1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mã khối không gian tần số trong đường lên của hệ thống thông tin di động MC CDMA băng thông rộng với tiền cân bằng

7 631 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mã Khối Không Gian Tần Số Trong Đường Lên Của Hệ Thống Thông Tin Di Động Mc-cdma Băng Thông Rộng Với Tiền Cân Bằng
Tác giả Đặng Quốc Đường
Trường học Không có thông tin
Chuyên ngành Không có thông tin
Thể loại Không có thông tin
Năm xuất bản Không có thông tin
Thành phố Không có thông tin
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 270 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Space Frequency Block Coding in the Uplink of Broadband MC-CDMAMobile Radio Systems with Pre-Equalization Mã khối không gian tần số trong đường lên của hệ thống thông tin di động MC-CDM

Trang 1

Space Frequency Block Coding in the Uplink of Broadband MC-CDMA

Mobile Radio Systems with Pre-Equalization

(Mã khối không gian tần số trong đường lên của hệ thống thông tin di động MC-CDMA băng thông rộng với tiền cân bằng)

Học viên: Đặng Quốc Đường MSHV: CB110829

1

Trang 2

Tóm tắt: Tài liệu

này xem xét hiệu suất

của mã khối không

gian tần số (SFBC)

đối với hệ thống

OFDM Ngoài ra còn

tìm hiểu về sự kết hợp

của nó với các công

nghệ tiền cân bằng

đơn người dùng có độ

phức tạp thấp trong

đường lên của hệ

thống MC-CDMA.

Với phương pháp này

có thể tránh được

việc phải thực hiện

cân bằng tại khối thu,

thêm vào đó, không

cần phải thiết lập bất

kỳ kênh uplink nào.

Tài liệu chỉ ra rằng

SFBC kết hợp với bộ

phát hiện đơn ký hiệu

truyền thống có mặt

bằng lỗi cao hơn,

ngay cả khi sử dụng

mã hóa kênh Tuy

nhiên, hiện tại việc

kết hợp giữa SFBC và

tiền cân bằng

(pre-equalization) có thể

đạt được kết quả đầy

hứa hẹn trong đường

lên của hệ thống

CDMA với độ phức

tạp thấp.

Abstract: In this

paper, an efficient

realization of space

coding (SFBC) for

OFDM systems is

given Moreover, its

combination with

complexity single

user preequalization

techniques in the

uplink of MC-CDMA

investigated This

completely avoid an equalization at the receiver side and, additionally, does not need any uplink channel estimation It

is shown in this paper that SFBC in combination with

symbol detection has

a high error floor, even with channel coding However, the presented

combination of SFBC with pre-equalization

promising performance results

in the uplink of MC-CDMA systems with low complexity.

THIỆU

Một kỹ thuật Một kỹ thuật có triển vọng cho việc đa truy nhập trong hệ thống thông tin di động đó là có triển vọng cho đa truy cập trong hệ thống thông tin di động tương lai đó là MC-CDMA Kỹ thuật này được đề xuất năm

1993 [1], [2] cho

đường xuống của hệ thống di động với hiệu suất phổ cao Sử dụng OFDM trong hệ thống MC-CDMA có thể tránh được nhiễu ISI (giao thoa giữa các ký hiệu) và giúp làm giảm độ phức tạp của khối thu Thêm

vào đó, mã trải trực giao giúp giảm thiểu nhiễu MAI (nhiễu đa truy cập) Tuy nhiên cần phải sử dụng bộ phát hiện đa người dùng phía uplink và nguyên lý thiết lập kênh phức tạp

Mã khối không gian

thời gian [3], [4]

được giới thiệu giúp cải thiện hiệu suất hệ thống mà không làm giảm tốc độ của 2 anten phát (Tx) với giả thiết rằng hệ số kênh không thay đổi đối với 2 chu kỳ ký hiệu liền sau để đảm bảo độ lợi khác nhau

