Hoạt động giám sát của Quốc hội là biểu hiện cụ thể và là một trong những yếu tố cấu thành của quyền lực Nhà nước, và hậuquả giám sát của Quốc hội gắn liền với hậu quả pháp lý của nó là
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bước sang thế kỷ XXI, đất nước ta ngày càng trở nên phát triển mạnh mẽ,đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá Việc nâng cao vai trò của Quốc hộinhư một cơ quan đại diện của nhân dân, thay mặt nhân dân quản lý các côngviệc của Nhà Nước là một mục tiêu mà Đảng và Nhà Nước ta hằng theo đuổinhằm xây dựng một Nhà Nước thực sự là của dân, do dân và vì dân
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của bộ máy Nhà nước,Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội thường xuyên được đổi mới và hoànthiện về tổ chức và hoạt động, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đổi mới củađất nước Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyềnlực cao nhất của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quốc hội có chứcnăng lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, thực hiệnquyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước Quyền giám sátcủa Quốc hội được hình thành kế thừa phát triển qua 4 bản hiến pháp của nước
ta Trong điều kiện hiện nay, việc nghiên cứu và hoàn thiện chức năng giám sátcủa Quốc hội đối với toàn bộ hoạt động của bộ máy Nhà nước nói chung, hoạtđộng giám sát của Quốc hội đối với Chính phủ nói riêng có ý nghĩa lý luận vàthực tiễn to lớn, góp phần tích cực quan trọng vào việc tiếp tục xây dựng vàhoàn thiện bộ máy Nhà nước
Việc mở rộng dân chủ cùng với xu hướng hội nhập toàn cầu hóa đòi hỏiphải có sự hoàn thiện các chức năng và đổi mới các hoạt động của Quốc hội, đặcbiệt là chức năng giám sát Trong đó, hoạt động giám sát của Quốc hội đối vớiChính phủ là nhu cầu tất yếu trong cơ chế vận hành và quản lý bộ máy Nhànước
Do vậy, việc nghiên cứu hoạt động giám sát của Quốc hội đối với Chínhphủ là một việc cần thiết và hữu ích đối với hoạt động của bộ máy Nhà nước,chính vì vậy đây là lý do để em chọn đề tài “Hoạt động giám sát của Quốc hội
Trang 2đối với Chính phủ theo pháp luật hiện hành” làm bài khoá luận tốt nghiệp củamình.
2 Mục đích nghiên cứu
Trong phạm vi hạn chế của khoá luận, người viết muốn đi sâu tìm hiểu,phân tích thêm những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn trong hoạt động giámsát của Quốc hội đối với Chính phủ để làm rõ thêm tầm quan trọng của quyềngiám sát của Quốc hội trong đời sống xã hội Đồng thời, đề xuất những giảipháp góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động của hoạt động giám sátcủa Quốc hội nói chung và hoạt động giám sát của Quốc hội đối với Chính phủnói riêng
3 Đối tượng nghiên cứu
Khoá luận chủ yếu chỉ tập trung vào hoạt động giám sát của Quốc hội đốivới Chính phủ (nhánh cơ quan hành pháp), đi sâu vào phân tích, đánh giá tổchức và hoạt động của Chính phủ, đối tượng chịu sự giám sát của Quốc hội
4 Phạm vi nghiên cứu
Giám sát của Quốc hội có đối tượng rất rộng, trong khuôn khổ của bàikhoá luận chỉ tập trung nghiên cứu quyền giám sát của Quốc hội đối với Chínhphủ, với phạm vi đó, khoá luận có nhiệm vụ làm sáng tỏ những vấn đề sau:
- Các quy định của pháp luật hiện hành về hoạt động giám sát của Quốchội đối với tổ chức và hoạt động của Chính phủ
- Thực trạng hoạt động giám sát của Quốc hội đối với Chính phủ và cácgiải pháp tăng cường hiệu quả giám sát của Quốc hội đối với Chính phủ
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của khoá luận
Cơ sở lý luận của hoạt động giám sát Quốc hội đối với Chính phủ có ýnghĩa nâng cao nhận thức, chỉ đạo các hoạt động giám sát của Quốc hội trongthời gian tới
Thực trạng hoạt động giám sát của Quốc hội đối với Chính phủ trong thờigian qua là những cơ sở thực tiễn để để xuất phương hướng và giải pháp nhằmnâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động này
Trang 3CHƯƠNG 1 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT TỐI CAO CỦA QUỐC HỘI ĐỐI VỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT
ĐỘNG CỦA CHÍNH PHỦ
1.1 Cơ sở pháp lý quy định về quyền giám sát tối cao của Quốc hội
Giám sát (theo từ điển luật học) là “sự theo dõi, giám sát mang tính chủ động thường xuyên của cơ quan, tổ chức hoặc nhân dân đối với hoạt động của các đối tượng chịu sự giám sát và sự tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng các hoạt động đó đi đúng quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã được xác định từ trước, bảo đảm cho Hiến pháp và pháp luật được tuân thủ nghiêm chỉnh”.
Giám sát là một hình thức hoạt động quan trọng, đồng thời là quyền của
cơ quan Nhà nước thể hiện ở việc xem xét đối với hoạt động của các đối tượngchịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật nhằm bảo đảmpháp chế hoặc sự chấp hành những quy tắc chung nào đó
Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, Luật,Nghị quyết của Quốc hội; Ủy ban thường vụ Quốc hội giám sát việc thi hànhHiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội; Pháp lệnh, Nghị quyết của Ủy banthường vụ Quốc hội; Hội đồng dân tộc thực hiện quyền giám sát việc thi hànhchính sách dân tộc, các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tê – xã hội miềnnúi và vùng có đồng bào dân tộc thiểu số; các Ủy ban của Quốc hội thực hiệnquyền giám sát trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn do luật định
Giám sát tối cao: Là quyền của Quốc hội thực hiện sự giám sát việc tuântheo Hiến pháp, Luật và Nghị quyết của Quốc hội đối với toàn bộ hoạt động củaNhà nước
Quyền giám sát tối cao của Quốc hội được thực hiện thông qua các hìnhthức như: Thông qua hoạt động giám sát của Quốc hội tại kỳ họp; Hoạt động
Trang 4giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Hội đồng dân tộc, các Ủy ban củaQuốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội cũng như các đại biểu Quốc hội.
