Thông thường theo nghĩa đầu tiên thì người ta hiểu là lạm phát của đơn vị tiền tệ trong phạm vi nền kinh tế của một quốc gia, còn theo nghĩa thứ hai thì người ta hiểu là lạm phát của một
Trang 1BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ THẢO LUẬN
ĐỀ TÀI:
LẠM PHÁT VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2004 – 2011, BÀI HỌC KIỂM SOÁT LẠM PHÁT TỪ MỸ - TRUNG QUỐC
A Cơ sở lý luận về lạm phát
1- Khái niệm và phân loại
a- Khái niệm:
Theo kinh tế học, lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh tế Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác Thông thường theo nghĩa đầu tiên thì người ta hiểu là lạm phát của đơn vị tiền tệ trong phạm vi nền kinh tế của một quốc gia, còn theo nghĩa thứ hai thì người ta hiểu là lạm phát của một loại tiền tệ trong phạm vi thị trường toàn cầu
b- Phân loại
Xét về mặt định lượng: Dựa vào độ lớn của tỉ lệ lạm phát:
- Lạm phát vừa phải: giá cả tăng chậm và tỉ lệ lạm phát thấp hơn 10%/ năm, đây là mức độ lạm phát mà nền kinh tế chấp nhận được
- Lạm phát cao: Lạm phát ở mức 2 con số một năm Khi đó đã gây ra những tác động tiêu cực, đe dọa sự ổn định của nền kinh tế
- Siêu lạm phát: Lạm phát trên 3 chữ số, đây là tình trạng đã mất kiểm soát về lạm phát, giá
cả tăng chóng mặt và nội tệ mất giá nghiêm trọng VD siêu lạm phát ở Đức thời kì 1922-1923
VN năm 1989 cũng xảy ra siêu LP khi tỉ lệ LP lên tới 774 %
Xét về mặt định tính
- Lạm phát cân bằng (lạm phát tăng tương ứng với tăng thu nhập) và lạm phát không cân bằng (lạm phát tăng không tương ứng với tăng thu nhập)
- Lạm phát dự đoán trước (lạm phát ổn định trong một thời gian dài) và lạm phát bất thường (tăng đột biến trong một thời gian ngắn)
2-Các chỉ tiêu đo lường lạm phát : thông qua sự gia tăng các chỉ số giá của nền kinh tế: Ba
chỉ số giá thường được sử dụng:
Chỉ số giá tiêu dùng: CPI
- Đo lường mức giá chung của giỏ hàng hóa điển hình của người tiêu dùng cuối cùng
- Công thức:
CPI t = Chi phí mua giỏ hàng ở thời kì t
Chi phí mua giỏ hàng ở kì gốc
Chỉ số giá sản xuất: PPI
- Đo lường mức biến động giá của các yếu tố đầu vào sản xuất
- Công thức: IP= ip d
Trong đó: ip: chỉ số giá của từng nhóm hàng
Trang 2d: tỷ trọng mức tiêu dùng của từng nhóm hàng
Chỉ số điều chỉnh GDP: D.GDP
- Đo lường mức biến động giá của hàng sản xuất trong nước
- Công thức:
D GDP t = GDP danh nghĩa thời kì t
GDP thực tế thời kì t
3- Các nguyên nhân gây ra lạm phát
- Lạm phát do cầu kéo:
Khi tổng cầu AD gia tăng (VD: chính sách kích cầu, giảm lãi suất khuyến khích đầu tư, tăng chi tiêu CP và giảm thuế) trong mô hình AD-AS: đường tổng cầu AD dịch phải làm sản lượng tăng và mức giá tăng
- Lạm phát do chi phí đẩy:
Do các cú sốc cung (VD: giá dầu thế giới gia tăng), làm chi phí đầu vào sản xuất của DN tăng cao, các DN khó khăn phải thu hẹp quy mô sản xuất, làm giảm lượng cung hàng hóa, đường tổng cung AS dịch trái, làm mức giá tăng và sản lượng giảm
