Tuy nhiên sự phát triển của lịch sử triết học luôn gắn liền lịch sử phát triển của xã hội loài người nói chung và luôn đi liền với những sứ mệnh giải quyết mâu thuẩn để thống nhất giữa c
Trang 1Phần 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
Lịch sử ra đời và phát triển của triết học là lịch sử của cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và duy tâm Song song với cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và duy tâm là cuộc đấu tranh giữa hai phương pháp nhận thức thế giới là tư duy biện chứng và siêu hình Ở từng giai đoạn lịch sử, thời đại khác nhau thì mức độ gay gắt của cuộc đấu tranh trên cũng sẽ khác nhau Tuy nhiên sự phát triển của lịch sử triết học luôn gắn liền lịch sử phát triển của xã hội loài người nói chung và luôn đi liền với những sứ mệnh giải quyết mâu thuẩn để thống nhất giữa các mặt đối lập Trên
cơ sở đó với tính chất khoa học và cách mạng của mình phép biện chứng ra đời với đỉnh cao là phép biện chứng duy vật đã khẳng định vị trí của mình là học thuyết của
sự phát triển dưới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất Vì vậy việc vận dụng tư duy duy vật biện chứng để tìm hiểu lịch sử triết học qua từng thời kỳ cũng như là nguyên nhân của các cuộc đấu tranh tư tưởng giữa các trường phái triết học là việc làm thực
sự cần thiết nhầm nâng cao tư duy nhận thức của con người đối với thực tiễn xã hội nói riêng và thế giới nói chung
Trải qua gần 3000 năm phát triển của lịch sử triết học thì mỗi một thời kỳ lịch
sử sẽ hình thành những nền tảng tư tưởng triết học khác nhau và cũng có những giai đoạn phát triển rực rỡ mà nổi bật trong số đó là nền văn minh Hy Lạp cổ đại.Triết học Hy Lạp cổ đại được coi là đỉnh cao của nền văn minh cổ đại và là một trong những điểm xuất phát của lịch sử triết học thế giới.Trong triết học Hy Lạp cổ đại có
sự đối lập và phân chia rõ ràng giữa các trào lưu, trường phái duy vật - duy tâm, biện chứng- siêu hình, vô thần – hữu thần.Vì vậy, với vai trò lịch sử quan trọng cùng với
sự phân chia trường phái khá rõ ràng mà điển hình là cuộc đấu tranh giữa trào lưu duy vật của Đêmôcrít và trào lưu duy tâm của Platông nên em xin chọn đề tài
:”Cuộc đấu tranh tư tưởng của Đêmôcrít và Platông” là điểm khảo sát để tìm hiểu rõ
Trang 2hơn về đời sống vật chất, tinh thần, nét văn hóa của người dân Hy Lạp cổ đại nói chung và thế giới quan, phương pháp luận và ý thức hệ của các trào lưu triết học
Trang 3Trung bộ có nhiều dãy núi ngang dọc và những đồng bằng trù phú với những thành phố lớn như Aten Nam bộ là bán đảo Pelopongnedơ với nhiều đồng bằng rộng lớn phì nhiêu thuận lợi cho việc trồng trọt Vùng bờ biển phía Đông của bán đảo Ban Căng khúc khuỷu nhiều vịnh, hải cảng thuận lợi cho ngành hàng hải phát triển Các đảo trên biển Êgiê là nơi trung chuyển cho việc đi lại, buôn bán giữa Hy Lạp với các nước ở Tiểu Á và Bắc Phi Vùng ven biển Tiểu Á là đầu mối giao
