1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LỊCH sử TRIẾT học tây âu THỜI PHỤC HƯNG cận đại là LỊCH sử tìm KIẾM NHỮNG PHƯƠNG PHÁP HIỆU QUẢ để CHỈ đạo HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC và THỰC TIỄN CHO GIAI cấp tư sản

27 1,3K 16

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lịch sử triết học tây âu thời phục hưng - cận đại là lịch sử tìm kiếm những phương pháp hiệu quả để chỉ đạo hoạt động nhận thức và thực tiễn cho giai cấp tư sản
Tác giả Tống Thị Hương
Người hướng dẫn TS. Bùi Văn Mưa
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại Báo cáo tiểu luận
Năm xuất bản 2010
Thành phố TP Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 290,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về khoa học: Do đòi hỏi của thực tiễn sản xuất vật chất, các ngành khoa học tự nhiên bắt đầu phát triển và đây cũng là thời kỳ gặt hái bội thu về các thành tựu khoa học kỹ thuật như sử d

Trang 1

BÁO CÁO TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC

Đề tài 11

LỊCH SỬ TRIẾT HỌC TÂY ÂU THỜI PHỤC HƯNG - CẬN ĐẠI LÀ LỊCH SỬ TÌM KIẾM NHỮNG PHƯƠNG PHÁP HIỆU QUẢ ĐỂ CHỈ ĐẠO HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC VÀ HOẠT ĐỘNG THỰC TIỄN CHO GIAI CẤP TƯ SA ÛN

GVHD : TS BÙI VĂN MƯA SVTH : TỐNG THỊ HƯƠNG

Tháng O3/2010

NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANHKHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

Trang 2

I TRIẾT HỌC TÂY ÂU THỜI PHỤC HƯNG (THẾ KỶ XV - XVI) 1

I.1 Tiền đề kinh tế, chính trị - xã hội và khoa học [1,4] 1

I.2 Đặc điểm của Triết học thời phục hưng [1,2] 2

I.2.1 Triết học thời kỳ này là vũ khí lý luận của giai cấp tư sản trong cuộc đấu tranh chống phong kiến và giáo hội 2

I.2.2 Tư tưởng của các nhà triết học phục hưng có tính hai mặt: 2

I.2.3 Triết học thời kỳ này gắn liền với vấn đề nâng cao giá trị khát vọng giải phóng con người 3

I.2.4 Triết học thời kỳ này là những tư tưởng xã hội học thấm nhuần chủ nghĩa nhân văn 3

I.3 Một số triết gia tiêu biểu [1, 2] 3

I.3.1 Nicolas Copernicus (còn được ghi là Copernide) (1473 -1543) 3

I.3.2 Leonardo Da Vinci (1452 -1519) 3

I.3.3 Giordano Filippo Bruno (1548 – 1600) 4

I.3.4 Galiléo Galilée (1564 – 1642) 5

II TRIẾT HỌC TÂY ÂU THỜI KỲ CẬN ĐẠI (THẾ KỶ XVII - XVIII) 6 II.1 Tiền đề kinh tế, chính trị - xã hội, khoa học [1, 2, 4] 6

II.2 Đặc điểm của Triết học Tây Âu thời cận đại [1, 2, 4] 7

II.2.1 Ngọn cờ lý luận của giai cấp tư sản 7

II.2.2 Liên minh giữa triết học và khoa học tự nhiên 8

II.2.3 Triết học duy vật thế kỷ XVII – XVIII chịu ảnh hưởng nặng nề sự thống trị của phương pháp siêu hình .8

II.2.4 Triết học duy vật thế kỷ XVII – XVIII là triết học duy vật không triệt để 9

II.2.5 Triết học Tây Âu thời Cận đại đặc biệt quan tâm đến những vấn đề về nhận thức và phương pháp luận 9

II.2.6 Tư tưởng nhân văn, khai sáng 10

II.3 Một số trường phái tiêu biểu [1, 2, 3, 4] 11

II.3.1 Triết học của Francis Bacon (1561-1626) – cơ sở của Chủ nghĩa Duy vật Kinh nghiệm Anh 11

Trang 3

II.3.3 Chủ nghĩa duy tâm chủ quan - bất khả tri 14II.4 Triết học khai sáng và chủ nghĩa duy vật chiến đấu Pháp 16II.4.1 Tư tưởng duy vật tự nhiên của Charler Luis Secondat

Montesquieu (1689 – 1755) 17II.4.2 Tư tưởng duy vật về lịch sử nhân loại của Jean – Jacque

Rousseau (1712 – 1778) 18II.4.3 Tư tưởng duy vật chiến đấu của Denis Diderot (1713 – 1784) 21

TÀI LIỆU THAM KHẢO 24

Trang 4

LỊCH SỬ TRIẾT HỌC TÂY ÂU THỜI PHỤC HƯNG - CẬN

ĐẠI LÀ LỊCH SỬ TÌM KIẾM NHỮNG PHƯƠNG PHÁP HI ỆU

QUẢ ĐỂ CHỈ ĐẠO HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC VÀ THỰC

TIỄN CHO GIAI CẤP TƯ SẢN

I TRIẾT HỌC TÂY ÂU THỜI PHỤC H ƯNG (THẾ KỶ XV - XVI)