- Lạm phát do cung tiền:
Khi NHTW đưa quá nhiều tiền vào lưu thông so với nhu cầu về tiền thực tế của nền kinh tế sẽ đẩy mặt bằng giá chung lên cao
4- Các tác động của lạm phát:
a- Hiệu ứng tích cực:
- Nhà kinh tế đoạt giải Nobel James Tobin nhận định rằng lạm phát (tỷ lệ tăng giá mang giá trị dương) vừa phải sẽ có lợi cho nền kinh tế Ông dùng từ "dầu bôi trơn" để miêu tả tác động tích cực của lạm phát
- Sự tồn tại của lạm phát có những tác động tích cực:
+ Tạo nên sự chênh lêch giá hàng hóa dịch vụ giữa các vùng thương mại năng động hơn
+ Mức lạm phát vừa phải làm cho chi phí thực tế mà nhà sản xuất phải chịu để mua đầu vào lao động giảm đi mở rộng sản xuất, giảm thất nghiệp, tăng việc làm
+ Lạm phát trong ngắn hạn đánh đổi bởi thất nghiệp Buộc lao động nâng cao trình
độ để tìm phù hợp với công việc, gia tăng chất lượng lao động
+ làm đồng nội tệ mất giá tương đối có lợi cho xuất khẩu, tăng thu ngoại tệ, thúc đẩy SX trong nước
b- Hiệu ứng tiêu cực:
Đối với lạm phát dự kiến được
Trong trường hợp lạm phát có thể được dự kiến trước thì các thực thể tham gia vào nền kinh
tế có thể chủ động ứng phó với nó, tuy vậy nó vẫn gây ra những tổn thất cho xã hội:
Chi phí mòn giày: lạm phát giống như một thứ thuế đánh vào người giữ tiền và lãi suất danh nghĩa bằng lãi suất thực tế cộng với tỷ lệ lạm phát nên lạm phát làm cho người ta giữ ít tiền hay làm giảm cầu về tiền Khi đó họ cần phải thường xuyên đến ngân hàng để rút tiền
Trang 3hơn Các nhà kinh tế đã dùng thuật ngữ "chi phí mòn giày" để chỉ những tổn thất phát sinh do
sự bất tiện cũng như thời gian tiêu tốn mà người ta phải hứng chịu nhiều hơn so với không có lạm phát
Chi phí thực đơn: lạm phát thường sẽ dẫn đến giá cả tăng lên, các doanh nghiệp sẽ mất thêm chi phí để in ấn, phát hành bảng giá sản phẩm
Làm thay đổi giá tương đối một cách không mong muốn: trong trường hợp do lạm phát doanh nghiệp này tăng giá (và đương nhiên phát sinh chi phí thực đơn) còn doanh nghiệp khác lại không tăng giá do không muốn phát sinh chi phí thực đơn thì giá cả của doanh nghiệp giữ nguyên giá sẽ trở nên rẻ tương đối so với doanh nghiệp tăng giá Do nền kinh tế thị trường phân bổ nguồn lực dựa trên giá tương đối nên lạm phát đã dẫn đến tình trạng kém hiệu quả xét trên góc độ vi mô
Lạm phát có thể làm thay đổi nghĩa vụ nộp thuế của các cá nhân trái với ý muốn của người làm luật do một số luật thuế không tính đến ảnh hưởng của lạm phát Ví dụ: trong trường hợp thu nhập thực tế của cá nhân không thay đổi nhưng thu nhập danh nghĩa tăng do lạm phát thì
cá nhân phải nộp thuế thu nhập trên cả phần chênh lệch giữa thu nhập danh nghĩa và thu nhập thực tế
Lạm phát gây ra sự nhầm lẫn, bất tiện: đồng tiền được sử dụng để làm thước đo trong tính toán các giao dịch kinh tế, khi có lạm phát cái thước này co giãn và vì vậy các cá nhân khó khăn hơn trong việc ra các quyết định của mình
