TÓM TẮT Thông qua nghiên cứu, phân tích các đề tài trong và ngoài nước, tìm hiểu thực trạng lạm phát của nước ta, đề tài hướng đến việc xây dựng một mô hình thực sự phù hợp với tình hình
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
-
CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
“NHÀ KINH TẾ TRẺ – NĂM 2012”
TÊN CÔNG TRÌNH:
KIỂM ĐỊNH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN LẠM PHÁT VIỆT NAM BẰNG
MÔ HÌNH VECTO TỰ HỒI QUY(VAR)
THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC KINH TẾ
Trang 2MỤC LỤC
Danh mục từ viết tắt
Danh mục bảng
Danh mục phụ lục
Tóm tắt 1
PHẦN 1: GIỚI THIỆU 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN MỘT SỐ NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ TRÊN THẾ GIỚI 3
2.1 Các nghiên cứu về lạm phát ở nước ngoài: 3
2.2 Các nghiên cứu về lạm phát Việt Nam: 4
PHẦN 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7
3.1 Giới thiệu mô hình Tự hồi quy Vecto VAR(Vecto autoregressive model) 7
3.2 Thu thập và xử lý số liệu đầu vào: 9
PHẦN 4: NỘI DUNG VÀ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 11
4.1 Thực trạng lạm phát Việt Nam giai đoạn từ 2000 đến 2012: 11
4.2 Các mô hình đo lường lạm phát: 18
4.2.1 Một số mô hình đo lường lạm phát truyền thống: 18
4.2.1 Một số mô hình nghiên cứu lạm phát trong thời gian vừa qua và ý nghĩa của nó: 28
4.3 Ứng dụng mô hình VAR nghiên cứu tác động của chính sách tiền tệ và lạm phát trên thế giới 34
4.4 Xây dựng mô hình VAR cơ bản phù hợp cho Việt Nam 37
4.4.1 Lựa chọn biến cho mô hình: 37
4.4.2 Mô hình VAR kiểm định các yếu tố tác động đến lạm phát Việt Nam: 40
4.5 Kết quả kiểm định của mô hình: 44
Trang 35.1 Kết quả nghiên cứu chính 49 5.2 Các đề xuất: 49
LỜI KẾT 55
Danh mục tài liệu tham khảo
Phụ Lục
Trang 4FED Cục dự trữ liên bang Mỹ
Trang 5Bảng 4.1: Hệ số ICOR của Việt Nam giai đoạn 1995-2010 Bảng 4.2: Mức lương tối thiểu trong cơ quan nhà nước từ năm 1999 đến 2010
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1: Tình hình Lạm phát Việt Nam từ năm 2000
Hình 4.2: Diễn biến giá hàng hóa thế giới, T1.2001 – T7.2011
Hình 4.3: Cơ chế dẫn truyền của lãi suất đến lạm phát
Hình 4.4: Chi phí tăng đẩy giá lên cao
Hình 4.5: Mô hình chi tiêu quá khả năng cung ứng Hình 4.6: Mô hình tổng cung-tổng cầu
Trang 7TÓM TẮT
Thông qua nghiên cứu, phân tích các đề tài trong và ngoài nước, tìm hiểu thực trạng lạm phát của nước ta, đề tài hướng đến việc xây dựng một mô hình thực sự phù hợp với tình hình kinh tế Việt Nam, có thể chỉ ra đâu là nguyên nhân cơ bản gây ra lạm phát trong những khoản thời gian nhất định và có thể dự báo được tình hình lạm phát trong thời gian sắp tới Cùng với việc ứng dụng Mô hình Vecto Tự hồi quy VAR(Vecto autoregressive model) nhằm xác định tất cả các nhân tố kinh tế khách quan lẫn chủ quan, trong nước và ngoài nước tác động đến lạm phát, đề tài đã đưa ra một công cụ định lượng giúp cho các nhà điều hành chính sách vĩ mô có một cái nhìn
rõ hơn về các yếu tố tác động đến lạm phát từ đó có các giải pháp điều chỉnh thích hợp giúp kiểm soát lạm phát
Trang 8PHẦN 1: GIỚI THIỆU
