Còn thí nghiệm biểu diễn của giáo viên với số lượng lớn hơn thí nghiệm thực hành, tuy nhiên sách giáo khoa lại trình bày rất vắn tắt, có bài chỉ có hình ảnh mà không có hướng dẫn cách th
Trang 1CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi: - Hội đồng khoa học trường THPT
- Hội đồng khoa học Sở GD&ĐT …………
1 Thông tin tác giả sáng kiến
2 Sáng kiến đề nghị xét công nhận: “Cách tiến hành một số thí nghiệm biểu
diễn trong chương trình Vật lí 11 ban cơ bản”.
3 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Vật lí
4 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: 20/09/2020
5 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Tác giả đồng thời là chủ đầu tư sáng kiến
6 Mô tả bản chất của sáng kiến
6.1 Lí do chọn sáng kiến
Vật lí là môn khoa học thực nghiệm, do đó hầu hết các kiến thức vật lí đều được rút ra từ những quan sát và thí nghiệm Vì vậy, trong dạy học vật lí ở trường phổ thông, thí nghiệm là một phương tiện rất quan trọng, có tác dụng to lớn trong việc chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, của học sinh Nó không chỉ làm tăng tính hấp dẫn của môn học, giúp học sinh hiểu sâu sắc kiến thức lý thuyết đã được học mà quan trọng hơn là tạo cho học sinh một trực quan nhạy bén
Đối với một trường phổ thông trên địa bàn tỉnh Sơn La đặc biệt là các trường đóng trên địa bàn xã biên giới, khu vực có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn như trường THPT thì hầu hết học sinh là con em các dân tộc thiểu số, chất lượng đầu vào thấp, kiến thức ở các lớp dưới còn khiếm khuyết, trình độ tiếp thu hạn chế Nên việc truyền thụ kiến thức vật lí cho học sinh là một điều hết sức khó khăn
Qua nhiều năm dạy vật lí ở trường, tôi nhận thấy rằng: Với các tiết học có
sử dụng thí nghiệm, học sinh tỏ ra hứng thú và hiểu bài hơn Thực tế hiện nay theo đa số học sinh cho rằng: Vật lí là môn học quá khó và khô khan, nên để tạo hứng thú cho học sinh trong việc học tập môn vật lí là việc làm hết sức cần thiết
Để thực hiện được điều này, thì trong các tiết học có yêu cầu thí nghiệm chứng minh, giáo viên nên tiến hành
Hiện nay với sự ra đời của công nghệ thông tin và các phương tiện kĩ thuật hiện đại cùng với các phần mềm về thí nghiệm, đã giúp giáo viên giải quyết được một phần khó khăn trong các tiết dạy có thí nghiệm
Tuy nhiên, các thí nghiệm thực bao giờ cũng có sức thuyết phục hơn các thí nghiệm ảo Cho nên theo tôi những tiết học có thể sử dụng được thí nghiệm
Trang 2thực thì giáo viên nên làm thí nghiệm thực, chứ không nên quá lạm dụng công nghệ thông tin
Hơn thế nữa thí nghiệm vật lí được trình bày trong sách giáo khoa Vật lí THPT gồm hai loại chính: Thí nghiệm thực hành cho học sinh và thí nghiệm biểu diễn của giáo viên Với thí nghiệm thực hành cho học sinh sách giáo khoa
đã trình bày rất cụ thể và chi tiết từ mục đích, cơ sở lí thuyết, dụng cụ thí nghiệm cho tới các bước tiến hành thí nghiệm và có đầy đủ cả báo cáo kết quả thí nghiệm Còn thí nghiệm biểu diễn của giáo viên với số lượng lớn hơn thí nghiệm thực hành, tuy nhiên sách giáo khoa lại trình bày rất vắn tắt, có bài chỉ
có hình ảnh mà không có hướng dẫn cách thực hiện, cách sử dụng thiết bị thí nghiệm Đó là điều khó khăn đối với các giáo viên không giỏi thực hành và đối với những giáo viên đang công tác tại các trường cơ sở vật chất còn nghèo nàn, việc sử dụng thí nghiệm còn hạn chế trong quá trình dạy học vật lí ở trường THPT