thương giữa Hy Lạp và các nước phương Đông Với điều kiện tự nhiên thuận lợi như vậy nên Hy Lạp cổ đại sớm trở thành một quốc gia chiếm hữu nô lệ có một nền công thương nghiệp phát triển, một nền văn hóa tinh thần phong phú đa dạng][1]
[1]: Giáo trình Đại Cương Lịch Sử Triết Học, NXB Tổng Hợp TPHCM, TS Nguyễn Ngọc Thu – TS Bùi Văn Mưa , Tr.62
Trang 41.2 Về kinh tế
Hy Lạp cổ đại nằm ở một vị trí vô cùng thuận lợi về khí hậu, đất đai, biển cả và lòng nhiệt thành của con người là những tài vật, tài lực vô giá để cho tư duy bay bổng, mở rộng các mối bang giao và phát triển kinh tế
Thế kỷ VIII – VI TCN, đây là thời kỳ quan trọng nhất trong lịch sử Hy Lạp cổ đại là thời kỳ nhân loại chuyển từ thời đại đồ đồng sang thời đại đồ sắt Lúc bấy giờ
đồ sắt được dùng phổ biến, năng xuất lao động tăng nhanh, sản phẩm thặng dư dồi dào, chế độ sở hữu tư nhân được cũng cố Sự phát triển này đã kéo theo phân công lao động trong nông nghiệp, giữa nghành trồng trọt và ngành chăn nuôi Xu hướng chuyển sang chế độ chiếm hữu nô lệ đã thể hiện ngày càng rõ nét Sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp, thủ công nghiệp từ cuối thế kỷ VIII TCN là lực đẩy quan trọng cho trao đổi, buôn bán, giao lưu với các vùng lân cận Engels đã nhận xét:
“Phải có những khả năng của chế độ nô lệ mới xây dựng được một quy mô phân công lao động lớn lao hơn trong công nghiệp và nông nghiệp, mới xây dựng được đất nước Hy Lạp giàu có Nếu không có chế độ nô lệ thì cũng không có quốc gia Hy Lạp, không có khoa học và công nghiệp Hy Lạp”
1.3 Về chính trị - xã hội [2]
Từ điều kiện kinh tế đã dẫn đến sự hình thành chính trị - xã hội, xã hội phân hóa
ra làm hai giai cấp xung đột nhau là chủ nô và nô lệ Lao động bị phân hóa thành lao động chân tay và lao động trí óc Đất nước bị chia phân thành nhiều nước nhỏ Mỗi nước lấy một thành phố làm trung tâm Trong đó, Sparte và Aten là hai thành phố cổ hùng mạnh nhất, nồng cốt cho lịch sử Hy Lạp cổ đại
Thành bang Aten nằm ở vùng đồng bằng thuộc Trung bộ Hy Lạp, có điều kiện
[2]: Triết học cổ Hy lạp La mã, nxb Mũi Cà Mau, 1997, Ha Thúc Minh
Trang 5địa lý thuận lợi nên đã trở thành một trung tâm kinh tế, văn hóa của Hy Lạp cổ đại,
và là cái nôi của triết học Châu Âu Tương ứng với sự phát triển kinh tế, văn hóa là thiết chế nhà nước chủ nô dân chủ Aten
Thành Sparte nằm ở vùng bình nguyên, đất đai rất thích hợp với sự phát triển nông nghiệp Chủ nô quý tộc thực hiện theo lối cha truyền con nối Chính vì thế Sparte đã xây dựng một thiết chế nhà nước quân chủ, thực hiện sự áp bức rất tàn khốc đối với nô lệ
Do sự tranh giành quyền bá chủ Hy Lạp, nên hai thành phố trên tiến hành cuộc chiến tranh khốc liệt kéo dài hàng chục năm và cuối cùng dẫn đến sự thất bại của thành Aten Cuộc chiến tàn khốc đã lưu lại sự suy yếu nghiêm trọng về kinh tế, chính trị và quân sự của đất nước Hy Lạp Chiến tranh, nghèo đói đã nảy sinh các cuộc nỗi dậy của tầng lớp nô lệ Nhưng lại thất bại vì họ xuất phát từ nhiều bộ lạc khác nhau, không có ngôn ngữ chung, không có quyền hạn, không được tham gia vào các hoạt động xã hội, chính trị Chớp lấy thời cơ, Vua Philíp ở phía Bắc Hy Lạp