Như vậy, giám sát, quyền giám sát, tổ chức giám sát là những vấn đề vừa
có tính cơ bản, chiến lược, vừa là thực tiễn trong tổ chức quyền lực Nhà nước ởViệt Nam hiện nay
Theo thuyết phân quyền Tư sản, quyền lực Nhà nước được phân chiathành các quyền Lập pháp - Hành pháp - Tư pháp, không chỉ để chuyên mônhóa các quyền mà còn bảo đảm để các quyền có sự giám sát, chế ước lẫn nhautạo nên sự cân bằng về quyền lực giữa các cơ quan công quyền Đây là cơ sở lýluận để hình thành nguyên tắc kiềm chế, đối trọng trong tổ chức và hoạt độngcủa Nhà nước Tư sản
Kiềm chế, đối trọng như trên được hiểu là một nguyên tắc tổ chức và hoạtđộng của Nhà nước nhằm mục đích giám sát và ngăn chặn sự lạm dụng quyềnlực, trong đó mỗi tổ chức sử dụng quyền lực Nhà nước đều có sự độc lập cầnthiết về quyền lực, đồng thời đều có quyền và phương tiện tương xứng để giámsát hoạt động của cơ quan khác, tạo thế cân bằng về quyền lực giữa các cơ quancông quyền
+ Kiềm chế là ranh giới về quyền lực, bảo đảm cho quyền lực được thựcthi trong thực tế nhưng không tuyệt đối, luôn bị hạn chế và ước chế bởi quyềnlực khác, nhằm làm cho cơ quan nắm giữ quyền lực thực hiện đúng quyền hạn
và trách nhiệm trong bộ máy Nhà nước
+ Đối trọng là sự phân chia quyền lực tương xứng đối với mỗi cơ quannắm giữ quyền lực để bảo đảm duy trì sự cân bằng về quyền lực giữa các cơquan thực hiện quyền lực Nhà nước, chống lạm quyền Như vậy, có thể nói kiềmchế, đối trọng là hai vấn đề không thể tách rời, thể hiện nguyên tắc cơ bản trong
tổ chức và hoạt động của Nhà nước Tư sản Thông qua nguyên tắc này bảo đảmkhông có cơ quan Nhà nước nào nắm giữ trọn vẹn quyền lực Nhà nước trongtay, không có cơ quan Nhà nước nào có thể bị chi phối, bị lấn át hoàn toàn bởihoạt động của cơ quan khác Đồng thời bảo đảm để không có bất cứ cơ quan, tổ
Trang 5chức nào đứng ngoài hoặc trên pháp luật, nằm ngoài sự kiểm tra, giám sát, kiểmsoát từ phía cơ quan khác.
Kiềm chế, đối trọng trong tổ chức quyền lực Nhà nước là một tiêu chí,nguyên tắc của Nhà nước thực hiện những mục tiêu dân chủ, nhưng bản thân nókhông phải là dân chủ tự thân, không phải là toàn bộ dân chủ Nền dân chủ thực
sự không chỉ đòi hỏi sự giám sát quyền lực Nhà nước từ phía các cơ quan Nhànước với nhau mà quan trọng hơn, phải thiết lập được một cơ chế giám sát trựctiếp từ phía nhân dân Kiềm chế, đối trọng là cách thức tổ chức thực hiện quyềnlực Nhà nước, nhiệm vụ và mục tiêu chính của nó là thực hiện sự giám sát, chếước, ngăn ngừa sự lạm dụng quyền lực Nhà nước từ phía các cơ quan Nhà nước
Vì vậy, bên cạnh những nhân tố hợp lý trong tổ chức quyền lực Nhà nước, tronglịch sử và kinh nghiệm của các nước trên thế giới vận dụng vào điều kiện cụ thể
của Việt Nam, Đảng ta xác định “ Nhà nước tà là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền Lập pháp - Hành pháp - Tư pháp” Như vậy, nhận thức đúng bản chất của học
thuyết phân chia quyền lực của Nhà nước Tư sản, Nhà nước ta không thừa nhận
sự phân lập trong tổ chức bộ máy quyền lực Nhà nước nhưng cũng không phủnhận các hạt nhân hợp lý của sự phân công quyền lực và kiềm chế đối trọng.Giữa các cơ quan Nhà nước cần phải có sự phân công bảo đảm tính chuyên mônhóa lao động quyền lực, bảo đảm sự độc lập tương đối trong tổ chức của các cơquan và bảo đảm sự phối hợp trong quá trình hoạt động trên tinh thần kiểm soát,kiềm chế, giám sát lẫn nhau để ngăn chặn sự lạm quyền, vượt quyền, hoạt độngtrong khuôn khổ quy định của pháp luật Kiểm soát lẫn nhau nhưng khôngchống đối nhau, bảo đảm thực hiện đường lối nhất quán, xuyên suốt của lịch sử
lập hiến Việt Nam là “ tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, Quốc hội
là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất do nhân dân cả nước trực tiếp bầu ra
và trao quyền”.
Trang 6Theo quy định của pháp luật hiện hành, ở nước ta không đặt vấn đề tạo rathế “cân bằng quyền lực” giữa các cơ quan lập pháp – Hành pháp – Tư pháp nhưHiến pháp các nước Tư sản mà tạo cho Quốc hội một quyền lực “tối cao”,
“Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (Điều 83, Hiến
pháp 1992) Hoạt động của Quốc hội là hoạt động mang tính quyền lực Nhànước Đối tượng chịu sự giám sát của Quốc hội thuộc hệ thống các cơ quantrong tổ chức bộ máy Nhà nước Hoạt động giám sát của Quốc hội là biểu hiện
cụ thể và là một trong những yếu tố cấu thành của quyền lực Nhà nước, và hậuquả giám sát của Quốc hội gắn liền với hậu quả pháp lý của nó là việc đình chỉ,hủy bỏ những văn bản của các cơ quan đã được xác định, ban hành trái với Hiếnpháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội và Pháp lệnh, Nghị quyết của Ủy banthường vụ Quốc hội Quốc hội có quyền bầu, bãi nhiệm, miễn nhiệm các chứcdanh: Chủ tịch nước và phó Chủ tịch nước; Chủ tịch Quốc hội, các phó Chủ tịch
và ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội; Thủ tướng Chính phủ; Chánh án Tòa ánnhân dân tối cao; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao….Tuy nhiên, hoạtđộng của Quốc hội và các đại biểu Quốc hội phải tuân theo Hiến pháp và Luật.Hoạt động lập pháp của Quốc hội phải tuân theo một quy trình lập pháp đặc biệt,khi Hiến pháp và Luật (Bộ luật) đã thông qua thì có giá trị bắt buộc đối với toàn
bộ xã hội Trong đó bao gồm cả quyền lực Nhà nước cao nhất (Quốc hội) cũngkhông thể đứng trên Hiến pháp và Luật So với Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992
đã bỏ quy định cho phép “Quốc hội có quyền tự quyết định cho mình những nhiệm vụ, quyền hạn khác khi cần thiết” (Điều 83, Hiến pháp 1980), điều đó có
nghĩa là đã giới hạn quyền lực của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất tronggiới hạn luật định Như vậy, Hiến pháp cho phép Quốc hội có quyền rất lớn,không chỉ quyền lập pháp, mà cả quyền tổ chức ra các cơ quan Hành pháp và Tưpháp, quyền giám sát tối cao đối với mọi hoạt động của Nhà nước Tuy nhiên,
để thực hiện quyền lực Nhà nước cao nhất của mình, trên thực tế tránh hìnhthức, cần thiết phải nâng cao khả năng giám sát của Quốc hội và đại biểu Quốc
