1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lý luận về mâu thuẫn với công tác bảo tồn giá trị văn hoá truyền thống ở quảng bình hiện nay

129 675 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lý luận về mâu thuẫn với công tác bảo tồn giá trị văn hoá truyền thống ở Quảng Bình hiện nay
Tác giả Đồn Thị Phương Thảo
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thanh Tân
Trường học Trường Đại học Khoa học, Đại Học Huế
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nhà triết học Trung Hoa cổ đại quan sát sự biến hoá không ngừng của cáchiện tượng và thấy ra ở trong đó những thế lực không ngừng ức chế lẫn nhau, giúp đỡ, ảnh hưởng lẫn nhau, nương

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC HUẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

ĐOÀN THỊ PHƯƠNG THẢO

LÝ LUẬN VỀ MÂU THUẪN VỚI CÔNG TÁC BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG

Ở QUẢNG BÌNH HIỆN NAY

CHUYÊN NGÀNH: TRIẾT HỌC

MÃ SỐ: 60 22 80

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

TRIẾT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGUYỄN THANH TÂN

Huế, 2012

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu củabản thân tôi, trong đó có sự kế thừa kết quả nghiên cứu của cáchọc giả đi trước, với những trích dẫn và sử dụng các tài liệu tronggiới hạn cho phép

Luận văn này chưa được công bố trên các phương tiện thôngtin cũng như không trùng với bất kỳ luận văn nào trước đây

Tác giả

Đoàn Thị Phương Thảo

Trang 3

Để hoàn thành luận văn, tôi xin chân thành cảm ơn Quý thầy cô giáo những người đã trực tiếp giảng dạy và trau dồi kiến thức bổ ích cho tôi trong suốt khóa học.

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến thầy giáo TS Nguyễn Thanh Tân - người đã tận tình hướng dẫn, tạo điều kiện tốt nhất giúp tôi có động lực hoàn thành luận văn.

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Khoa Lý luận chính trị, Trường Đại học Khoa học Huế, Cơ quan Tỉnh Uûy Quảng Bình, Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch Quảng Bình cùng gia đình, bạn bè luôn bên cạnh

Trang 4

động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Đoàn Thị Phương Thảo

Trang 5

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 4

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài 7

6 Kết cấu của luận văn 7

Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ MÂU THUẪN VÀ GIÁ TRỊ VĂN HOÁ TRUYỀN THỐNG 8

1.1 Lý luận chung về mâu thuẫn 8

1.1.1 Quan niệm trước Mác về mâu thuẫn 8

1.1.2 Lý luận mácxít về mâu thuẫn 23

1.2 Lý luận chung về văn hoá truyền thống và những giá trị văn hoá truyền thống ở Quảng Bình 41

1.2.1 Văn hoá truyền thống và giá trị văn hoá truyền thống 41

1.2.2 Những giá trị văn hoá truyền thống ở Quảng Bình 45

1.2.2.1 Những giá trị văn hoá truyền thống trong sinh hoạt vật chất 45

1.2.2.2 Những giá trị văn hoá truyền thống trong sinh hoạt tinh thần 52

Chương 2 MÂU THUẪN VÀ GIẢI QUYẾT MÂU THUẪN TRONG CÔNG TÁC BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HOÁ TRUYỀN THỐNG Ở QUẢNG BÌNH HIỆN NAY .59

2.1 Thực trạng và những mâu thuẫn của công tác bảo tồn giá trị văn hoá truyền thống ở Quảng Bình hiện nay 59

Trang 6

2.1.1 Thực trạng của công tác bảo tồn giá trị văn hoá truyền thống ở Quảng Bìnhhiện nay 592.1.1.1 Thực trạng công tác bảo tồn giá trị văn hoá truyền thống trong sinhhoạt vật chất ở Quảng Bình hiện nay 612.1.1.2 Thực trạng của công tác bảo tồn giá trị văn hoá truyền thống trong sinhhoạt tinh thần ở Quảng Bình hiện nay 682.1.2 Những mâu thuẫn trong công tác bảo tồn giá trị văn hoá truyền thống ởQuảng Bình hiện nay 782.2 Những yêu cầu và phương pháp giải quyết mâu thuẫn trong công tác bảo tồngiá trị văn hoá truyền thống ở Quảng Bình 1042.2.1 Yêu cầu và phương pháp giải quyết mâu thuẫn giữa cái cũ và cái mới 1042.2.2 Yêu cầu và phương pháp giải quyết mâu thuẫn giữa truyền thống với hiệnđại 1102.2.1 Yêu cầu và phương pháp giải quyết mâu thuẫn giữa đời sống vật chất vớiđời sống tinh thần 113

KẾT LUẬN 118 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 120

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, Dân tộc Việt Nam đã rèn đúc nên một nềnvăn hóa phong phú, đặc sắc với sự kết tinh của những phẩm chất cao đẹp của conngười và cộng đồng người Đây là một nền văn hoá mà sự hiện diện của nó cho đếnngày nay vừa chứng tỏ sức sống mãnh liệt vừa đảm bảo vững chắc cho sự trườngtồn của dân tộc Việt Nam Văn hoá Việt Nam nói chung là toàn bộ những quan hệ

xã hội cùng những giá trị vật chất và giá trị tinh thần kết tinh ở trong đó, thể hiệnhết sức phong phú dưới dạng những thành quả của lao động và nhận thức dưới dạngnhững trạng thái tâm lý, tình cảm, những phong tục tập quán, những cách sống, lốisống, nếp sống của con người và cộng đồng người Việt Nam

Nền văn hoá này bắt đầu được hình thành, hẳn nhiên là từ khi các tộc người tổtiên của dân tộc Việt Nam bước vào lao động trong những điều kiện sinh tụ tự nhiênđặc thù của mình Cũng từ đấy người Việt Nam đi vào lịch sử bằng một quá trìnhlao động nhẫn nại hết sức bền bĩ đã tạo nên đời sống và từng bước nhưng khá sớm

đã hình thành cộng đồng dân tộc của mình với những sức mạnh cố kết ngày càngtăng trong cuộc đấu tranh giữ nước Một trong những sức mạnh cố kết và đảm bảocho sự trường tồn của cộng đồng dân tộc Việt Nam có thể nói là sức mạnh quantrọng và quyết định nhất chính là nền văn hoá đặc sắc được tạo dựng trong lịch sửcủa họ với một hệ giá trị truyền thống ngày một đầy đủ và bền vững Nền văn hoáViệt Nam với một hệ giá trị truyền thống như thế gọi là văn hoá truyền thống ViệtNam Hệ giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam gồm những tố chất được tôi luyện

và tích luỹ trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của cộng đồng dân tộcViệt Nam, tức gồm những giá trị chân, thiện, ích, mỹ làm nên nội dung và căn cứ đểxác định bản sắc văn hoá Việt Nam Tuy nhiên, hệ giá trị văn hoá truyền thống nóichung không phải là hằng số hay bất biến, mà cũng thường được hình thành, bồi tụ,thay đổi qua từng giai đoạn lịch sử xã hội

Ngày nay, quá trình toàn cầu hoá, quốc tế hoá mọi mặt của đời sống xã hội,

Trang 8

bên cạnh những thách thức cũng đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho các quốc gia,dân tộc trên thế giới cơ hội để phát triển kinh tế, nâng cao mức sống và thu nhập, có

cơ hội giao lưu và tạo thêm nhiều giá trị văn hoá mới làm giàu thêm bản sắc vănhoá của dân tộc mình Thực sự đây là một quá trình phát triển vừa có cơ hội vừahàm chứa thách thức, bao hàm mâu thuẫn: cái cũ và cái mới, truyền thống và hiệnđại, đời sống tinh thần và đời sống vật Những mâu thuẫn này, ngày càng được thểhiện rõ rệt trong sinh hoạt văn hoá nói chung, trong hưởng dụng các giá trị văn hoátruyền thống nói riêng Những mâu thuẫn đó là hiện tượng tất yếu khách quan đốivới mọi quá trình phát triển xã hội Do vậy, vấn đề giải quyết mâu thuẫn trong côngtác bảo tồn giá trị văn hoá truyền thống dân tộc đang là vấn đề cấp thiết vừa có tínhthời sự vừa lâu dài đối với đất nước ta Nhận thức rõ điều đó, Đảng ta trong Báo cáochính trị trình tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: “Hoàn thiện vàthực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, về bảo tồn, pháthuy giá trị các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của dân tộc Gắn kết chặt chẽnhiệm vụ phát triển văn hóa, văn nghệ, bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóavới phát triển du lịch và hoạt động thông tin đối ngoại nhằm truyền bá sâu rộng cácgiá trị văn hóa trong công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ và người nước ngoài Xâydựng và thực hiện các chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa”[15, tr.75-76]

Vì vậy, công tác bảo tồn giá trị văn hoá truyền thống nhằm xây dựng nền vănhoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc phải bao hàm trong đó mâu thuẫn vàgiải quyết mâu thuẫn Mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn có vai trò to lớn là vạch

ra nguồn gốc, động lực của sự phát triển Quy luật mâu thuẫn là nguyên tắc lý luận

mà trong đó khi xem xét sự vật, hiện tượng khách quan và trong chỉ đạo thực tiễnphải luôn phát hiện mâu thuẫn, phân loại mâu thuẫn, phân tích các mặt đối lập nhằm

có phương thức giải quyết mâu thuẫn tạo ra nguồn gốc, động lực của sự phát triển

và là cơ sở lý luận khoa học để định hướng việc nhận thức thế giới và cải tạo thếgiới Bởi lẽ đó, việc nắm vững lý luận mâu thuẫn của chủ nghĩa Mác - Lênin vớicông tác bảo tồn giá trị văn hoá truyền thống giúp chúng ta có phương thức giảiquyết mâu thuẫn nhằm khắc phục tư tưởng, hiện trạng bảo thủ, trì trệ, định kiến, đối

Trang 9

lập với giá trị văn hoá truyền thống, xoá bỏ những phong tục - tập quán cổ truyền,những lạc hậu, lỗi thời, và những ảnh hưởng, di hại của văn hoá và phải kế thừa,phát triển tinh hoá văn hoá truyền thống nhằm xây dựng ý thức hệ mới, nền văn hoámới, con người mới Việt Nam trong xu thế toàn cầu hoá

Văn hoá dân tộc Việt Nam là một phức thể thống nhất trong đa dạng, có giá trịvăn hoá truyền thống chung của dân tộc, cũng có sắc thái riêng của từng vùng -miền, từng thành phần tộc người để hợp thành chỉnh thể văn hoá Việt Nam Giá trịvăn hoá truyền thống của tỉnh Quảng Bình ngoài những giá trị bện quyện vào giá trịvăn hoá truyền thống của dân tộc Việt Nam cũng mang trong mình những đặctrưng, nét độc đáo riêng và có sức lan toả giá trị văn hoá truyền thống trong nền vănhoá của dân tộc Việt Nam Quảng Bình là vùng đất của sự giao thoa văn hóa giữavăn hóa Sa Huỳnh với văn hóa Đông Sơn thời tiền sử, nơi đây là vùng phên dậu củaNhà nước Văn Lang - Âu Lạc, từng là mảnh đất chứng kiến quá trình khai hoanglập làng mở nước về phương Nam của Nhà nước Đại Việt, là ranh giới giao tranhthời Trịnh - Nguyễn, đây còn là tuyến đầu của hậu phương lớn Miền Bắc đối vớicách mạng Miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Tất cả nhữngđiều đó đã để lại những dấu ấn đậm nét trong văn hóa, làm cho di sản văn hóa (gồm

di sản văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần) rất phong phú, đa dạng và mang đậmdấu ấn của một vùng quê có bề dày lịch sử, văn hóa Và đã hun đúc nên nhiều giá trịvăn hoá truyền thống của con người Quảng Bình, hoà quyện với các giá trị văn hoátruyền thống tốt đẹp của dân tộc

Trong những năm qua, tỉnh đã quan tâm triển khai thực hiện có hiệu quả Nghịquyết T.Ư 5 (khóa VIII) về “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bảnsắc dân tộc” và đạt được những kết quả tích cực, đặc biệt đã bảo tồn và phát huynhững giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của tỉnh Tỉnh đã xác định bảo tồn, pháthuy giá trị văn hoá truyền thống là một bộ phận cấu thành nền văn hóa QuảngBình phong phú và đa dạng Tỉnh đã và đang dành nhiều quan tâm, nỗ lực bảo tồncác giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể tốt đẹp của các dân tộc, đồng thời hướngtới xây dựng đời sống văn hoá, môi trường văn hoá mới Có thể khẳng định, công

Trang 10

tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của nhân dân cácdân tộc tỉnh trong những năm qua đã góp phần quan trọng đưa Nghị quyết của Đảngvào cuộc sống, tạo được sự thống nhất tư tưởng trong Đảng, sự đồng thuận trong xãhội đối với đường lối đổi mới, CNH, HĐH Nhiều nét mới trong các giá trị, chuẩnmực đạo đức, lối sống được hình thành theo xu hướng nhân văn hơn, nhân bản hơn.Những thuần phong, mỹ tục được phục hồi Tinh thần dân chủ trong cuộc sống xãhội được nâng cao Những hoạt động hướng thiện trở thành phong trào xã hội nhưđền ơn, đáp nghĩa, xoá đói- giảm nghèo, tương thân, tương ái, góp phần thực hiệnthắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Tỉnh đang triển khai các giải pháp

kể cả về nguồn lực lẫn con người để nhằm bảo bảo tồn và phát huy các giá trị vănhóa truyền thống tốt đẹp, xây dựng nên văn hóa Quảng Bình tiên tiến và đậm đà bảnsắc dân tộc