đã đem quân xâm chiếm toàn bộ bán đảo Hy Lạp thế kỷ thứ II TCN, Hy Lạp một lần nữa bị rơi vào tay của đế quốc La Mã Tuy đế quốc La Mã chinh phục được Hy Lạp, nhưng lại bị Hy Lạp chinh phục về văn hóa
Engels đã nhận xét “không có cơ sở văn minh Hy Lạp và đế quốc La Mã thì không có Châu Âu hiện đại được” [3] Vì điều kiện kinh tế, nhu cầu buôn bán, trao đổi hàng hóa mà các chuyến vượt biển đến với các nước phương Đông trở nên thường xuyên Chính vì thế tầm nhìn của họ cũng được mở rộng, những thành tựu văn hóa của Ai Cập, Babilon đã làm cho người Hy Lạp ngạc nhiên Tất cả các lĩnh vực, những yếu tố của nước bạn đều được người Hy Lạp đón nhận, “Những người Hy Lạp mãi mãi là đứa trẻ nếu không hiểu biết gì về Ai Cập”
Trong thời đại này Hy Lạp đã xây dựng được một nền văn minh vô cùng xán lạn với những thành tựu rực rỡ thuộc các lĩnh vực khác nhau Chúng là cơ sở hình thành nên nền văn minh phương Tây hiện đại
[3]: Triết Học , NXB CTQG H Nội, 1999, tr.178
Trang 6Về văn học, người Hy Lạp đã để lại một kho tàng văn học thần thoại rất phong phú, những tập thơ chứa chan tình cảm, những vở kịch hấp dẫn, phản ánh cuộc sống sôi động, lao động bền bỉ, cuộc đấu tranh kiên cường chống lại những lực lượng tự nhiên, xã hội của người Hy Lạp cổ đại[4]
Về nghệ thuật, đã để lại các công trình kiến trúc, điêu khắc, hội họa có giá trị
Về luật pháp, đã sớm xây dựng một nền pháp luật và được thực hiện khá nghiêm tại thành bang Aten
Về khoa học tự nhiên, những thành tựu toán học, thiên văn, vật lý… được các nhà khoa học tên tuổi như Thalés, Pythago, Heraclite sớm phát hiện ra Và đặc biệt, người Hy Lạp cổ đại đã để lại một di sản triết học vô cùng đồ sộ và sâu sắc
1.4 Vai trò của tinh thần
Sự ngạc nhiên truớc thế giới rộng lớn và đầy bí hiểm đã thúc đẩy con người tìm hiểu thế giới ấy Ở buổi đầu lịch sử, hạn chế của năng lực của năng lực nhận thức được bù đắp bằng trí tưởng tượng về các hiện tượng tự nhiên, thần thánh hoá chúng Thần thoại là sự đối thoại đầu tiên đầy tính hoang tưởng của con người với tự nhiên Người nguyên thuỷ bị vây bọc trong quyền lực của xúc cảm và trí tưởng tượng; những quan niệm của họ về sự vật hãy còn mơ hồ, rời rạc, phi logíc Các yếu tố tư tưởng và tình cảm, tri thức và nghệ thuật, tinh thần và vật chất, khách quan và chủ quan, hiện thực và suy tưởng, tự nhiên và siêu tự nhiên ở thần thoại còn chưa bị phân đôi Tuy nhiên thần thoại cũng trải qua những bước phát triển nhất định ghi dấu các mức độ trưởng thành của ý thức Đỉnh cao phát triển của thần thoại cũng đồng thời báo hiệu sự cáo chung tất yếu của nó, sự thay thế nó bằng hình thức thế giới quan mới, đáp ứng nhu cầu nhận thức thế giới ngày con sâu sắc hơn của con người
[4]: Giáo trình Đại Cương Lịch Sử Triết Học, NXB Tổng Hợp TPHCM, TS Nguyễn Ngọc Thu – TS Bùi Văn Mưa , Tr.64