Đây là điều kiện quyết định trong hệ thống OFDM với chu

kỳ ký hiệu Ts bằng

Nc lần chu kỳ ký hiệu

dữ liệu T, với Nc là số sóng mang Để tránh phải sử dụng 2 ký hiệu OFDM liên tiếp cho mã hóa, các ký hiệu kết hợp có thể được gửi trên các sóng mang khác nhau trên một hệ thống đa sóng mang Tài liệu này thể hiện cách thực hiện mã khối không gian tần số một cách hiệu quả, các đặc tính của OFDM được khai thác sao cho 2 băng con hẹp liền kề chịu ảnh hưởng bởi cùng các hệ số kênh Vì thế SFBC có thể nhận biết được chỉ với 1 ký hiệu OFDM được thu,

và tránh được vấn đề

về giới hạn thời gian tương quan và giảm

độ trễ trong quá trình nhận biết

Tài liệu này tập trung nghiên cứu đường lên của hệ thống MC-CDMA, một ý tưởng triển vọng được đề xuất đó là sử dụng bộ tiền cân bằng tại phía

phát [5], [6], [7], [8],

nếu phía phát có thông tin về kênh truyền Như thế, tín hiệu ở bên thu sẽ không bị méo dạng và bên thu không cần phải thiết lập trạng thái kênh và cân bằng lại Thông tin về trạng thái kênh có thể được thực hiện theo cơ chế song công phân chia theo thời gian TDD (time division duplex) nếu các khe thời gian TDD đủ ngắn, như thế thì kênh của một liên kết xuống (downlink) và một liên kết lên (uplink)

có thể được xem là không đổi Vì thế một

bộ thu phát với chức năng tiền cân bằng có thể sử dụng thông tin trạng thái kênh thu được từ kênh downlink ước lượng khe thời gian thu được liền trước Ứng dụng của tiền cân bằng tại trạm cuối được đặc biệt chú ý trong cơ chế đa truy cập phân chia theo mã MC-CDMA, do nó có thể tránh được việc phải thiết lập kênh uplink phức tạp với phần mào đầu chưa

Trang 3

các ký hiệu tham

chiếu

Khi sự thay đổi về

thời gian trong kênh

giữa 2 khe thời gian

TDD liên nhau không

thể bị bỏ qua, nên

hiệu suất tiền cân

bằng có thể được cải

thiện bằng cách dự

đoán trước trạng thái

kênh phía phát khi mà

một vài thông tin

trạng thái kênh đã

được lọc ra từ trước

Tài liệu này đề xuất

kết hợp SFBC với

MC-CDMA sử dụng

bộ tiền cân bằng và

đưa ra kết quả đối với

các kênh fading thông

thường trong trường

hợp bộ phát hiện đơn

người dùng được sử

dụng tại phía thu

MC-CDMA

TIỀN

CÂN

BẰNG

Tổng số người dùng

trong mạng di động

MC-CDMA là K Qua

khảo sát thì uplink

đồng bộ với dữ liệu

truyền phát từ trạm

đầu cuối trạm BS Sơ

đồ khối phát k, với k

= 0, 1, , K-1, kết hợp

với bộ tiền cân bằng

và SFBC được cho

như hình 1 Các ký

hiệu dữ liệu d(k) của

trạm đầu cuối k thu

được từ bộ mã hóa

kênh và ánh xạ ký

hiệu Chúng được trải

ra sử dụng mã trực

giao, ví như mã

Walsh-Hadamard

Các ký hiệu dữ liệu

d(k) nằm trong khoảng T=LTc, với Tc là khoảng thời gian của

1 chip và L là chiều dài của mã trải:

( ) ( ) ( ) ( )

0 , 1 , , 1 T

L

Phương trình trải phổ:

( ) ( ) ( ) ( ) ( ) ( )

0 , 1 , , 1 T

L

(1)

Trong đó (.) T thể hiện

ma trận chuyển vị

Hình 1:Máy phát MC-CDMA với bộ tiền cân bằng và SFBC của trạm đầu cuối di động k

Sau khi trải phổ, chuỗi s(k) của trạm đầu cuối k được tiền cân bằng theo:

( )k ( ) ( )k k

sG s ; (2) Với G là một ma( )k trận chéo LxL tiền cân bằng có các phần

tử G Tiền cân( )l l,k bằng được thực hiện bằng cách nhân các

ký hiệu trên mỗi phân kênh với một hệ số tiền cân bằng chỉ định trước khi truyền đi

Tiêu chuẩn lựa chọn các hệ số cân bằng là

để bù lại fadinh kênh, khi đó tín hiệu đến anten thu chỉ còn bị ảnh hưởng bởi nhiễu cộng => chọn

( ) ( ) ,k 1/ ,k

GH Trên thực tế thì kỹ thuật này không thể triển khai được do nó yêu

cầu một tuyến truyền với công suất rất cao

Vì vậy, bắt buộc phải tiền cân bằng khi tổng công suất phát có tiền cân bằng và tổng công suất phát không sử dụng tiền cân bằng có giá trị bằng nhau