Đối với lạm phát không dự kiến được
Đây là loại lạm phát gây ra nhiều tổn thất nhất vì nó phân phối lại của cải giữa các cá nhân một cách độc đoán Các hợp đồng, cam kết tín dụng thường được lập trên lãi suất danh nghĩa khi lạm phát cao hơn dự kiến người đi vay được hưởng lợi còn người cho vay bị thiệt hại, khi lạm phát thấp hơn dự kiến người cho vay sẽ được lợi còn người đi vay chịu thiệt hại Lạm phát không dự kiến thường ở mức cao hoặc siêu lạm phát nên tác động của nó rất lớn
Trên thực tế: Lạm phát có những tác động tiêu cực như sau:
+ Đối với dân cư: Lạm phát ảnh hưởng lớn nhất tới đời sống của các cá nhân có thu nhập thấp, khi mức giá tăng nhanh trong khi đồng lương eo hẹp, chi tiêu phải giảm thiểu đáng kể Lạm phát gây ra thiệt hại cho những người cho vay hay người tiết kiệm ( vì lãi suất danh nghĩa là cố định trong các hợp đồng vay, trong khi lạm phát cao làm cho lãi suất thực tế được hưởng giảm sút, thậm chí âm )
+ Đối với các doanh nghiệp: Hiệu quả sản xuất bị suy giảm: Chi phí đầu vào gia tăng và nhu cầu từ phía thị trường thu hẹp dẫn tới nguy cơ phá sản, có thể gây ra những cộng hưởng xấu đối với nền kinh tế đang trong thời kì suy thoái
+ Đối với Chính phủ: CP sẽ đối mặt với áp lực phải đưa ra các biện pháp kìm chế lạm phát, và các hệ lụy của nó như căng thẳng tỉ giá, hoạt động đầu tư nước ngoài có thể đình trệ khi kinh
tế trong nước bất ổn, thất nghiệp gia tăng kéo theo tệ nạn xã hội và bất ổn định trong hệ thống chính trị, an ninh xã hội…
B Thực tiễn lạm phát Việt Nam giai đoạn 2004 – 2011
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về "lạm phát", chúng tôi xin đưa ra một số nhận định về tình hình kinh tế vĩ mô việt nam thời gian qua
Trang 4Không thể phủ nhận rằng, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước chuyển biến nhanh chóng, với mức tăng trưởng GDP trung bình năm đạt trong vòng 10 năm qua Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, kinh tế Việt Nam cũng bộc lộ nhiều yếu kém, "lạm phát" là một vấn đề luôn được quan tâm trong những năm gần đây sau một thời gian dài được duy trì ở ngưỡng cho phép của QH
Nhìn trên biểu đồ có thể thấy, lạm phát bắt đầu tăng mạnh trở lại vào năm 2004 (9%), đỉnh điểm vào năm 2008 (22,95%), trong vài năm gần đây, tuy đã được khắc phục nhưng vẫn luôn
ở mức cao so với tăng trưởng GDP và so với các nước trong khu vực
Theo dõi chuỗi số liệu kinh tế VN từ 2004 trở lại đây, có thể chia thành 3 giai đoạn với những nguyên nhân và giải pháp chính phủ đã thực hiện để kiềm chế lạm phát khác nhau
- gđ1: 2004 – 2006: lạm phát bùng phát bắt đầu trở lại
- gđ2: 2007 – 2008: lạm phát đạt đỉnh
- gđ3: 2009 – 2011: giải quyết hậu quả của lạm phát kèm suy thoái
1 Giai đoạn 2004 – 2006:
a Nguyên nhân
Với vấn đề Cung tiền:
- Sau cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực Châu Á 1997, Chính phủ VN đã tiến hành chính sách kích cầu đi liền gia tăng tín dụng và đồng thời in tiền cung cấp cho nền kinh tế khiến lạm phát xảy ra với con số 9,5%
Số liệu:
Cụ thể là tỷ lệ đầu tư so với GDP tăng từ 27,6% năm 1999 lên 32,1% cuối 2003
Tổng phương tiện thanh toán tăng nhanh năm 2005 là 23.4%, năm 2006 là 33.6%, năm 2007
là 53.8%, tổng cộng 3 năm cung tiền M2 tăng 134.2%, trong khi 3 năm GDP chỉ tăng 25.09% dẫn tới hệ số nhân tiền tệ trở nên cao hơn
Rồi để mở rộng hệ thống, các NHTM chấp nhận cho người dân có thể vay tiền với điều kiện
dễ dàng hơn
- Ngoài cung tiền từ Ngân Hàng Trung Ương đưa ra, còn phải kể đến lượng kiều hối và đầu tư nước ngoài chảy vào Việt Nam : năm 2006, ODA của nước ta đạt được là 4.45 tỷ USD và giải ngân 2 tỷ USD Kiều hối tăng cao, trên 3 triệu người Việt đang sinh sống và làm việc ở 94 quốc gia đã gửi về 4 tỷ USD trong năm 2006
Trong các hình vẽ ở dưới, ta có thể thấy rằng hệ số nhân tiền có xu hướng tăng dần từ năm
1996 tới này và lượng cung tiền M2 đưa ra cho thị trường tiếp tục tăng từ năm 2003 tới 2008
Trang 5Vấn đề Cầu kéo:
Sản xuất kinh doanh trong nước vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường nội địa, nhập siêu và vay nợ nước ngoài lượng tiền khá lớn cũng khiến cho tỷ lệ lạm phát tăng cao Thống kê cho biết 10% là con số thiếu hụt lượng hàng hóa dịch vụ mà thị trường đang thiếu
so với nhu cầu thực tế của Việt Nam
Vấn đề Chi Phí Đẩy:
- Thứ nhất là nguyên nhân từ hoạt động đầu tư nhà nước kém hiệu quả và năng suất lao động
thấp đã khiến cho lượng lớn vốn nhà nước bị thất thoát mà không đáp ứng được nhu cầu thị trường, khiến cho chi phí thực tế của các doanh nghiệp đội lên
- Nguyên nhân thứ hai đến từ việc giá các yếu tố đầu vào sản xuất nhập khẩu bị đẩy giá từ
hiện tượng lạm phát từ các nền kinh tế khác Kim ngạch nhập khẩu hàng năm trong giai đoạn này lên tới 88%
Giá dầu thô thế giới tăng từ 40USD/thùng năm 2004 lên 60USD/ thùng cuối năm 2006 Tiếp theo đó là giá sắt thép tăng 32,5%, phôi thép tăng 30,4%, phân bón 22,3%, chât dẻo
tăng 15,4%, bông tăng 17%, lúa mì tăng 27%, lương thực (lúa gạo) cũng tăng 12% (nhất là khi trọng số của lương thực trong giỏ hàng thời kỳ này chiếm 42,97%) cùng một số nguyên
Trang 6liệu khác… nhưng dầu thô và thép được coi là nhân tố tác động mạnh nhất tới chi phí đầu
vào cho các Doanh nghiệp thời kì này
- Một nguyên nhân khác làm tăng chi phí sinh hoạt của người dân là sự xuất hiện của dịch
cúm gia cầm SARS Thiếu cung gia cầm thịt, giá tăng
- Nguyên nhân thứ tư có thể kể tới là kế hoạch cải cách tiền lương của Chính phủ giai đoạn
này chưa đạt được hiệu quả
- Ngoài ra còn một số nguyên nhân khác như việc đánh mất lòng tin của dân chúng với khả
năng kiềm chế lạm phát của Chính Phủ, việc tăng thuế nhập khẩu thời kì này khiến giá một số mặt hàng, cơ chế quản lý thiếu tính đồng bộ giữa các bộ, ban, ngành …