Trang 7Lúc này con người trở thành hình mẫu để họ miêu tả các vị Thần Các vị Thần không còn là những nhân vật hoàn hảo như trước nữa mà cũng có đầy đủ các mối quan hệ, tình cảm, sinh hoạt và cả những thói hư tật xấu của con người
Vào khoảng cuối thế kỉ VII -đầu thế kỷ VI TCN, thời kỳ phát triển khá thịnh vượng Sự phân công lao động lần thứ hai và xuất hiện đồng tiền kim khí đã tạo nên những khởi sắc trong các lĩnh vực đời sống xã hội, đặc biệt là sự hình thành các nhóm người lao động trí óc, biết tích hợp những tinh hoa văn hoá khoa học vào trong những cách ngôn, những tản văn có giá trị nhận thức cao Như Thalès , người
mà Aristôte gọi là nhà triết học đầu tiên của Hi Lạp cổ đại Với Thalès, triết học đã
ra đời thay thế thần thoại và tôn giáo nguyên thuỷ, đồng thời thâu tóm các tri thức khoa học vào trong một hệ thống mang tính khái quát cao Và đã thực sự giải quyết mâu thuẫn giữa bức tranh thần thoại về thế giới., được xây dựng trên tưởng tượng với nhận thức và tư duy mới, như sự phổ biến tư duy từ diện hẹp ra diện rộng Triết học ra đời không có nghĩa là thần thoại mất đi, mà tiếp tục tồn tại trong tôn giáo, nghệ thuật và có những ảnh hưởng nhất định đối với triết học
1.5 Sự ảnh hưởng của nền văn minh phương Đông
Vào thế kỷ VIII trước CN việc trao đổi, buôn bán thường xuyên với các nước phương Đông, nhất là với Ai Cập, Babylon, làm cho Hi Lạp có dịp tiếp xúc, học hỏi
và hoà hợp với các nền văn hoá khác lâu đời hơn Hy Lạp rất nhiều Điều này thể hiện rất rõ ở Chữ viết theo sự xác định của các nhà khảo cổ học đã chứng minh Thời đại Homère, ở Hi Lạp chưa xuất hiện chữ viết nhưng ngược lại ở Ai Cập, Mésopotamie, Ấn Độ, Trung Hoa đều đã phát triển thịnh vượng, tạo nên những thành quả văn hoá cực kì đặc sắc từ rất sớm
Không chỉ thế, đến thời kỳ lãnh thổ của đế quốc La Mã do sự bành trướng của Alexandre Đại đế đã mở rộng khắp châu Âu, châu Á và châu Phi, người Hi Lạp đã tiếp thu được nhiều thành tựu văn hoá của phương Đông để xây dựng và phát triển
Trang 8nền văn hoá của mình Phương Đông, cụ thể Cận đông và Ai Cập tác động đến tư duy của người Hi lạp bởi những tuyệt tác nghệ thuật, những thành tựu khoa học ( toán học, thiên văn học ) và một số yếu tố huyền học Nhưng triết học Hi Lạp không phải là kết quả của sự kế thừa những thành tựu phương Đông mà ngược lại triết học
Hi Lạp là kết quả của sự phát triển logíc nội tại của tinh thần Hi Lạp, được thể hiện phần nào trong truyền thống thần thoại và tín ngưỡng mang phong cách riêng, độc đáo, không lặp lại …
Triết học Hi lạp đã có sự giao lưu tích cực với những tinh hoa văn hoá phương Đông nhưng nó vẫn tạo ra đặc trưng rất riêng tiêu biểu cho phong cách tư duy phương Tây
2 Những đặc điểm cơ bản [5]
Triết học Hy Lạp cổ đại được coi là đỉnh cao của nền văn minh Hy Lạp cổ đại và là một trong những điểm xuất phát điểm của lịch sử triết học thế giới Nền triết học này có những đặc điểm sau:
Một là, triết học Hy Lạp cổ đại thể hiện thế giới quan, ý thức hệ và phương pháp luận của giai cấp chủ nô thống trị, đồng thời cũng phản ánh sâu sắc mâu thuẩn