Lạm phát không phải là một khái niệm mới mẻ đối với các nhà hoạch định chính sách cũng như dân cư Nó thay đổi liên tục, có khi tạm lắng, có khi thuyên giảm, có khi lại lên cơn sốt, trong mỗi giai đoạn phát triển kinh tế xã hội lạm phát có những sắc thái riêng Lạm phát mỗi lần xuất hiện đều mang theo một sức mạnh tiềm ẩn, làm rối loạn nền kinh tế, làm phức tạp xã hội và làm giảm mức sống của người dân
Lạm phát Việt Nam từ năm 2000 biến động không ngừng, từ giảm phát trong giai đoạn 2000-2003 đến tăng mạnh năm 2007-2009 Và hiện nay, lạm phát đã trở thành một trong bốn vấn đề nổi cộm nhất liên quan đến ổn định vĩ mô(cùng với quản lý tỷ giá, thâm hụt thương mại và thâm hụt ngân sách) Chính vì thế, việc xác định những nhân tố đã và đang tác động đến lạm phát từ đó đề ra những giải pháp thích hợp cho thực trạng lạm phát Việt Nam là một vấn đề bức thiết hiện nay
Đã có không ít các bài nghiên cứu trong và ngoài nước tìm hiểu, định tính, định lượng các nguyên nhân gây ra lạm phát Song những bài nghiên cứu này lại có những nhận định khác nhau, đôi lúc trái chiều nhau về các nhân tố ảnh hưởng đến lạm phát Đại đa
số các bài nghiên cứu đều chỉ kiểm định một vài yếu tố tác động đến lạm phát và hầu hết các tác giả đều không xét đến ảnh hưởng qua lại của các yếu tố vĩ mô tác động đến lạm phát
Để tìm ra nguyên nhân thực sự gây nên lạm phát, cũng như chỉ ra đâu là nguyên nhân chính yếu ảnh hưởng đến lạm phát trong nước, đồng thời đặt các nhân tố giải thích đó trong sự ảnh hưởng của các biến số khác Đề tài đã sử dụng Mô hình Vecto Tự hồi quy(VAR) kiểm định 11 biến số vĩ mô tác động đến lạm phát Việt Nam Qua kiểm định, kết quả của mô hình đã phần nào lý giải được nguyên nhân gây ra lạm phát Trả lời cho các câu hỏi như: Tỷ giá có tác động đến lạm phát không? Tác động như thế nào? Hay GDP, dự trữ ngoại hối có phải là một trong những nhân tố giải thích chính không?
Qua đó đề xuất các biện pháp nhằm hạ nhiệt “cơn sốt lạm phát” Việt Nam
Trang 9PHẦN 2: TỔNG QUAN MỘT SỐ NGHIÊN CỨU
TRONG NƯỚC VÀ TRÊN THẾ GIỚI
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại, lạm phát là một căn bệnh kinh niên của mọi nền kinh tế hàng hóa-tiền tệ Nó có tính thường trực, nếu không thường xuyên kiểm soát, không có những giải pháp chống lạm phát đồng bộ và hữu hiệu thì lạm phát có thể xảy ra và tái diễn lại ở bất cứ nền kinh tế hàng hóa nào với bất kỳ chế
độ xã hội nào
Tại Việt Nam và trên thế giới đã có rất nhiều bài nghiên cứu đề cập đến việc tìm hiểu nguyên nhân gây nên lạm phát, các yếu tố ảnh hưởng, giải pháp kiểm soát… Nhưng vì mục tiêu nghiên cứu của đề tài là Xây dựng một mô hình định lượng có kể kiểm định các yếu tố tác động đến lạm phát Việt Nam nên những bài nghiên cứu được trình bày dưới đây chủ yếu xoay quanh vấn đề định lượng và phân tích các yếu tố tác động đến lạm phát bằng mô hình Hồi quy, ECM, VECM, ARIMA, đường Phillips… và đặc biệt
là Mô hình Vecto Tự hồi quy(VAR)
2.1 Các nghiên cứu về lạm phát ở nước ngoài:
Fabio Canova và Luca Gambetti (2008): tìm hiểu sự tác động của chính sách tiền