Việc trình bày chi tiết về mục tiêu, cơ sở lý thuyết, dụng cụ thí nghiệm, cách sử dụng và các bước tiến hành thí nghiệm biểu diễn trong chương trình, giáo khoa sách vật lí phổ thông sẽ là tài liệu tham khảo giúp các thầy cô giải quyết được những khó khăn trên, để thực hiện thành công các bài giảng của mình
6.2 Mục đích nghiên cứu
Xác định vai trò của thí nghiệm, đặc biệt là thí nghiệm biểu diễn trong dạy học vật lí phổ thông Tìm hiểu thực trạng việc dạy học sử dụng thí nghiệm biểu diễn trong quá trình dạy học vật lí ở trường phổ thông Tiến hành nghiên cứu một số thí nghiệm biểu diễn trong chương trình sách giáo khoa Vật lí lớp 11 ban
cơ bản Trực tiếp làm thí nghiệm, sau đó trình bày mục đích, cơ sở lý thuyết, dụng cụ, các bước tiến hành của các thí nghiệm đó, làm tài liệu tham khảo cho giáo viên trong công tác giảng dạy Rút ra các kết luận sư phạm nhằm nâng cao hiệu quả việc sử dụng thí nghiệm trong dạy học ở trường phổ thông
6.3 Tình trạng của giải pháp đã biết
6.3.1 Tình trạng của giải pháp đã biết
Lâu nay, việc sử dụng thí nghiệm trong dạy học Vật lí ở các trường phổ thông nói chung và trường THPT nói riêng đã và đang được các thầy giáo,
cô giáo thực hiện một cách thường xuyên Song để thực hiện thành công hầu hết các thí nghiệm và vận dụng các thí nghiệm trong việc xây dựng phương án dạy học mỗi bài học vật lí cụ thể để từ đó góp phần vào nâng cao chất lượng dạy học
bộ môn thì không nhiều người làm được, không thường xuyên làm được
Việc sử dụng các thí nghiệm vật lí thường chỉ được thực hiện ở các tiết học thực hành, mà chưa được thực hiện nhiều ở các tiết dạy trên lớp có thí nghiệm biểu diễn Với thí nghiệm thực hành cho học sinh sách giáo khoa đã trình bày rất cụ thể và chi tiết từ mục đích, cơ sở lí thuyết, dụng cụ thí nghiệm cho tới các bước tiến hành thí nghiệm và có đầy đủ cả báo cáo kết quả thí nghiệm Còn thí
Trang 3nghiệm biểu diễn của giáo viên với số lượng lớn hơn thí nghiệm thực hành, tuy nhiên sách giáo khoa lại trình bày rất vắn tắt, có bài chỉ có hình ảnh mà không
có hướng dẫn cách thực hiện, cách sử dụng thiết bị thí nghiệm Đó là điều khó khăn đối với các giáo viên không giỏi thực hành và đối với những giáo viên đang công tác tại các trường cơ sở vật chất còn nghèo nàn, việc sử dụng thí nghiệm còn hạn chế trong quá trình dạy học vật lí ở trường THPT
Nguyên nhân dẫn tới thực trạng này một phần là do năng lực sử dụng các thiết bị dạy học cũng như các thiết bị thí nghiệm của giáo viên còn hạn chế Ngoài
ra, cũng cần phải thừa nhận rằng đội ngũ giáo viên chúng ta chưa mạnh dạn tìm tòi, nghiên cứu sử dụng, để các thí nghiệm Vật lí, các phương tiện dạy học hiện đại thực sự mang lại hiệu quả
6.3.2 Đánh giá ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân
6.3.2.1 Ưu điểm
Đại đa số các thầy cô giáo đã nhận thức đầy đủ được vai trò và ý nghĩa của việc sử dụng thí nghiệm trong dạy học các môn học nói chung và bộ môn Vật lí nói riêng Mỗi người giáo viên đều được trang bị những kỹ năng cơ bản để thực hiện các thí nghiệm trong dạy học khi học tập ở các trường sư phạm
Nền giáo dục nước nhà đang được quan tâm đầu tư đúng mức góp phần hướng tới trang bị đầy đủ các thiết bị phục vụ dạy học đặc biệt là các bộ thí nghiệm trong các nhà trường
6.3.2.2 Hạn chế
- Việc trang bị thiết bị dạy học đặc biệt là các bộ thí nghiệm còn hạn chế Nhiều trường học các thiết bị để lâu không sử dụng dẫn tới hỏng hóc nhiều