xã hội đương thời Nó là công cụ lý luận để duy trì trật tự xã hội, củng cố vai trò thống trị của mình
Hai là, trong triết học Hy Lạp cổ đại có sự phân chia và đối lập rõ ràng giữa các trào lưu, trường phái Nó phản ảnh cuộc đấu tranh giữa khoa học và tín điều phi khoa học ( thể hiện ở cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và duy tâm )
Ba là, triết học Hy Lạp cổ đại gắn bó mật thiết với khoa học tự nhiên để tổng hợp mọi hiểu biết về các lĩnh vực khác nhau nhằm xây dựng bức tranh về thế giới như một hình ảnh chỉnh thể thống nhất mọi sự vật, hiện tượng xảy ra trong nó
[5]: Giáo trình Đại Cương Lịch Sử Triết Học, NXB Tổng Hợp TPHCM, TS Nguyễn Ngọc Thu – TS Bùi Văn Mưa , Tr.65-66
Trang 9Do trình độ tư duy lý luận còn thấp nên khoa học tự nhiên chưa đạt tới trình độ mổ
xẻ, phân tích tự nhiên để đi sâu vào bản chất sự vật, mà nó mới nghiên cứu tự nhiên trong tổng thể để dựng nên bức tranh tổng quát về thế giới Vì vậy các nhà triết học đồng thời là các nhà khoa học tự nhiên , họ quan sát trực tiếp các hiện tượng tự nhiên để rút ra những kết luân triết học
Bốn là, triết học Hy Lạp cổ đại đã xây dựng nên phép biện chứng chất phác Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại nghiên cứu phép biện chứng để nâng cao nghệ thuật hùng biện, để bảo vệ quan điểm triết học của mình, để tìm ra chân lý Họ đã phát hiện ra nhiều yếu tố của phép biện chứng nhưng chưa trình bày chúng một cách chặt chẽ
Năm là, triết học Hy Lạp coi trọng vấn đề con người Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về con người, cố lý giải vấn đề quan hệ giữa linh hồn và thể xác, về đời sống đạo đức – chính trị - xã hội của họ Dù còn nhiều bất đồng, song nhìn chung, các triết gia đều khẳng định con người là tinh hoa cao quý nhất của tạo hóa
3 Các trường phái triết học Hy Lạp cổ đại
Do những đặc điểm về tự nhiên, kinh tế và xã hội của Hy Lạp cổ đại mà triết học Hy Lạp cổ đại cũng thể hiện những mối quan hệ và phục vụ cho những lợi ích chính trị nhất định của giai cấp chủ nô [Các trường phái triết học Hy Lạp cổ đại rất
đa dạng song nhìn chung chúng thể hiện rõ khuynh hướng nhất nguyên ( chủ nghĩa duy vật và duy tâm ) hay khuynh hướng nhị nguyên một cách rõ ràng và khá nhất quán] [6] Trong đó chủ nghĩa duy vật đại diện cho tầng lớp chủ nô tiến bộ, đổi mới và chủ nghĩa duy tâm đại diện cho tầng lớp chủ nô bảo thủ tuy luôn có sự mâu thuẫn và đối nghịch nhau trong tư tưởng nhưng không ngừng thúc đẩy cho sự phát triển, tiến
bộ của khoa học và xã hội
[6]: Giáo trình Đại Cương Lịch Sử Triết Học, NXB Tổng Hợp TPHCM, TS Nguyễn Ngọc Thu – TS Bùi Văn Mưa , Tr.66
Trang 103.1-Chủ nghĩa duy vật
Chủ nghĩa duy vật được hình thành từ trường phái Milê- trường phái Hêraclít, trường phái Đa nguyên và đạt được đỉnh cao như trong trường phái Nguyên tử luận
3.1.1-Trường phái Milê
Trường phái triết học Milê là trường phái của các nhà triết học đầu tiên xứ Lonie, một vùng đất nổi tiếng của Hy Lạp Nằm chạy dài trên miền duyên hải Tiểu
