gia ở cả cấp vĩ mô và vi mô Chiến lược phát triển hàm chứa bí quyết phát triển của một đất nước trong một thế giới cạnh tranh và phát triển

Trang 36

phức tạp Nhận thức đúng về chiến lược phát triển và xây dựng chiến lược phát triển có chất lượng cũng như tổ chức thực hiện thành công chiến lược ấy là vấn đề cực kỳ quan trọng

1.1.3.1 Khái niệm chiến lược

Thuật ngữ “chiến lược” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cổ “Strategem” hay

“Strateges”, nó mang ý nghĩa về tư tưởng chỉ đạo có tính cơ bản đối với các hành vi để đạt được mục đích lớn lao nào đó mà người ta mong muốn Không có chiến lược chung chung, chiến lược chỉ được xây dựng với một đối tượng cụ thể Chiến lược mang tính ý tưởng, quan điểm đề cập những vấn đề toàn cục, có tầm cao, tầm tổng thể, tầm dài hạn đối với sự phát triển của một đối tượng hay một hệ thống nhằm đạt tới mục tiêu cao nhất, lớn nhất, tổng quát nhất đã xác định

Nhà nghiên cứu lịch sử quản lý Alfrech D Chandler cho rằng “Chiến lược bao

gồm những định hướng và mục tiêu dài hạn cơ bản của tổ chức và đưa ra phương án hành động và sự phân bổ các nguồn lực cần thiết để đạt được những định hướng, mục tiêu đó” Theo các nhà khoa học của Viện Chiến lược phát triển

Việt Nam: “những mưu tính có tính toàn cục, lâu dài, cơ bản được xem là chiến

lược”(1) ; “Chiến lược là hệ thống các quan điểm, phương châm và biện pháp lớn,

có tính chất cơ bản, đặc biệt và khả thi, cho một thời kỳ tương đối dài nhằm bảo đảm đưa sự phát triển đạt tới những mục tiêu mong muốn”(2.) Yêu cầu của chiến lược là trên cơ sở phân tích và dự báo đúng về tiềm lực của cơ quan / tổ chức, đưa ra được những định hướng hành động phù hợp

Chiến lược phát triển một cơ quan / tổ chức là một phần quan trọng của chiến lược phát triển chung của tổ chức cao hơn (cơ quan chủ quản) Vì vậy cơ sở phương pháp luận để xây dựng chiến lược phải là cách tiếp cận hệ thống Cần

Trang 37

chú ý đầy đủ các đặc điểm hệ thống của đối tượng và vận dụng những hiểu biết mà khoa học ngày nay đã tích lũy được về quy luật vận động và phát triển của các hệ thống để tiếp cận và nghiên cứu

Ngày nay tính hệ thống của thế giới trở nên nghiêm ngặt, đòi hỏi mỗi dân tộc/ tổ chức muốn phát triển phải biết thuận theo các xu thế, các trào lưu, các qui luật của hệ thống đó Vì vậy, khi tiến hành soạn thảo chiến lược, phải làm rõ tình thế vấn đề đặt ra và yêu cầu cơ bản của chiến lược Cần phân tích và đánh giá thực trạng, phân tích về môi trường thế giới xung quanh theo cách nhìn hệ thống, toàn cục nhằm đi sâu vào cốt lõi vấn đề cùng những đặc điểm cấu trúc và sự vận hành của nó, từ đó có thể thấy rõ những thay đổi về cấu trúc đang diễn

ra, các xu thế lớn, những yêu cầu và thách thức của thế giới, cũng như nhìn thấy những cơ hội khi hòa nhập với thế giới

Lập kế hoạch chiến lược là quá trình xác định làm sao đạt được những mục tiêu dài hạn của tổ chức với các nguồn lực có thể huy động được Nhiệm vụ hình thành chiến lược bắt đầu với việc phân tích thực trạng bên trong và bên ngoài của tổ chức để có được một bức tranh tổng thể Việc phân tích bên trong và bên ngoài giúp xác định điểm mạnh, điểm yếu, đâu là lợi thế cạnh tranh Lợi thế cạnh tranh có thể được xem xét trên các phương diện như chất lượng, giá cả, sự độc đáo, vị trí thuận tiện, tiếng tăm của nhãn hiệu / thương hiệu,…Từ việc xác định đâu là lợi thế cạnh tranh mạnh nhất, nhà quản lý lựa chọn chiến lược tương ứng để khai thác nó

1.1.3.2 Các bước xây dựng chiến lược phát triển nguồn lực thông tin

- Xác định xu thế: xu thế phát triển của thế giới và xu thế phát triển của từng quốc gia hiện nay là xu thế toàn cầu hóa, xây dựng xã hội thông tin và phát triển khoa học công nghệ

Trang 38

- Dự báo yếu tố có liên quan: là yếu tố đi kèm theo khi thực hiện mục đích, hay một hoạt động cụ thể – Ví dụ: sản phẩm thông tin mới – dự báo có thể có những vật mang tin hiện đại sắp tới sẽ là gì để sản xuất ra

- Phân tích hiện trạng: đánh giá tiềm lực của cơ quan/ tổ chức trong giai đoạn viết chiến lược, bao gồm:

+ Những điều kiện liên quan đến vật chất như nhân lực, vật lực (cơ sở vật chất, trang thiết bị), tài lực, và tin lực: đây là điều kiện cần

+ Môi trường phát triển: môi trường phát triển có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong quyết định sự thành bại của mọi chiến lược Trong môi trường tích cực các sự vật trong quá trình phát triển được sắp đặt đúng vị trí, tạo điều kiện tích cực cho phát triển, phát huy lao động sáng tạo, các giá trị vật chất, tinh thần được đặt đúng chỗ Ngược lại là môi trường tiêu cực Vì vậy cần phải tạo ra môi trường phát triển tích cực: đây chính là điều kiện đủ