I.1 Tiền đề kinh tế, chính trị - xã hội và khoa học [1,4]

Thời kì Phục hưng của các nước Tây Âu là giai đoạn lịch sử quá độ từ x ã hội phongkiến sang xã hội tư bản (thế kỷ XV - XVI) Tính chất quá độ đó biểu hiện tr ên tất cảcác mặt của đời sống kinh tế, chính trị - xã hội, văn hoá tư tưởng thời kì này

Về kinh tế: Bắt đầu từ thế kỉ XV, ở Tây Âu, chế độ phong kiến với nền sản xuất

nhỏ và các đạo luật hà khắc Trung cổ đã bước vào thời kì tan rã Thời kì phục hưng làgiai đoạn quá độ của Phương thức sản xuất Tư bản chủ nghĩa Đây là thời kỳ tích luỹ tưbản đầu tiên được mở rộng Người nông dân bị đuổi ra khỏi ruộng đất của họ, bạo lực của

kẻ cường quyền đã tách người lao động ra khỏi tư liệu sản xuất Nhiều công trường thủcông xuất hiện, ban đầu ở Italia, sau đó lan sang Anh, Pháp và các nư ớc khác, thay thếcho nền kinh tế tự nhiên kém phát triển.Các công trường thủ công dần dần át cách làm

ăn kiểu phường hội phong kiến

Những phát kiến về đ ường biển, tìm ra những miền đất mới, phát hiện ra châuMỹ càng tạo điều kiện phát triển cho nền sản xuất theo h ướng tư bản chủ nghĩa

Thương mại, thị trường trao đổi hàng hoá giữa các nước được mở rộng; giao lưu quốc

tế được tăng cường, nhờ đó mà các nước phát triển sớm nh ư Anh, Pháp, Tây BanNha thi nhau xâm chi ếm thuộc địa để mở rộng việc khai thác thi ên nhiên và thị

trường tiêu thụ hàng hoá

Về chính trị - xã hội: Chế độ phong kiến với nền sản xuất nhỏ và các đạo luật hà khắc

của nó đã bước vào giai đoạn lụi tàn Phong trào chống phong kiến của nông dân, thợ thủcông trào dâng khắp Châu Âu Giai cấp tư sản trở thành kẻ đồng minh Người ta khôngchỉ đòi xoá bỏ đặc quyền, đặc lợi của giai cấp phong kiến, những chướng ngại trên con

đường phát triển theo xu hướng TBCN mà còn chĩa mũi nhọn vào giáo hội La Mã, thành

luỹ tinh thần của chế độ phong kiến Đặc điểm của phong trào đã ảnh hưởng đến toàn bộcuộc đấu tranh tư tưởng lúc bấy giờ, bao gồm cả sự phát triển của triết học Thế giới quancủa giai cấp tư sản thể hiện dưới hình thức duy vật và vô thần này càng rõ nét

Đồng thời với sự phát triển của sản xuất v à thương nghiệp, trong xã hội Tây Âu

thời kì này, sự phân hoá giai cấp ngày càng rõ rệt Giai cấp tư sản xuất hiện gồm cácchủ xưởng công trường thủ công, xưởng thợ, thuyền buôn Vai tr ò và vị trí của họtrong kinh tế và xã hội ngày càng lớn Trong khi người nông dân do không còn ruộng

Trang 5

đất phải ra thành phố kiếm kế sinh nhai bằng cách làm thuê cho các công trư ờng, xưởng

thợ Họ là tiền thân của giai cấp vô sản sau này Các tầng lớp xã hội trên đại diện chomột nền sản xuất mới, c ùng với nông dân đấu tranh chống chế độ phong kiến đang suytàn

Về khoa học: Do đòi hỏi của thực tiễn sản xuất vật chất, các ngành khoa học tự nhiên

bắt đầu phát triển và đây cũng là thời kỳ gặt hái bội thu về các thành tựu khoa học kỹ thuật

như sử dụng năng lượng nước, dệt, khai mỏ, luyện kim, chế tạo vũ khí, in ấn, hàng hải…

Chẳng hạn với việc sử dụng năng lượng nước đã cho phép thay thế dần sức người và sứcsúc vật trong sản xuất

Chính sự phát triển của khoa học tự nhiên và kỹ thuật đã trở thành chỗ dựa vững chắccho giai cấp tư sản trong cuộc đấu tranh chống thần học và chủ nghĩa duy tâm

I.2 Đặc điểm của Triết học thời phục hưng [1,2]

Những tư tưởng triết học, những phát kiến khoa học của thời cổ đại được khôiphục và phát triển Các nhà tư tưởng tiên tiến của thời đại phục hưng đặc biệt dươngcao ngọn cờ nhân văn Họ xem con người là đối tượng nghiên cứu của triết học, những

tư tưởng tốt đẹp về con người của Protagore, Xocrate…tr ở thành tiền đề lý luận choước mơ giải phóng con người Các giá trị toán học của Talet, hình học của Euclide,

những yếu tố duy vật trong triết học của Epicure, cũng được xem xét và ghi nhận thoả

lí của triết học kinh viện Vì vậy, nhiều nhà tư tưởng tiến bộ đã bị giáo hội sát hại, bắt

bớ, cầm tù Trong cuộc đấu tranh này, chủ nghĩa duy vật đã được phát triển lên một

bước, liên minh giữa chủ nghĩa duy vật và khoa học tự nhiên ngày càng chặt chẽ hơn