Á, nằm giữ huyết mạch giao thông, là cửa mở đi về phương Đông, và là trung tâm kinh tế, văn hóa của thời kỳ chiếm hữu nô lệ Nơi đây được xem là quê hương của nhiều trường phái triết học của triết gia nổi tiếng
Trường phái này do ba nhà triết học lập nên như: Thalès, Anaxi-mène và
Anaximandre Đóng góp quan trọng nhất của trường phái này là đã đặc nền móng do
sự hình thành các khái niệm triết học để các triết gia sau này tiếp tục bổ xung và làm phong phú thêm những khái niệm đó như khái niệm chất, không gian, sự đấu tranh của các mặt đối lập v.v… Một điều đáng quý nữa là các triết gia đã xuất phát từ thế giới để giải thích thế giới, khẳng định thế giới xuất phát từ một khởi nguyên vật chất duy nhất
3.1.2-Trường phái Hêraclít : (540 – 575 TCN)
Do nhà ẩn dật Hêraclít sáng lập Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình quý tộc chủ nô ở thành phố Ephetdơ Ông sớm trở thành một nhà triết học duy vật thể hiện rõ các tư tưởng biện chứng chất phác từ thời cổ Hy Lạp Ông coi bản nguyên của thế giới là lửa Vũ trụ không phải do Thượng Đế hay một lực lượng siêu nhiên nào đó tạo ra, mà nó “đã” , “ đang ” và “ sẽ ” mãi mãi là ngọn lửa vĩnh hằng không ngừng bùng cháy và lụi tàn Tàn lụi và bùng cháy theo cái logos tức là “quy luật, trật
Trang 11tự ” nội tại của chính mình Ông xem thế giới “ vừa tồn tại vừa không tồn tại ”, “ không ai tắm hai lần trong một dòng sông ” Thế giới vật chất “ vừa đa dạng vừa thống nhất, vừa mang tính hài hòa vừa xung đột ”
Như vậy, Hêraclít là nhà triết học đã nêu lên các phỏng đoán thiên tài về quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, mà sau này Marx đã đề cập và đi sâu Phép biện chứng duy vật chất phác là đóng góp của triết học Hêraclít vào kho tàng tư tưởng của nhân loại “ Thế giới chỉ là ngọn lửa đang bập bùng cháy suốt ngày đêm ” [7]
3.1.3-Trường phái đa nguyên
Để giải thích tính đa dạng của vạn vật trong thế giới theo tinh thần duy vật Empedocles ( 490 – 430 TCN ) và Anaxagore ( 500 – 428 TCN ) cố vượt qua quan niệm đơn nguyên sự khai minh của các trường phái như Milê - trường phái Hêraclít xây dựng quan niệm đa nguyên về bản chất của thế giới vật chất đa dạng
Empedocles thừa nhận khởi nguyên của thế giới là bốn yếu tố : đất, nước, lửa và không khí Anaxagore cho rằng cơ sở đầu tiên của tất cả mọi sự vật là “những hạt giống” Anaxagore xem “ mọi cái được trộn lẫn trong mọi cái ” Tuy nhiên, quan điểm của họ cũng còn mang tính sơ khai, nghĩa là còn hạn chế Những hạn chế này được thuyết phục bởi thuyết nguyên tử luận Nhưng thuyết này vẫn còn sơ khai và nhận định bằng cảm tính
3.1.4-Trường phái nguyên tử luận
Trường phái này là đỉnh cao của triết học duy vật Hy Lạp cổ đại được thể hiện trong trường phái nguyên tử luận thế kỷ V – III TCN
[7]: Lịch Sử Triết Học Phương Tây, NXBTH TP HCM, 2006, Nguyễn Tiến Dũng, tr 26
Trang 12Leucippe là người sáng lập và Đêmôcrít là người kế thừa và phát triển
Leucippe (500 – 440 TCN), ông cho rằng, mọi sự vật được cấu thành từ những nguyên tử Đó là những hạt vật chất tuyệt đối không thể phân chia được, nó vô hạn