Tuy nhiên, Trước sự tác động của cơ chế thị trường, của mở cửa hội nhập quốc

tế và giao lưu văn hoá hiện nay, bên cạnh những giá trị tốt đẹp trong văn hoá truyềnthống của Quảng Bình còn có những yếu tố không còn phù hợp với sự phát triểncủa thời đại Các giá trị văn hoá truyền thống dường như ngày càng cách xa cuộcsống hiện đại hôm nay, nhiều giá trị văn hoá truyền thống đang bị mai một, phatrộn, lai căng, không còn giữ được bản sắc Vì vậy, vấn đề sưu tầm, phục dựng đểbảo tồn giá trị văn hoá truyền thống đã khó, nhưng việc phát huy giá trị của nó cònkhó hơn gấp nhiều lần để Quảng Bình mãi vẫn xứng danh là vùng đất địa linh, nhânkiệt; tám bát danh hương; sơn hà cảnh thổ; văn võ, cổ kim

Với nhận thức trên tôi chọn vấn đề “Lý luận về mâu thuẫn với công tác bảo tồngiá trị văn hoá truyền thống ở Quảng Bình hiện nay” làm đề tài luận văn của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống và việc xây dựnglối sống là vấn đề đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm ở những mức độ khácnhau Tiêu biểu, có thể kể đến các công trình sau:

Các công trình “Về giá trị văn hóa tinh thần Việt Nam” (tập thể tác giả, NxbThông tin Lý luận, 1983) và “Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam”

Trang 11

của GS Trần Văn Giàu (Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, tái bản 1993) đã phân tíchsâu về các giá trị tinh thần truyền thống của người Việt Nam Đặc biệt, GS TrầnVăn Giàu đã phân tích sự vận động của những giá trị tinh thần truyền thống quanhững sự kiện phong phú của lịch sử Việt Nam.

Các công trình “Đến hiện đại từ truyền thống” của GS Trần Đình Hượu(Chương trình khoa học - công nghệ cấp nhà nước KX-07 xuất bản), “Sự chuyểnđổi các giá trị văn hóa trong văn hóa Việt Nam” của GS.TS Đỗ Huy và Trường Lưu(Nxb Khoa học Xã hội, 1993) và Nguyễn Thu Linh trong luận án “Tính kế thừatrong sự phát triển của nền văn hóa Việt Nam” (Ở thời kỳ quá độ lên CNXH) đãbàn sâu về kế thừa giá trị truyền thống văn hóa

Ở phạm vi hẹp hơn, trong luận án tiến sĩ của Cù Huy Chử (1995), tác giả đãđứng trên quan điểm giá trị để nghiên cứu vấn đề “Kế thừa giá trị truyền thống vănhóa dân tộc trong xây dựng nền văn hóa nghệ thuật Việt Nam”, đề xuất một số giảipháp nhằm thúc đẩy sự kế thừa các giá trị truyền thống văn hóa dân tộc nhằm xâydựng nền văn hóa nghệ thuật Việt Nam

Gần đây có nhiều hội thảo chuyên đề, nhiều công trình cấp nhà nước nghiêncứu về giá trị đặc trưng của văn hóa dân tộc Việt Nam và vai trò của nó trong xâydựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Nguyễn Khoa Điềm (chủ biên) cùng tập thể tác giả đã thực hiện đề tài khoahọc cấp nhà nước KHxã hội 04-02: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm

đà bản sắc dân tộc”, (Nxb Chính trị Quốc gia, 2001) đã xuất phát từ sự tiếp cận vănhóa, các yếu tố cấu thành của nó và từ thực tiễn hoạt động văn hóa hơn nửa thế kỷqua, đã khảo sát thực trạng văn hóa, đạo đức lối sống, đặc biệt là của thanh niên,qua đó đề xuất một số giải pháp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đàbản sắc dân tộc

GS.TS Nguyễn Trọng Chuẩn và GS.TS Nguyễn Văn Huyên (đồng chủ biên)cuốn sách “Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hóa”, tromg đó

có các bài viết đề cập đến vấn đề giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống trongđiều kiện toàn cầu hóa để xây dựng nền văn hóa hiện nay ở Việt nam hiện nay

Trang 12

GS.TS Đỗ Huy trong cuốn “Nhận diện văn hóa Việt Nam và sự biến đổi của nótrong thế kỷ mới” (Nxb Chính trị Quốc gia, 2002), trên cơ sở nhìn lại văn hóa ViệtNam ở thế kỷ XX, đã đề cập đến việc xây dựng những giá trị văn hóa Việt Namtrong thế kỷ mới.

Nghiên cứu về lối sống, lối sống xã hội chủ nghĩa và xây dựng lối sống hiệnnay, có những :

“Lối sống xã hội chủ nghĩa” của tập thể tác giả là tiến sĩ triết học, kinh tế học,viện sĩ thông tấn Viện Hàn Lâm khoa học Liên Xô (cũ), đã xem xét những vấn đề

cơ bản, những đặc trưng cơ bản và các phương hướng chủ yếu tiếp tục hoàn thiệnlối sống xã hội chủ nghĩa

Ở góc độ đạo đức, các nhà nghiên cứu trong cuốn sách “Về giáo dục đạo đứccách mạng trong cán bộ, đảng viên hiện nay - Thực trạng và giải pháp” (Nxb Chínhtrị Quốc gia, 2004) đã phân tích thực trạng vấn đề đạo đức, lối sống và đề ra cácgiải pháp giáo dục đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên hiện nay

Trên bình diện xem xét bản sắc văn hóa dân tộc, trong công trình “Bản sắc vănhóa trong lối sống hiện đại” (Nxb Văn hóa - Thông tin, 2003), tác giả PGS.TS LêNhư Hoa đã đề cập đến nếp sống, lối sống, lối sống đô thị, lối sống gia đình tronggiai đoạn hiện nay

Ở góc độ tâm lý, tập thể tác giả trong cuốn sách “Tâm lý người Việt Nam đivào công nghiệp hóa, hiện đại hóa - Những điều cần khắc phục” (Nxb Chính trịQuốc gia, 2004) đã đề cập đến mặt mạnh, mặt yếu, khẳng định những cái hay cần

kế thừa, phát huy, những hạn chế cần khắc phục trong lao động, học tập và trong lốisống của người Việt Nam, đề xuất một số kiến nghị về chiến lược và chính sáchnhằm phát triển con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Nghiên cứu về văn hoá Quảng Bình có các công trình như “Những nét đẹp vềvăn hoá cổ truyền Quảng Bình” (Nguyễn Tú sưu tầm và biên soạn, Nxb Thuận Hoá,2007), “Giá trị tinh thần truyền thống con người Quảng Bình” (Nguyễn Thế Hoànchủ biên, Nxb Thuận Hoá năm 2001) , đã nêu lên ở những giá trị và đề xuất nhữngcách thức kế thừa trong xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam

Trang 13

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

Mục đích của đề tài

Làm rõ mâu thuẫn và phương thức giải quyết mâu thuẫn của công tác bảo tồngiá trị văn hoá truyền ở Quảng Bình hiện nay

Nhiệm vụ của đề tài

- Phân tích lý luận chung về mâu thuẫn và khái niệm giá trị văn hoá truyền thống

- Phân tích các mâu thuẫn và phương thức giải quyết các mâu thuẫn của côngtác bảo tồn những giá trị văn hoá truyền thống ở Quảng Bình hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là lý luận mâu thuẫn của triết học Mác - Lênin

và sự vận dụng lý luận mâu thuẫn trong công tác bảo tồn giá trị văn hoá truyềnthống ở tỉnh Quảng Bình, giai đoạn 1989 (tái lập tỉnh) đến 2011

Phạm vi nghiên cứu: về không gian, đề tài nghiên cứu vấn đề bảo tồn những

giá trị văn hoá truyền thốngg ở 7 huyện và thành phố của tỉnh Quảng Bình; về thời

gian, nghiên cứu hoạt động bảo tồn những giá trị văn hoá truyền thống của 7 huyện

và thành phố của tỉnh Quảng Bình giai đoạn 1989-2011

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

- Cơ sở lý luận của đề tài là các nguyên lý của triết học Mác - Lênin về vănhoá, về mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn

- Phương pháp nghiên cứu đề tài là kết hợp các nguyên tắc nhận thức biệnchứng với các phương pháp như phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, cácphương pháp điều tra thực tế

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văngồm 2 chương (4 tiết)

Trang 14

Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ MÂU THUẪN

VÀ GIÁ TRỊ VĂN HOÁ TRUYỀN THỐNG

1.1 Lý luận chung về mâu thuẫn

1.1.1 Quan niệm trước Mác về mâu thuẫn

Từ thời cổ đại, tìm lời giải cho câu hỏi về nguyên nhân hình thành, vận độngcủa vạn vật trong vũ trụ các nhà triết học đã từng bước phát hiện ra mâu thuẫn

Ở phương Đông, nhiều nhà triết học của Ấn Độ và Trung Quốc cổ đại đã cónhững phỏng đoán thiên tài về sự tương tác các mặt đối lập và coi đó là nguồn gốchình thành, vận động vạn vật

Các nhà triết học Trung Hoa cổ đại quan sát sự biến hoá không ngừng của cáchiện tượng và thấy ra ở trong đó những thế lực không ngừng ức chế lẫn nhau, giúp

đỡ, ảnh hưởng lẫn nhau, nương tựa lẫn nhau và thúc đẩy lẫn nhau, họ nêu ra thuyết

“Âm - Dương" với những tư tưởng duy vật biện chứng sơ khai về mâu thuẫn.Thuyết Âm - Dương được viết thành văn lần đầu tiên trong sách "Quốc ngữ" và thểhiện rõ nhất trong "Kinh Dịch" đã cho rằng, có hai thế lực (chủ yếu là vật chất) tồntại phổ biến trong vũ trụ: một thế lực có dương tính, tích cực, nhiệt liệt, cứng cỏi vàthế lực kia có âm tính, tiêu cực, lạnh nhạt, nhu nhược, tác động qua lại lẫn nhau tạonên tất cả vạn vật Bên cạnh đó, các nhà triết học còn phát hiện ra tính qui luật của

sự tác động qua lại giữa Âm và Dương

Âm dương đối lập, mâu thuẫn nhau trong mọi phương diện Về tính chất:

dương thì cứng, nóng, âm thì mềm, lạnh Về đường đi lối về: dương là thăng (đilên), âm là giáng (đi xuống), "cái này đi ra thì cái kia đi vào, cái này dịch sang bêntrái, thì cái kia dịch sang bên phải" Âm dương đối lập nhau cả ở phương vị nữa.Theo "Nội kinh", khí dương lấy phía Nam làm phương vị, lấy phía Bắc làm nơi tàngthế Khí âm lấy phía Bắc làm phương vị, lấy phía Nam làm nơi tiềm phục Nếu suyrộng hơn nữa thì phàm những thuộc tính tương đổi như hoạt động với trầm tĩnh,

Trang 15

chế, vô hình với hữu hình chồng - vợ, vua - tôi Qua các hiện tượng tự khôngmột cái gì không phải là quan hệ đối nhiên, xã hội, các tác giả trong "Kinh Dịch" đãlập âm dương Do đó, âm dương tuy là bước đầu phát hiện được những mặt đối lậpkhái niệm trừu tượng nhưng nó có sẵn cơ sở tồn tại trong các hiện tượng đó vàkhẳng định vật chất, nó có thể bao quát và phổ cập tất cả vật nào cũng ôm chứa âmdương trong nó: các thuộc tính đối lập của mọi sự vật, âm "vật vật hữu nhất tháicực" (vạn vật, vật nào dương tuỳ đối lập, mâu thuẫn nhau, song cũng có một tháicực, thái cực là âm dương), không tách biệt nhau mà xâm nhập vào nhau, khôngphải là tuyệt đối mà là tương đối, không phải là đại biểu cố định cho một số sự vậtnào đó mà là đại biểu cho sự chuyển biến, đối lập của tất cả các sự vật Song âmdương không phải là hai mặt tách rời nhau và chỉ có đấu tranh với nhau mà cònthống nhất với nhau, nương tựa vào nhau để tồn tại, "âm là cái dương vẫn tìm, mềm

là cái dương vẫn lấn"

Thế nhưng với vạn vật thì "cô dương bất sinh, cô âm bất trường" Nếu chỉ một

mình dương hay một mình âm thì không thể sinh thành, biến hóa được Nếu mộtmặt mất đi thì mặt kia cũng mất theo, "dương cô thì âm tuyệt", âm dương phải lấynhau để làm tiền đề tồn tại cho mình Ngay cả cái gọi là âm dương cũng chỉ có ýnghĩa tương đối, vì trong dương bao giờ cũng có âm, trong âm bao giờ cũng códương Khi dương phát triển đến thái dương thì trong lòng nó đã xuất hiện thiếudương rồi, khi âm phát triển đến thái âm thì trong lòng nó đã xuất hiện thiếu âm rồi

Sở dĩ gọi là âm vì trong nó phần âm lấn phần dương, sở dĩ gọi là dương vì trong nóphần dương lấn phần âm Âm dương bao giờ cũng nương tựa vào nhau Sách Lão

Tử viết: "phúc là chỗ núp của họa, họa là chỗ dựa của phúc”

Bên cạnh quy luật âm dương đối lập và thống nhất, còn có quy luật tiêu

trưởng và thăng bằng của âm dương nhằm nói lên sự vận động không ngừng, sự

chuyển hóa lẫn nhau giữa hai mặt âm dương để duy trì tình trạng thăng bằng tươngđối của sự vật Nếu mặt này phát triển thái quá sẽ làm cho mặt khác suy kém vàngược lại Từ đó làm cho hai mặt âm dương của sự vật biến động không ngừng Sựthắng phục, tiêu trưởng của âm dương theo quy luật "vật cùng tắc biến, vật cực tắc

Trang 16

phản" Sự vận động của hai mặt âm dương đến mức độ nào đó sẽ chuyển hóa sangnhau gọi là "dương cực sinh âm, âm cực sinh dương" Sự tác động lẫn nhau giữa âmđương luôn nảy sinh hiện tượng bên này kém, bên kia hơn, bên này tiến, bên kia lùi.