Cuối cùng, sự chuyên chính của giáo hội và sự thống trị của chủ nghĩa ki nh viện Trung

cổ đã không ngăn được sự phát triển bước đầu của khoa học thực nghiệm v à triết họcduy vật - tiền đề cho những thành tựu mới và những đặc điểm mới của triết học trongcác thế kỷ tiếp theo

I.2.2 Tư tưởng của các nhà triết học phục hưng có tính hai mặt:

Vừa có những tiến bộ nhưng còn chứa nhiều yếu tố duy tâm, luẩn quẩn với hìnhthức “phiếm thần luận” hay “tự nhiên thần luận”

Trang 6

I.2.3 Triết học thời kỳ này gắn liền với vấn đề nâng cao giá trị khát vọng giải phóng con người

Nếu như ở thời kỳ Trung cổ con người chỉ là sinh linh bé nhỏ, tồn tại, thụ động,

như ngọn nến càng cháy càng ngắn thì con người của thời kỳ Phục hưng là thước đo

tất thảy có vẻ đẹp cường tráng của thân thể, sự tinh anh của trí tuệ và chỉ biết thờphụng, chiêm ngưỡng chính bản thân mình, với một khát vọng cháy bỏng về tự do

I.2.4 Triết học thời kỳ này là những tư tưởng xã hội học thấm nhuần chủ nghĩa nhân văn

Các nhà triết học đã nhìn thấy mặt trái của sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, gây

ra thực trạng khốn quẫn, bần cùng của đời sống thợ thuyền lao động Họ mơ ước mộtcuộc sống tốt đẹp hơn cho người lao động, một xã hội bình đẳng không có chế độ tưhữu Đó là kiểu chủ nghĩa xã hội của các nhà không tưởng người Anh, người Italia và

người Đức

I.3 Một số triết gia tiêu biểu [1, 2]

I.3.1 Nicolas Copernicus (còn được ghi là Copernide) (1473-1543)

Trong số những thành tựu khoa học tự nhiên có ảnh hưởng to lớn đến nhận thứcduy vật về thế giới, nổi trội hơn cả là thuyết nhật tâm của Nicolas Copernicus, nhà báchọc vĩ đại người Ba Lan Nicolas Copernicus đã đứng trên lập trường của triết học duyvật để bác bỏ thuyết địa tâm do Ptolémée (người Hy Lạp) đề xuất từ thế kỷ thứ II, mộtgiả thuyết sai lầm coi quả đất là trung tâm của hệ mặt trời và vũ trụ Thuyết nhật tâmcủa Nicolas Copernicus đã giáng một đòn nặng nề vào thế giới quan tôn giáo, thầnhọc Giả thuyết của ông là một cuộc cách mạng trên trời, báo trước một cuộc cáchmạng trong lĩnh vực các quan hệ xã hội sắp xảy ra.Vai trò đấng sáng tạo của Thiên

chúa đã mất đi Quan niệm về chân lý cũng sai khác, không phải tất cả những gì hiển

nhiên trực tiếp là chân lý Nếu mặt trời là trung tâm, trái đất xoay quanh mặt trời thìviệc đối lập giữa vận động trên trời và vận động dưới đất, xem vận động trên trời làhoàn thiện và vận động dưới đất là không hoàn thiện là không thể chập nhận được vìtrên trời và dưới đất không khác nhau về nguyên tắc, đều tuân theo những nguyên tắcvận động cơ học

I.3.2 Leonardo Da Vinci (1452-1519)

Ông sinh năm 1452 tại làng Tócane Da VinCi ở Florence (tên của ông được đặttheo tên làng ông được sinh ra) Ông mất năm 1519 tại lâu đài Amboise (Pháp)

Từ lập trường khoa học tự nhiên, Leonardo đã phê phán các quan ni ệm thần học vàgiáo hội Ông gọi giáo hội là cửa hàng bịp bợm, thần thánh chỉ là kẻ giả nhân giảnghĩa; xem tướng người là khoa học giả hiệu; thuật chiêm tinh, luyện đan là giả dối.Lửa giống như ánh sáng khoa h ọc có nhiệm vụ loại bỏ tất thảy những thứ đó “Lửa tiêudiệt sự giả dối, nghĩa là tiêu diệt kẻ nguỵ biện và xua đuổi bóng tối mà vạch ra chân lý

Trang 7

Lửa có nhiệm vụ tiêu diệt mọi kẻ nguỵ biện, nó là cái vừa giải thích vừa thuyết minhchân ly cho rằng nó là ánh sáng xua bóng t ối đang che giấu bản chất của các sự vật.Lửa đập tan mỏi kẻ nguỵ biện, nghĩa là đập tan sự lừa bịp và một mình nó vạch rachân lý.