Điều kiện để tiền cân bằng bắt buộc là:

2

,

;(3)

Giả thiể rằng tất cả ký hiệu ( )k

l

S được truyền

với cùng công suất, từ (3) ta có:

( ) ( )

;(4)

Trong đó G là hệ l l( ),k

số cân bằng không hạn chế về công suất,

C(k) là hệ số chuẩn hóa giúp giữ cho công suất phát không đổi

( )

1 ( ) 2 , 0

;(5)

k

l l l

L C

G

Tiêu chuẩn tiền cân bằng khác cùng với việc giảm công suất

có thể được áp dụng, cho kết quả là các hệ

số tiền cân bằng như sau:

combining (MRC): tỉ

số kết hợp cực đại của mỗi phân kênh với hệ

số kênh liên hợp phức, cho ta

( ) ( )*

2 ( ) , 0

;(6)

k

l l l

L

H

Mặt hạn chế của MRC là nó làm giảm

tính trực giao giữa các

mã trải phổ và làm tăng MAI (giao thoa

đa truy nhập)

Equal gain combining

(EGC): bù sự xoay pha gây ra bởi kênh truyền bằng cách chọn

( )*

( ) ,

,

;(7)

k

l l

H G

H

EGC không khôi phục lại tính trực giao giữa các mã trải phổ và gây nhiễu MAI, nó chỉ yêu cầu thông tin

về pha của kênh truyền

Zero forcing (ZF):

làm đảo kênh và có thể khôi phục một phần tính trực giao giữa các mã trải phổ bằng cách chọn hệ số:

( )*

( ) ,

( )

( ) 0 ,

;(8) 1

k

k

l l

k l

l l

G

H

H

Đảo kênh với tiền cân bằng bị giới hạn do hệ

số công suất thấp và nhiễu MAI Ngoài ra

ZF còn khuếch đại nhiễu

Lỗi bình phương trung bình tối thiểu

(MMSE) tiền cân

bằng với công suất

thấp cho ta hệ số:

( )*

1

2 ( ) 2

0 ,

;(9)

k

l l

L

k

G

H

và giúp giảm thiểu lỗi này giữa chuỗi phát

và chuỗi nhận Ngoài

hệ số kênh, thì

3

Trang 4

MMSE cũng cần có

thông tin về biến đổi

nhiễu σ2

Sau thao tác chèn thì

chuỗi s được điều( )k

chế vào các sóng

mang con và các ký

hiệu OFDM khác

nhau, tùy theo kích

thước và kiểu chèn

Việc trải theo miền

tần số hay thời gian

có thể được thực hiện

bằng cách chọn bộ

chèn phù hợp [9].

Tuy nhiên, nếu chọn

L<<Nc thì có thể

giảm độ phức tạp của

bộ thu [10].

Một mã khối không

gian tần số hoạt động

với 2 anten phát Tx

được mô tả như hình

1 và được giải thích

chi tiết trong phần III

Sơ đồ khối thu

MC-CDMA kết hợp với

không gian tần số

(SFBC) được chi ra

trên hình 2 Tại khối

thu, tín hiệu sau

nghịch đảo OFDM là:

1 ( )

( )

0

( ) ( )

0

;(10)

, , , ;(11)

k

k

T

L k

Hình 2: Máy thu

OFDM với tần số kết hợp

tại trạm base

Với H(k) thể hiện ma

trận chéo kênh LxL

với các thành phần

trên đường chéo là

( )

,

k

l l

H Vector n=(N0,

N1, , NL-1)T thể hiện

thành phần nhiễu cộng Sau khi giải xen, một bộ kết hợp không gian tần số sẽ thực hiện mã khối không gian tần số, được mô tả chi tiết trong phần III Sau khi kết hợp không gian tần số, tín hiệu được giải trải phổ bằng cách nhân nó với liên hợp phức của chuỗi trải phổ c(k)

Sau khi ký hiệu được giải ánh xạ, phần mềm giải mã kênh sẽ chuyển tiếp các bít thông tin vừa nhận được