Trang 7hội trên cơ sở xác định rõ những nội dung cơ bản như: Nguồn gốc và phạm vigiám sát; thế nào là giám sát tối cao; Ai là người thay mặt Quốc hội tiến hànhgiám sát; Đối tượng chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội; Hình thức giám sát;
xử lý và thẩm định kết quả giám sát; hiệu quả giám sát và hiệu lực thực tế củagiám sát tối cao;
Về quyền giám sát tối cao của Quốc hội
Theo quy định của điều 84, Hiến pháp 1992 và điều 2, Luật Tổ chức Quốc
hội năm 2001 thì: “ Thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội” là một chức năng, đồng thời là thẩm quyền của
Quốc hội Bên cạnh đó, Hiến pháp đặc biệt nhấn mạnh, Quốc hội thực hiệnquyền giám sát tối cao Quy định này nhằm nhấn mạnh tính chất của quyền giámsát của Quốc hội xuất phát từ vị trí, tính chất của Quốc hội do luật định (điều 83,Hiến pháp 1992 và điều 1 - Luật tổ chức Quốc hội năm 2001), đồng thời còn đểphân biệt giám sát của Quốc hội với giám sát của các cơ quan nhà nước kháctrong bộ máy Nhà nước
Theo quy định của Pháp luật, quyền lập hiến, lập pháp chỉ được trao choQuốc hội thì trái lại, giám sát với nghĩa theo dõi, quan sát mang tính chủ động,thường xuyên, liên tục và sự tác động bằng các biện pháp tích cực để hướnghoạt động của đối tượng chịu sự giám sát đi đúng quỹ đạo, quy chế nhằm đạtđược mục đích, hiệu quả đã được định trước bảo đảm để pháp luật được tuântheo một cách nghiêm chỉnh lại là chức năng, thẩm quyền của một số các cơquan khác Tuy nhiên, căn cứ vào phạm vi, đối tượng, nội dung và chế tài giámsát của Quốc hội được Hiến pháp xác định là giám sát tối cao Tính tối cao củahoạt động giám sát của Quốc hội thể hiện ở chỗ, Quốc hội có quyền giám sát tốicao mọi hoạt động của Nhà nước, trong đó bao hàm cả hoạt động của Quốc hộivới tư cách là tư cách là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến, lập pháp Tức làgiám sát tính hợp hiến của các đạo luật do Quốc hội ban hành, khi hiện nay ởnước ta chưa được cơ quan bảo hiến độc lập với các tên gọi như Hội đồng bảohiến Liên bang hay Toà án Hiến pháp như các nước
Trang 8Giám sát tối cao là quyền năng của tập thể Quốc hội, do các đại biểu hợpthành nên Quốc hội thực hiện Còn giám sát, mặc dù cũng được thực hiện nhândanh Quốc hội, nhưng là thẩm quyền của các cơ quan thuộc cơ cấu tổ chức củaQuốc hội (Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốchội) và đại biểu Quốc hội Bởi vì, hoạt động của Quốc hội được thể hiện bằnghình thức: Kỳ họp Quốc hội, hoạt động của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, hoạtđộng của Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội và của mỗi đại biểu Quốchội Mỗi hình thức hoạt động trên đều phải được tiến hành trong phạm vi luậtđịnh Hay nói một cách khác, hoạt động của các chủ thể tham gia để bảo đảmhiệu quả của giám sát tối cao là một nội dung phải được luật hoá Việc luật hoánội dung giám sát tối cao của Quốc hội cần tập trung vào các vấn đề: giám sáttính hợp hiến của các đạo luật do Quốc hội ban hành; giám sát tính hợp hiến củacác pháp lệnh của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Các Nghị định độc lập củaChính phủ và sự phù hợp của chúng với các Luật, Nghị quyết của Quốc hội;giám sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước ở trung ương trong đó có Chínhphủ Bên cạnh giám sát của Quốc hội xuất phát từ vị trí quyền lực Nhà nước caonhất, hoạt động giám sát của các cơ quan thuộc cơ cấu tổ chức của Quốc hội làhình thức hoạt động giám sát của Quốc hội cũng cần phải được xác định rõ đốitượng, phạm vi và thẩm quyền tương ứng của mỗi cơ quan mới phát huy hiệuquả hoạt động mong muốn.
Vấn đề đặt ra là Quốc hội thực hiện quyền giám sát của mình như thế nàotrên thực tiễn, xuất phát từ nguyên tắc tổ chức quyền lực Nhà nước ở nước ta,quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơquan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền Lập pháp – Hành pháp – Tư pháp(điều 2 - Hiến pháp 1992 sửa đổi) chúng ta không thừa nhận nguyên tắc phânchia quyền lực trong tổ chức quyền lực Nhà nước, do đó hoạt động giám sát nóichung và hoạt động giám sát của Quốc hội nói riêng có những đặc điểm khácbiệt Toàn bộ quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, quyền lực Nhà nước bắtnguồn từ nhân dân là thống nhất và phải được tập trung thống nhất và một cơ
Trang 9quan đại diện quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội Tuy nhiên để thực hiệnquyền lực của nhân dân một cách có hiệu quả, Quốc hội đã phân công, phânnhiệm cho các thiết chế quyền lực khác thực hiện, đảm nhiệm một phần quyềnlực Nhà nước như: Chủ tịch nước, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Việnkiểm sát nhân dân tối cao Hoạt động của các cơ quan trên tái sinh từ Quốc hộinên hoạt động đặt dưới sự giám sát tối cao của Quốc hội
Như vậy, Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao mọi hoạt động củaNhà nước có nghĩa là Quốc hội giám sát các văn bản quy phạm pháp luật, giámsát năng lực trách nhiệm của những người giữ chức danh được Quốc hội bầu vàphê chuẩn Hậu quả pháp lý của hoạt động giám sát của Quốc hội chủ yếu đượcthực hiện tại kỳ họp, ngoài ra còn được thực hiện bởi các cơ quan của Quốc hội,các đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội ở địa phương; giám sát thôngqua sự phân công, phân nhiệm, phân cấp bởi các cơ quan Nhà nước khác dưới
sự giám sát tối cao của Quốc hội
Tóm lại, cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý để xác định quyền giám sát, chứcnăng giám sát đối với hoạt động của Nhà nước nói chung về cơ bản đều xuấtphát từ nguyên tắc tổ chức quyền lực Nhà nước Do đó, mọi sự khác biệt trongviệc quy định quyền giám sát và chức năng giám sát đều bắt nguồn từ sự khácbiệt trong nguyên tắc tổ chức và cơ chế vận hành của quyền lực Nhà nước củamỗi Nhà nước theo thể chế dân chủ bảo đảm quyền lực Nhà nước thuộc về nhândân
1.2 Nội dung hoạt động giám sát của Quốc hội đối với Chính phủ
1.2.1 Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước ở trung ương (Đặc biệt là Chính phủ).