Là một hoạ sĩ nhưng với ông tranh không phải là mục đích cuối cùng Tranh củaông là những minh chứng mới về bố cục, nội dung tư tưởng, tâm trí con người và màusắc Ông lấy tranh để biểu hiện cái đối lập “Cơ thể của bất cứ vật sống nào cũng đềuluôn luôn chết đi và luôn luôn tái sin h nhưng nếu ta bù lại số lượng bị tiêu huỷ trongmột ngày, thì sẽ lại nảy ra từng ấy sức sống bị tiêu hao Chẳng khác gì những ánh sángcủa cây nến do chất nến chảy ra nuôi dưỡng: nhờ nó chất nến chảy ra rất nhanh từ dướilên, cây nếnluôn luôn khôi phục được cái chết đi, đã tiêu diệt đi và khi chết đã biến từánh sáng chói lọi thành khói đen” Ông đ ã thấy được cái hữu hạn nhỏ bé của con người

trước cái lớn lao vô hạn của tạo hoá “Dù con người có đạt đến một nền khoa học nào

đi nữa, con người cũng không bao giờ hết quằn quại xót xa về cái bé bỏng của mìnhtrước tạo hoá” Tuy vậy, ông lại luôn luôn khám phá v ới mong mỏi giải phóng conngười khỏi những trói buộc của số phận

Ông đã đứng trên lập trường của nhà duy vật để phê phán các tín niệm thần học

Nếu nhà thờ cho rằng trái đất là trung tâm của vũ trụ thì ông khẳng định: “Trái đấtkhông phải ở trung tâm hệ thống mặt trời, cũng như không phải ở trung tâm thế giới

mà ở trung tâp những lực lượng tự phát của nó, những lực lượng gần gũi với nó và liênkết với nó Ai đứng trên mặt trăng khi mặt trăng ở cùng với mặt trời ở trên đầu chúng

ta thì đối với người ấy, quả đất là biển cả xung quanh nó sẽ tựa như giữ vai trò của mặt

trăng đối với chúng ta” Ông kết luận “Trái đất đó là ngôi sao gần giống như mặttrăng” Theo ông, các sự vật hiện tượng trong thế giới này đều tuân theo các quy luật

khách quan vì đó là “chủ đề” là “dây cương” điều hành vĩnh viễn

I.3.3 Giordano Filippo Bruno (1548 – 1600)

Bruno là nhà triết học người Italia Ông sinh năm 1548 trong m ột thành phố nhỏ Nôla Mồ côi từ nhỏ, ông được nuôi dưỡng trong tu viện Biến cố quan trọng làm đổ tư

-tưởng của ông là do tình cờ ông tiếp xúc được cuốn “Về sự chuyển động của các thiên

thể trên bầu trời” của Copernide Bruno có nh ững đóng góp quan trọng vào việc pháttriển những tư tưởng biện chứng

Trước hết là ở chỗ đã đưa ra tư tưởng về sự phù hợp của các mặt đối lập Với ông,

trong sự thống nhất của thế giới có sự phù hợp giữa cái “tối thiểu và cái tối đa, cái nàymất đi là tiền đề của các khác ra đời” “Nếu suy nghĩ một cách chín chắn thì chúng ta

sẽ thấy rằng tiêu diệt chẳng qua chỉ là phát sinh, phát sinh ch ẳng qua chỉ là tiêu diệt.Tình yêu là lòng căm thù, lòng căm thù là tình yêu Rốt cục, cằm thù là cái đối lập tức

là căm thù cái thứ hai; do vậy, về mặt thực thể và gốc rễ, tình yêu và căm thù, hữu nghị

và thù hằn là cùng một cái”

Trang 8

Như vậy các quá trình đối lập trong khi bài trừ phủ định lẫn nhau thì chúng lại

thống nhất với nhau Quá trình tiêu di ệt và sự phát sinh là hai quá trình độc lập nhưng

sự tiêu diệt không khác gì hơn là sự chuyển hoá từ cái này sang cái khác Trong quátrình nhận thức, con người chỉ nhận thức được một mặt trong mối quan hệ với những

cái đối lập với nó Từ sự đối lập với căm thù ta kết luận được thế nào là tình yêu vàngược lại

Thứ hai, tư tưởng phát triển

Kế thừa tư tưởng của Héraclite ông cho rằng thế giới này chỉ là một dòng chảy liêntục, tất cả đều tồn tại trong biến đổi Tư tưởng phát triển là sự tiếp nối và triển khaitrên nguyên tắc về sự phù hợp của các mặt đối lập

Về nhận thức, điểm gặp gỡ của Bruno với các nhà triết học cùng thời là khẳng địnhchân giá trị của con người thông qua nhận thức Nhận thức là hướng tới chân lý nhưngchỉ có một chân lý duy nhất là chân lý của triết học và khoa học Còn nếu có cái gọi làchân lý thứ hai thì chỉ là hoang đường và phi lý

Ông cho rằng đối tượng của nhận thức là giới tự nhiên Ông đưa ra nguyên t ắcnghi ngờ trong nhận thức Không nên dựa vào sự thừa nhận của quá khứ khi phán đoán

sự vật khác bắt đầu từ nghi ngờ Phải dựa vào lý trí trên cơ sở thực nghiệm để đảm bảotính xác thực của tri thức Chân tri thức chứ không phải là của uy quyền là lòng tin mùquáng