- Các thầy cô giáo còn ngại chuẩn bị các thí nghiệm trên lớp, hoặc chỉ sử dụng các thí nghiệm ảo thay thế
- Kinh nghiệm cũng như kỹ năng tiến hành các thí nghiệm biểu diễn trong dạy học của một số thầy cô còn hạn chế
6.3.2.3 Một số nguyên nhân của hạn chế
Sở dĩ có thực trạng trên, theo tôi là do một số nguyên nhân sau:
- Thứ nhất phải kể đến những thiết bị thí nghiệm đang rất thiếu những thiết
bị đã có thì hỏng rất nhiều có thiết bị thì hỏng một phần hoặc hỏng toàn phần
- Mặc dù mỗi người giáo viên đều được trang bị những kỹ năng cơ bản để thực hiện các thí nghiệm trong dạy học khi học tập ở các trường sư phạm Tuy nhiên để sử dụng thành thạo, thí nghiệm chính xác và vận dụng vào dạy học như thế nào thì không phải ai cũng làm được
- Tài liệu hướng dẫn chi tiết các thí nghiệm biểu diễn còn ít Đa số các giáo viên chỉ sử dụng hướng dẫn trong sách giáo khoa
6.4 Nội dung của giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến
Trang 46.4.1 Mô tả chi tiết bản chất của sáng kiến
PHẦN I: LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM
1 Thí nghiệm vật lí là gì?
Thí nghiệm vật lí là sự tác động có chủ định, có hệ thống của con người
và các đối tượng của hiện thực khách quan Thông qua sự phân tích các điều kiện mà trong đó đã diễn ra sự tác động và các kết quả của sự tác động, ta có thể thu nhận được các tri thức mới
2 Đặc điểm của thí nghiệm vật lí
- Các điều kiện của thí nghiệm phải được lựa chọn và được thiết lập có chủ định sao cho thông qua thí nghiệm, có thể trả lời được câu hỏi đặt ra, có thể kiểm tra được giả thuyết hoặc hệ quả suy ra từ giả thuyết Mỗi thí nghiệm có ba yếu tố cấu thành cần được xác định rõ: đối tượng cần nghiên cứu,phương tiện gây tác động lên đối tượng cần nghiên cứu và phương tiện quan sát, đo đạc để thu nhận các kết quả của sự tác động
- Các điều kiện của thí nghiệm có thể làm biến đổi được để ta có thể nghiên cứu sự phụ thuộc giữa 2 đại lượng, trong khi các đại lượng khác được giữ không đổi
- Các điều kiện của thí nghiệm phải được khống chế, kiểm soát đúng như
dự định nhờ sử dụng các thiết bị thí nghiệm có độ chính xác ở mức độ cần thiết, nhờ sự phân tích thường xuyên các yếu tố của đối tượng cần nghiên cứu, làm giảm tối đa ảnh hưởng của các nhiễu (nghĩa là loại bỏ tối đa một số điều kiện để không làm xuất hiện các tính chất, các mối quan hệ không được quan tâm )
- Đặc điểm quan trọng nhất của thí nghiệm là tính có thể quan sát được các biến đổi của đại lượng nào đó do sự biến đổi của đại lượng khác Điều này đạt được nhờ các giác quan của con người và sự hỗ trợ của các phương tiện quan sát, đo đạc
- Có thể lặp lại được thí nghiệm Điều này có nghĩa là: với các thiết bị thí nghiệm, các điều kiện thí nghiệm như nhau thì khi bố trí lại thí nghiệm, tiến hành lại thí nghiệm, hiện tượng, quá trình vật lí phải diễn ra trong thí nghiệm giống nhau như các lần thí nghiệm trước đó
3 Các chức năng của thí nghiệm trong dạy học vật lí
Theo quan điểm của lý luận nhận thức, trong dạy học vật lí ở trường phổ thông, thí nghiệm vật lí có các chức năng sau:
- Thí nghiệm vật lí là phương tiện của việc thu nhận tri thức (nguồn trực tiếp của tri thức)
- Thí nghiệm vật lí là phương tiện để kiểm tra tính đúng đắn của tri thức đã thu được
- Thí nghiệm vật lí là phương tiện của việc vận dụng tri thức đã thu được vào thực tiễn
Trang 5- Thí nghiệm vật lí là một bộ phận của các phương pháp nhận thức vật lý.