Đó chính là quá trình vãn động, biến hóa và phát triển của sự vật, đồng thời cũng làquá trình đấu tranh tiêu trưởng của âm dương

Những quy luật cơ bản của âm dương nói lên sự mâu thuẫn, thống nhất, vậnđộng và phát triển của một dạng vật chất, âm dương tương tác với nhau gây nên mọi

sự biến hóa của vũ trụ Cốt lõi của sự tương tác đó là sự giao cảm âm dương Điềukiện của sự giao cảm đó là sự vật phải trung và "hòa" với nhau Âm dương giao hòacảm ứng là vĩnh viễn, âm dương là hai mặt đối lập trong mọi sự vật, hiện tượng Vìvậy, quy luật âm dương cũng là quy luật phổ biến của sự vận động và phát triểnkhông ngừng của mọi sự vật khách quan

Lão Tử cũng coi sự tương tác của các mặt đối lập là nguồn gốc sinh thành củavạn vật qua hai phạm trù “Đạo” và “Đức” trong tác phẩm “Đạo Đức Kinh”

Theo Lão Tử, “Đạo” là khởi nguyên, nơi hội tụ hai mặt chủ quan và kháchquan của vạn vật Mọi biến chuyển trong vũ trụ, trong hoạt động của xã hội loàingười đều bắt nguồn từ “Đạo” Nó chứa đựng hợp nhất hai mặt đối lập và luôn luônluân chuyển trong vũ trụ là “âm” và “dương” “Âm” mang tính nữ, tối, tĩnh, mềm

và hướng nội, “dương ” mang tính nam, sáng, động, cứng và hướng ngoại Hai mặt

“âm” và “dương” không tồn tại độc lập mà luôn luôn tác động lẫn nhau, kết hợp vớinhau, bổ sung cho nhau để tạo nên khởi nguyên của vũ trụ và nhân sinh Đạo củaLão Tử nhấn mạnh tính chất của các mặt đối lập trong sự vật, chỉ ra rằng, chínhchúng đã tạo nên bản thân mỗi một bên đối lập, đồng thời tạo nên sự chuyển hóagiữa chúng: “Cái hữu và cái vô sinh ra nhau, cái khó và cái dễ làm nên nhau, cái dài

và cái ngắn tạo thành hình dạng của nhau, cái cao và cái thấp tạo nên độ nghiêngcủa nhau, âm và thanh cùng hòa với nhau, cái trước và cái sau theo đuổi nhau”

“Đạo” còn là con đường, là quy luật sinh thành, biến hoá của vạn vật Theonghĩa đó, “Đạo” vừa có trước vạn vật, vừa nằm trong từng sự vật cụ thể Đạo cótrong từng sự vật gọi là “Đức” Đạo sinh ra vạn vật còn Đức là “mầm sống ngấm

Trang 17

ngầm” trong vạn vật, nuôi sống và bảo tồn chúng “Đạo” được Lão Tử nói đến làthiên nhiên, năng lượng sức sống và sự vận hành của thiên nhiên Cũng có thể gọi là

tự nhiên hoặc thiên lý Và Đức là cứ theo tự nhiên mà sống, thuận theo thiên lý màlưu hành Trong cái Đạo của vũ trụ ấy, thiên nhiên và những qui luật của chúng tậphợp thành cái trụ cốt, cái bản thể, còn đất trời và sinh linh, v.v là những thực thể có

vị trí thích hợp và chức năng thích hợp, thao tác theo một thể thức tự nhiên Tómlại, Lão Tử nhìn sự vật thường xuyên biến đổi và nhận ra luật mâu thuẫn nơi vẻngoài của vạn vật, “cái yên tĩnh là chủ của cái xáo động, cái quí lấy cái tiện làmgốc, cái cao lấy cái thấp làm gốc, cái thật đầy thì giống như trống không, con ngườithật khôn khéo thì trông giống như vụng về ”

Lão Tử còn nhận ra luật quân bình và luật phản phục ở bên trong vũ trụ, Theoông trong cùng một lúc, bị chi phối bởi luật quân bình và luật phản phục, vũ trụ vậnhành với Đạo, vạn vật đều nương tựa vào nhau mà sinh tồn và tương tác tạo điềukiện cho nhau “có và không cùng sinh; khó và dễ cùng thành, dài và ngắn cùnghình, cao và thấp cùng nghiêng, thanh và âm cùng họa, trước và sau cùng theo”

“Vật gì phát tới cực điểm thì phản hồi, hễ tăng rồi thì phải hao giảm - trăng tròn rồikhuyết, hết mùa đông tới mùa xuân Cùng tắc biến, biến tắc thông ” Tóm lại, hailuật này thể hiện mâu thuẫn ngay trong sự tồn tại, phát triển của vũ trụ Luật quânbình giữ cho sự vật được thăng bằng theo một trật tự điều hoà tự nhiên, không tháiquá, không bất cập Luật phản phục thúc đẩy sự vật không ngừng biến hoá, pháttriển đến cực điểm thì trở thành cái đối lập với nó Bởi vậy, muốn thủ tiêu sự vậtnào đó thì hãy làm cho nó phát triển đến đỉnh điểm và khi đó nó sẽ trở thành cái đốilập với nó, thì không còn là nó nữa

Dù căn bản còn sơ khai, nhưng tư tưởng của Lão Tử phản ánh đúng bản chấtcủa thế giới Sự tồn tại của thế giới là tự thân, khách quan, luôn vận động theo quyluật nội tại, do sự tương tác giữa các mặt đối lập ngay trong mỗi sự vật Tuy nhiên,ông đánh giá chưa đúng vai trò của thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, chútrọng sự thống nhất mà hạ thấp mà hạ thất sự đấu tranh Chính điểm này đã làm cho

tư tưởng của ông không triệt để Nhưng nhìn chung, với những đóng góp xuất sắc

Trang 18

vào lý luận mâu thuẫn, Lão Tử xứng đáng là đại biểu của tư duy biện chứng phươngĐông cổ đại.

Ở Ấn Độ, tiêu biểu là Phật giáo, học thuyết này đã nêu lên rằng, vũ trụ là bao

la, vô cùng, vô tận, luôn luôn diễn tiến, vô thuỷ, vô chung, không làm gì có trạngthái tĩnh bất di bất dịch cả Vạn vật trong thế giới, kể cả con người được cấu thànhbởi sự liên hợp của hai yếu tố “Sắc” và “Danh” Sắc là yếu tố vật chất, là cái có thể

có cảm giác được Nó bao gồm đất, nước, lửa và không khí Còn Danh là yếu tốtinh thần, là cái tâm lý không có hình chất mà chỉ có tên gọi Cái “Danh” và cái

“Sắc” đó hợp lại với nhau thành “ngũ uẩn” Ngũ uẩn tác động qua lại trong sự biếnhoá vô thường tạo nên vạn vật Quan niệm này của Phật giáo đã có những giá trịnhất định trong tư duy về mâu thuẫn đó là đã nhìn thấy được hai yếu tố đối lậptương quan liên hệ thâm nhập với nhau là “Sắc” và “Danh” hình thành nên vạn vật.Triết học Phật Giáo đã vạch ra được những mâu thuẫn nội tại của chúng như bảnthể tuyệt đối trong thế giới Tuy còn sơ khai, nhưng đã hàm chứa trong đó yếu tốduy vật và tư tưởng biện chứng

Trong quan niệm của Phật giáo, nhận thức của con người cũng là một mâuthuẫn và chính nó đã dẫn con người đến khổ Trong lời thuyết pháp dành cho nămthầy sa môn, Đức Phật dạy rằng, này các thầy sa môn, đây là phép màu về nguyênnhân sự khổ; nguyên nhân sự khổ là lòng tham sống, vì tham sống mà luân hồi sinh

tử, càng tham, càng muốn, càng được càng tham, tham sống, tham sướng, thammạnh Phân tích tâm lý con người và suy nghĩ về siêu hình để tìm ra nguyên nhânthâm trầm sâu rộng của đau khổ, Phật giáo cho rằng con người và vạn vật vốn là vôngã (tất cả thế giới là một trường biến hoá không ngừng, trôi chảy không ngớt nênkhông có gì là vốn của ta), vô thường (không gì là tồn tại vĩnh viễn, không ngừngvận động, biến đổi), nhưng do vô minh (không hiểu biết) con người đã nhầm lẫn màcho rằng nó là của ta, của riêng ta và tất cả đều tồn tại vĩnh viễn Vì vậy, con người

cố nắm lấy, giữ lấy cho riêng mình Nhưng trên thực tế thì ngược lại, con ngườikhông thể nắm giữ được cái mà mình vốn không đủ khả năng làm chủ(thay đổi quiluật khách quan theo ý của con người) Chính điều đó đẩy con người rơi vào mâu

Trang 19

thuẫn, rồi thất vọng và nảy sinh buồn khổ Giống như bản thân con người là mộtpháp trong vạn pháp, mà vạn pháp thì vô thường, nhưng con người không nhận thứcđược điều đó, nên cố tìm cách biến sự tồn tại hữu hạn của mình thành vô hạn,trường sinh bất tử Khi không thực hiện được tham vong đó, khi cái chết đến gần,con người buồn khổ, tuyệt vọng và không chấp nhận sự thật ấy Vì vậy, theo Phậtgiáo chỉ có nhận thức đúng đắn của mình về sự tồn tại của mình và thế giới trong sựvận động, biến hoá không ngừng, không có gì là vĩnh cửu và nguồn gốc của sự vậnđộng, biến đổi đó là do sự kết hợp của các mặt đối lập tồn tại ngay trong bản thân

sự vật và thế giới

Đóng góp của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại vào lý luận về mâu thuẫn củanhân loại có các đại biểu tiêu tiểu Hêraclít và Aritstốt Hêraclít, người được Hêgencoi là ông tổ của phép biện chứng, trở nên bất hủ với quan niệm độc đáo về sự hàihòa và đấu tranh của các mặt đối lập

Trong con mắt của nhà biện chứng xuất sắc, Hêraclít nhìn thấy được sự tồn tạiphổ biến của các mâu thuẫn trong mọi sự vật hiện tượng Điều đó thể hiện trongnhững phỏng đoán thiên tài của ông về vai trò của những mặt đối lập trong sự biếnđổi phổ biến của tự nhiên, về sự trao đổi của những mặt đối lập, về sự tồn tại, thốngnhất của các mặt đối lập Theo ông, cùng một cái ở trong chúng ta: sống và chết,thức và ngủ, trẻ và già, vì rằng cái này biến đổi thì thành cái kia và ngược lại, từmọi vật sinh ra cái duy nhất, từ duy nhất sinh ra mọi vật Như vậy, Hêraclít cóphỏng đoán về sự phân đôi của cái thống nhất thành những mặt đối lập, bài trừ nhaunhưng gắn liền với nhau Thống nhất của các mặt đối lập là sự đồng nhất của cái đadạng và sự hài hoà giữa các mặt đối lập cấu thành chỉnh thể (sự vật, hiện tượng, thếgiới, vũ trụ), Ông viết: Sự hài hòa được tạo ra bởi cái chỉnh thể và cái chưa chỉnhthể (cái bộ phận), cái phù hợp với nhau và cái không phù hợp với nhau, cái tích tụ

và cái phân tán, cái hòa điệu và cái không hòa điệu, và từ cái chỉnh thể (đối lập)sinh ra cái một và từ cái một sinh ra cái chỉnh thể Chính sự hài hòa ấy đã đem lạicho mọi sự vật, hiện tượng và cả vũ trụ này tính xác định, tính vững chắc và tính ổnđịnh Nhờ sự hài hòa vốn có ấy mà mọi sự vật, hiện tượng và cả vũ trụ mới là nó,