Quá trình nhận thức được Bruno chia làm ba giai đo ạn: cảm giác, lý trí và trí tuệ.Dựa vào cảm giác, chủ thể chỉ tiếp nhận được dáng vẻ bề ngoài của sự vật chẳng khác

gì nhìn ra ngoài khe c ửa hẹp Nhận thức lý trí tuy đã là sự phát triển về chất nhưngchân lý chưa bộc lộ đầy đủ mới chỉ là “ánh sáng mặt trời do ánh sáng mặt trăng phảnchiếu” Chỉ có nhận thức trí tuệ mới nhận được chân lý Vì vậy đây là giai đoạn caonhất của nhận thức

I.3.4 Galiléo Galilée (1564 – 1642)

Galiléo là nhà vật lý học, toán học, thiên văn học, triết học người Italia Galiléo tìm

ra định luật quán tính và đã chỉ ra rằng trong chân không, mọi vật thể, dù trọng lượng

thế nào cũng đều rơi xuống đất với một gia tốc như nhau Từ thực nghiệm ông đi đếnkết luận nếu một vật thể nào đó chuyển động đều, điều này không ảnh hưởng đến tínhchất của quá trình cơ học xảy ra bên trong vật thể đó Nguyên tắc tương đối này đã trở

thành cơ sở lý luận của ngành vật lý, những quan niệm về không gian, thời gian trong

khoa học tự nhiên thế kỷ XVII-XIX Tất cả những thành tựu này đã làm cho quanniệm của thần học về cùng một đề tài trở nên lạc lõng, chỉ thuần tuý là kết quả củatưởng tượng

Thế giới quan của Galiléo được xây dựng trên các thành tựu khoa học Với kính

thiên văn tự tạo ông đã tìm ra những vệ tinh của sao Jupiter, những chấm đen trên mặt

Trang 9

trời, những dãy núi và khe núi trên m ặt trăng, những chòm sao của sông Ngânhà Như vậy vũ trụ này chỉ có thể là vật chất và vũ trụ này thống nhất ở tính vật chất.

II TRIẾT HỌC TÂY ÂU THỜI KỲ CẬN ĐẠI (THẾ KỶ XVII - XVIII)

Thời kì cận đại là thời kì phát triển rực rỡ của Tây Âu trên tất cả các mặt của đờisống xã hội Đó là sự phát triển tiếp tục của chủ nghĩa tư bản, của khoa học và tư

tưởng, trong đó có chủ nghĩa duy vật triết học, nhưng với những đặc điểm mới

II.1 Tiền đề kinh tế, chính trị - xã hội, khoa học [1, 2, 4]

Về kinh tế: Biến đổi trong phương thức sản xuất: phương thức sản xuất tư bản

thay thế từng bước phương thức sản xuất cũ, mở ra khả năng phát triển khoa học, kỹthuật, cải tiến công cụ sản xuất Đồng hồ cơ khí và máy hơi nư ớc là hai chỉ số quantrọng của nền sản xuất, với vị trí hàng đầu của cơ học Phương thức sản xuất tư bảnchủ nghĩa góp phần phá vỡ các quan hệ xã hội lỗi thời, đơn giản hoá môi trường giaotiếp, kích thích tính sáng t ạo của cá nhân, tạo nên hệ biến thái mới trong đánh giá hoạt

động của con người, xác lập những giá trị, những chuẩn mực phù hợp với thời đạiđang biến đổi nhanh chóng Có thể khẳng định rằng bằng việc thúc đẩy nhanh hơn tiến

trình lịch sử – xã hội, thời đại tư bản trở thành thời đại năng động nhất, biện chứngnhất so với các thời đại đã qua

Quá trình hình thành các qu ốc gia tư sản hiện đại, mở ra khả năng giao lưu, hợptác về kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc với hiệu quả cao hơn trước, khả năng quốc tế

hoá, toàn cầu hoá kinh tế mang tính chất tư bản chủ nghĩa.

Về chính trị- xã hội: Các cuộc cách mạng tư sản đánh dấu bước phát triển mới của

lịch sử nhân lọai: cách mạng tư sản Hà Lan (nửa sau thế kỷ XVI), cách mạng tư sảnAnh (1640), cách mạng tư sản Pháp (1789 – 1794) là những cuộc cách mạng tư sản

tiêu biểu Đó là những cuộc cách mạng cơ cấu, làm đổi thay cơ cấu xã hội, chủ thể

quyền lực, vị trí con người và nền văn hoá., tạo ra những xung lực mới của tiến bộ xãhội Trong “Tuyên ngôn c ủa Đảng cộng sản” C Mác và Ph Ăngghen kh ẳng định rằng

giai cấp tư sản đã từng đóng một vai trò hết sức cách mạng trong lịch sử (C Mác và