tệ lên sự thay đổi trong tăng trưởng sản lượng và động lực lạm phát ở Mỹ Tác giả kiểm định các cú sốc chính sách và quy tắc chính sách trong một hệ số biến thiên theo thời gian VAR bằng cách sử dụng dấu hiệu hạn chế xác định Sự dẫn truyền của những cú sốc chính sách tương đối ổn định Phương sai của các cú sốc chính sách giảm theo thời gian, nhưng những cú sốc chính sách đã góp phần gây nên tình trạng lạm phát, sự tăng trưởng sản lượng không ổn định và kéo dài Tác giả tìm thấy bằng chứng của một sự gia tăng đáng kể ảnh hưởng lâu dài của lãi suất lên lạm phát Một chính sách lạm phát tích cực trong năm 1970 sẽ giúp cho sản lượng gia tăng ở mức cao
BIS Working Papers by Ben S C Fung (2002): sử dụng mô hình VAR để nghiên
cứu những tác động của những cú sốc tiền tệ lên 7 nền kinh tế Đông Nam
Trang 10Á(Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia, Philippines, Singapore, Đài Loan, Trung Quốc
và Thái Lan) Đối với mỗi nền kinh tế, kiểm định tương tự được áp dụng và các phản ứng động của một cú sốc tiền tệ sẽ được xem xét trong dự báo của của lý thuyết tiền tệ Kết quả cho thấy rằng mô hình VAR có khả năng đưa ra các dẫn truyền hợp lý cho hầu hết các quốc gia, đặc biệt là đối với các mẫu số liệu kết thúc trước khi cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 Với sự hội nhập của các nền kinh tế, tỷ giá hối đoái đóng một vai trò quan trọng trong việc xây dựng chính sách tiền tệ Để nắm bắt một cách rõ ràng tầm quan trọng của tỷ giá hối đoái trong các nền kinh tế, các đo lường hợp lý cũng được áp dụng đối với tỷ giá để kiểm định mô hình
Uma Ramakrishnan và Athanasios Vamvakidis (2002): đã đưa ra một mô hình dự
báo lạm phát đáng tin cậy là trung tâm cho một khuôn khổ chính sách tiền tệ Trong bài viết, nhóm tác giả nghiên cứu những tác động truyền dẫn trong nước và quốc tế về lạm phát ở Indonesia và phân tích các chỉ số quan trọng của lạm phát Nhóm tác giả xác định tỷ giá, lạm phát nước ngoài, và tăng trưởng tiền tệ như là những biến số chính có thể giải thích cho lạm phát ở Indonesia
Mohammad S Hasan (1999): sử dụng khái niệm về lý thuyết hội nhập và Vector
xu hướng, bài nghiên cứu kiểm tra lại mối liên hệ giữa cung tiền và lạm phát tại Trung Quốc đại lục Trái ngược với những nghiên cứu gần đây nhất trong lĩnh vực này, những kết quả ông đưa ra dựa trên đơn vị gốc và kiểm tra kết hợp cho thấy một mối quan hệ lâu dài đáng tin cậy giữa mức giá nói chung và cổ phiếu tiền mặt, cũng như giữa lạm phát và tăng trưởng tiền tệ Phát hiện của ông cũng cho thấy một mối quan hệ hai chiều hoặc phản hồi giữa lạm phát và tăng trưởng tiền tệ
2.2 Các nghiên cứu về lạm phát Việt Nam:
Camen (2006): tìm hiểu thực trạng của việc cải cách chính sách tiền tệ trong bối
cảnh kinh tế và tài chính đang phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam và xác định các vấn
đề cải cách quan trọng liên quan đến chính sách tiền tệ Bài nghiên cứu của ông đã cung cấp một cái nhìn tổng quan về phát triển kinh tế và tài chính, mô tả các khuôn khổ chính sách tiền tệ hiện đang được sử dụng tại Việt Nam Kiểm định Camen sử
Trang 11dụng là mơ hình VAR với các dữ liệu hàng tháng từ tháng 2 năm 1996 đến tháng 4 năm 2005 và lựa chọn khoảng thời gian phụ để kiểm tra sự ổn định của kiểm nghiệm