Trang 20

mới tồn tại Nhưng sự hài hòa ấy theo Hêraclít, chỉ là tương đối, tính xác định, vữngchắc và ổn định của mọi sự vật, hiện tượng và cả vũ trụ cũng là tương đối Trong vũtrụ này không có cái gì là bất biến, là tuyệt đối, vĩnh viễn ngoại trừ sự vận động.Hêraclít thấy không có sự vật, hiện tượng đứng im tuyệt đối mà trái lại, tất cảđều ở trong trạng thái biến đổi và chuyển hoá thành cái khác và ngược lại Ông nói:cái chết của lửa chỉ là sự ra đời của không khí, cái chết của không khí chỉ là sự rađời của nước Nước sinh ra từ cái chết của đất, không khí sinh ra từ cái chết củanước, lửa sinh ra từ cái chết của không khí Theo quan điểm về vận động của ông,lửa chính là nguồn gốc của mọi sự thay đổi Mọi sự hài hòa của vũ trụ đều có thể bịphá vỡ bởi cuộc chiến tranh giữa các mặt đối lập vốn có của nó Nhờ sự đấu tranh,trao đối và chuyển hóa của các mặt đối lập mà mọi sư vật, hiện tượng và cả vũ trụ

có thể chuyển hóa từ trạng thái này sang trạng thái khác, vận động và biến đổi Đấutranh của các mặt đối lập đó là nguồn gốc của mọi cái đang hiện hữu, là khởinguyên sáng tạo của sự sống và tồn tại, Vì vậy, đấu tranh là tất yếu và phổ biến.Hêraclít còn cho rằng, trong xã hội, đấu tranh của các mặt đối lập, các lực lượng đốilập nhau sẽ làm cho xã hội tiến bộ hơn

Với những luận giải sâu sắc về sự hài hoà và đấu tranh của các mặt đối lập, vaitrò của từng yếu tố trong một chỉnh thể, Hêraclít đã đặt nền móng vững chắc chocác nhà triết học về sau, khi nghiên cứu vấn đề này và đã đưa triết học Hy Lạp cổđại nói chung và triết học duy vật cổ đại nói riêng tiến lên một bước mới với nhữngquan điểm duy vật và yếu tố biện chứng Tuy nhiên, trong quan niệm của Hêraclítcòn có mặt hạn chế, đó là mới chỉ ra mâu thuẫn thuẫn tuý, mà chưa xác định mâuthuẫn đi đến đâu, tính chất của nó ra sao Mặc dù vậy, ông vẫn xứng đáng giữ vị trítrung tâm trong lịch sử phép biện chứng Hy Lạp cổ đại

Khi bàn về lý luận mâu thuẫn của các triết gia Hy Lạp cổ đại, không thể khôngnói đến triết gia Aritxtốt người được C.Mác đánh giá là “nhà tư tưởng vĩ đại nhấtthời cổ” Tư tưởng mâu thuẫn của Aritstốt được thể hiện khá rõ trong hệ thống cáccặp phạm trù, ông đã nêu lên mối quan hệ biện chứng giữa tất cả các phạm trù Nhờ

có bản chất mà toàn bộ các phạm trù đã tạo nên một hệ thống có kết cấu chặt chẽ

Trang 21

Theo Aritstốt, bản chất được bộc lộ rõ thông qua các phạm trù khác Các phạm trùkhác thể hiện từng mặt, từng khía cạnh của bản chất Các phạm trù đó đều có sựđồng nhất và đối lập Đồng nhất của các phạm trù thể hiện không một phạm trù nàotồn tại thiếu sự hiện diện của phạm trù bản chất Về mặt này mọi phạm trù đềugiống nhau bởi chúng là những phạm trù cơ bản và từ các phương diện khác nhauthể hiện cùng một bản chất, phụ thuộc vào bản chất ở một mức độ giống nhau, cònđối lập của các phạm trù thể hiện ở chỗ, mỗi phạm trù riêng biệt chỉ xác định bảnchất ở một khía cạnh nhất định và từ một phía nhất định Nội dung của từng phạmtrù rất cụ thể và riêng biệt Nhưng sự đối lập giữa các phạm trù của Aritstốt khôngphải là một sự đối lập tuyệt đối Ông không xem xét chúng một cách hoàn toàn táchbiệt nhau mà trong một sự thống nhất và có mối quan hệ lẫn nhau, sự chuyển tiếplẫn nhau Aritstốt khẳng định mọi sự vật trong thế giới đều là sự thống nhất giữabản chất và hình dạng Ông đã đưa ra tư tưởng biện chứng sâu sắc coi: “các sự vậtđang tốn tại và bản chất được cấu thành từ các mặt đối lập”.

Hệ thống phạm trù của Aritstốt chiếm một vị trí quan trong lịch sử sử triết học

và ngày nay nhiều phạm trù của nó vẫn còn giữ nguyên giá trị bởi vì đó là nhữngphạm trù cơ bản nhất trong tư duy của nhân loại Mặc dù trong triết học của Aritstốt

ta nhận thấy có sự giao động giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, giữabiện chứng và siêu hình, nhưng trong hệ thống phạm trù của mình, ông chủ yếu đặt

ra những vấn đề của phép biện chứng trong đó có lý luận về mâu thuẫn

Trong logic học, Aritstốt đã nghiên cứu cấu trúc bên trong của phán đoánthông thường, giải phẩu học về nó, về quan hệ chủ thể và vị thể Ông đã xem chủthể và vị thể là các bộ phận cấu thành phán đoán, là biểu hiện về sự thống nhất biệnchứng của các mặt đối lập Mối liên hệ qua lại giữa chủ thể và vị thể được thực hiệnđược nhờ liên từ Liên từ chỉ ra rằng chủ thể không những là chủ thể mà còn là vịthể và ngược lại, chủ thể và vị thể vừa có thể là chính mình vừa có thể là cái đối lậpvới mình Chẳng hạn trong phán đoán “Xôcrát là người” có nghĩa cái riêng là cáichung và như vậy, phán đoán tạo sự thống nhất của các mặt đối lập

Bên cạnh đó, Aritstốt đã manh nha có ý thức về sinh hoạt xã hội như là lĩnh

Trang 22

vực của những mâu thuẫn, khi cho rằng, xã hội ông đang sống chứa đựng những đốilập giữa lợi ích chủ nô và nô lệ, giữa các lực lượng giới cầm quyền và các công dân.Cùng với dòng chảy của thời gian và những biến động của lịch sử, tư duy nhânloại về lý luận mâu thuẫn vận động, biến đổi theo những quy luật nhất định, vừaliên tục, vừa đứt đoạn, vừa kế thừa, có sự đan xen yếu tố mới và cũ để làm nênnhững nét độc đáo riêng của từng giai đoạn lịch sử triết học đã tạo nên nhiều thangbậc và âm hưởng khác nhau trong triết học Nếu như nền triết học Hy Lạp cổ đại làkhúc dạo đầu cho những giá trị tinh hoa về lý luận mâu thuẫn, Thì nền triết họcTrung cổ là khoảng lặng, trong khoảng lặng đó triết học đã trở thành “đầy tớ” chothần học Nhiệm vụ của triết học thời kỳ này là giải thích đúng đắn và chứng minh

về mặt hình thức cho những tín điều tôn giáo do nhà thờ thiên chúa giáo thống trị,đứng đầu là Giáo hoàng La Mã đặt ra và để bảo vệ Kinh thánh, Đức tin của mìnhdường như triết học kinh viện đã cố tình lảng quên và không dung nạp lý luận mâuthuẫn – thành quả của triết học Hy Lạp cổ đại Bởi lẽ, lý luận mâu thuẫn sẽ vạch ratính chất mâu thuẫn của những giáo điều trong Kinh thánh với hiện thực phát triểncủa tự nhiên, xã hội và tư duy con người

Theo triết học kinh viện, Thiên chúa là mẫu mực, là cái hoàn hảo tuyệt đối, làđấng anh linh tạo ra sự tồn tại vạn vật trong thế giới, là thước đo cho mọi hiểu biếtđúng đắn của con người Vì vậy, con người chỉ có một nhiệm vụ duy nhất sống vàthờ phụng Thiên chúa, phải xem tất cả những giáo điều trong Kinh thánh là chân lý

và không được phép ngi ngờ, kiểm thảo lại Vì theo các nhà triết học kinh viện,những gì diễn ra trong thế giới hiện thực không có gì mâu thuẫn với kinh thánh, nếu

có mâu thuẫn thì đó là do con người chưa hiểu hoặc chưa đủ đức tin đối với Đấngtối cao và những lời răn dạy của Ngài Như vậy, mâu thuẫn là do con người tạo ra

và chính con người loại bỏ, tẩy trừ nó, có như vậy mới xoá hết nghi ngờ để toàntâm, toàn ý phụng thờ thiên chúa

Đây là thời kỳ lịch sử mà tiếng nói “trí tuệ và lương tri” bị áp đảo bởi sự tuyêntruyền của giáo hội về đức tin nơi thiên chúa, các nhà thần học được phép tuyên bốrằng mọi tri thức nhân loại có thể rút ra từ kinh thánh; tất cả những gì trái với kinh

Trang 23

thánh đều đáng nguyền rũa và xử tội Thế giới trong triết học kinh viện là thế giới

đã được Thiên chúa mặc khải và không vận động và biến đổi, nếu có vận động vàbiến đổi thì đó là do cú hích từ thượng đế, chứ không phải do đấu tranh của các mặtđối lập ngay trong bản thân thế giới Triết học kinh viện đã kìm hãm sự phát triểncủa tư tưởng biện chứng nói chung và lý luận về mâu thuẫn nói riêng làm cho tưtưởng đó dường như bị lụi tàn trong thời kỳ Trung cổ - thời kỳ đen tối của triết học

và khoa học nhân loại

Khi bóng đêm của đêm trường trung cổ bị những ánh sáng bình minh của nềnvăn minh công nghiệp chiếu rọi thì Tây Âu đã có những bước chuyển dữ dội,chuyển sang thời kỳ phục hưng, thời đại bừng dậy sau dấu lặng và khoảng trắng quádài, thời đại phục sinh những giá trị của nền văn hoá cổ đại Hy Lạp đã bị lãng quêntrong nền chuyên chế phong kiến kéo dài hàng nghìn năm ở châu Âu trên nền tảngkinh tế - xã hội mới và được chỉ đạo bởi một hệ tư tưởng mới

Về mặt văn hoá, những tư tưởng triết học, những phát kiến khoa học của thời

cổ đại được khôi phục và phát triển Các nhà tư tưởng tiên tiến của thời đại phụchưng đặc biệt dương cao ngọn cờ nhân văn Họ xem con người là đối tượng nghiêncứu của triết học, những tư tưởng tốt đẹp về con người của Prôtago, Xôcrát…trởthành tiền đề lý luận cho ước mơ giải phóng con người Các giá trị toán học củaTalét, hình học của Ơclít, những yếu tố duy vật trong triết học của Êpiquya , cũngdược xem xét và ghi nhận thoả đáng Đặc biệt hơn, những tư tưởng biện chứng thời

cổ đại được làm sống lại và nâng lên tầm cao mới, nhờ có chỗ dựa vững chắc từnhững thành tựu của khoa học (đặc biệt là khoa học tự nhiên thời kỳ này)

Trong bước nhảy vọt về triết học đó, triết học phục hưng đã đạt được nhữngthành tựu rực rỡ về lý luận mâu thuẫn trong đó nổi bật nhất là tư tưởng biện chứng

“về sự tương tác các mặt đối lập” của Brunô

Thế giới trong triết học Brunô là thế giới vật chất, vô tận, vĩnh viễn Trong thếgiới, mọi cái đều liên hệ với nhau và đều vận động, cái này mất đi là tiền đề của cáikhác ra đời Ông quan niệm: nếu suy nghĩ một cách chín chắn thì chúng ta sẽ thấyrằng tiêu diệt chẳng qua chỉ là phát sinh, phát sinh chẳng qua chỉ là tiêu diệt Tình

Trang 24

yêu là lòng căm thù, lòng căm thù là tình yêu Rốt cuộc, căm thù là cái đối lập tức làcăm thù là cái thứ hai; do vậy, về mặt thực thể và gốc rể, tình yêu và căm thù, hữunghị và thù hằn là cùng một cái Như vậy, theo Brunô quá trình đối lập trong khi bàitrừ phủ định lẫn nhau thì chúng lại thống nhất với nhau Quá trình tiêu diệt và sựphát sinh là hai quá trình độc lập nhưng sự tiêu diệt không khác gì hơn là sự chuyểnhoá từ cái này sang cái khác Ông còn cho rằng trong sự thống nhất của thế giới có

sự phù hợp giữa “cái nhỏ nhất” và “cái lớn nhất” Theo ông, ba cái nhỏ nhất thuộc

ba lĩnh vực khác nhau: trong toán học là “điểm”, trong vật lý là “nguyên tử”, trongtriết học là “đơn tử”, tương ứng với “đơn tử” thì trong triết học là giới tự nhiên vôcùng vô tận