4 Các chức năng của thí nghiệm theo quan điểm lý luận dạy học
Thí nghiệm có thể sử dụng ở tất cả các giai đoạn khác nhau của quá trình dạy học
- Giai đoạn định hướng mục đích nghiên cứu
- Giai đoạn hình thành kiến thức mới
- Quá trình củng cố kiến thức, kĩ năng của học sinh
- Kiểm tra, đánh giá kiến thức và kĩ năng của học sinh
+ Thí nghiệm là phương tiện góp phần phát triển nhân cách toàn diện của học sinh
- Thí nghiệm là phương tiện để nâng cao chất lượng kiến thức và rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo về vật lí của học sinh
- Thí nghiệm là phương tiện kích thích hứng thú học tập vật lí, tổ chức quá trình học tập tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh
- Thí nghiệm là phương tiện tổ chức các hình thức làm việc tập thể khác nhau, bồi dưỡng các phẩm chất đạo đức của học sinh
+ Thí nghiệm là phương tiện đơn giản hoá và trực quan trong dạy học vật lí
5 Thí nghiệm biểu diễn là gì?
Thí nghiệm biểu diễn là thí nghiệm được giáo viên tiến hành ở trên lớp, trong các giờ học nghiên cứu kiến thức mới và có thể ở các giờ học củng cố kiến thức của học sinh
6 Phân loại thí nghiệm biểu diễn
Căn cứ vào mục đích lý luận dạy học của thí nghiệm biểu diễn trong quá trình nhận thức của học sinh, thí nghiệm biểu diễn gồm ba loại sau:
- Thí nghiệm mở đầu là thí nghiệm nhằm giới thiệu cho học sinh biết qua
về hiện tượng sắp nghiên cứu, để tạo tình huống có vấn đề, tạo nhu cầu hứng thú học tập của học sinh, lôi cuốn học sinh vào hoạt động nhận thức
- Thí nghiệm nghiên cứu hiện tượng là thí nghiệm nhằm xây dựng nên
hoặc kiểm chứng lại kiến thức mới, được sử dụng trong giai đoạn nghiên cứu kiến thức mới Thí nghiệm nghiên cứu hiện tượng bao gồm:
+ Thí nghiệm nghiên cứu khảo sát là thí nghiệm nhằm cung cấp các cứ liệu thực nghiệm để từ đó khái quát hoá quy nạp, kiểm tra được tính đúng đắn của giả thuyết hoặc hệ quả lôgic rút ra từ giả thuyết đã đề xuất, giải quyết được vấn đề xuất hiện ở đầu giờ học, từ đó xây dựng nên kiến thức mới
Trang 6+ Thí nghiệm nghiên cứu minh hoạ là thí nghiệm nhằm kiểm chứng lại kiến thức đã được xây dựng bằng con đường lý thuyết, dựa trên những phép suy luận lôgic chặt chẽ (trong đó có suy luận toán học)
- Thí nghiệm củng cố là thí nghiệm nêu lên những biểu hiện của kiến thức
đã học trong tự nhiên, đề cập các ứng dụng của kiến thức này trong sản xuất và đời sống, đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức đã học để dự đoán hoặc giải thích hiện tượng hay cơ chế hoạt động của các thiết bị, dụng cụ kĩ thuật Thông qua đó, giáo viên cũng có thể kiểm tra được mức độ nắm vững kiến thức của học sinh
Thí nghiệm củng cố có thể được sử dụng trong các tiết học nghiên cứu kiến thức mới hay cả trong những giờ luyện tập và hệ thống hoá kiến thức đã học
7 Những yêu cầu về mặt kĩ thuật và về mặt phương pháp đối với việc sử dụng thí nghiệm biểu diễn trong dạy học