Xuất phát từ vị trí, tính chất là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất,Quốc hội có quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước;thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, Luật, Nghị quyết củaQuốc hội (Điều 83, Điều 84 – Hiến pháp 1992) Quốc hội có quyền trực tiếp
Trang 10hoặc gián tiếp giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước, Uỷ banthường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhândân tối cao bảo đảm:
+ Tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của hệ thống văn bản phápluật theo nguyên tắc:
- Hiến pháp là đạo luật cơ bản của Nhà nước có hiệu lực pháp lý cao nhất;
- Văn bản pháp luật khác khi ban hành phải phù hợp với Hiến pháp, đúngthứ bậc hiệu lực pháp lý trong hệ thống pháp luật;
- Văn bản pháp luật do các cơ quan Nhà nước cấp dưới ban hành phải phùhợp với văn bản pháp luật của cơ quan Nhà nước cấp trên
+ Phát hiện những kẽ hở, thiếu sót của văn bản quy phạm pháp luật trongquá trình áp dụng; Văn bản pháp luật được ban hành phải bảo đảm tính toàndiện, tránh những kẻ hở mà người thực hiện có thể lợi dụng vì mục đích tư lợi,
Đối với việc giám sát văn bản của Chính phủ và Thủ tướng Chínhphủ
Các văn bản của Chính phủ như: Nghị quyết, Nghị định và Quyết định,Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ khi ban hành phải trải qua quá trình xem xét,thẩm định tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của hệ thống văn bản phápluật
Theo quy định của luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996
và luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm phápluật năm 2002, Chính phủ có quyền ban hành Nghị quyết, Nghị định; Thủ tướngChính phủ ban hành quyết định, chỉ thỉ; Bộ, Cơ quan ngang bộ có quyền ban
Trang 11hành Quyết định, Chỉ thị, Thông tư Tuy nhiên Luật ban hành văn bản quyphạm pháp luật của Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 3, số 17/2008/QH12 ngày03/06/2008 thì Chính phủ hiện nay chỉ còn thẩm quyền ban hành Nghị định, bớt
đi Nghị Quyết, lý do là vì nhằm đơn giản hóa các văn bản quy phạm pháp luật,việc bỏ hình thức Nghị quyết của Chính phủ tránh tình trạng mâu thuẫn, chồngchéo giữa các hình thức ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội và
Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Trong khi đó Thủ tướng Chính phủ chỉcòn được ban hành Quyết định; Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ chỉ cònban hành Thông tư Cụ thể:
+ Đối với Nghị định của Chính phủ: Tuỳ theo tính chất và nội dung của
dự thảo Nghị định, cơ quan soạn thảo gửi dự thảo tới Uỷ ban trung ương Mặttrận tổ quốc Việt Nam, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Toà án nhân dân tốicao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan tổ chức hữu quan, Hội đồng nhândân cấp Tỉnh, Thành phố trực thuộc trung ương, Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quanthuộc Chính phủ để tham gia ý kiến
Bộ tư pháp có trách nhiệm thẩm định dự thảo Nghị định trước khi trìnhChính phủ Đối với dự thảo nghị định có nội dung phức tạp, liên quan đến nhiềungành, lĩnh vực hoặc do Bộ tư pháp chủ trì soạn thảo thi Bộ trưởng Bộ tư phápthành lập Hội đồng thẩm định, bao gồm đại diện các cơ quan hữu quan, cácchuyên gia, nhà khoa học Cơ quan chủ trì soạn thảo và Bộ tư pháp có tráchnhiệm tham gia ý kiến bằng văn bản trước khi trình Chính phủ
Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với Nghị định do Chínhphủ ban hành Theo đề nghị của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước,Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tốicao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận tổ quốc và các thành viên, đại biểuQuốc hội Quốc hội xem xét, quyết định bãi bỏ một phần hay toàn bộ Nghị địnhcủa Chính phủ trái với Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội
Ủy ban thường vụ Quốc hội tự mình hoặc theo đề nghị của Hội đồng dântộc, các Ủy bản của Quốc hội hoặc đại biểu Quốc hội huỷ bỏ một phần hay toàn
Trang 12bộ Nghị định của Chính phủ trái với Pháp lệnh, Nghị quyết của Uỷ ban thường
vụ Quốc hội; đình chỉ việc thi hành một phần hay toàn bộ Nghị định của Chínhphủ trái với Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội quyếtđịnh việc huỷ bỏ một phần hay toàn bộ văn bản đó
+ Đối với Quyết định của Thủ tướng Chính phủ:
Tuỳ theo tính chất và nội dung của Quyết định, cơ quan soạn thảo gửi lấy
ý kiến các thành viên của Chính phủ, Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp Tỉnh,Thành phố trực thuộc trung ương và cơ quan, tổ chức hữu quan khác để banhành quyết định của mình
Bộ tư pháp có trách nhiệm thẩm định dự thảo Quyết định của Thủ tướngChính phủ và tham gia ý kiến bằng văn bản trước khi trình Chính phủ
Khi quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành có dấu hiệu trái vớiHiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội thì Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủtịch nước, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhândân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổchức thành viên và đại biểu Quốc hội có quyền đề nghị Quốc hội xem xét việcban hành quyết định của Thủ tướng Chính phủ Trong nhiệm vụ, quyền hạn củamình thì Quốc hội có quyền bãi bỏ một phần hay toàn bộ Quyết định của Thủtướng Chính phủ trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội
Ủy ban thường vụ Quốc hội tự mình hoặc theo đề nghị của Hội đồng dântộc, các Uỷ ban của Quốc hội hoặc đại biểu Quốc hội huỷ bỏ một phần hay toàn
bộ Quyết định của Thủ tướng Chính phủ trái với Pháp lệnh và Nghị quyết của
Uỷ ban thường vụ Quốc hội; đình chỉ việc thi hành một phần hay toàn bộ Quyếtđịnh của Thủ tướng Chính phủ trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội
và trình Quốc hội quyết định việc hủy bỏ một phần hay toàn bộ văn bản đó
+ Đối với Thông tư của Bộ, cơ quan ngang Bộ: Tùy theo tính chất và
nội dung của dự thảo, dự thảo Thông tư được gửi lấy ý kiến của Bộ, cơ quanngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có liên quan
Trang 13Tổ chức pháp chế của Bộ, cơ quan ngang bộ có trách nhiệm thẩm định dựthảo Thông tư và có trách nhiệm tham gia ý kiến bằng văn bản trước khi trìnhBộ.