III MÃ

KHỐI KHÔNG GIAN TẦN SỐ

Sơ đồ khối của một

bộ phát OFDM sử dụng SFBC với 2 anten pát được chỉ ra như hình 3 Chuỗi Nc thời gian hoặc tần số xen ký hiệu ( )k

n

S được

phát đi trong một ký hiệu OFDM Chỉ số

mã trải phổ l,l=0,

1, , L-1, được thay bằng chỉ số sóng mang con n,n=0, 1, ,

Nc-1 Ánh xạ từ 1 tới n phụ thuộc vào việc chọn bộ xen Các ký hiệu ( )k

n

S được xen

trước SFBC để các ký hiệu được kết hợp với ánh xạ không gian tần

số và vì thế các ký hiệu liên sau trong chuỗi trải phổ gốc không chịu ảnh hưởng

bởi cùng một hệ số fading

Hình 3: Mã khối tần

số không gian trong thiết

bị truyền

Anten 1

Sóng mang con 1 Sóng mang con n+1

Bảng I Ánh xạ với SFBC và anten phát Tx

Cơ chế ánh xạ của các ký hiệu ( )k

n

S với

SFBC 2 anten phát và

tỉ lệ mã hóa được cho trong bảng I Cơ chế ánh xạ cho SFBC được chọn sao cho ở anten 1 phát đi dữ liệu gốc chưa qua điều chế, và có thể tương thích với hệ thống không sử dụng SFBC, tức là hệ thống không

sử dụng đến anten thứ

2 Việc ánh xạ các ký hiệu dữ liệu trên sóng mang con đối với anten thứ nhất tương ứng với biến đổi ngược Fourier rời rạc,

ta có:

1 ( ) 2 / ( )

0,

0

1

;(12)

c

c

N

k j n N k

n n c

N

 

 

Với n là chỉ số sóng mạng con và v là chỉ

số lấy mẫu của tín hiệu thời gian Chỉ có

ký hiệu dữ liệu ánh xạ vào anten thứ 2 là phải điều chế theo cơ chế ánh xạ cho mã khối không gian tần

số như trong bảng I

Ký hiệu dữ liệu của anten phát thứ 2 được ánh xạ vào trong sóng mang con như sau:

/ 2 1 ( )* ( )*

2 (2 1) / 2 2 / ( )

1,

0

1

;(13)

c

k

v

n c

N

Khối OFDM bao gồm các khối biến đổi ngược Fourier nhanh (IFFT) và khoảng thời gian bảo vệ của một

ký hiệu OFDM Tín hiệu thu được trên các phân kênh n và n+1 sau khi bỏ đi khoảng bảo vệ và biến đổi Fourier nhanh (FFT) là:

1

0

;(14)

k

1

0

;(15)

k

Với H m n( )k, là hệ số

fading phẳng của phân kênh thứ n của anten phát m và Nn là nhiễu cộng trên sóng mang con n Hệ thống OFDM được thiết kế sao cho fading trên mỗi phân kênh có thể được xem là phẳng, như thế có thể kết luận rằng fading giữa các sóng mang con liền kề là phẳng và có thể xem H m n( )k, = ( )

, 1

k

m n

Vì thế khi phân tích một cặp phân kênh

liền kề là n và n+1

chúng ta có thể coi

( )k m

H là hệ số fading

phẳng cấp cho cặp phân kênh đó của anten phát thứ m Sau khi sử dụng cơ chế kết hợp cho các tín

Trang 5

hiệu nhận được của

người dùng k thì:

( ) ( )* ( ) *

0 1 1;(16)

( ) ( ) * ( )*

1 1 0 1;(17)

Tín hiệu nhận được

là:

( ) *

1 1;(18)

k

n

k

n

1

( ) *

1 ;(19)

k

n

k

n

H N

So với hệ thống

OFDM không ghép

kênh phân chia theo

mã thì trong hệ thống

này sẽ xuất hiện một

thành phần nhiễu

MAI bổ sung [11]

trong tín hiệu thu sau

khi kết hợp không

gian tần số của một

người dùng cụ thể

Mục tiêu của kỹ thuật

tiền cân bằng trong

mục II là nhằm giảm

nhiễu MAI trong điều

kiện công suất thấp

Sau khi giải xen, phát

hiện ký hiệu và giải

ánh xạ, ta thu được bít

quyết định mềm w,

trong trường hợp mã

hóa kênh, bít này

được dùng để cấp cho

bộ giải mã kênh Để

đảm bảo tối ưu giải

mã kênh quyết định

mềm, tỉ lệ truy cập

được dùng làm các

giá trị mềm, các giá

trị này trong hệ thống

MC-CDMA tiền cân

bằng có thể được lấy

xấp xỉ [12]:

2

4

w

LLR

(20)

Có thể thấy rằng công thức (20) không cần thêm thông tin trạng thái kênh và độc lập với số anten phát và phù hợp cho SFBC với số anten phát bất kỳ