về số lượng và vô hạn về hình thức, nó vô cùng nhỏ bé, không thể thẩm thấu được
Tư tưởng của ông không được hiểu một cách đầy đủ, nhưng ông đã để lại qua những trang viết của các học trò ông tổng hợp Đêmôcrít (460 – 370 TCN) là học trò của Leucippe đã kế thừa và phát triển thuyết nguyên tử luận trên một phương diện mới Theo ông vũ trụ được cấu thành bởi hai thực thể đầu tiên là nguyên tử và chân không Hai thực thể này là căn nguyên của các sự vật hiện tượng
3.2-Chủ nghĩa duy tâm[8]
Giai đoạn Hy Lap cổ đại, chủ nghĩa duy tâm được hình thành trong trường phái triết học Pythagore, trải qua trường phái duy lý Êlê và đạt được đỉnh cao trong trường phái duy tâm khách quan của Platông, tức thế giới ý niệm
3.2.1-Trường phái Pythagore
Pytagore (Pythagore, 571 – 497 TCN) là nhà triết học, toán học uyên bác Sinh
ra và lớn lên ở vùng Tiểu Á Do ảnh hưởng của toán học ông cho rằng “con số” là bản nguyên của thế giới, là bản chất của vạn vật Một vật tương ứng với một con số nhất định, con số có trước vạn vật Và tư tưởng Pythagore cũng thừa nhận sự bất tử
và luân hồi của linh hồn Ông cũng bàn đến các mặt đối lập vôn có của mọi sự vật hiện tượng, ông quy về mười cặp đối lập hữu hạn và vô hạn, chẳn và lẻ, đơn và đa, phải và trái, nam và nữ, động và tĩnh, thẳng và công, sáng và tối, tốt và xấu, tứ giác
và đa diện Mười cặp đối lập này chia làm bốn lĩnh vực là: toan học, vật lý, sinh học
và đạo đức Đó là những mặt đối lập cơ bản của tự nhiên và xã hội
[8]: Lịch Sử Triết Học Phương Tây, NXBTH TP HCM, 2006, Nguyễn Tiến Dũng
Trang 13Chính trường phái Pythagore đã đặc nền móng ban đầu cho trào lưu duy tâm thời cổ đại của triết học Hy Lạp
3.2.2-Trường phái Êlê
Trường phái Êlê (V – IV TCN) do Xénophane thành lập theo chủ nghĩa duy vật, nhưng sau đó Pácmênít phát triển theo chủ nghĩa duy tâm và được Zeno nhiệt thành bảo vệ và phát huy
Xénophane (570 – 478 TCN) là bạn của Thales nên chịu ảnh hưởng của nhà triết học này Ông cho rằng mọi cái đều từ đất mà ra, và cuối cùng trở về đất Đất là cơ sở của vạn vật Cùng với nước, đất tạo nên sự sống của muôn loài Pácmênít (500 – 449 TCN) xuất thân trong một gia đình trí thức giàu có ở Êlê Ông cho rằng, “ tồn tại ” là bản chất chung thể hiện tính thống nhất của vạn vật trong thế giới “Tồn tại” là một phạm trù triết học mang tính khái quát cao, và nhận thức bởi tư duy, lý tính Quan niệm “ tồn tại ”đánh dấu một giai đoạn mới trong phát triển triết học Hy Lạp cổ đại Zeno (490 – 430 TCN), là người bảo vệ nhiệt thành trường phái Êlê Ông đưa ra những Aporic nghĩa là tình trạng không có lối thoát hay nghịch lý Thông qua
chúng, ông chứng minh rằng, “ tồn tại là đồng nhất, duy nhất là bất biến ” Còn tính phức tạp, đa dạng và vận động của thế giới là không thực
3.2.3-Trường phái duy tâm khách quan
Thể hiện lập trường chính trị của tầng lớp chủ nô bảo thủ chống lại nền dân chủ Aten và hệ thống triết học duy vật của trường phái nguyên tử luận Được xây dựng bởi Socrate và Platông