Thủ tướng Chính phủ trong nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền
“xem xét, quyết định bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ trái với Hiến pháp, luật
và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan Nhà nước cấp trên” (khoản 2,
điều 90, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008)
1.2.2 Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với tổ chức và hoạt động của Chính phủ
Hoạt động giám sát tối cao đối với tổ chức và hoạt động của Chính phủ có
ý nghĩa đặc biệt quan trọng Thông qua giám sát tối cao mà góp phần làm choChính phủ mạnh, tính pháp quyền của hành pháp được giữ vững, hạn chế đượccác biểu hiện tiêu cực, tham nhũng trong bộ máy hành pháp, hoạt động này cũngphù hợp với quan niệm của nhiều nước rằng “ giám sát của Quốc hội trước hết làgiám sát Chính phủ”
Về mặt tổ chức của Chính phủ: Với tư cách là cơ quan quyền lực
Nhà nước cao nhất, Quốc hội có quyền quy định tổ chức và hoạt động của Chínhphủ già giám sát hoạt đông của Chính phủ Chính phủ được tổ chức theo môhình nào, nguyên tắc tổ chức và hoạt động ra sao đều do Quốc hội xem xét quyếtđịnh và ghi nhận trong Hiến pháp đạo luật cơ bản của Nhà nước và thể chế hoátrong Luật tổ chức Chính phủ Cụ thể:
+ Quốc hội xem xét, quyết định và giám sát việc thành lập các Bộ, cơquan ngang Bộ; thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới các Tỉnh, Thànhphố trực thuộc trung ương và giám sát việc thành lập các cơ quan quyền lực và
cơ quan quản lý mới ở các địa phương đó
+ Ngoài quy định chung về tổ chức của Chính phủ, Quốc hội còn thamgia vào việc bầu Thủ tướng Chính phủ theo đề nghị của Chủ tịch nước, xem xét
và phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ đối với các phó Thủ tướng, Bộ
Trang 14trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ để Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm,cách chức, theo quy định của Hiến pháp và Luật Tổ chức Chính phủ hiện hành,Quốc hội còn có quyền bỏ phiếu tín nhiệm đối với các thành viên của Chínhphủ (các chức danh do Quốc hội bầu và phê chuẩn) bảo đảm tăng cường chấtlượng hoạt động của Chính phủ nói chung, ý thức trách nhiệm, hiệu quả côngtác của các thành viên Chính phủ trong suốt nhiệm kỳ hoạt động cụ thể đó làtrách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủtịch nước; trách nhiệm của các thành viên trước Chính phủ và Quốc hội.
Như vậy, quyền giám sát của Quốc hội, chế độ chịu trách nhiệm củaChính phủ trước Quốc hội là thể hiện tập trung nhất nguyên tắc kiểm soátquyền lực trong việc tổ chức, thực hiện quyền lực Nhà nước Theo tinh thần đó,một mặt quyền lực Nhà nước cần phải được phân công một cách rõ ràng, bảođảm cho mỗi chủ thể thực hiện quyền lực Nhà nước đều được phân công, đượcthực hiện đầy đủ, tập trung quyền lực của mình Mặt khác, cần phải có nhữngbiện pháp cơ chế kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện quyền lực đó nhằm bảođảm cho quyền lực Nhà nước được thực hiện đầy đủ và đúng đắn; đồng thờihạn chế những vi phạm, lạm quyền trong việc tổ chức thực hiện quyền lực Nhànước từ phía chủ thể đó
Về phương diện hoạt động của Chính phủ: Pháp luật quy định
Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Bộmáy Nhà nước, trong đó có Chính phủ Chế độ chịu trách nhiệm của Chính phủtrước Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội được thực hiện thông qua cơ chếgiám sát được quy định trong Hiến pháp và Luật tổ chức Chính phủ, theo đóChính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốchội, Uỷ ban thường vụ Quốc hộ và Chủ tịch nước về công tác chấp hành, điềuhành của mình
Để thực hiện chức năng giám sát của mình, Quốc hội còn giao cho Uỷ banthường vụ Quốc hội giám sát hoạt động của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ,đình chỉ việc thi hành các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, đình
Trang 15chỉ việc thi hành các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trái với Hiếnpháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội quyết định việc huỷ bỏcác văn bản đó, huỷ bỏ văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trái vớipháp lệnh, Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hộ (điều 91 - Hiến pháp1992).
Nội dung giám sát của Quốc hội đối với Chính phủ trước hết bao hàm chế
độ trách nhiệm tập thể Chính phủ và các thành viên Chính phủ trước Quốc hội
Là cơ quan chấp hành của Quốc hội, Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội
và báo cáo công tác với Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịchnước Thành viên của Chính phủ có thể bị bãi nhiệm, miễn nhiệm, cách chức vàQuốc hội cũng có thể tiến hành bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh củaChính phủ (do Quốc hội bầu và phê chuẩn)
Thực hiện quyền giám sát tối cao đối với tổ chức, hoạt động của Chínhphủ, Quốc hội và các cơ quan thuộc Quốc hội tiến hành các hoạt động sau:
- Tại kỳ họp cuối năm của Quốc hội, Quốc hội nghe và thảo luận các báocáo của Chính phủ về việc thực hiện nhiệm vụ thuộc lĩnh vực Hành pháp Saukhi nghe báo cáo thẩm tra của các cơ quan thuộc Quốc hội (do Quốc hội phâncông) các đại biểu Quốc hội có thể chất vấn, yêu cầu Thủ tướng và các thànhviên Chính phủ trả lời, làm rõ Tại kỳ họp đầu năm, Chính phủ gửi báo cáo côngtác tới các đại biểu Quốc hội Trong thời gian giữa hai kỳ họp của Quốc hội, tạicác phiên họp của mình, Uỷ ban thường vụ Quốc hội nghe và thảo luận về báocáo công tác của Chính phủ về công tác quản lý hành chính Nhà nước trên cáclĩnh vực của đời sống xã hội trên phạm vi toàn quốc, đặc biệt là hoạt động điềutra, thi hành án, tổ chức thực hiện pháp luật….Uỷ ban thường vụ Quốc hội cũng
có thể nghe Chính phủ báo cáo về những vấn đề cụ thể trong hoạt động củaChính phủ mà Uỷ ban thường vụ Quốc hội quan tâm
Như vậy, Chính phủ với tư cách là chủ thể chịu trách nhiệm chính trongviệc tổ chức, triển khai việc thực hiện Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốchội, Nghị quyết pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội….thông qua giám sát
Trang 16của Quốc hội bảo đảm để Chính phủ hoạt động trong phạm vi giới hạn do luậtđịnh Cụ thể:
* Đối với tập thể Chính phủ:
- Hoạt động giám sát của Quốc hội, bảo đảm hoạt động của Chính phủtrong phạm vi, giới hạn do luật định (Điều 112, Hiến pháp 1992) Như vậy, cóthể thấy rằng theo quy định của Hiến pháp Quốc hội quy định cho Chính phủđược làm những gì và không được làm những gì? Trong quá trình thực hiệnnhiệm vụ, quyền hạn của mình, Chính phủ luôn chịu sự giám sát của Quốc hội,thông qua hoạt động giám sát đó giúp Quốc hội có thể xem xét, đánh giá mộtcách chuẩn xác hơn đối với Chính phủ