Ph Angghen, toàn tập, t.4, Nxb CTQG, HN, 1995, tr 599) Nhận định đó phù hợp với

thời đại này

Về khoa học: Thực tiễn đã chắp cánh cho khoa học tự nhiên dựa trên thực nghiệm

phát triển mạnh mẽ Việc chế tạo ra kính hiển vi, kính viễn vọng, hàn thử biểu, máy

hút không khí đã gia tăng tốc độ, sự phát triển của nghề luyện kim, khai thác mỏ, đóng

tàu và cho thấy ngay từ đầu khoa học tự nhiên đã có mối liên hệ gắn bó khăng khítvới sự tiến bộ của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa Không chỉ vậy, khoa học đã trở thành

vũ khí lợi hại của giai cấp tư sản trong cuộc đấu tranh chống tôn giáo, triết học kinhviện Việc phát hiện ra sự tuần hoàn máu đã trở thành căn cứ khoa học để khẳng định

tư duy, ý thực gắn chặt với cơ thể con người, ý thức không có đời sống độc lập thần bí

Nhà hoá học Anh Robert Boyle (1627 – 1691) qua phân tích hoá h ọc đã giải đáp được

Trang 10

nỗi niềm băn khoăn của các học giả trong nhiều thế kỉ đó là thế giới vật chất gồmnhững gì, thành phần các chất ảnh hưởng thế nào lên tính chất của chúng trên lập

trường duy vật

Khoa học không còn dừng lại ở vị trí “tri thức thuần túy”, mà dần dần trở thành lực

lượng sản xuất trực tiếp và thiết chế xã hội đặc trưng, nghĩa là những thành quả của

khoa học, với sự tổ chức chặt chẽ (những trung tâm khoa học, dưới hình thức các viện,các hội khoa học) và khả năng ứng dụng kịp thời không chỉ làm thay đổi cuộc sống

con người, cải tạo tự nhiên, mà còn góp ph ần vào tiến bộ xã hội Bản thân nhà khoa

học cũng tích cực tham gia vào các họat động chính trị, xã hội phong phú, phức tạp.Mặt khác, với tính ứng dụng hiệu quả của mình, đáp ứng nhu cầu giải phóng sức lao

động, khoa học dần dần trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp

Tất cả các thành tựu của khoa học như việc xác định được trọng lượng của khôngkhí, khẳng định tính chất hạt và tính chất sóng của ánh sáng, những cách nhìn nhậnmới về điện, về từ đã tác động không nhỏ đến sự phát triển của triết học, đặc biệt là

về bản thể luận

Những di sản văn hóa, tư tưởng của Hi Lạp và La Mã vẫn được các nhà triết học

kế thừa và phát triển Các nhà tư tưởng cận đại tiếp tục viện dẫn các di sản của

Démcrite, Épicure, Anaxagore, tư tư ởng duy vật của Aristote trong hệ thống triết học

của mình

Tóm lại, sự phát triển về kinh tế và xã hội cùng với sự phát minh vĩ đại trong khoahọc tự nhiên đã tạo ra những tiền đề cần thiết cho sự ra đời của một hình thức lịch sửmới của triết học duy vật - chủ nghĩa duy vật siêu hình ở Tây Âu thời cận đại

II.2 Đặc điểm của Triết học Tây Âu thời cận đại [1, 2, 4]

II.2.1 Ngọn cờ lý luận của giai cấp t ư sản

Triết học thế kỷ XVII – XVIII là sự nối tiếp của triết học thời kỳ Phục hưng, tiếptục là ngọn cờ của giai cấp tư sản trong cuộc đấu tranh để thiết lập trật tự tư bản chủnghĩa và giải phóng con người.Cuộc đấu tranh này diễn ra ở nhiều bình diện: duy vậtchống duy tâm thần bí, khoa học chống chủ nghĩa giáo điều và uy quyền tư tưởng, cảicách chính trị chống bảo thủ chính trị…So với thời Phục hưng, giai cấp tư sản thế kỷXVII – XVII đóng vai trò lực lượng chính trị độc lập cách mạng, tập hợp xung quanh

mình các nhân tố tích cực, tiến bộ, tấn công trực diện vào chế độ phong kiến và nền

tảng tinh thần của nó, xác lập những chuẩn mực, giá trị mới, đơn giản hóa các quan hệ

xã hội, phù hợp với sự vận động lịch sử Thời Phục hưng thể hiện quá trình chuyểntiếp từ chế độ phong kiến sang chủ nghĩa tư bản, còn thời đại mới đã là thời đại củacác cuộc cách mạng tư sản và sự hình thành xã hội tư sản, với những đặc trưng mà xãhội trước đó chưa thể có được Phục hưng về cơ bản gắn liền với sự trở về những giátrị bị lãng quên, để từ đó thực hiện sự nhận thức lại quá khứ và mở hướng cho tươnglai Thế kỷ XVII – XVIII tiếp thu tinh thần mở đó, và làm cho nó trở nên hiện thực

Trang 11

thông qua cuộc cách mạng cơ cấu, nghĩa là cuộc cách mạng làm đảo lộn mọi quan hệ

và cơ cấu xã hội, thay đổi hình thức và cơ chế quyền lực chính trị, phá vỡ các đặc

quyền đẳng cấp, thay đổi quan hệ giữa nhà nước và nhà thờ v.v Cách mạng trong lý

trí đi trước cách mạng trong lĩnh vực thực tiễn, các học thuyết triết học thực hiện quá

trình phê phán cái cũ, cái lỗi thời, xác lập cái mới, cái tiến bộ, xem cái đang tồn tại, tứcchế độ phong kiến và hệ tư tưởng của nó là cái phi lý, cũng đồng thời là phi nhân tính,