QUẢ THỰC NGHIỆM

Hệ thống SFBC MC-CDMA với tiền cân bằng trong kênh fading Rayleigh được thực nghiệm Băng thông truyền phát của

hệ thống TDD là 20MHz, tần số trung tâm sóng mang là 5GHz Số sóng mang

con N c =2048, chu kỳ

mỗi ký hiệu OFDM là 102.4µs Khoảng bảo

vệ lớn hơn độ trễ cực đại của kênh vô tuyến Sử dụng mã trải phổ là Hadamard

có độ dài L=8 Số

lượng người dùng có thể lên đến 91 người với tốc độ dữ liệu truyền tải là 100kbit/s/thuê bao, được dùng để tính toán khoảng bảo vệ

Tốc độ dữ liệu truyền

có thể lên đến 18.2Mbit/s nếu tất cả các kênh được kết nối tới một người dùng bằng cách sử dụng tính linh động của

biến đổi M và Q [10].

Các mã cuộn với bộ nhớ 6 và tốc độ mã

R=1/2 được chọn làm

mã kênh QPSK được dùng cho ánh xạ ký

hiệu Độ sâu chèn là

24 ký hiệu OFDM liên tiếp, chèn thời gian và tần số, như thế ta thu được trải phổ theo thời gian và tần số

Không có tương quan giữa các anten trong

hệ thống OFDM mã khối không gian tần

số Kênh vô tuyến được mô hình hóa theo kênh fading Rayleigh với cách chèn trực tiếp thời gian và tần số, ta có thể so sánh giữa các

cơ chế sắp xếp khác nhau

Hình 4 là đồ thị giữa

tỉ số BER và SNR/bit cho một hệ thống MC-CDMA uplink với MRC tại khối thu

và SFBC Kết quả thử nghiệm trong hệ thống không dùng SFBC cũng được đưa

ra để tham khảo Hệ thống được xem xét với số tải khác nhau

Dễ thấy, hệ thống MC-CDMA trong trường hợp đơn người

dùng và đầy tải (K=8)

có mức nhiễu nền rất cao Trong trường

hợp bán tải (K=4),

mức nhiễu nền thấp

BER=10 -4 và nếu sử dụng SFBC có thể cải thiện hiệu suất, SNR tăng 1dB Trong trường hợp đơn người dùng, SFBC hầu như không có tác dụng

Các kết quả với MRC được thể hiện trên hình, đây là kỹ thuật

phát hiện đơn người dùng tối ưu trong

kênh lên (uplink).

Hình 4: Hiệu suất của MC_CDMA với MRC trong bộ thu và SFBC cho các tải hệ thống khác nhau; R=1/2; QPSK; L=8; Fafing Rayleigh; đường lên

Hình 5 là đồ thị BER

và SNR/bit với hệ thống MC-CDMA với các kỹ thuật tiền cân bằng khác nhau trong khối phát Hệ thống vẫn đáp ứng tốt trong trường hợp đầy tải

(K=8) Do kịch bản

tiền cân bằng từ thành phần tín hiệu được so sánh với kịch bản ở đường xuống, như thế

có thể tận dụng được

ưu điểm của tính trực giao giữa các mã trải phổ Kết quả trong trường hợp không sử dụng SFBC cũng được thể hiện để tham khảo Tiền cân bằng MMSE đạt được hiệu suất cao hơn các kỹ thuật khác Chú ý rằng tiền cân bằng EGC mà không dùng SFBC sẽ không thể đạt được hiệu quả cao như tiền cân bằng MMSE Tuy nhiên,

5

Trang 6

trước khi cơ chế

SFBC được ứng dụng

thì hiệu suất của cả 2

kỹ thuật đó là tương

đương Dựa trên các

kết quả thực nghiệm,

EGC chỉ cần thông tin

về pha của kênh trong

khi MMSE cần các

thông tin khác về biên

độ fading và biến

thiên nhiễu

Hình 5: Quan hệ giữa

hiệu quả sử dụng phổ của

kênh MC-CDMA với các

kỹ thuật tiền cân bằng

trong bộ thu và SFBC cho

các tải hệ thống khác

nhau; R=1/2; QPSK;

L=8; Fafing Rayleigh;