Việc sử dụng thí nghiệm biểu diễn phải tránh tình trạng lạm dụng thí nghiệm, chỉ sử dụng thí nghiệm như là một sự trình diễn đơn thuần và phải tuân thủ các yêu cầu của việc đặt kế hoạch thí nghiệm, chuẩn bị thí nghiệm, bố trí thí nghiệm, tiến hành thí nghiệm và xử lý kết quả thí nghiệm
a) Các yêu cầu trong việc đặt kế hoạch thí nghiệm
- Xác định chính xác mục đích của thí nghiệm cần phải tiến hành và chức năng lý luận dạy học của nó (đề xuất vấn đề cần nghiên cứu, hình thành kiến thức mới, củng cố hay kiểm tra đánh giá)
- Xác định các nhiệm vụ mà học sinh cần phải hoàn thành trong việc chuẩn
bị thí nghiệm, trong việc tiến hành thí nghiệm và trong việc xử lý kết quả thí nghiệm
- Từ mục đích thí nghiệm và vị trí của nó trong quá trình nhận thức của học sinh, lựa chọn phương án thí nghiệm cần biểu diễn đáp ứng các đòi hỏi sư phạm: tính trực quan (các dụng cụ phải có kích thước đủ lớn để cả lớp nhìn rõ,
có cấu tạo đơn giản, thể hiện rõ được nguyên tắc khoa học của hiện tượng cần nghiên cứu, có màu sắc thích hợp, hình dạng đẹp đẽ lôi cuốn sự chú ý của học sinh, nhất là ở những chi tiết chính, trên đó biểu hiện kết quả thí nghiệm; bố trí thí nghiệm sáng sủa, dễ hiểu, có thể nhận thấy rõ ràng kết quả thí nghiệm, loại
bỏ được một cách tối đa các hiện tượng không muốn), tính hiệu quả (các dụng
cụ là tối thiểu, hoạt động tốt, có độ chính xác cao; ưu tiên thí nghiệm đơn giản, thí nghiệm có tiến hành nhanh chóng; sử dụng thí nghiệm song song), tính an toàn (dụng cụ, cách bố trí và tiến hành thí nghiệm phải đảm bảo an toàn cho người và dụng cụ, bố trí thí nghiệm vững chắc, có thể di chuyển dễ dàng) và đặt
kế hoạch tiến hành một chuỗi các thí nghiệm sao cho có đủ cứ liệu để khát quát hoá, trong đó có việc xác định thời điểm sử dụng, thời gian cần thiết cho mỗi thí nghiệm trong giờ học
b) Các yêu cầu trong việc chuẩn bị thí nghiệm
Trang 7- Nghiên cứu kĩ lưỡng tính năng của các dụng cụ thí nghiệm đã được lựa chọn và sử dụng thành thạo chúng
- Trước giờ học, phải kiểm tra sự hoạt động của các dụng cụ sẽ sử dụng và thử nghiệm lại các thí nghiệm sẽ tiến hành, dù là thí nghiệm đơn giản nhất, kịp thời thay thế những bộ phận hỏng hóc
Công việc chuẩn bị thí nghiệm chỉ kết thúc khi thí nghiệm có thể lặp lại nhiều lần, cho kết quả rõ ràng, đơn trị
c) Các yêu cầu trong việc bố trí thí nghiệm
Bố trí thí nghiệm phải đảm bảo sao cho mọi học sinh từ vị trí ngồi trong lớp học đều nhìn rõ mọi dụng cụ, độ lệch của kim chỉ các dụng cụ đo, đẹp về thẩm mỹ Muốn vậy, cần thực hiện các yêu cầu sau:
- Lắp ráp từng bước các dụng cụ trong thí nghiệm trước mắt học sinh Trong trường hợp không cho phép, phải lắp ráp hoàn chỉnh trước giờ học thì cần phải phân tích kỹ lưỡng cách nối kết các bộ phận với học sinh
- Những thiết bị học sinh gặp lần đầu, phải mô tả, giải thích cho học sinh hiểu rõ nguyên tắc hoạt động của chúng
- Chỉ đặt trên bàn những dụng cụ cần thiết cho thí nghiệm