đòi hỏi thay thế nó bằng cái hợp lý – hơp nhân tính, theo quan đi ểm phổ biến về sự

thống nhất lý trí – nhân tính

Những thành tựu của khoa học mới và thực tiễn sinh động của xã hội thời kỳ Cận

đại, như ngọn đèn chiếu rọi giúp cho giai cấp tư sản nhận chân được bộ mặt của giai

cấp phong kiến Những quan điểm xã hội tiến bộ của chủ nghĩa duy vật trở thành cơ sở

lý luận cho việc bác bỏ thần học và tôn giáo

Những luận chứng của Hollbach về tôn giáo đã trở thành mẫu mực cho cuộc đấutranh chống tôn giáo vì mục đích thoát khỏi những ràng buộc do sự yếu kém từ chính

nó tạo ra Những khẳng định và chứng minh của Diderot về nguồn gốc của loài người

là những cơ sở lý luận vững chắc cho chủ nghĩa vô thần phê phán

II.2.2 Liên minh giữa triết học và khoa học tự nhiên

Triết học phương Tây Cận đại phát triển trong điều kiện gắn bó chặt chẽ với khoahọc Sự phát triển của triết học gắn kết chặt chẽ, hữu cơ với sự phát triển của khoa học

tự nhiên, thể hiện trình độ nhận thức chung của thời đại Nhiều nhà triết học đồng thời

là nhà khoa học (Descartes, Newton, Pascal , Leibniz …) ho ặc có những am hiểu sâusắc về khoa học, trở thành bộ óc bách khoa của thời đại (Diderot chẳng hạn) Nói khác

đi, trong điều kiện khoa học phát triển như vũ bão, các nhà triết học, để có thể đứng

vững trong cuộc luận chiến tư tưởng, không có nhu cầu nào khác hơn là phải am hiểunhững thành quả của khoa học Mà để đạt được điều đó họ cần tự mình tìm hiểu,nghiên cứu các lĩnh cực khoa học, cần mài sắc tư duy bằng sự hiểu biết về bức tranhkhoa học tổng thể, hoặc chí ít cũng làm quen với môi trường khoa học ở những nét cănbản nhất

II.2.3 Triết học duy vật thế kỷ XVII – XVIII chịu ảnh hưởng nặng nề sự thống trị của phương pháp siêu hình.

Nhờ biết bám sát vào những thành tựu của khoa học tự nhiên và trình độ nhận thứcchung của xã hội, các nhà triết học đã xác lập bức tranh vật lý mới về thế giới, nắm bắtnhững tính quy luật khách quan của nó, đào sâu một số vấn đề bản thể luận mà trước

đây chưa từng biết đến Song ảnh hưởng của khoa học tự nhiên đến tư duy tríết học

cũng làm nảy sinh những nan giải nhất định Trước hết, sự thống trị của cơ học đã đểlại dấu ấn trong triết học bằng quan điểm máy móc về thế giới, cả giới tự nhiên lẫn thếgiới của chính con người Tiếp theo, quá trình toán h ọc hóa tư duy bên cạnh mặt tíchcực của nó đã góp phần vào việc hình thành cách tiếp cận siêu hình đối với một số lĩnh

Trang 12

vực tự nhiên, xã hội, chủ trương đưa khoa học chính xác vào môi trư ờng nhân văn.Chẳng hạn, theo Hobbes, nếu chúng ta đã có vật lý học, nghiên cứu cụ thể về các vậtthể tự nhiên, thì cần thiết phải xác lập “vật lý xã hội”, tìm hiểu các vật thể nhân tạo.Nếu trong tự nhiên có lực đẩy và lực hút, thì trong xã hội, hai lực ấy là chiến tranh vàhoà bình! Hobbes cũng xem logic tính toán l à khoa học nhập môn của các lĩnh vựckhác Rất nhiều nhà triết học không chỉ lệ thuộc vào các nguyên lý cơ học trongnghiên cứu, mà còn từ đó hình thành phương pháp tư duy theo ki ểu tách rời và đem

đối lập một cách tuyệt đối “đúng – sai”, “trắng – đen”, “khoa học – không khoa

học”… Phương pháp tư d uy của Siêu hình học thế kỷ XVII – XVIII có những mặt tíchcực nhất định, nhất là trong điều kiện các nhà khoa học cần đến “những chứng cứ của

lý trí” để chống các hình thức nguỵ tạo khoa học và triết học kinh viện Song phương

pháp ấy lại tỏ ra không thích hợp trong việc giải thích bản chất của thế giới đang biến

đổi Vấn đề là ở chỗ, trong khi tìm hiểu những mặt, những thuộc tính của sự vật,

những lĩnh vực của đời sống, các nhà triết học và khoa học chưa vạch ra một cách thỏa

đáng mối liên hệ và tác động lẫn nhau giữa chúng, hoặc tuyệt đối hóa mặt nào đó,đồng thời lý giải thiếu thuyết phục nguyên nhân, động lực của vận động và phát triển

Hình thức thứ hai của chủ nghĩa duy vật, tức chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII-XVIIIcũng chịu sự quy định của tính chất máy móc, siêu hình ấy, và được gọi là chủ nghĩa

duy vật máy móc – siêu hình, hay đơn giản là chủ nghĩa duy vật siêu hình.