b Giải pháp Chính Phủ áp dụng trong giai đoạn 2004-2006
- Giảm thuế nhập khẩu một số mặt hàng, bù lỗ cho kinh doanh xăng dầu, điều chỉnh có mức
độ giá đầu vào đối với một số mặt hàng nhập khẩu đều thuộc hệ thống các biện pháp giảm chi phí đầu vào, các lần tăng lương cơ bản trong 3 năm, tuy nhiên đây vẫn chỉ là những giải pháp tình thế
- CSTK thắt chặt: Triệt để tiết kiệm chi ngân sách kiên quyết loại bỏ những khoản chi không cần thiết Giảm đầu tư của nhà nước
- Bước đầu điều hành giá xăng dầu, giá mặt hàng sắt thép, phân bón nhập khẩu, để tăng thu, giảm chi cho ngân sách
- CSTT thắt chặt : thông qua việc kiểm soát chặt chẽ tốc độ gia tăng tín dụng, tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, thu hút ngoại tệ vào và kiểm soát chặt chẽ lượng tiền cung ứng qua các kênh tái cấp vốn, tái chiết khấu, chỉ đạo các ngân hàng thương mại siết chặt kỷ cương cho vay, xử lý nợ xấu
- Từ tháng 7-2004 đến 2006, NHNN đã quyết định tăng các mức tỷ lệ dự trữ bắt buộc lên gấp hai lần : công ty tài chính tăng từ 2% lên 5%; riêng Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam tăng từ 1,5% lên 4% trên tổng số tiền gửi phải dự trữ bắt buộc của loại không
kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng; tăng từ 1% lên 2% đối với tiền gửi từ 12 tháng đến 24 tháng Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi ngoại tệ không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng từ 4% tăng lên 8%, từ 12 tháng đến 24 tháng tăng từ 1% lên 2%
- Bên cạnh đó, ngay từ đầu năm về định hướng chung toàn ngành ngân hàng, tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng năm 2005 thấp hơn năm 2004 Tháng 1-2005, lãi suất tái cấp vốn tăng
từ 5,0%/năm lên 5,5%/năm và lãi suất chiết khấu từ 3,0% lên 3,5%/năm Từ tháng 2-2005 lãi suất cơ bản tăng từ 7,5%/năm lên 7,8%/năm Từ tháng 4-2005, lãi suất tái cấp vốn tăng từ 5,0%/năm lên 6,0%/năm và lãi suất chiết khấu tăng từ 3,5% lên 4,0%/năm Từ tháng 12-2005, lãi suất tái cấp vốn tăng lên 6,5%, lãi suất chiết khấu tăng lên 4,5%/năm, lãi suất cơ bản tăng lên 8,25%/năm Lãi suất trúng thầu tín phiếu KBNN tăng từ 5,9%/năm lên 6,30%/năm Lãi suất nghiệp vụ TT mở cũng tăng lên 6,1%/ năm
- Lãi suất ngoại tệ - USD ở nước ta được tự do hoá từ tháng 6-2001, do đó nó bám sát diễn biến lãi suất trên TT tiền tệ quốc tế
2 Giai đoạn 2007 – 2008
a Thực trạng:
Trang 7Năm 2007 là năm hội tụ của những “cơn bão” tệ hại cho nền kinh tế nước ta: thiên tai bão lụt, dịch bệnh và đặc biệt là cơn bão tăng giá kéo dài, lạm phát của nước ta tăng cao và rơi vào tình trạng khó kiểm soát, tỉ lệ lạm phát cao ở mức 12,63%, chỉ số giá tiêu dùng tăng vọt
từ hơn 6% năm 2006 lên 12,69% năm 2007 Nếu so sánh với mức lạm phát của một số nước trong khu vực và trên thế giới như Trung Quốc: 6,5%; Indonesia: 6,59%; Mỹ: 4,08%, Thái Lan: 3,21%, Khu vực đồng Euro: 3,07%, Nhật Bản: 0,7% thì lạm phát của Việt Nam có phần cao hơn