- Trong mối quan hệ của Chính phủ với Quốc hội so với các thiết chếquyền lực Nhà nước khác ở trung ương như: Chủ tịch nước, Toà án nhân dân tốicao, viện kiểm sát nhân dân tối cao.Việc quy định “Chính phủ là cơ quan chấphành của Quốc hội” là thể hiện mối quan hệ giữa Chính phủ với cơ quan quyềnlực nhà nước cao nhất, là phản ánh tính thống nhất trong tổ chức quyền lực củanhà nước ta theo chiều ngang Còn nói Chính phủ là cơ quan hành chính nhànước cao nhất là đề cập mối quan hệ của Chính phủ trong hệ thống hành chínhnhà nước, phản ánh tính thống nhất theo chiều dọc Tuy nhiên, tính chất chấphành chưa phản ánh đầy đủ và chính xác vị trí, vai trò của Chính phủ với tư cách
là cơ quan nắm giữ chủ yếu quyền hành pháp trong mối quan hệ với cơ quan lậppháp và cơ quan tư pháp Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, nhưngtrong quan hệ với cơ quan lập pháp, Chính phủ có vai trò độc lập tương đối và lànhân tố thúc đẩy hoạt động (là động cơ) của các hoạt động lập pháp trên nhiềuphương diện, đặc biệt là trong công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống phápluật, phương diện hoạt động chủ yếu của Quốc hội (Chính phủ là cơ quan chủ trì
và trình Quốc hội trên 95% các dự án luật, pháp lệnh)
* Đối với cá nhân Thủ tướng:
- Quốc hội giám sát tổ chức và hoạt động của Chính phủ nhằm đảm bảohoạt động của Thủ tướng Chính phủ trong phạm vi giới hạn do Luật định (Điều
Trang 17114, Hiến pháp 1992 ) Cũng như phạm vi, giới hạn luật định đối với Chính phủ,Thủ tướng Chính phủ trong phạm vi, giới hạn cho phép có quyền được làmnhững gì? Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình Chính phủ luôn chịu sựgiám sát của Quốc hội
- Trong mối quan hệ của Thủ tướng Chính phủ với Chính phủ, Quốc hội,
Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước Với tư cách là người đứng đầuChính phủ, Thủ tướng Chính phủ có quyền triệu tập và chủ trì các phiên họp củaChính phủ; chủ trì chuẩn bị các quyết định của Tập thể Chính phủ, mà sản phẩmchủ yếu là các Nghị định Chính phủ chứa đựng các quyết định về chính sách.Tuy là người đứng đầu, nhưng Thủ tướng cũng chỉ là một thành viên của Chínhphủ - một thành viên có đặc quyền quyết định khi biểu quyết của Tập thể Chínhphủ có số phiếu ngang nhau Thủ tướng Chính phủ lãnh đạo và điều hành côngtác của Chính phủ, các thành viên Chính phủ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính
phủ Theo quy định tại Điều 4 của Luật Tổ chức Chính phủ "Thủ tướng chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác với Quốc hội, Uỷ ban thường
vụ Quốc hội, Chủ tịch nước" Như vậy, Thủ tướng không phải chịu trách nhiệm
trước Tập thể Chính phủ, tức là quan hệ giữa Thủ tướng với Tập thể Chính phủkhông phải là mối quan hệ tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách Đương nhiên, làmột thành viên như các thành viên khác, Thủ tướng có trách nhiệm chấp hànhcác quyết định của Tập thể Chính phủ mà chỉ chịu trách nhiệm trước Quốc hội
mà thôi
Thủ tướng đứng đầu Chính phủ còn với tư cách là người đứng đầu hệthống cơ quan hành pháp và hành chính nhà nước, có vai trò lãnh đạo, điều hànhhoạt động của toàn bộ hoạt động của bộ máy hành chính từ Trung ương đến cơ
sở để thực hiện các quyết định của Quốc hội và của Tập thể Chính phủ Do vậy,quan hệ giữa Thủ tướng với các thủ trưởng các bộ, ngành và với Chủ tịch Uỷban nhân dân các cấp là quan hệ trên dưới theo chế độ thủ trưởng
Trang 18Như vậy, thông qua hoạt động giám sát của Quốc hội đối với tổ chức vàhoạt động của Chính phủ giúp Quốc hội:
+ Xem xét đánh giá năng lực, trình độ của các thành viên Chính phủ(chức danh do Quốc hội bầu và phê chuẩn gồm: Thủ tướng Chính phủ, các PhóThủ tướng, các Bộ trưởng và thủ trưởng cơ quan ngang bộ)
+ Đề cao trách nhiệm của các thành viên Chính phủ trong nhiệm kỳ hoạtđộng, thông qua việc bỏ phiếu tín nhiệm của Quốc hội (khoản 7, Điều 84 Hiếnpháp 1992) cũng như để Quốc hội thực hiện quyền: bầu, bãi nhiệm, miễn nhiệm,phê chuẩn đối với các thành viên Chính phủ
1.3 Các hình thức thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội đối với Chính phủ
Giám sát tối cao toàn bộ hoạt động của hoạt động Nhà nước nói chung,giám sát đối với Chính phủ nói riêng là một chức năng hiến định của Quốc hộinước ta, xuất phát từ vị trí, tính chất của Quốc hội do luật định Do đó, quyềngiám sát tối cao của Quốc hội chỉ có thể được thực hiện tại các kỳ họp của Quốchội, nơi thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân thông qua các đại biểu donhân dân cả nước bầu ra và trao quyền Theo quy định của Hiến pháp 1992, Luật
Tổ chức Quốc hội năm 2001 và Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội Quốchội khi thực hiện quyền giám sát tối cao đối với Chính phủ thông qua cácphương thức sau:
1.3.1 Quốc hội xem xét báo cáo công tác của Chính phủ tại kỳ họp Quốc hội
Quốc hội xem xét báo cáo của Chính phủ tại kỳ họp Quốc hội là một nộidung quan trọng trong toàn bộ hoạt động giám sát của Quốc hội Đối tượnggiám sát của Quốc hội là trách nhiệm của Chính phủ
Tại các kỳ họp của Quốc hội, Quốc hội nghe, xem xét và thảo luận cácbáo cáo công tác của Chính phủ Tại kỳ họp giữa năm, Chính phủ phải gửi báocáo công tác 6 tháng đầu năm đến các đại biểu Quốc hội để xem xét cho ý kiến;
Trang 19khi xét thấy cần thiết, Quốc hội có thể xem xét, thảo luận Tại kỳ họp cuốinhiệm kỳ, Quốc hội xem xét báo cáo công tác nhiệm kỳ của Chính phủ.
Để có cơ sở vững chắc khi xem xét báo cáo công tác của Chính phủ, theoquy định của Chủ tịch Quốc hội hoặc người điều khiển kỳ họp, báo cáo củaChính phủ có thể gửi đến các uỷ ban hữu quan của Quốc hội thẩm tra, nghiêncứu trước Trên cơ sở ý kiến tham gia thảo luận báo cáo của các thành viên, uỷban báo cáo thuyết trình thẩm tra trước Quốc hội
Như vậy, đây là phương thức thực hiện nội dung giám sát việc tổ chức vàthực hiện Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội thông qua các hoạt độngthực tiễn của Chính phủ dưới sự điều hành của Thủ tướng
Việc xem xét, thảo luận các báo cáo hàng năm hoặc giữa năm tại các kỳhọp của Quốc hội được tiến hành theo một trình tự chặt chẽ do luật định, trong
đó phải có thẩm tra, phản biện, thảo luận, tranh luận của các cơ quan của Quốchội và đại biểu Quốc hội đối với Chính phủ và các thành viên khác của Chínhphủ
Thông qua việc xem xét, thảo luận các báo cáo của các cơ quan này Quốchội nắm được thông tin đầy đủ, chính xác và toàn diện về các mặt hoạt động của
cơ quan Nhà nước Trên cơ sở đó, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyềnhạn của các cơ quan này theo Hiến pháp, pháp luật và Nghị quyết của Quốc hội.Chính vì vậy, để việc xem xét đánh giá của Quốc hội có chất lượng yêu cầu cácbáo cáo của các cơ quan trình Quốc hội phải đầy đủ, khách quan, nêu đúng thựctrạng của tình hình, những kết quả đã đạt được, những khó khăn, yếu kém còntồn tại, từ đó đề ra được những biện pháp giải quyết
1.3.2 Quốc hội xem xét các đề nghị của các cơ quan thuộc Quốc hội, Đại biểu Quốc hội về các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trái với Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội.