Tư tưởng biện chứng của Brunô đã vượt xa hơn các nhà triết học Hy Lạp cổđại khi xem xét “cái lớn nhất” và “cái nhỏ nhất” trong sự thống nhất của chúng;tương quan giữa “cái lớn nhất” và “cái nhỏ nhất” thể hiện mâu thuẫn tổng quát củatoàn thể vũ trụ Tuy nhiên, Brunô mới chỉ đề cập đến mâu thuẫn trong tự nhiên vàtrong tư duy, mà ít bàn đến mâu thuẫn trong xã hội, chưa chỉ ra được mối quan hệ,vai trò của thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, chưa thấy được vai trò củamâu thuẫn đối với sự tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng

Khác với thời phục hưng, thời cận đại (thế kỷ XVII - XVIII) ở các nước Tây

Âu là thời kỳ giai cấp tư sản đã dành được chính quyền, phương thức sản xuất tưbản chủ nghĩa được xác lập và trở thành phương thức sản xuất thống trị, nó đã tạo

ra những vận hội mới cho khoa học, kĩ thuật phát triển mà trước hết là khoa hoc tựnhiên, trong đó cơ học đã đạt được trình độ là cơ sở cổ điển Khoa học tự nhiên thời

kỳ này mang đặc trưng là khoa học tự nhiên - thực nghiệm Trong tư duy của hầuhết các nhà khoa học thời kỳ này, nhìn nhận đối tượng nhận thức trong sự trừutượng, tách rời, không vận động, không phát triển, nếu có đề cập đến vận động thì

là sự vận động máy móc không phát triển và thế giới hiện thực được chia nhỏ thànhnhững mảnh, những bộ phận nhỏ và mỗi bộ phận có những đặc trưng riêng, giữachúng ít có sự tương đồng hay liên hệ với nhau

Trước đòi hỏi của quá trình phát triển phương thức sản xuất tư bản ở các nước

Trang 25

Tây Âu, khoa học tự nhiên đã đạt nhiều thành tựu lớn: phát hiện ra điện, phát hiện

ra ôxy và bản chất sự cháy của Lavoadiê; việc phát hiện ra tế bào của Lơvenhúc;học thuyết về dưỡng khí của Prítxki và Sienlo Những thành tựu đó chứng tỏ sựhạn chế của phương pháp tư duy siêu hình trong việc lý giải bản chất của các hiệntượng tự nhiên và thực tiễn xã hội đang diễn ra Nó đòi hỏi cần có cách nhìn mới,phương pháp mới, quan niệm mới về vai trò và khả năng của con người Triết học

cổ điển Đức ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu đó

Triết học cổ điển Đức với hai đại biểu xuất là Cantơ và Hêgen đã khôi phục

và phát triển tư tưởng biện chứng về những đối lập đạt được đỉnh cao nhất trong sự phát triển của nó trước khi phép biện chứng mácxít ra đời.

Cantơ là một trong những nhà triết học vĩ đại nhất của nhân loại trướcMác, khi ông có công nêu lên phép biện chứng và đã thừa nhận nó như mộtthuộc tính tất yếu của lý tính Lênin cho rằng công lao lớn của Cantơ đã làmcho phép biện chứng thoát khỏi “cái vẻ bề ngoài độc đoán” Nét độc đáo trong

tư tưởng của Cantơ là những mâu thuẫn được nghiên cứu đều thuộc về nhậnthức; “Ông chỉ ra những đặc điểm riêng biệt của những mâu thuẫn biện chứngtrong nhận thức, những nghịch lý sâu sắc trong những vấn đề triết học, tínhmâu thuẫn của lý tính của toàn bộ nhận thức như là một quá trình”.[44, tr.49] Khát vọng cao đẹp của trí tuệ của con người là vươn tới nền tảng tận cùng củamọi sự vật để có được ý niệm về thế giới, về vũ trụ nói chung; lý tính muốn xâmnhập cả vào lĩnh vực "vật tự nó", để đạt tới tri thức trọn vẹn, tuyệt đối lại nảy sinhnhững antinomia (mâu thuẫn, nghịch lý) do khả năng con người không cho phéplàm được việc đó Các antinomia này, theo Cantơ, không phải là những lỗi logicthông thường mà con người có thể khắc phục được, mà là những mâu thuẫn khôngthể tránh khỏi trong tư duy lý tính Khi con người đặt vấn đề về nhận thức thế giớivới tư cách là một chỉnh thể vô điều kiện, thì ngay lập tức lý tính con người đã hìnhthành nên các vấn đề cụ thể mà nó tưởng rằng có thể giải quyết được, nhưng hoá ralại không đơn giản như vậy, mà ngay từ đầu nó đã đưa ra những lý giải mâu thuẫncho tất cả các vấn đề đó Ông khẳng định sự tồn tại bốn antinomia cơ bản của tư

Trang 26

duy lý tính, mỗi antinomia được cấu thành từ hai luận đề đối lập nhau, tuỳ từngtrường hợp cụ thể mà có thể cùng đúng hoặc cùng sai, trong từng lĩnh vực và từngđối tượng nghiên cứu.

Học thuyết của Cantơ về các antinomia còn những điểm đáng lưu ý sau: Thứnhất, ông quy những mâu thuẫn đó vào mâu thuẫn của lý tính (tư tưởng) chứ chưathấy rằng đó là những mâu thuẫn của thế giới hiện thực (của giới tự nhiên) Thứ hai,các antinomia đó cũng chưa hoàn toàn là những mâu thuẫn biện chứng vì giữa cácmặt đối lập của chúng chưa có sự thống nhất và chuyển hoá lẫn nhau Thứ ba, giảiquyết mâu thuẫn cũng không phải chỉ dừng lại ở việc phân tích tổng mặt đối lập rồikết luận đúng - sai như ông đã làm Cantơ đã giải quyết vấn đề theo nguyên tắc hay

là, hay là ngoài ra không thể là cái gì khác mà lẽ ra sự vật phải vừa là cái này lạivừa là cái kia Trên thực tế, quá trình nảy sinh và giải quyết mâu thuẫn là động lựcthúc đẩy sự vật phát triển Thứ tư, Cantơ đã sai lầm khi hạn chế số lượng cácantinomia, trong khi theo Hêgen, chúng có trong tất cả các sự vật ở mọi hình thức,trong tất cả các quan niệm, ý niệm, khái niệm

Tuy nhiên, học thuyết biện chứng tiên nghiệm của Cantơ bao hàm nhiều tưtưởng tích cực Ông đã thấy mâu thuẫn (antinomia) là bản chất của lý tính conngười chứ không phải là những lỗi logic thông thường Hêgen đánh giá rằng: "việctìm ra các antinomia cần được xem như một thành tựu rất quan trọng của nhận thức,bởi bằng việc đó vận động biện chứng của tư duy được đề cao” [44, tr.35] Họcthuyết về các antinomia của Cantơ đã mở ra con đường phát triển mới cho quanniệm biện chứng về tư duy, nhận thức và là một trong những tiền đề lý luận của triếthọc mácxít Với những đóng góp tích cực đó của Cantơ trong lịch sử phát triển củaphép biện chứng nói chung và tư duy về lý luận mâu thuẫn nói riêng, thì những hạnchế trong triết học của ông không làm lu mờ công lao đó của triết học Cantơ

Sau Cantơ, phép biện chứng trước Mác đạt đến đỉnh cao trong triết học Hêgen,theo nhận xét của Lênin “Phép biện chứng của Hêgen là sự khái quát của lịch sử

tư tưởng” [40, tr.356] Là người đầu tiên đã tổng kết toàn bộ lịch sử nhận thức, tìm

ra nguyên lý cơ bản của tư duy biện chứng và xây dựng một cách có hệ thống các

Trang 27

quy luật của phép biện chứng trên cơ sở chủ nghĩa duy tâm cho nên Hêghen khôngchỉ là một thiên tài sáng tạo, mà còn là một nhà khoa học có tri thức bách khoa, trênmọi lĩnh vực ông thể hiện là một người vạch thời đại.

Lý luận về mâu thuẫn của Hêgen là một trong những thành tựu xuất sắc của sựphát triển tư tưởng triết học nhân loại Điểm sáng trong lý luận mâu thuẫn là khi ôngđưa ra nhận định thiên tài rằng: mâu thuẫn biện chứng là điều kiện để nhận thức chân

lý, là nguồn gốc phát triển của mọi chân lý khoa học Theo Hêgen, con người có thểnhận thức được thế giới và có khả năng đạt được chân lý Ông xem xét chân lý mộtcách biện chứng, chân lý không phải là cái cứng đờ, bất động, mà về thực chất, nónằm trong quá trình nhận thức đầy mâu thuẫn biện chứng, nhận thức như thế mới quaquá trình tự phát triển, tự đào sâu đã tiến gần đến tri thức khách quan, đến chân lý.Quan điểm về nhận thức chân lý của Hêgen chứa đầy ý nghĩa biện chứng, - cái màcác nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác gọi là “hạt nhân hợp lý Tuy nhiên, ông hiểunhận thức của tư duy đầy vẻ thần bí vì theo ông nhận thức của tư duy là quá trình tựnhận thức của ý niệm tuyệt đối; hay nói cách khác, tư duy tự nhận thức là cơ sở củatất cả những cái tinh thần, những cái vật chất và của mọi chân lý

Hêgen đã sớm nhận ra tính phổ biến của mâu thuẫn và vai trò của nó trong quátrình vận động và phát triển của thế giới, Hêgen đã khẳng định: “Mâu thuẫn lànguồn gốc của tất cả mọi sự vận động và của tất cả mọi sự sống” [49, tr.47] Theoông, một cái gì đó có sự sống, chỉ bởi vì và chỉ trong chừng mực cái đó chứa mâuthuẫn trong bản thân thì nó mới vận động, mới có xung lực và hoạt động, tất cả mọivật đều có tính chất mâu thuẫn trong bản thân nó Nhà triết học Đức nhấn mạnhrằng, không nên coi mâu thuẫn là một điều gì xấu đối với các sự vật; phải coi mâuthuẫn là mối liên hệ qua lại, là sự lệ thuộc, quy định lẫn nhau của các mặt đối lập, lànguyên tắc của mọi sự tự thân vận động

Trong khi nghiên cứu và tìm ra những mối liên hệ, quá trình vận động khôngngừng và sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các khái niệm chung nhất, giữa các phạm trùcủa tư duy lý luận - khoa học Hêgen đã phát hiện ra những mâu thuẫn nội tại vốn

có là động cho sự phát triển mọi sự vật Ông phê phán quan niệm siêu hình về các

Trang 28

mặt đối lập cực đoan và nhấn mạnh rằng các mặt đối lập không phải có tính tuyệtđối mà có tính tương đối, tất cả chúng chỉ tồn tại trong mối liên hệ chuyển hoá từcái này đến cái kia trong sự phát triển Hêgen đã gián tiếp vạch ra nội dung vànguồn gốc đích thực của phép biện chứng ấy chính là biện chứng của hiện thựckhách quan Nhận thấy được sự uyên bác của nhà triết học Hêgen, Lênin đã chỉ rõ:

“Hêgen đã đoán được một cách tài tình biện chứng của sự vật (của những hiệntượng của thế giới của giới tự nhiên) trong biện chứng của khái niệm” [39, tr.209] Trong “Học thuyết về bản chất” của “Khoa học logic”, Hêghen đưa ra lược đồtriển khai mâu thuẫn: đồng nhất - khác nhau - đối lập - căn cứ, và coi đây là qui luậtbên trong của bản chất Tư tưởng cơ bản của Hêgen xem mâu thuẫn là bản chất củamọi sự vật, hiện tượng và khái niệm Như vậy, Hêgen xem đồng nhất và khác biệtkhông tồn tại tách biệt nhau, mà đối lập nhau nhưng gắn bó với nhau của bản chất.Đồng nhất đó là đồng nhất cụ thể bao chứa trong nó sự khác biệt, cũng như mọi sựkhác biệt, đều là sự khác biệt cụ thể, khác biệt trong sự đồng nhất, trong mỗi sự vậtnhư một chỉnh thể Mỗi vật là một sự đồng nhất cụ thể, hàm chứa trong nó cái đốilập, cái phủ định của nó, hàm chứa trong nó cái sẽ có Theo Hêgen, nhận thức vềquan hệ giữa đồng nhất và khác biệt sẽ phát hiện ra, làm bộc lộ ra mâu thuẫn chứatrong cơ sở của sự đồng nhất và khác biệt ấy Mâu thuẫn có trong tất thảy các sựvật, hiện tượng và làm cho thế giới vận động

Hêgen là người đầu tiên tổng kết toàn bộ lịch sử nhận thức, tìm ra những quyluật của phép biện chứng và xem nó như là linh hồn của mọi nhận thức chân lýkhoa học Nó vạch ra cho mỗi đối tượng những mâu thuẫn bên trong, sự phát triểnmâu thuẫn dẫn tới phủ định một đối tượng này và xuất hiện một đối tượng khác.Song, do bị chi phối bởi quan niệm duy tâm và bởi lợi ích giai cấp mà ông đại diện,Hêgen đã không phát triển học thuyết mâu thuẫn biện chứng đến độ triệt để Điều

đó càng rõ hơn khi ông nghiên cứu các vấn đề xã hội Bằng tư duy biện chứng củamình, Hêgen đã chỉ ra tính mâu thuẫn không thể điều hoà được “trong xã hội côngdân”, nhưng khi giải quyết mâu thuẫn của nó, ông lại đẩy việc giải quyết đó vào tưtưởng thuần tuý Hơn nữa, những mâu thuẫn mà Hêgen vạch ra chỉ là những mâu

Trang 29

của tư duy, chứ không phải là biện chứng của hiện thực khách quan

Phép biện chứng của Hêgen, trong đó có lý luận về mâu thuẫn với tinh thầnđầy đủ về nội dung, tính toàn vẹn về hình thức, dù gắn với lập trường duy tâm,nhưng đã có những đóng góp lớn cho lịch sử nhận thức nhân loại và là tiền đề lýluận quan trọng cho sự ra đời của phép biện chứng mácxít Triết học Hêgen nhưMác nhận xét, ở Hêgen phép biện chứng bị lộn ngược đầu xuống đất Chỉ cần dựng

nó lại là sẽ phát hiện được cái hạt nhân hợp lý của nó ở đằng sau lớp vỏ thần bí

1.1.2 Lý luận mácxít về mâu thuẫn

Kế thừa những thành tựu của lịch sử tư tưởng nhân loại, các nhà triết học củachủ nghĩa Mác - Lênin đã xây dựng học thuyết về mâu thuẫn thành hạt nhân củaphép biện chứng duy vật

Trước hết là quan điểm về bản chất của mâu thuẫn.