Bước sang Quý I/08 lạm phát của Việt Nam đạt 9,19%, vẫn cao hơn so với mức 3,02% của Quý I/07 và bằng khoảng trên 70% so với mức tăng của cả năm 2007, mức lạm phát của Việt Nam đã tăng đến 25,2% trong tháng 5, cao nhất kể từ năm 1992, tạo ra thách thức cho chính phủ khi họ cố gắng kìm chế nền kinh tế đang phát triển quá nóng Đến tháng 7/2011, tỷ lệ lạm phát đã tăng lên tới 27% và chỉ giảm nhẹ vào tháng 6 (26,8%) Hết tháng 12 năm 2008, lạm phát của Việt Nam tăng mức kỷ lục trong vòng 12 năm trở lại đây (đạt mức bình quân năm là 22,97%)
b Nguyên nhân gây ra lạm phát :
+ Do chi phí đẩy: Trong năm 2007, giá hàng thực phẩm (chiếm gần 43% trọng số trong chỉ số CPI) tăng là nhân tố chính làm tăng CPI Nguyên nhân là do trong năm 2007 nguồn cung cấp gạo của thế giới đang khan hiếm: lúa mỳ bị mất mùa, nhiều khu vực chuyển sang tiêu thụ gạo, nhiều quốc gia xuất khẩu gạo như Ấn Độ, Pakistan đang thực hiện các biện pháp giảm cung hoặc ngừng xuất khẩu do lo ngại thiếu lương thực Bên cạnh đó, nhiều quốc gia như Trung Quốc, Indonexia, Phillipin tăng lượng nhập khẩu để bù vào phần thiếu hụt ngô, lúa mỳ
Bên cạnh đó, nửa cuối năm 2007 đầu năm 2008, giá dầu thô, nguyên liệu cơ bản, lương thực thực phẩm thiết yếu tăng cao (4 tháng đầu năm 2008 so với cùng kỳ năm 2007, giá xăng dầu thế giới đã tăng 51,24%, phôi thép tăng 43%, phân bón tăng 67%, giá ngô tăng 31%, đậu tương tương 87%, lúa mì tăng 130% ), trong khi đó 70% nhập khẩu của Việt Nam là các mặt hàng nguyên nhiên vật liệu, máy móc thiết bị phục vụ sản xuất trong nước; nhiều mặt hàng có tỷ trọng nhập khẩu cao như: xăng dầu (100%), phôi thép (65%- 70%), nguyên liệu sẩn xuất thuốc (60%) , phụ thuộc hoàn toàn vào giá thế giới Sự nhập khẩu lạm phát từ kênh nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ cho nền kinh tế là khá rõ trong 2 năm qua đã làm cho chi phí sản xuất tăng cao
Trang 8+ Do cầu kéo: Nhu cầu nhập khẩu lương thực trên thị trường thế giới tăng, làm giá xuất khẩu tăng (giá xuất khẩu gạo bình quân của nước ta năm 2007 tăng lên 15% so với năm 2006) kéo theo cầu về lương thực trong nước cho xuất khẩu tăng Trong khi đó, nguồn cung trong nước do tác động của thiên tai, dịch bệnh không thể tăng kịp (Chỉ trong tháng 10/2007, miền Trung phải hứng chịu 5 cơn bão liên tiếp, trong khi đó dịch bệnh trong chăn nuôi, trồng trọt như cúm gia cầm, lợn tai xanh, lở mồm long móng ở lợn, vàng lùn ở lúa cùng với rét đậm, rét hại khiến cho nguồn cung lương thực – thực phẩm bị sụt giảm) Mặt khác, do đầu tư (đầu
tư công và đầu tư của các DN) tăng làm nhu cầu về nguyên liệu, nhiên liệu và thiết bị công nghệ tăng; thu nhập dân cư tăng làm xuất hiện trong những bộ phận dân cư những nhu cầu mới cao hơn