Trang 20Đây là phương thức để thực hiện nội dung giám sát tính hợp hiến, hợppháp của các văn bản quy phạm pháp luật do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủban hành.
Để phương thức giám sát này được phát huy tại các kỳ họp của Quốc hộiđòi hỏi các cơ quan của Quốc hội (Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dântộc, các uỷ ban chuyên trách và đại biểu phải thường xuyên thực hiện tốt quyềngiám sát theo thẩm quyền để có các đề nghị kịp thời tại kỳ họp của Quốc hội
Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội phải quy định quyền và nghĩa vụgiám sát các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủđối với các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội, đồng thời quy định cụthể các chủ thể có quyền đề nghị Quốc hội xem xét văn bản của Chính phủ, Thủtướng Chính phủ khi có dấu hiệu trái với Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốchội Có như vậy, quyền giám sát tối cao của Quốc hội đối với hoạt động lập quycủa Chính phủ mới có hiệu lực thực tế
1.3.3 Quốc hội xem xét chất vấn và trả lời chất vấn đối với các thành viên của Chính phủ
Chất vấn là một trong những hình thức giám sát của Quốc hội đối vớiChính phủ, là quyền quan trọng của đại biểu Quốc hội được Hiến pháp quy định.Chất vấn tuy là quyền cá nhân của đại biểu Quốc hội nhưng khi thực hiện quyềnnày thì nó đựoc coi là một trong những hoạt động giám sát của Quốc hội Tronghoạt động của Quốc hội, chất vấn là khái niệm có ngoại vi rộng tạm gọi là sự
“đối thoại mang tính quyền lực”
Điều 98 Hiến pháp 1992 quy định: “Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ ”
và được cụ thể hóa tại điều 49 Luật tổ chức Quốc hội 2001 quy định:
“Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Thủ tướng Chính phủ và các thành viên của Chính phủ Người bị chất vấn có trách nhiệm trả lời những vấn đề mà đại biểu Quốc hội chất vấn.
Trang 21Trong thời gian Quốc hội họp, đại biểu Quốc hội gửi chất vấn đến Chủ tịch Quốc hội Người bị chất vấn có trách nhiệm trả lời trước Quốc hội tại kỳ họp đó Trong trường hợp cần điều tra thì Quốc hội có thể quyết định cho trả lời trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc tại kỳ họp sau của Quốc hội hoặc cho trả lời bằng văn bản.
Trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội, chất vấn được gửi đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội để chuyển đến cơ quan hoặc nguời bị chất vấn và quyết định thời hạn trả lời chất vấn.
Nếu đại biểu Quốc hội không đồng ý với nội dung trả lời thì có quyền đề nghị Chủ tịch Quốc hội đưa ra thảo luận trước Quốc hội hoặc Uỷ ban thường
về việc trả lời chất vấn và trách nhiệm của người bị chất vấn
Trang 22Chất vấn, với tư cách là một hình thức giám sát của Quốc hội, được phânbiệt với các hình thức khác chủ yếu ở bản chất, mục đích, thủ tục và hậu quả củanó.
Về bản chất, chất vấn là một hình thức được Quốc hội áp dụng để giámsát hoạt động của các cơ quan và cá nhân được giao quyền, là sự thể hiện cụ thể,trực tiếp quyền giám sát tối cao của Quốc hội Các đại biểu Quốc hội khi thựchiện quyền chất vấn của mình là nhân danh cá nhân với tư cách là người đại diệnquyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân yêu cầu cá nhân bị chất vấn trả lời
về trách nhiệm pháp lý của cá nhân đó về những việc làm có đúng với chứcnăng, nhiệm vụ quyền hạn theo luật định hay không
Theo quy định của pháp luật thì chất vấn là quyền của cá nhân đại biểuQuốc hội, khi thực hiện chất vấn đại biểu Quốc hội độc lập là người đại diện chonhân dân, thay mặt nhân dân, nhân danh quyền lực tối cao của nhân dân chứkhông phải nhân danh một cơ quan, tổ chức hay đoàn đại biểu Quốc hội màmình là thành viên
Đại biểu Quốc hội khi thực hiện hoạt động chất vấn không phải nhằmmục đích thu thập thông tin hay số liệu mà nhằm làm rõ trách nhiệm của cá nhân
có trách nhiệm đối với một vấn đề nào đó Đây chính là điều cơ bản để phân biệtchất vấn với câu hỏi thưòng Trên thực tế chất vấn cũng có thể được thể hiệndưới dạng câu hỏi nhưng mục đích của chất vấn và câu hỏi thường khác nhau,việc hỏi và yêu cầu trả lời những vấn đề mà đại biểu Quốc hội quan tâm (haycòn gọi là câu hỏi thường) nhằm thu thập thông tin, số liệu về các vấn đề nàocần biết thì trước khi đặt câu hỏi hầu như chưa có thông tin về vấn đề mà mìnhhỏi Loại câu hỏi thường phụ thuộc vào nhu cầu nắm bắt thông tin của đại biểuQuốc hội chứ không được quy định trong bất kỳ văn bản pháp luật nào và cũngkhông bị hạn chế đối với bất kỳ đối tượng nào Còn đối với chất vấn, trước khinêu vấn đề đại biểu Quốc hội phải tìm hiểu rất kỹ và nắm nhiều thông tin về vấn
đề mà mình chất vấn, vấn đề làm rõ trách nhiệm của cá nhân có thẩm quyền đối
Trang 23với một vấn đề nào đó Chất vấn được quy định rất rõ ràng trong Hiến pháp vàcác văn bản pháp luật khác, đối tượng chất vấn cũng được chỉ ra cụ thể trongmột phạm vi nhất định Vấn đề chất vấn khi đã được lên theo đúng thể thức củaPháp luật, chuyển đến người bị chất vấn thì không còn là mối quan hệ cá nhângiữa người bị chất vấn và người chất vấn mà đã trở thành một hình thức giám sátcủa Quốc hội.