đường lên

Dựa trên các kết quả

được thể hiện, việc

kết hợp tiền cân bằng

EGC và SFBC là

hoàn toàn phù hợp

cho đường lên trong

hệ thống MC-CDMA,

do nó giúp giảm được

các bộ phát hiện đa

người dùng phức tạp

và không cần phải

thiết lập kênh uplink

Hệ thống có thể hoạt

động đủ tải với

SNR<6dB Hiệu suất

phổ có thể đạt được

trong đường lên là

0.91bit/s/Hz Điều

kiện cần thiết duy nhất là thông tin về kênh tại phía phát, trong trường hợp TDD Nghiên cứu hệ thống SFBC MC-CDMA với hiệu suất phổ cao và độ phức tạp thấp có thể được xem xét thay thế cho

hệ thống MC-CDMA uplink thông thường

LUẬN

Hiệu suất của mã khối không gian tần số (SFBC) trong hệ thống OFDM đã được giới hiệu và được triển khai trong hệ thống MC-CDMA tiền cân bằng ở bên phát Tài liệu này tập trung vào đường lên của hệ thống di động TDD Những ưu điểm của cơ chế này là việc

sử dụng bộ tiền cân bằng đơn người dùng

có độ phức tạp thấp, giúp tránh được việc phải sử dụng bộ phát hiện đa người dùng tại phía thu, ngoài ra còn giúp tránh được việc phải thiết lập K kênh đồng thời tại đường lên Vì thế các

ký hiệu tham chiếu dùng để thiết lập kênh uplink là không cần thiết, và giúp duy trì hiệu suất cao cho hệ thống Các kết quả thực nghiệm cho thấy

hệ thống có thể đạt

được tỉ lệ BER<10 -4

khi đầy tải trong kênh fading Rayleigh, và

SNR/bit<6dB đối với

tiền cân bằng đơn người dùng Độ lợi khi sử dụng kỹ thuật SFBC lên tới 3dB, những kết quả này không thể đạt được trong hệ thống MC-CDMA thông thường với bộ phát hiện đơn người dùng tại đường lên

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] K Fazel and L.

convolutionally-coded CDMA/OFDM for mobile communication systems,”

in Proc IEEE Int Symp.

on Personal, Indoor and Mobile Radio Commun.

(PIMRC’93), pp 468–

472, Sept 1993.

[2] N Yee, J.-P Linnartz, and G Fettweis, “Multi-carrier CDMA in indoor wireless radio networks,”

in Proc IEEE Int Symp.

on Personal, Indoor and Mobile Radio Commun.

(PIMRC’93), pp 109–

113, Sept 1993.

[3] S.M Alamouti, “A simple transmit diversity technique for wireless com-munications,” IEEE

J Selected Areas Comm., vol 16, pp 1451–1458, October 1998.

[4] V Tarokh, H.

Jafarkhani, and A R.

Calderbank, “Space-time block codes from orthogonal designs,”

IEEE Trans Inform.

Theory, vol 45, pp 1456–

1467, June 1999.

[5] Z Pu, X You, S.

Cheng, and H Wang,

“Transmission and reception of tdd multicarrier cdma signals

in mobile communications

system,” in Proc IEEE Vehic Technol Conf (VTC’99), May 1999 [6] D G Jeong and M J Kim, “Effects of channel estimation error in MC-CDMA/TDD systems,” in Proc IEEE Vehic Technol Conf (VTC 2000 Spring), pp 1773–1777, May 2000.

[7] D Mottier and D Castelain, “Sinr-based channel pre-equalization for uplink multi-carrier CDMA systems,” in Proc IEEE Int Symp on Personal, Indoor and Mobile Radio Commun (PIMRC 2002), Sept 2002.

[8] I Cosovic, M Schnell, and A Springer,

“Balanced channel equalization techniques for uplink time division duplex MC-CMDA,” in Proc.

Fourth International Workshop on Multi-Cattier Spread Spectrum (MC-SS 2003), Sep 2003 [9] K Fazel and S Kaiser, Multi-Carrier and Spread Spectrum Systems John Wiley & Sons, 2003 [10] S Kaiser, Multi-Carrier CDMA Mobile Radio Systems – Analysis and Optimization of Detection, Decoding, and Channel Estimation VDI-Verlag,

Fortschrittberichte VDI, series 10, no 531, 1998, Ph.D thesis (www.dlr.de/ kn/kn-s/kaiser).

[11] S Kaiser, “OFDM code division multiplexing

in fading channels,” IEEE Trans Comm., vol 50, pp 1266–1273, August 2002 [12] S Kaiser, “Space time frequency coding in

systems,” in Adaptive Antenna Arrays, Springer Verlag, S Chandran (Ed.), 2003.

Ngày đăng: 23/12/2013, 15:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w