Đứng trên lập trường duy vật, kế thừa một cách có phê phán tất cả nhữngthành thành tựu có giá trị trong toàn bộ lịch sử triết học, dựa trên những thành tựu

có tính chất vạch thời đại của khoa học hiện đại và thực tiễn lúc bấy giờ, Mác vàĂngghen đã phát triển học thuyết về mâu thuẫn trên cơ sở quan điểm duy vật biệnchứng , khoa học và sau này Lênin coi học thuyết đó là hạt nhân của phép biệnchứng

Thế giới tồn tại khách quan, luôn luôn vận động, biến đổi và phát triển khôngngừng Nói đến sự vận động, biến đổi và phát triển chúng ta phải biết sự vận động,biến đổi và phát triển đó trên ba phương diện: cái gì làm cho sự vật vận động, biếnđổi và phát triển? Phương thức sự vận động, biến đổi và phát triển? Vận động, biếnđổi và phát triển theo khuynh hướng nào? Nhưng trước khi muốn biết sự vật vậnđộng, biến đổi và phát triển theo phương thức nào, khuynh hướng nào chúng ta phảibiết nguồn gốc của vận động, biến đổi và phát triển của sự vật Các nhà kinh điểncủa chủ nghĩa Mác tìm thấy nguồn gốc vận động, biến đổi và phát triển của sự vậtngay trong sự vật đó, trong những mâu thuẫn nội tại của bản thân sự vật Do đó,mâu thuẫn là khách quan, phổ biến Vấn đề đó đã được Mác, Ăngghen và Lêninluận chứng, làm sáng tỏ trong các tác phẩm của mình

Trong công trình bút chiến “Chống Đuyrinh”, công trình được Lênin xem “Đó

Trang 30

là một cuốn sách có nội dung đặc biệt phong phú và bổ ích” [38, tr.11], để chỉ ratính khách quan của mâu thuẫn, Ăngghen phê phán: nếu là thế giới quan siêu hìnhthì Đuyrinh không thể hiểu nổi vận động có đặc trưng mâu thuẫn - thường xuyênnảy sinh mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn Ông minh chứng cho phê phán đó: “Ởđây chúng ta có một mâu thuẫn “tồn tại một cách khách quan ở trong bản thân các

sự vật và các quá trình” và có thể phát hiện ra dưới một hình thức hữu hình Vềđiểm này, ông Đuyrinh nói như thế nào? Ông ta khẳng định rằng, nói chung cho đếnngày nay, vẫn không có “một cái cầu nào nối liền giữa cái tĩnh triệt để và cái độngtrong khoa học cơ học hợp lý” Và thế là bạn đọc đã có thể nhìn thấy cái ẩn nấp ởđằng sau câu nói theo sở thích đó của ông Đuyrinh; chẳng có gì khác hơn là: mộtngười mà đầu óc suy nghĩ theo cách siêu hình thì tuyệt đối không thể từ quan niệmtĩnh mà chuyển sang quan niệm động được, vì ở đây cái mâu thuẫn nói trên đã chặnmất đường đi rồi Sự vận động vì là một mâu thuẫn nên hoàn toàn không thể hiểuđược đối với người đó Song khi đã khẳng định tính chất của vận động là không thểhiểu được, thì chính bản thân người đó đã đi ngược lại ý chí của mình mà thừa nhận

sự tồn tại của mâu thuẫn đó: tức là thừa nhận rằng trong bản thân các sự vật và cácquá trình, có một mâu thuẫn tồn tại khách quan, hơn nữa mâu thuẫn đó lại là mộtlực lượng có thực” [4, tr.206-207] Khi bàn đến tính khách quan của mâu thuẫn,Ăngghen tiếp tục khẳng định: “Nếu bản thân sự di động một cách máy móc đơngiản đã chứa mâu thuẫn, thì tất nhiên những hình thức vận động cao hơn của vậtchất và đặc biệt là sự sống hữu cơ và sự phát triển của sự sống hữu cơ đó lại càngphải chứa đựng mâu thuẫn như vậy sự sống trước hết chính là ở chỗ một sinh vậttrong mỗi lúc vừa là nó nhưng vừa là một cái khác Như vậy, sự sống cũng là mộtmâu thuẫn tồn tại trong bản thân các sự vật và các quá trình, tự đề ra và tự giảiquyết không ngừng, và khi mâu thuẫn đã hết thì sự sống cũng không còn nữa và cáichết sẽ xãy đến” [4, tr.202]

Mâu thuẫn tồn tại khách quan diễn ra phổ biến trong tự nhiên, xã hội và tư duycon người:

Trong cuộc đấu tranh chống lại những tư tưởng thù địch đủ màu sắc trong khoa học

Trang 31

tự nhiên, đòi hỏi các nhà khoa học tự nhiên cần nắm vững quan điểm duy vật biện chứngmột cách có ý thức và có ý nghĩa lớn hơn thế nữa là để bảo vệ những nguyên lý cơ bảncủa triết học Mác, tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” của Ăngghen ra đời cũng nhằmmục đích đó Với những thành tựu của khoa học tự nhiên thời kỳ này bằng nhiều minhhoạ phong phú và sinh động, Ănghen làm sáng tỏ tính phổ biến của mâu thuẫn trong tựnhiên: “Cái cây, con vật, mỗi tế bào, trong mỗi lúc của đời nó, là đồng nhất với nó,nhưng lại khác biệt với bản thân nó, do sự đồng hoá và bài tiết các chất, do sự hô hấp, sựtạo thành và sự huỷ diệt các tế bào, do quá trình diễn biến của sự tuần hoàn - tóm lại dotổng số các biến đổi không ngừng của các phân tử ” [3, tr.327] Ăngghen cũng chỉ ramâu thuẫn không chỉ diễn ra trong giới hữu cơ mà ngay cả giới vô cơ; chẳng hạn trongtoán học, ông cho rằng, chúng ta đã nói đến một trong những cơ sở chính của toán họccao cấp là mâu thuẫn: trong một số trường hợp nào đó thì thẳng và cong đều phải nhưnhau Toán cao cấp lại còn một số mâu thuẫn khác nữa, tức là dưới mắt ta có nhữngđường cắt nhau, nhưng chỉ cách điểm cắt nhau 5 hay 6 phân mà thôi, thì những đường

đó phải được coi như là những đường song hành, tức là được coi như những đường mà

dù có kéo dài vô tận cũng không thể nào cắt nhau được

Khi vạch trần thực chất các quan niệm Stiếcnơ về lịch sử, trong tác phẩm “Hệ

tư tưởng Đức” Mác và Ăngghen đã vận dụng học thuyết mâu thuẫn biện chứng vàotrong đời sống xã hội, hai ông phát hiện ra rằng: “như vậy, theo quan điểm củachúng tôi, tất cả mọi xung đột trong lịch sử đều bắt nguồn từ mâu thuẫn giữa lựclượng sản xuất và hình thức giao tiếp”[42, tr.340] Vấn đề đó, lại một lần nữa đượclàm sáng tỏ trong bộ “Tư bản” - tác phẩm được coi là sự nghiệp của cả cuộc đờiMác Ở đó, Mác ghi nhận các mặt đối lập của những hiện tượng kinh tế, khôngnhững thế ông còn chỉ ra sự thống nhất bên trong của chúng với tư cách những yếu

tố nội tại của một bản chất Thông qua đó, ông phát hiện đúng mâu thuẫn nội tại củachủ nghĩa tư bản, làm sáng tỏ nội dung, tính chất của những mâu thuẫn đối khángtrong xã hội đó, trước hết là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội của lượng sản xuất vớichế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa đối với tư liệu sản xuất Mâu thuẫn kinh

tế nêu trên được thể trên lĩnh vực xã hội thành mâu thuẫn giữa tư sản và vô sản, qua

Trang 32

đây ông chỉ ra lực lượng xã hội cơ bản có thể lãnh đạo cách mạng nhằm xóa bỏ xãhội tư bản và xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa là giai cấp vô sản Lênin coi bộ

Tư bản của Mác là mẫu mực của việc áp dụng phép biện chứng vào nghiên cứu một

xã hội cụ thể - xã hội tư bản chủ nghĩa Mác bắt đầu bằng sự phân tích “tế bào” của

xã hội tư bản - trao đổi hàng hoá, ở đó đã có mầm mống của tất cả mâu thuẫn củachủ nghĩa tư bản và tiếp tục nghiên cứu sự phát triển của các mâu thuẫn ấy trongmọi lĩnh vực của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa và tiên đoán một cách khoa học sựcáo chung của xã hội tư bản

Mâu thuẫn biện chứng trong tư duy là sự phản ánh những mâu thuẫn tronghiện thực và là nguồn gốc phát triển của nhận thức, tư duy trên con đường vươn tớichân lý khách quan, chân lý tuyệt đối và hiện thực Trong tư duy con người cũng córất nhiều mâu thuẫn như mâu thuẫn giữa chân lý và sai lầm, khách quan và chủquan, trừu tượng và cụ thể Ăngghen đã khẳng định: “Cũng như chúng ta thấy rằngtrong lĩnh vực tư duy cũng vậy, chúng ta không thể thoát khỏi mâu thuẫn; chẳnghạn như mâu thuẫn giữa năng khiếu nhận thức vô tận ở bên trong của con người với

sự tồn tại thực tế của năng khiếu ấy trong những con người bị hạn chế bởi hoàncảnh bên ngoài, và bị hạn chế, trong những năng khiếu nhận thức, mâu thuẫn nàyđược giải quyết trong sự nối tiếp các thế hệ, sự nối tiếp đó ít ra đối với chúng ta vềthực tế cũng là vô tận” [4, tr.143]

Với việc phát triển học thuyết về mâu thuẫn trên cơ sở quan điểm duy vật biệnchứng đã giúp Mác và Ăngghen luận chứng một cách đúng đắn, khoa học mâuthuẫn có tính khách quan tồn tại phổ biến trong tự nhiên, xã hội và tư duy của conngười Vậy vì sao mâu thuẫn có tính khách quan và phổ bíến, bởi vì, trên phươngdiện nguồn gốc làm cho sự vật trong thế giới vận động, biến đổi và phát triển chính

là do mâu thuẫn biện chứng tức là sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập Thống nhất của các mặt đối lập là các mặt đối lập xâm nhập lẫn nhau, phù hợpvới nhau làm điều kiện và tiền đề tồn tại cho nhau Đề cập tới sự “thống nhất” củahai giai cấp đối lập cơ bản trong chủ nghĩa tư bản, Mác và Ăngghen viết: Giai cấp

vô sản và sự giàu có là hai cái đối lập Với tính cách như vậy chúng hợp thành một