Tất cả các yếu tố trên gây ra lạm phát cầu kéo, đẩy giá một số hàng hóa và dịch vụ, nhất là lương thực thực phẩm tăng theo
+ Do tiền tệ: Bắt đầu từ cuối năm 2006 khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), cùng với những cải cách về cơ chế chính sách và môi trường đầu tư đã tạo điều kiện cho các luồng vốn nước ngoài đổ vào Việt Nam tăng mạnh Năm 2007 luồng vốn FDI tăng 20,3 tỷ USD vốn đăng ký, cao hơn nhiều so với mức 10,2 tỷ USD của năm 2006, đặc biệt là luồng vốn đầu tư gián tiếp gia tăng mạnh mẽ khoảng trên 6 tỷ, gấp 5 lần con số của năm 2006 mà chủ yếu đổ vào thị trường chứng khoán, trái phiếu đặc biệt là đổ vào IPO các doanh nghiệp nhà nước lớn trong khi khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế chưa tốt đã gây sức ép tăng tổng phương tiện thanh toán và làm biến động tỷ giá hối đoái Đứng trước bối cảnh này, Ngân hàng nhà nước đã phải cung ứng một lượng lớn tiền VND (chỉ trong 10 tháng đầu năm NHNN đã “bơm” ra lưu thông 144.000 tỷ đồng sau khi mua vào 9 tỷ USD) để mua ngoại tệ vào nhằm mục tiêu ổn định và phá giá nhẹ tỷ giá để hỗ trợ xuất khẩu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và điều này làm cho tổng phương tiện thanh toán tăng cao Mặt khác, việc gia tăng dư nợ của các tổ chức tín dụng cũng là nguyên nhân làm
Trang 9tăng lượng tiền cung ứng trong khi các NHTM lại giảm lãi suất huy động nên việc thu hút lượng tiền từ lưu thông về rất chậm đã làm tăng lượng tiền trong lưu thông với mức tăng trên 30%, hạn mức tín dụng cũng tăng trên 38%
Tuy nhiên, trong khi tỷ lệ lạm phát của Việt Nam năm 2007 lên tới 2 con số (12,6%)
và đặc biệt là năm 2008 (22,97%) thì Trung Quốc chỉ chịu lạm phát ở mức 6,5% và Thái Lan
là 2,9% Khác biệt rõ rệt nhất giữa Việt Nam với các quốc gia có lạm phát thấp hơn như TQ
và Tlan là ở tốc độ tăng cung tiền Tăng trưởng kinh tế liên tục và ở mức cao đòi hỏi lượng tiền đưa vào lưu thông cũng phải tăng lên tương ứng, do chênh lệch giữa mức tăng cung tiền
và tăng GDP trở nên quá lớn đã gây ra lạm phát
Biểu đồ sau ta thấy có một mối quan hệ khá chặt chẽ giữa tăng trưởng tín dụng, cung tiền và lạm phát trong năm 2007 và 2008 Tăng trưởng cung tiền M2 lên đỉnh điểm tháng 10/2007 đến tháng 1/2008 với mức xấp xỉ 50% Tăng trưởng tín dụng lên mức đỉnh trên 55% vào tháng 1 đến tháng 4 năm 2008 (so với cùng kỳ năm 2007, thời đoạn 12 tháng) Hậu quả CPI cũng lên mức cao nhất từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2008 (quanh mức 28%) Như vậy, thường lạm phát có độ trễ từ 5-7 tháng so với tăng trưởng tín dụng và cung tiền M2
Lý giải cho lạm phát cao trong năm 2008 còn có một nguyên nhân quan trọng khác là