- Xác định hệ quan điểm chiến lược phát triển nguồn lực thông tin:

+ Quan điểm phát triển năng lực nội sinh của nguồn lực thông tin

+ Quan điểm về vai trò của nguồn lực thông tin đối với thư viện các trường đại học của hệ thống và đối với vấn đề đào tạo của trường đại học

+ Quan điểm hệ thống mở trong phát triển

+ Quan điểm về hiệu quả chiến lược

- Xác định mục tiêu: mục đích của việc xác định mục tiêu là chuẩn hóa sứ mệnh và định hướng của tổ chức thành cái cụ thể hơn để đo lường được kết quả hoạt động của tổ chức trong thời kỳ ngắn hạn và dài hạn Trên cơ sở đường lối và mục tiêu phát triển trường đại học của Đảng và Nhà nước, của Bộ Giáo dục – đào tạo, dựa trên nguyên tắc chỉ đạo về Chính sách phát triển thư viện trường đại học, căn cứ vào các dự báo, chiến lược phát triển của các trường đại học thành viên trong hệ thống ĐHQG-HCM để xác định các mục tiêu chủ yếu Để

Trang 39

lực mà hệ thống thư viện ĐHQG-HCM có thể huy động trong tương lai Phải căn cứ vào các mục tiêu đã được xác định để hình thành chiến lược

* Mục tiêu chung (mục tiêu chiến lược):

Mục tiêu của chiến lược được xây dựng trên cơ sở phân tích những tình thế, từ phân tích tiềm năng nội tại (của nguồn lực thông tin, và các nguồn lực khác hiện nay) và từ nhu cầu thực tiễn Mục tiêu của chiến lược thường được biểu diễn dưới dạng một mệnh đề mô tả trạng thái sau giai đoạn nào đó, được lượng hóa một cách tương đối

Mục tiêu của chiến lược cần được mô tả bằng công cụ cây mục tiêu qua từng giai đoạn, mỗi giai đoạn đều được đánh dấu bằng việc thực hiện các chỉ tiêu cũng đã được lượng hóa một cách tương đối

Yêu cầu đối với mục tiêu chiến lược chung: phải có mốc thời gian, phải kiểm nghiệm được

- Xác định ưu tiên:

Sau khi xác định yêu cầu cơ bản, đặc biệt và mục tiêu khái quát của chiến lược, khâu quan trọng là xây dựng các quan niệm chủ đạo nhằm làm rõ các trọng điểm cần ưu tiên phát triển Cần lưu ý đến các nguyên tắc lựa chọn ưu tiên và xác định các hướng ưu tiên

- Xây dựng hệâ thống các giải pháp thực hiện chiến lược:

Các giải pháp thực hiện chiến lược là hệ thống những giải pháp (nguồn lực, chính sách, phương pháp) để đạt tới mục tiêu chiến lược Chúng bao gồm:

+ Các chính sách cần ban hành;

+ Mở rộng hành lang pháp lý;

+ Xây dựng cơ chế điều hành và thực hiện chiến lược;

+ Xác định nguồn tài chính và phương thức đầu tư;

+ Xác định nhân sự và bộ máy thực hiện chiến lược

Trang 40

Do xây dựng chiến lược là xác định trước tiến trình phát triển của hệ thống trong tương lai nên phải xác định được mối quan hệ giữa mục tiêu và giải pháp để bảo đảm chiến lược mang tính khả thi Như vậy, nội dung của chiến lược phát triển nguồn lực thông tin phải bao gồm hệ quan điểm về phát triển nguồn lực thông tin của thư viện các trường đại học trong hệ thống và tổ hợp các chương trình hoạt động để đạt mục tiêu đó Chiến lược phát triển phải huy động tối đa năng lực nội sinh, tạo những khả năng cảm nhận và khả năng phản ứng thích nghi với môi trường đầy biến động Chiến lược phát triển nguồn lực thông tin có nhiệm vụ giải quyết những vấn đề sau:

1 Xác lập hệ quan điểm phát triển nguồn lực thông tin của thư viện

các trường đại học trong hệ thống;

2 Xác định rõ mục tiêu và thời gian thực hiện mục tiêu;

3 Xác định các hướng trọng điểm cần tập trung nguồn lực để thực hiện;

4 Đề ra hướng phân bổ nguồn lực để đạt mục tiêu đã lựa chọn theo trình tự ưu tiên, trên quan điểm toàn cục và toàn hệ thống Nêu ra được những biện pháp lớn để thực hiện mục tiêu đó;

Chiến lược thường hướng vào các vấn đề dài hạn, cốt yếu nhất của trường đại học nên dễ bị chi phối bởi nhiều yếu tố Do vậy việc thường xuyên cập nhật, phân tích là nhiệm vụ rất quan trọng trong xây dựng chiến lược

1.2 Cơ sở pháp lý của việc xây dựng chiến lược phát triển nguồn lực thông tin hệ thống thư viện ĐHQG-HCM

- Trên thế giới hiện nay, thông tin, tri thức đang đóng vai trò ngày càng quan trọng trong đời sống, kinh tế và xã hội Trong Nghị quyết 49-CP của Chính

phủ ngày 04/08/1993 khẳng định quyết tâm “phổ cập văn hóa thông tin” trong xã hội nhằm tạo môi trường thuận lợi cho việc chuẩn bị hướng tới một “xã hội

thông tin”

Ngày đăng: 14/09/2021, 20:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w