Trang 33

thể hoàn chỉnh thống nhất Chế độ tư hữu, với tư cách là chế độ tư hữu, với tư cách

là sự giàu có, buộc phải duy trì vĩnh viễn sự tồn tại của bản thân nó, do đó cũngbuộc phải duy trì vĩnh viễn ngay cả sự tồn tại của mặt đối lập của nó, giai cấp vôsản Tồn tại trong một thể thống nhất, hai mặt đối lập luôn luôn “đấu tranh” vớinhau Đấu tranh giữa các mặt đối lập được hiểu là sự tác động qua lại theo xuhướng bài trừ, phủ định, chống đối lẫn nhau Trong đó sự đấu tranh giữa các mặtđối lập thực chất là sự bài trừ, phủ định lẫn nhau giữa chúng giữa các mặt đối lập.Trong sự vật, thống nhất của các mặt đối lập là tiền đề của đấu tranh các mặt đốilập, không có thống nhất thì không có đấu tranh Đấu tranh là sự đấu tranh giữa cácmặt đối lập cấu thành mâu thuẫn, chứ không phải dùng một lực lượng nào đó bênngoài để triệt tiêu đi một mặt đối lập thì đó không phải là đấu tranh giữa các mặt đốilập theo đúng nghĩa của nó Mác nhấn mạnh rằng, cái cấu thành bản chất của sự vậnđộng biện chứng chính là sự cùng nhau tồn tại của hai mặt mâu thuẫn, sự đấu tranhcủa hai mặt ấy là sự dung hợp của hai mặt ấy thành một phạm trù mới Ông cònnhận xét: “chỉ với việc tự đề ra cho mình vấn đề loại bỏ mặt xấu, người ta cũng đãchặn đứng sự vận động biện chứng rồi” [49, tr.48] Từ đấy, ông khẳng định: mâuthuẫn biện chứng là nguồn gốc, động lực cho mọi sự vận động, biến đổi và pháttriển của sự vật, hiện tượng Vậy xung lực nào tạo thành mâu thuẫn biện chứng,theo Mác, mặt đối lập biện chứng phải là những mặt (bộ phận, yếu tố, thuộc tính,khuynh hướng ) khác biệt trong cùng một bản chất xác định của sự vật, hiệntượng, quá trình của thế giới khách quan Những mặt này, vừa có đặc điểm chunggiống nhau lại vừa có đặc điểm riêng biệt và vì thế, giữa chúng vừa có mối liên hệràng buộc, quy định lẫn nhau vừa có sự bài trừ, phủ định nhau Hai mặt đối lập biệnchứng trong cùng một bản chất xác định của sự vật, hiện tượng và quá trình liên hệvới nhau tạo thành mâu thuẫn biện chứng; các mặt đối lập biện chứng trong nhữngđiều kiện nhất định có thể chuyển hoá lẫn nhau Như vậy, theo quan điểm của Mác

và Ăngghen, toàn bộ giới tự nhiên, từ những phần nhỏ nhất đến những vật thể tonhất, từ hạt cát đến mặt trời, từ tế bào Pơrôtít đến con người, tất cả đều ở trong mộtquá trình phát sinh và tiêu diệt, trong một dòng chảy không ngừng, trong sự vận

Trang 34

động và biến hoá mãi mãi Quá trình phát triển đó không diễn ra theo hướng một sựtriển khai nhịp nhàng của các hiện tượng, mà theo hướng là những mâu thuẫn vốn

có của các sự vật, của các hiện tượng bộc lộ ra, theo hướng là những xu hướng tráingược nhau phát huy tác dụng trên cơ sở những mâu thuẫn ấy “đấu tranh” với nhau

Lý luận về mâu thuẫn biện chứng của Mác và Ăngghen đã được Lênin vậndụng, phát triển một cách tài tình trong lãnh đạo công cuộc cách mạng xã hội chủnghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, ở Liên Xô, lý luận đó cũng đã được phát triểnlên một trình độ mới qua phân tích những mâu thuẫn của xã hội tư bản chủ nghĩatrong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa và thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủnghĩa xã hội

“Bút ký triết học” của Lênin là kho tàng lý luận triết học có giá trị to lớn, trong

đó ông trình bày khái quát sâu sắc và ngắn gọn phép biện chứng duy vật; nguyêntắc về sự thống nhất giữa phép biện chứng, lôgíc học và lý luận nhận thức, về tínhchất mâu thuẫn của sự phản ánh trong những trừu tượng khoa học

Căn nguyên của sự vận động, biến đổi và phát triển của thế giới là đề tàixuyên suốt trong lịch sử triết học nhân loại, những nhà triết học siêu hình thì chorằng căn nguyên của vận động là một sức mạnh ở bên ngoài thế giới vật chất vàthường đi đến thần linh hay là Thượng đế Những nhà triết học duy tâm thì cho tinhthần là căn nguyên của vận động Ngay Hêgen là nhà triết học có tư tưởng biệnchứng, song vì dựa trên lập trường duy tâm khách quan nên không thể giải thíchđúng đắn được căn nguyên của sự vận động Trong tác phẩm, Lênin quan tâm vàgiải thích một cách sâu sắc về căn nguyên của sự vận động đó là mâu thuẫn của sựvật và hiện tượng, là sự đấu tranh của các mặt đối lập Lênin trích dẫn một đoạn củaHêgen nói về mối quan hệ giữa vận động và mâu thuẫn: "nó là cái phủ định trong sựquy định bản chất của nó, là nguyên tắc của mọi sự tự vận động, mà sự tự vận độngnày không phải là cái gì khác mà chỉ là sự biểu hiện nào đấy của mâu thuẫn Vậnđộng là bản thân mâu thuẫn đang tồn tại" [39, tr.148-149] Cũng với tinh thần mâuthuẫn là căn nguyên của vận động, Lênin viết: ""Nguồn gốc nội tại của những sựkhác nhau" - đó là lôgích bên trong khách quan của sự tiến hoá và của sự đấu tranh

Trang 35

của những sự khác nhau, của các cực"[39, tr.106] Với những luận giải sâu sắc đó,Lênin nhấn mạnh ý nghĩa quyết định của quy luật thống nhất và đấu tranh của cácmặt đối lập đối với sự phát triển là ở chỗ nó chỉ ra nguồn gốc, động lực của sự pháttriển Lênin viết: “Sự phát triển là một cuộc “đấu tranh” giữa các mặt đối lập Sựphát triển đươc coi là sự thống nhất của các mặt đối lập(sự phân đôi của cái thốngnhất thành những mặt đối lập bài trừ lẫn nhau giữa các mặt đối lập ấy)” [39, tr.379].Lênin đã chỉ ra hai quan niệm đối lập nhau về sự phát triển: quan niệm biện chứng

và quan niệm siêu hình Thực chất của sự khác biệt giữa hai quan niệm này là ởcách giải thích khác nhau về vấn đề nguồn gốc, động lực của sự phát triển “Haiquan điểm cơ bản (hay là hai quan điểm có thể có? Hay là hai quan điểm có thể thấytrong lịch sử?) của sự phát triển (sự tiến hoá) sự phát triển coi như là giảm đi vàtăng lên, như là sự lặp lại, “và” sự phát triển coi như là thống nhất của các mặt đốilập(sự phân đôi của cái thống nhất thành những mặt đối lập bài trừ lẫn nhau vànhững mối quan hệ lẫn nhau giữa những mặt đối lập ấy) Với quan điểm thứ nhất về

sự vận động, sự tự vận động nằm trong bóng tối, động lực của nó, nguồn gốc của

nó, (trừ phi người ta đem nguồn gốc ấy đặt ra bên ngoài-một thân, một chủ thể ).Với quan niệm thứ hai, sự lưu ý chủ yếu lại hướng vào sự nhận thức nguồn gốc của

sự “tự” vận động Quan điểm thứ nhất là chết cứng, nghèo nàn, khô khan Quanđiểm thứ hai là sinh động Chỉ có quan điểm thứ hai mới cho ta chìa khoá của sự “tựvận động” của tất thảy mọi cái đang tồn tại; chỉ có nó mới cho ta chìa khoá của

“bước nhảy” của sự “đứt đoạn trong liên tục”, của sự “chuyển hoá sang mặt đốilập”, của sự tiêu diệt cái cũ, của sự nảy sinh cái mới” [36, tr.382]

Cũng với cách nhìn nhận đó, trong tác phẩm “Bàn về phép biện chứng”, Lêninviết: “Nhận định sự đồng nhất của các các nặt đối lập tức là thừa nhận (tìm ra)những xu hướng mâu thuẫn nhau, đối lập nhau và bài xích lẫn nhau trong tất cả cáchiện tượng và quá trình của tự nhiên (của cả tinh thần lẫn xã hội trong đó) Muốnnhận thức được tất cả các quá trình của thế giới về phương diện “tự thân vận động”,phát triển nội tại, tính chất hiện thực, sinh động của những quá trình đó, thì phải coinhững quá trình đó là sự thống nhất của các mặt đối lập và nhận thức phát triển là

Trang 36

“đấu tranh” giữa các mặt đối lập Hai quan điểm cơ bản ( ) về sự phát triển (về sựtiến hoá) là: phát triển là tăng thêm và giảm đi, là lặp đi lặp lại và phát triển là thốngnhất của các mặt đối lập (tách một cái duy nhất thành những mặt đối lập bài xíchlẫn nhau, và quan hệ giữa những mặt đối lập ấy) Với quan điểm thứ nhất về vậnđộng, thì không thể thấy tự thân vận động, không thể thấy được động lực của nó,căn nguyên của nó, động cơ của nó ( ) Còn quan niệm kia lại giúp chúng ta nhất lànhận thức được căn nguyên của ‘”tự thân” vận động [35, tr.347]

Như vậy, theo quan điểm của Lênin chính trong sự thống nhất ấy mà các mặtđối lập tương tác một cách biện chứng với nhau, và đó cũng là sự đấu tranh của cácmặt đối lập tạo nên nguồn gốc, động lực phát triển của sự vật, hiện tượng, Lênincũng nhấn mạnh: những động lực nội tại thúc đẩy phát triển, gây ra bởi mâu thuẫn,xung đột giữa những lực lượng và những xu thế khác nhau đang tác động vào mộtvật thể nhất định, trong phạm vi một hiện tượng nhất định hoặc trong nội bộ xã hộinhất định đó là một số đặc điểm của phép biện chứng

Khi coi quy luật mâu thuẫn là hạt nhân và thực chất của phép biện chứng duyvật, Lênin chỉ ra tính tất yếu của việc phân tích các mâu thuẫn trong bản chất củađối tượng Ông viết: “Theo nghĩa đen, phép biện chứng là sự nghiên cứu mâu thuẫntrong ngay bản chất của các đối tượng” [36, tr.282] Ở một trích đoạn khác, Lênincoi nguyên tắc “phân đôi của cái thống nhất và sự nhận thức các bộ phận mâu thuẫncủa nó là thực chất của phép biện chứng” [39, tr.378] Quy luật mâu thuẫn làchìa khoá để hiểu biết về các quy luật khác của phép biện chứng duy vật Chính vìvậy, trong “Bút ký triết học”, Lênin đã hai lần nói rằng bản chất của phép biệnchứng là sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập Sau khi trình bày 16 yếu tốcủa phép biện chứng, Lênin nói: "Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là họcthuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập Như thế là nắm được hạt nhân củaphép biện chứng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có những sự giải thích và một sự pháttriển thêm" [39, tr.240]

Phân tích cơ cấu của mâu thuẫn, Lênin yêu cầu “đối lập” không phải là mộtphạm trù dùng để chỉ bất kỳ một sự đối lập nào Trong hiện thực có những đối lập

Trang 37

giản đơn, chết cứng, không chứa đựng nhân tố nguồn gốc vận động và phát triểncủa các sự vật tương ứng Chẳng hạn bên phải, bên trái; thuận lợi và khókhăn Những đối lập như vậy không phải là những đối lập bịên chứng, do đó,chúng không phải được bao quát trong phạm trù “đối lập” của lý luận mâu thuẫnbiện chứng Khi nói tới những nhân tố cấu thành của mâu thuẫn biện chứng, “đốilập”, “mặt đối lập” là một phạm trù dùng để chỉ những mặt, những đặc điểm, nhữngthuộc tính, những tính quy định có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau tồn tạimột cách khách quan trong tự nhiên, xã hội và tư duy Chính những mặt như vậynằm trong sự liên hệ, tác động qua lại với nhau mà tạo thành mâu thuẫn biện chứng.Hai mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn biện chứng luôn luôn tồn tại trong sự

“thống nhất” với nhau, với nghĩa chúng nương tựa vào nhau, đòi hỏi có nhau, sự tồntại của mặt này phải lấy mặt kia làm điều kiện và tiền đề Sự thống nhất không thểtách rời các mặt đối lập trong cùng một sự vật, cấu thành mặt bản chất của chính sựvật đó Vì vậy, các mặt đối lập bao giờ cũng có những nhân tố giống nhau, “đồngnhất” với nhau Không nên hiểu sự thống nhất các mặt đối lập bao giờ cũng là sựđồng nhất của chúng, mà hai khái niệm thống nhất và đồng nhất có lúc đồng nghĩavới nhau, nhưng cũng có lúc khác nhau Lênin viết: “Sự đồng nhất của các mặt đốilập(sự thống nhất của chúng), nói như vậy có lẽ sẽ đúng hơn? Tuy ở đây sự phânbiệt giữa các từ đồng nhất và thống nhất không quan trọng lắm ” [39,tr.383] Ôngnhận xét: “Phép biện chứng là học thuyết vạch ra rằng những mặt đối lập làm thếnào để có thể và thường là (và trở thành) đồng nhất - trong những điều kiện nàochúng là đồng nhất bằng cách chuyển hoá từ mặt đối lập này sang mặt đối lập kia -tại sao lí trí con người không nên xem những mặt đối lập là chết, cứng đờ mà làsinh động, có điều kiện, hoạt động chuyển hoá lẫn nhau” [36, tr.118] Như vậy, cóthể nói sự liên hệ ràng buộc lẫn nhau của hai mặt đối lập là sự “đồng nhất” hay

“thống nhất” của chúng; song Lênin còn dùng khái niệm sự đồng nhất của các mặtđối lập khi nói về sự chuyển hoá lẫn nhau giữa chúng Ý kiến trên của Lênin đãkhẳng định sự sai lầm của các quan điểm siêu hình, bởi những nhà triết học theoquan điểm siêu hình cho rằng sự đồng nhất là đồng nhất tuyệt đối, không bao hàm

Trang 38

sự khác biệt và không có sự chuyển hoá của các mặt đối lập Theo quan điểm biệnchứng, đồng nhất bao hàm cả sự khác biệt, đối lập và xung đột, một sự vật vừa làbản thân nó, vừa là cái khác nó, không có đồng nhất tuyệt đối.