Người bị chất vấn phải trả lời những vấn đề mà đại biểu Quốc hội quantâm, để chất vấn và trả lời chất vấn trở thành một phương thức thực hiện quyềngiám sát tối cao, tại kỳ họp Quốc hội phải xem xét việc trả lời chất vấn của Thủtướng Chính phủ hoặc các thành viên khác của Chính phủ Qua đó, giúp Quốchội đánh giá năng lực, trình độ trách nhiệm của các thành viên Chính phủ thôngqua việc trả lời chất vấn Đồng thời là cơ sở, căn cứ để các đại biểu Quốc hộithực hiện các quyền như kiến nghị với Ủy bản thường vụ Quốc hội xem xéttrình Quốc hội việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ doQuốc hội bầu hoặc phê chuẩn
Như vậy, theo quy định của Hiến pháp, Luật Tổ chức Quốc hội các cơquan của Quốc hội có quyền giám sát tổ chức và hoạt động của Chính phủ; cóquyền yêu cầu bỏ phiếu tín nhiệm đối với các thành viên của Chính phủ thì cũng
có quyền chất vấn thành viên Chính phủ với tư cách là cơ quan của Quốc hộinhằm hỗ trợ cho quyền chất vấn của cá nhân đại biểu Quốc hội, đồng thời gópphần nâng cao chất lượng, giá trị và hiệu lực của hoạt động chất vấn
1.3.4 Thành lập Uỷ ban lâm thời trong trường hợp cần thiết để điều tra một vấn đề nhất đinh liên quan đến hoạt động của Chính phủ
Điều 23 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001, và khoản 5, điều 7 Luật hoạt
động giám sát 2003 quy định: “ Khi xét thấy cần thiết, Quốc hội thành lập Uỷ ban lâm thời để nghiên cứu, thẩm tra một dự án hoặc điều tra về một vấn đề nhất định”.
Trang 24Theo quy định nêu trên có thể thấy rằng: Quốc hội có quyền thành lập Uỷban lâm thời để giải quyết các công việc liên quan đến hoạt động của Chính phủnhư:
+ Một là để nghiên cứu, thẩm tra dự án Luật
+ Hai là để điều tra một vấn đề nhất định mà hậu quả có thể dẫn đến bỏphiếu tín nhiệm Vì vậy, Quốc hội chỉ thành lập Uỷ ban lâm thời khi có yêu cầucủa ít nhất 20% tổng số đại biểu Quốc hội, hoặc kiến nghị của ít nhất 2/3 tổng sốthành viên Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban chuyên trách của Quốc hội
Ngoài những chủ thể có quyền đề nghị trên, Chính phủ với tư cách là đốitượng bị giám sát tối cao cũng có quyền đề nghị Quốc hội thành lập Uỷ ban lâmthời để điều tra làm rõ những hoạt động liên quan đến Chính phủ nói chung vàcác thành viên của Chính phủ nói riêng
1.3.5 Hậu quả pháp lý của hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội đối với Chính phủ
Theo quy định của pháp luật hiện hành, hoạt động giám sát tối cao củaQuốc hội đối với Chính phủ dẫn đến những hậu quả pháp lý sau:
+ Đình chỉ, huỷ bỏ những văn bản do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủban hành trái với Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh và Nghị quyết của Quốc hội hay
Uỷ ban thường vụ Quốc hội;
+ Bãi nhiệm, miễn nhiệm các chức vụ Thủ tướng Chính phủ; Phê chuẩn
đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bãi nhiệm, miễn nhiệm các thành viênkhác của Chính phủ
Đó là kết quả của hoạt động giám sát tối cao thể hiện ý chí của Quốc hộibằng một hình thức văn bản gọi là Nghị quyết và được thể hiện rõ thông quahình thức và nội dung:
Trang 25+ Về hình thức: Hậu quả pháp lý của giám sát tối cao bao giờ cũng phải
tồn tại dưới dạng văn bản (Nghị quyết) do Quốc hội biểu quyết thông qua tại kỳhọp, theo thể thức quá bán hoặc ít nhất 2/3, tuỳ theo nội dung thông qua
+ Về nội dung: Hậu quả pháp lý của giám sát tối thể hiện trong văn bản
Nghị quyết của Quốc hội phải chứa đựng những hậu quả pháp lý phù hợp vớiHiến pháp và Luật Tổ chức Quốc hội Vì vậy, hậu quả pháp lý của giám sát tốicao bao gồm:
- Một Nghị quyết về bỏ phiếu tín nhiệm đối với các thành viên Chính phủ;
- Một nghị quyết thể hiện sự đánh giá của Quốc hội về trách nhiệm vànăng lực các thành viên Chính phủ;
- Một nghị quyết bãi bỏ một phần hay toàn bộ văn bản quy phạm phápluật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trái với Hiến pháp, Luật, Nghị quyếtcủa Quốc hội;
- Một Nghị quyết về việc yêu cầu Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ banhành văn bản hướng dẫn quy định chi tiết hướng dẫn giải quyết một vụ việc cụthể để thi hành Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội
Như vậy, giám sát tối cao được hiểu là quyền hạn và nhiệm vụ của Quốchội xem xét hoạt động của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các thành viênkhác của Chính phủ trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trong cáchoạt động thực tiễn về tổ chức và thực hiện Hiến pháp, Luật, Nghị quyết củaQuốc hội; về năng lực, trình độ và trách nhiệm của các thành viên Chính phủ(đối tượng do Quốc hội bầu và phê chuẩn ) bằng các phương thức giám sát doluật định được tiến hành tại các kỳ họp Quốc hội và căn cứ vào kết quả giám sát,Quốc hội xác định các hậu quả pháp lý phù hợp với nội dung giám sát thể hiệndưới hình thức văn bản đó là Nghị quyết, một trong ba loại hình văn bản thuộcthẩm quyền ban hành của Quốc hội xuất phát từ vị trí, tính chất của Quốc hội
Trang 26CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI ĐỐI VỚI CHÍNH PHỦ VÀ CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ GIÁM
SÁT CỦA QUỐC HỘI ĐỐI VỚI CHÍNH PHỦ
2.1 Thực trạng hoạt động giám sát của Quốc hội đối với văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ và các giải pháp tăng cường hiệu quả
Quyền giám sát văn bản pháp luật của Quốc hội xuất phát từ vị trí của
Quốc hội trong bộ máy Nhà nước: “là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước; Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội” (Điều 83, Điều 84 Hiến pháp 1992).
Như vậy, chỉ có Quốc hội mới có quyền giám sát tối cao đối với tất cả cáclĩnh vực hoạt động của Nhà nước, Chính phủ với vị trí, tính chất là cơ quan chấphành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam (điều 109, Hiến pháp 1992), trong hoạt động củamình phải chịu sự giám sát của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chủtịch nước Ngoài ra, Quốc hội có quyền giám sát đối với toàn bộ văn bản phápluật nói chung (trong đó bao gồm cả văn bản quy phạm pháp luật cũng như vănbản áp dụng pháp luật); kể cả khi soạn thảo cũng như thi hành, tuy nhiên có sựphân công và uỷ quyền theo từng cấp độ của loại hình văn bản
Quốc hội có quyền giám sát tối cao đối với Nghị định của Chính phủ;quyết định của Thủ tướng Chính phủ bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tínhthống nhất của hệ thống văn bản pháp luật Giám sát tính hợp hiến, hợp pháp,tính thống nhất của văn bản pháp luật thể hiện theo nguyên tắc sau:
- Hiến pháp là Luật cơ bản của Nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất;
- Văn bản pháp luật khác khi ban hành phải phù hợp với Hiến pháp, đúngthứ bậc hiệu lực pháp lý trong hệ thống pháp luật;