II.2.4 Triết học duy vật thế kỷ XVII – XVIII là triết học duy vật không triệt để

Khi bàn về các hiện tượng tự nhiên họ là những nhà triết học duy vật, nhưng khigiải quyết các vấn đề của xã hội thì họ lại là những nhà triết học duy tâm

Do không nhận thức được vai trò của nhân tố vật chất kinh tế trong sự tồn tại vàphát triển của xã hội nên các triết gia bất lực không giải thích được căn nguyên chế độ

tư hữu, tình trạng kẻ giàu, người nghèo, sự bần cùng hoá trong xã hội nên đã đưa ra

các giải pháp ở tình trạng cục bộ và duy tâm Theo họ sở dĩ có những tình trạng nhưvậy là do trình độ dân trí thấp, luật pháp lỏng lẻo Vì vậy để tháo gỡ tình trạng nàyphải phổ thông giáo dục đại chúng, khai sáng trí tuệ và đạo đức con người

Trong cuộc đấu tranh chống tôn giáo, các nhà triết học duy vật mới chỉ nhận thấy ởkhía cạnh nhận thức, mà không thấy được nguyên nhân xã hội của vấn đề Vì vậykhông ít những biện pháp đưa ra chỉ là ảo tưởng

II.2.5 Triết học Tây Âu thời Cận đại đặc biệt quan tâm đến những vấn đề

về nhận thức và phương pháp luận

Về mặt nhận thức luận, thời kỳ này có 2 xu hương cơ b ản Một là, nhấn mạnh đềcao nhận thức cảm tính, cho thí nghiệm, thực nghiệm giữ vai trò quyết định đối vớiviệc hình thành tri thức Xu hướng ngược lại cho rằng nhận thức lý tính mới giữ vai trò

Trang 13

quyết định trong quá trình nhận thức Cả hai đã không thấy được tính biện chứng,thống nhất của quá trình nhận thức.

Về mặt phương pháp nổi lên tư tưởng tuyệt đối hoá một phương pháp trong nh ậnthức, diễn dịch hay quy nạp là do chủ thể, do nhà triết học quy định chứ không phải do

đối tượng và mục đích nghiên cứu quyết định

II.2.6 Tư tưởng nhân văn, khai sáng

Con người đã trở thành niềm kiêu hãnh của thời đại, nó không chỉ là thước đo của

vạn vật mà còn là điểm tựa của toàn vũ trụ Vì vậy, quan hệ con người với thế giớiphải trở thành trung tâm các quan ni ệm triết học Khoa học không gì khác hơn là tiền

đề để con người đi đến hoàn thiện Nói như Spinoza, n ếu khoa học không giúp conngười đi đến mục đích ấy thì nó cũng không có lý do tồn tại Tất nhiên do tinh thần

của thời đại, con người trong triết học mới chủ yếu được đề cập ở khía cạnh cá thể, ởnhững đòi hỏi bức bách được khẳng định về năng lực và giải phóng chỉ mới dừng lại ởtính sinh vật, mặt nhận thức, nhu cầu tình cảm, còn mặt bản chất xã hội dường như ít

được đề cập đến

Tư tưởng nhân văn, khai sáng làm nên m ột trong những nội dung cốt lõi của triết

học Cận đại Quan điểm của Bacon về xã hội lý tưởng, được xây dựng trên cơ sở

“quyền lực của tri thức” cho đến nay vẫn còn ý nghĩa thời sự Nếu Bacon tuyên bố “tri

thức là sức mạnh”, thì Hobbes nhấn mạnh rằng quyền lực cần phải hàm chứa yếu tố trithức, nghĩa là được xác lập trên sự hiểu biết bản chất con người, hướng đến mục tiêu

ổn định chính trị, chủ quyền quốc gia và thống nhất ý chí toàn dân Locke tr ở thànhngười đặt nền móng cho quan điểm nhà nước pháp quyền, được các nhà khai sáng

Pháp thế kỷ XVIII phát triển và hoàn thiện ở đêm trước của cách mạng tư sản Hình

ảnh “con người lý trí” và “nhà nước hợp lý tính”, quan niệm về tự do, bình đẳng, bác

ái, dân chủ … không chỉ gợi mở con đường đi tới một trật tự xã hội khác với chế độphong kiến “phi lý” và phi nhân tính, ng ự trị suốt hàng ngàn năm, mà còn là mục tiêuphấn đấu của nhiều dân tộc Một số phác thảo của các nhà khai sáng về mô hình xã hội

tương lai cho đến nay vẫn còn là mục tiêu phấn đấu của nhiều dân tộc Với những đặctrưng vừa nêu, có thể nói rằng, thế kỷ XVII – XVIII là một trong những thời đại sôiđộng nhất trong lịch sử loài người

Ngày đăng: 23/12/2013, 15:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w