Tồn tại trong một thể thống nhất, hai mặt đối lập luôn luôn “đấu tranh” vớinhau, không nên hiểu đấu tranh giữa các mặt đối lập với tư cách là một phạm trùtriết học một cách giản đơn chỉ như là thủ tiêu lẫn nhau, sự xung đột giữa những lựclượng thù địch bằng bạo lực Đấu tranh giữa các mặt đối lập cần được hiểu là sự tácđộng qua lại theo xu hướng bài trừ và phủ định lẫn nhau của các mặt đối lập Theoquan điểm của Lênin đấu tranh có nhiều hình thức khác nhau: có đấu tranh thủ tiêu

cả hai mặt đối lập; có đấu tranh dẫn đến thủ tiêu một mặt còn mặt kia được biến đổi;

có đấu tranh làm kích thích lẫn nhau, hoàn thiện lẫn nhau và cùng nhau pháp triển Với tư cách là hai xu hướng khác nhau trong mối quan hệ qua lại giữa hai mặtđối lập của một mâu thuẫn biện chứng, thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lậpcũng có quan hệ biện chứng với nhau: trong đó sự thống nhất của các mặt đối lập làtương đối, đấu tranh giữa các mặt đối lập là tuyệt đối, chính nhờ đấu tranh mà các

sự vật vận động, chuyển hoá lẫn nhau, làm cho thế giới trở nên vô hạn, vĩnh viễn vàbất diệt Tính tương đối của sự thống nhất có quan hệ hữu cơ với sự đứng im, ổnđịnh tạm thời của sự vật Tính tuyệt đối của sự đấu tranh có mối quan hệ gắn bó vớitính tuyệt đối của sự vận động và phát triển Lênin chỉ rõ: “Sự thống nhất ( ) củacác mặt đối lập là có điều kiện, tạm thời, thoáng qua, tương đối Sự đấu tranh củacác mặt đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối, cũng như sự phát triển, sự vận động làtuyệt đối” [39, tr.379]

Vì mâu thuẫn quy định quá trình phát triển của các sự vật, hiện tượng, cho nêntrong quá trình nhận thức các sự vật hiện tượng ấy, theo Lênin tất yếu phải xem xétcác giai đoạn phát triển của mâu thuẫn từ sự triển khai mâu thuẫn đến giải quyếtmâu thuẫn (hay là sự chuyển hoá các mặt đối lập) Không nên hiểu sự chuyển hoálẫn nhau giữa các mặt đối lập một cách giản đơn, máy móc, chỉ căn cứ vào hìnhthức bên ngoài, chỉ nói về sự chuyển hoá vị trí của chúng Cũng không nên hiểu sựchuyển hoá các mặt đối lập một mặt còn, một mặt mất Lênin chú ý xem xét vấn đề

Trang 39

chuyển hoá các mặt đối lập, Lênin viết: Phép biện chứng là học thuyết vạch ra rằngnhững mặt đối lập làm thế nào mà có thể và thường là (trở thành) đồng nhất, trongđiều kiện nào chúng là đồng nhất, bằng cách chuyển hoá lẫn nhau Hoặc, khi trìnhbày 16 yếu tố của phép biện chứng, Lênin không chỉ chú ý đến những khuynhhướng(và những mặt mâu thuẫn) bên trong sự vât; sự thống nhất, sự đấu tranh giữacác mặt đối lập mà còn nhấn mạnh đến sự chuyển hoá giữa chúng Không phải chỉ

là sự thống nhất của các mặt đối lập, mà còn là những chuyển hoá, của Mỗi tính quyđịnh, chất, đặc trưng, mặt, sang mỗi cái khác, [sang cái đối lập với nó?]

Cùng với sự ra đời và biến đổi của các sự vật và hiện tượng, mâu thuẫn cũng

có quá trình nảy sinh và phát triển của mình Mâu thuẫn lúc đầu thể hiện dường nhưchỉ là sự khác nhau căn bản, song không phải sự khác nhau nào cũng biểu hiện mâuthuẫn Mâu thuẫn chỉ nảy sinh giữa những mặt có liên hệ hữu cơ với nhau, cókhuynh hướng phát triển trái ngược nhau trong một chỉnh thể, thì mới hình thànhbước đầu của mâu thuẫn Sự khác nhau đó càng phát triển và càng làm bộc lộ sự đốilập Khi hai mặt đối lập của mâu thuẫn xung đột gay gắt, nếu có điều kiện chínmuồi dẫn tới sự chuyển hoá lẫn nhau của các mặt đối lập Chính bằng cách đó, mâuthuẫn được giải quyết, làm cho sự vật thay đổi về chất chuyển sang sự vật khác Sựvật mới tồn tại với những mâu thuẫn mới, các mặt đối lập lại đấu tranh, chuyển hoá,lại làm cho sự vật không ngừng vận động, phát triển

Như vậy, bằng việc kế thừa những thành quả của tư tưởng biện chứng về mâuthuẫn của Mác và Ăngghen, bằng việc tổng kết từ thực tế lịch sử loài người, Lênin

đã phát triển học thuyết về mâu thuẫn lên một tầm cao mới Công lao to lớn củaLênin là ở chỗ ông đã làm sâu sắc, cụ thể hoá quy luật mâu thuẫn của triết họcmácxít và vạch ra được vai trò của nó với tư cách là hạt nhân của phép biện chứngthông quan tìm hiểu những mặt đối lập và những mâu thuẫn, bản chất và vai trò củachúng trong sự phát triển, nội dung của những khái niệm của phép biện chứng

“thống nhất”, “đấu tranh” của các mặt đối lập, đấu tranh để chuyển hoá lẫn nhaucủa các mặt đối lập Lênin đã chỉ ra rằng, quy luật đó phản ánh những quá trình sâusắc nhất của sự vận động và phát triển của các hiện tượng, cung cấp cho ta chìa

Trang 40

khoá để hiểu những nguyên lý, quy luật khác của phép biện chứng Có thể khẳngđịnh rằng lý luận mâu thuẫn của Lênin là vũ khí sắc bén của nhận thức khoa học vàcông cuộc cải tạo thế giới một cách sáng tạo.

Trên cơ sở luận chứng một cách sâu sắc và khoa học về mâu thuẫn là nguồngốc và động lực của sự phát triển, rằng trong sự tác động qua lại của các mặt đối lậpthì đấu tranh của các mặt đối lập quy định một cách tất yếu sự thay đổi của các mặtđang tác động làm cho mâu thuẫn phát triển Mác, Ănghen và Lênin đã xem việcphân loại mâu thuẫn và đưa ra phương thức giải quyết mâu thuẫn là khâu quantrọng nhất trong vai trò động lực của mâu thuẫn đối với quá trình phát triển của thếgiới khách quan

Quan điểm về phân loại và phương thức giải quyết mâu thuẫn.

Do tính khách quan và tính phổ biến, mâu thuẫn tồn tại ở trong tất cả các sựvật và hiện tượng Nhưng ở các sự vật khác nhau, ở các giai đoạn phát triển khácnhau của sự vật, ở mỗi lĩnh vực, mỗi nhân tố cấu thành một sự vật cũng có nhữngmâu thuẫn khác nhau Những mâu thuẫn trong tự nhiên, xã hội và tư duy vô cùng đadạng, phong phú, muôn hình, muôn vẽ Xem xét mâu thuẫn trong hiện thực, bằng tưduy trừu tượng và khái quát cao, Mác đã phê phán quan điểm duy tâm khách quancủa Hêghen bàn về mâu thuẫn biện chứng: “Sai lầm chủ yếu của Hêgen là ở chỗông hiểu mâu thuẫn của hiện tượng là sự thống nhất trong bản chất, trong ý niệm,

kỳ thực bản chất của mâu thuẫn ấy cố nhiên là một cái gì đó sâu sắc hơn, cụ thể nó

là mâu thuẫn có tính bản chất” [43, tr.447-448] và Mác khẳng định mâu thuẫn tronghiện thực tuy phong phú, đa dạng nhưng đều tập trung ở hai loại mâu thuẫn cơ bản,

đó là mâu thuẫn của tồn tại và mâu thuẫn của bản chất

Thứ nhất, mâu thuẫn của tồn tại là những mâu thuẫn có ở hầu hết các sự vật,

hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy Loại mâu thuẫn này có hai đặc trưng cơbản Một là, các mặt (bộ phận, yếu tố, thuộc tính ) đối lập có cùng bản chất: chẳnghạn, cực Bắc và cực Nam của thanh nam châm, nam giới và nữ giới của loài người.Theo ông, “cực Bắc và cực Nam cũng đều là những cực; bản chất chúng là đồngnhất cũng vậy, nam giới và nữ giới tạo thành cùng một loài, cùng một bản chất -

Ngày đăng: 23/12/2013, 15:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Phạm Ngọc Anh (2007), Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa Đảng
Tác giả: Phạm Ngọc Anh
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2007
3. B. Ph.Ăngghen (1971) Biện chứng của tự nhiên, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện chứng của tự nhiên
Nhà XB: Nxb Sự thật
4. Ph.Ăngghen (1984) Chống Đuy-rinh, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chống Đuy-rinh
Nhà XB: NXB Sự thật
7. Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp (1976), Trích tác phẩm kinh điển, Tập 1, Nxb Sách giáo khoa Mác - Lênin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trích tác phẩm kinh điển
Tác giả: Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Nhà XB: Nxb Sách giáo khoa Mác - Lênin
Năm: 1976
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1993), Triết học, Tập 2, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1993
9. Nguyễn Trong Chuẩn (1997), I.Cantơ - Người sáng lập nền triết học cổ điển Đức, Nxb Khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: I.Cantơ - Người sáng lập nền triết học cổ điển Đức
Tác giả: Nguyễn Trong Chuẩn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội và nhân văn
Năm: 1997
10. Nguyễn Trọng Chuẩn và Nguyễn Văn Huyên (2002), Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hóa, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hóa
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn và Nguyễn Văn Huyên
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
11. Nguyễn Trọng Chuẩn (2006), Vấn đề khai thác các giá trị truyền thống vì mục tiêu phát triển, www.chungta.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề khai thác các giá trị truyền thống vì mục tiêu phát triển
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 2006
12. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia (2004), Về giáo dục đạo đức cách mạng trong cán bộ, đảng viên hiện nay - Thực trạng và giải pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về giáo dục đạo đức cách mạng trong cán bộ, đảng viên hiện nay - Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia (2004)
Năm: 2004
13. Nguyễn Tiến Dũng (2009), Lịch sử triết học Phương Tây, Nxb Văn Nghệ, Thành Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học Phương Tây
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng
Nhà XB: Nxb Văn Nghệ
Năm: 2009
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
18. guyễn Khoa Điềm (2001), Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Tác giả: guyễn Khoa Điềm
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
21. Phạm Minh Hạc (2004), Tâm lý người Việt Nam đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa - Những điều cần khắc phục, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý người Việt Nam đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa - Những điều cần khắc phục
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
23. Nguyễn Thị Hiền (2008), Lý luận về mâu thuẫn và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945, Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ triết học, Đại học Khoa học Huế, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận về mâu thuẫn và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945
Tác giả: Nguyễn Thị Hiền
Năm: 2008
24. Nguyễn Chí Hiếu (2005), Triết học Cantơ dưới nhãn quan của G.W.F.Heeghen, Tạp chí Triết học, (số 4), 55-60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học Cantơ dưới nhãn quan của G.W.F.Heeghen
Tác giả: Nguyễn Chí Hiếu
Năm: 2005
25. Lê Như Hoa (2003), Bản sắc văn hóa trong lối sống hiện đại, Nxb Thông tin Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hóa trong lối sống hiện đại
Tác giả: Lê Như Hoa
Nhà XB: Nxb Thông tin Hà Nội
Năm: 2003
26. Nguyễn Thế Hoàn (2001), Giá trị tinh thần truyền thống con người Quảng Bình, Nxb Thuận Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị tinh thần truyền thống con người Quảng Bình
Tác giả: Nguyễn Thế Hoàn
Nhà XB: Nxb Thuận Hoá
Năm: 2001
27. Nguyễn Cảnh Hồ (1996), Về những quan niệm khác nhau xung quanh phạm trù mâu thuẫn đối kháng, tạp chí Triết học, (số 3), 55-57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về những quan niệm khác nhau xung quanh phạm trù mâu thuẫn đối kháng
Tác giả: Nguyễn Cảnh Hồ
Năm: 1996
28. Nguyễn Cảnh Hồ (1997), Về vấn đề nhận thức quy luật “thống nhất và đấu tranh các mặt đối lập”, Tạp chí triết học, (số 4), 50-53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: thống nhất và đấu tranh các mặt đối lập
Tác giả: Nguyễn Cảnh Hồ
Năm: 1997
30. Nguyễn Thị Hồng (2002), Quan niệm biện chứng của Lão Tử về thế giới, tạp chí Triết học, (số 3), 27-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm biện chứng của Lão Tử về thế giới
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w