Socrate (469 – 399 TCN), khác với nhiều nhà bác học khác là không nghiên cứu
về giới tự nhiên, ông dành phần lớn nghiên cứu về con người, đạo đức “Con người
Trang 14hãy nhận thức về chính mình” Bàn về con người dưới khía cạnh đạo đức Platông (427 – 347 TCN), xuất thân trong một gia đình chủ nô quý tộc ở Aten Ông trở thành kiệt xuất nhất thời cổ đại Hy Lạp bởi quan niệm triết học duy tâm khách quan Ông xây dựng chủ nghĩa duy tâm khách quan với nội dung chính là “thuyết ý niệm”, với giá trị bên trong là phép biện chứng của khái niệm và nhiều tư tưởng sâu sắc khác về đạo đức, chính trị, xã hội
3.3-Chủ nghĩa nhị nguyên
Triết học Aristote :
Aristote (384 – 322 TCN) Ông sinh ra tại miền Bắc Hy Lạp, là học trò xuất sắc của Platông Nhưng đặc biệt ông phê phán học thuyết “ý niệm” của Platông Vì ý niệm nó thuộc về thế giới bên kia không có lợi cho người Theo Platông, ông cho rằng thuộc tính quan trọng của thế giới là “vận động” Triết học của Platông còn thể hiện ở quan điểm về thế giới tự nhiên Tự nhiên là toàn bộ của sự vật có một bản thể vật chất mãi mãi vận động và biến đổi Thông qua vận động mà giới tự nhiên được thể hiện ra Vận động không tách rời vật thể tự nhiên Vận động của thế giới tự nhiên có nhiều hình thức, sự tăng và giảm, sự ra đời và tiêu diệt, sự thay đổi trong không gian, sự thay đổi về chất … Tuy nhiên, triết học của ông còn hạn chế, dao động giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, nhưng ông đã mở ra một chân trời mới cho khoa học Phương Tây phát triển
4 Vài ưu điểm và hạn chế của triết học Hy Lạp cổ đại
4.1 Ưu điểm
-Triết học cổ hy lạp như hồi chuông tỉnh thức giấc mộng thần thánh muôn đời
Trang 15của người dân Hy Lạp Tách ly vai trò của thần thánh ra khỏi ý thức hệ của con người
-Vai trò của tự nhiên và con người được đề cập một cách khách quan Nhằm đi đến tìm hiểu con người và tự nhiên từ đâu mà có và đi về đâu
-Đạo đức lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại được đề cập
-Là nền tảng cho các trường phái triết học sau này
-Khoa học Duy nghiệm và Duy lý manh nha hình thành
-Trả lời phần nào câu hỏi: Con người có khả năng nhận thức thế giới không?
4.2 Hạn chế
-Triết học cổ Hy Lạp còn nằm trên tư duy trừu tượng là chủ yếu
-Các vấn đề triết học còn chưa rõ ràng, còn rời rạc chưa hệ thống hóa
-Tuy có đặt vai trò của con người, nhưng chưa hoàn toàn tách khỏi yếu tố thần linh
Platông
Qua việc tìm hiểu điều kiện lịch sử ra đời và phát triển cũng như là những đặc điểm cơ bản triết học Hy Lạp cổ đại phần nào giúp ta có cái nhìn cơ bản về bản chất của triết học Hy Lạp cổ đại là cuộc đấu tranh của chủ nghĩa duy vật và duy tâm mà đỉnh cao là cuộc đấu tranh về tư tưởng giữa hai nhà triết học Đêmôcrít và Platông.Vì vậy, việc đi sâu vào tìm hiểu tư tưởng triết học Đêmôcrít và Platông sẽ làm sáng tỏ hơn về đặc điểm, tầm quan trọng và ý nghĩa lịch sử của triết học Hy Lạp cổ đại đối với nền văn minh hiện đại