- Bố trí các dụng cụ thí nghiệm trên nhiều độ cao khác nhau Bố trí thí nghiệm thẳng đứng (có thể sử dụng các giá, bảng sắt), nếu phải bố trí thí nghiệm trên mặt phẳng nằm ngang thì phải sử dụng các phương pháp chiếu sáng (gương phẳng lớn đặt nghiêng 45o để học sinh quan sát ảnh thẳng đứng trong gương, đèn chiếu sáng, camera) Thay đổi độ sáng của phòng học, nhất là khi tiến hành các thí nghiệm quang hình học
- Cần sắp xếp các dụng cụ mà ở đó hiện tượng mong muốn sẽ diễn ra nằm bên phải các dụng cụ khác, các dụng cụ chính ở mặt trước, không che khuất nhau, các bộ phận của thiết bị phải nằm cạnh nhau
- Dùng vật chỉ thị để làm nổi bật bộ phận chính, đánh dấu sự diễn biến hiện tượng mà học sinh cần theo dõi (vật làm mốc, chất chỉ thị màu…)
- Bố trí các dây nối, đặc biệt trong các thí nghiệm điện không được cắt nhau Dùng các dây nối có màu sắc khác nhau để dễ phân biệt Chọn một mặt sau (phông) thích hơn đặt phía sau các máy đo trong suốt
- Đối với mỗi thí nghiệm, phải có một hình vẽ (trên bảng, giấy) thống nhất tối đa với bố trí thí nghiệm
d) Các yêu cầu trong việc tiến hành thí nghiệm
- Trong quá trình tiến hành thí nghiệm, cần định hướng học sinh vào những trọng điểm cần quan sát
- Đối với thí nghiệm định lượng, phải lập bảng ghi các giá trị hợp lý trước khi tiến hành thí nghiệm
Trang 8- Trong suốt quá trình tiến hành thí nghiệm, giáo viên phải đứng sau hoặc
ở cạnh dụng cụ thí nghiệm, không che khuất tầm quan sát của mọi học sinh
- Thí nghiệm cần được lặp lại vài lần, chú ý đảm bảo các điều kiện mà thí nghiệm phải thoả mãn, phải cho những kết quả rõ ràng, đơn trị (yêu cầu này có thể đạt được thông qua việc lựa chọn dụng cụ thích hợp, lựa chọn các thông số thuận tiện), ngắn gọn
e) Các yêu cầu trong việc xử lý kết quả
- Việc thu nhận các cứ liệu thực nghiệm phải trung thực, đủ cho việc khái quát hóa rút ra kết luận
- Việc xử lý các kết quả thí nghiệm phải được dành đủ thời gian và được thực hiện một cách chu đáo như:
• Đối với thí nghiệm định tính, học sinh phải phát biểu các kết quả đã quan sát thấy, phân tích, suy luận lôgic để rút ra kết luận
• Đối với thí nghiệm định lượng, các kết quả phải dành mạch, chính xác, làm tròn có ý nghĩa các kết quả Biểu diễn các kết quả thu được qua thí nghiệm dưới dạng biểu bảng, đồ thị (về nguyên tắc, không phải là sự nối các điểm đo riêng biệt với nhau mà là vẽ đường cong gần đúng) Phải tính toán sai số (nếu có thể)
Từ việc xử lý các kết quả thí nghiệm, hướng dẫn học sinh rút ra các kết luận về các dấu hiệu, mối liên hệ bản chất trong hiện tượng, quá trình vật lí đang nghiên cứu, phát triển chúng bằng lời hay bằng những biểu thức toán học
PHẦN II: CÁCH TIẾN HÀNH MỘT SỐ THÍ NGHIỆM BIỂU DIỄN
1 Thí nghiệm khảo sát sự nhiễm điện do tiếp xúc và do hưởng ứng
1.1 Mục đích thí nghiệm
Chứng tỏ sự nhiễm điện của một vật trung hoà về điện khi tiếp xúc hoặc khi được đặt gần một vật khác mang điện
1.2 Cơ sở lý thuyết
Có thể làm nhiễm điện một vật bằng cách cho nó tiếp xúc hoặc đặt gần vật mang điện