do sự tăng mạnh của giá cả nhiều hàng hóa đặc biệt là lương thực, thực phẩm và năng lượng CPI của lương thực, thực phẩm đã tăng lên rất mạnh trong năm 2008, đỉnh điểm là chỉ số CPI lương thực, thực phẩm tăng 45,5% (YoY) vào tháng 6/08 Kết thúc năm 2008 chỉ số CPI lương thực tăng 31,86% Trong rổ hàng hóa tính CPI của Việt Nam, mặt hàng lương thực chiếm tỷ trọng 43% nên CPI lương thực ảnh hưởng mạnh đến CPI chung CPI cơ bản (không bao gồm lương thực, thực phẩm) năm 2008 chỉ tăng 10,92%
Trang 10c Một số giải pháp, chính sách Chính Phủ đã áp dụng
- Thứ nhất, thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, giữ vững các cân đối kinh tế vĩ mô, bảo đảm cân đối cung cầu hàng hoá dịch vụ: Chính phủ đã quyết định về hỗ trợ, khôi phục nhanh sản xuất nông nghiệp ở những vùng bị thiên tai dịch bệnh Chỉ đạo sản xuất, nhập khẩu bảo đảm đủ nguồn cung, không để xảy ra thiếu hàng hoá dịch vụ so với nhu cầu Thực hiện đánh giá, rút kinh nghiệm việc thực hiện các chủ trương, chính sách đảm bảo an sinh xã hội cho các đối tượng để sửa đổi, bổ sung các quy định cho phù hợp
- Thứ hai, thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt nhưng linh hoạt, bảo đảm tính thanh khoản của nền kinh tế Kiểm soát chặt chẽ các luồng vốn vào- ra để có những phản ứng chính sách kịp thời ứng phó hợp lý với tác động của cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ Sử dụng linh hoạt các công cụ lãi suất nghiệp vụ thị trường mở để kiểm soát chặt chẽ việc tăng trưởng phương tiện thanh toán, tổng dư nợ tín dụng Triển khai các giải pháp thích hợp để các DN tiếp cận được nguồn vốn với lãi suất hợp lý, góp phần giảm chi phí cho DN Thực hiện các giải pháp nhằm hướng đầu tư tín dụng vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh có hiệu quả cao; nhất
là sản xuất nông nghiệp, cho vay xuất khẩu; kiểm soát chặt việc đầu tư vào những lĩnh vực phi sản xuất, hiệu quả thấp, nhiều rủi ro Thực hiện cơ chế tỷ giá linh hoạt, phản ánh cung cầu ngoại tệ trên thị trường góp phần khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập siêu
- Thứ ba, thực hiện chính sách tài khoá chặt chẽ theo hướng kiểm soát chặt chẽ nguồn thu, phấn đấu tăng thu cao hơn so với dự toán quốc hội quyết định; thực hiện tiết kiệm chi, nhất là chi thường xuyên và kiểm soát chặt chẽ đầu tư công, đầu tư của các Tập đoàn kinh tế, Tổng Công ty, DNNN ra ngoài nhiệm vụ chính Phấn đấu giảm bội chi ngân sách ở mức thấp hơn 5% GDP
Thực hiện quyết liệt hơn chủ trương cắt giảm đầu tư công từ nguồn ngân sách, nguồn trái phiếu Chính phủ, tập trung cho các dự án có tiến độ triển khai nhanh, sắp hoàn thành, các
dự án cần thiết, cấp bách, có hiệu quả Rà soát các dự án do các DN Nhà nước triển khai đầu
tư áp dụng các biện pháp yêu cầu các DN chủ động rà soát, cắt giảm hoặc đình hoãn các dự
án, công trình chưa thật cần thiết, chưa hiệu quả; cắt giảm hoặc dừng việc mua, xây dựng trụ
sở mới, đất đai, bất động sản, phương tiện thiết bị phục vụ gián tiếp cho hoạt động sản xuất kinh doanh… Sử dụng tối đa nguồn lực tài chính của mình để đầu tư vào hoạt động sản xuất