1.3 Dụng cụ thí nghiệm
Bộ thí nghiệm biểu diễn (Hình 10)
bao gồm:
- Máy phát điện Uyn-sớt (1)
- Tĩnh điện kế (2)
- Hai vật dẫn có gắn các tua vải(3)
- Vật dẫn điện (4) có một đầu nhọn,
một đầu lõm và gắn các tua vải dài 80 mm
Trang 9- Các dây dẫn
1.4 Tiến trình thí nghiệm
* Thí nghiệm 1: Khảo sát sự nhiễm điện do tiếp xúc
- B1: Dùng vật (4) dẫn chạm vào đầu thu tĩnh điện kế thì kim điện kế không lệch chứng tỏ vật dẫn trung hoà về điện
- B2: Quay máy Uyn-sớt, chạm vật dẫn (4) vào một cực của máy Uyn-sớt Tách vật dẫn ra, chạm vật vào đầu thu của tĩnh điện kế Kết quả thấy kim tĩnh điện kế lệch, chứng tỏ vật dẫn hình cầu đã bị nhiễm điện do tiếp xúc
* Thí nghiệm 2: Khảo sát sự nhiễm điện do hưởng ứng
- B1: Nối vật dẫn (4) với một cực của máy Uyn-sớt
- B2: Đặt hai vật dẫn có gắn các tua vải (3) tiếp xúc với nhau và cách vật dẫn (4) khoảng 1cm
- B3: Quay máy phát Uyn-sớt Kết quả thấy các tua vải ở hai phần vật dẫn
bị xoè ra chứng tỏ chúng bị nhiễm điện
2 Thí nghiệm phát hiện dòng nhiệt điện
2.1 Mục đích thí nghiệm
Khảo sát sự xuất hiện dòng nhiệt điện khi có sự chênh lệch nhiệt độ giữa hai chỗ tiếp xúc của hai dây kim loại khác nhau
2.2 Cơ sở lý thuyết
Cặp nhiệt điện là hai dây kim loại khác bản chất mà hai đầu của chúng được hàn vào nhau Khi nhiệt độ hai mối hàn khác nhau thì trong mạch sẽ xuất hiện suất điện động nhiệt điện
2.3 Dụng cụ thí nghiệm
Dụng cụ thí nghiệm (Hình 11) bao
gồm:
- Hộp gỗ (1) kích thước 320 mm ×
230 mm ×
130mm, có xốp để chứa linh
kiện
- Hai đồng hồ vạn năng (2)
- Cặp nhiệt điện đồng –
côngxtantan(3)
- Dây dẫn có chốt cắm (4)
- Đèn cồn (bật lửa ga)
2.4 Tiến trình thí nghiệm
- B1: Nối 2 cực của cặp nhiệt điện đồng –
côngxtantan với điện kế ( Hình 12)
Trang 10- B2: Dùng đèn cồn (bật lửa ga) đốt mối hàn của cặp nhiệt điện, ta sẽ quan sát thấy dòng điện tăng dần lên Điều này chứng tỏ có sự xuất hiện dòng nhiệt điện
- B3: Tắt đèn cồn (bật lửa ga) thì kim điện kế lại trở về số 0
3 Thí nghiệm dòng điện trong chất điện phân
3.1 Mục đích thí nghiệm
Khảo sát mối quan hệ giữa hiệu điện thế và dòng điện trong chất điện phân khi có hiện tượng cực dương tan
3.2 Cơ sở lý thuyết
Dòng điện trong chất điện phân là dòng dịch chuyển có hướng của các ion dương theo chiều điện trường và của các ion âm ngược chiều điện trường
3.3 Dụng cụ thí nghiệm
Dụng cụ thí nghiệm (Hình 13) bao
gồm:
- Hộp gỗ (1) 320 mm x 230 mm x
130 mm, có xốp để chứa linh kiện
- Hai đồng hồ vạn năng (2)
- Biến trở (3) 10 20÷ Ω
- Cốc đựng dung dịch (4) đường kính
50mm, cao 60 mm, có cặp điện cực bằng
đồng đỏ
- CuSO4 dạng bột (5)
- Dây nối biến trở và 6 dây dẫn có chốt cắm (6)
3.4 Tiến trình thí nghiệm
- B1: Hoà tan CuSO4 vào nước cất tạo thành dung dịch, nhúng hai cực đồng vào dung dịch CuSO4
- B2: Mắc mạch điện theo sơ đồ như hình 14
- B3: Đổ nước cất vào bình, bật công tắc nguồn, miliampe kể chỉ sổ 0 cho thấy không có dòng điện chạy qua