Nguyen Thi Thuy Vinh và Seiichi Fujita(2007): xem xét các tác động của sự mất
giá thực tế lên nền kinh tế tại Việt Nam bằng cách sử dụng phương pháp tiếp cận VAR Nghiên cứu cho thấy rằng dù các nguồn chính của phương sai sản lượng và mức giá là "cú sốc bên trong", sự thay đổi trong tỷ giá thực đĩng một vai trị quan trọng trong sản lượng hơn là mức giá Một sự giảm thực trong giá trị tiền cĩ tác động tích cực trên cả sản lượng và lạm phát Cú sốc giảm giá cĩ thể ảnh hưởng đến lạm phát và tăng trưởng sản lượng thơng qua việc tăng cung tiền và cải thiện cán cân thương mại Tuy nhiên, thay đổi tỷ giá hối đối thực khơng cĩ tác động đáng
kể đến sản lượng trong thời gian dài
Michặl Goujon(2006): trong quá trình chuyển đổi sang một nền kinh tế thị
trường, Việt Nam bắt tay vào một con đường giảm tỷ lệ lạm phát thơng qua đơ la hĩa Trong bài nghiên cứu, tác giả phát triển một mơ hình để làm sáng tỏ những yếu tố quyết định lạm phát dưới sự đơ la hĩa và ước tính cho Việt Nam trong những năm 1990 bằng cách sử dụng một quy trình hai bước Trong khoản thời gian này, nguyên nhân dẫn đến lạm phát là do sự thay đổi tỷ giá hối đối và sự dư thừa tiền Bài viết cho thấy rằng việc quản lý biến động tỷ giá hối đối kết hợp với một chính sách thắt chặt tiền tệ là cần thiết cho các cơ quan chức năng Việt Nam
để thành cơng trong cuộc chiến chống lạm phát Tài liệu minh họa dựa trên sự mất giá mạnh 25% tỷ giá trao đổi từ 1997 đến năm 1998 cho thấy rằng điều này làm giảm lạm phát tích lũy 13% trong giai đoạn đĩ
Vương Thị Thảo Bình(2008): trong bài nghiên cứu tác giả đã phân tích thực trạng
diễn biến giá - lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn đổi mới và các chính sách kinh tế nhằm phân biệt những hạn chế trong việc điều hành chính sách, và phân tích các nhân tố tác động đến lạm phát Đồng thời, tác giả đã xây dựng một mơ hình định lượng để phân tích động thái giá cả - lạm phát của Việt Nam trong thời
kỳ đổi mới theo hướng tiếp cận đường Phillip kết hợp sử dụng mơ hình ứng dụng giải thích ngẫu nhiên, mơ hình chuỗi thời gian
Trang 12 Trung tâm nghiên cứu Kinh tế và Chính sách VEPR(2011): qua khảo sát những
biến động của lạm phát ở Việt nam trong thập kỷ qua với mối quan hệ chặt chẽ đến một loạt những thay đổi trong môi trường kinh tế cũng như trong các chính sách vĩ
mô kết hợp với việc khảo sát chi tiết các nghiên cứu đã có về các nhân tố quyết định lạm phát ở các nước đang phát triển nói chung và trường hợp Việt Nam nói riêng đã xây dựng một mô hình thực nghiệm nghiên cứu các nhân tố quyết định sự biến động của lạm phát ở Việt Nam Mô hình mà nhóm tác giả sử dụng đưa ra ba kênh truyền tải mà qua đó một hoạt động các biến nội sinh và ngoại sinh có thể ảnh hưởng đến mức giá Mô hình được xây dựng gồm 12 biến dựa trên mô hình điều chỉnh sai số VECM
Võ Trí Thành(1997): đã dùng mô hình trễ đa thức(ECM) nghiên cứu các yếu tố xác định lạm phát Việt Nam nửa đầu thập kỷ 1990 Và Dương Thị Thanh
Mai(2002): đánh giá lạm phát phụ thuộc vào ba yếu tố: tăng lượng cung tiền, tăng
thu nhập, tỷ giá bằng Mô hình hồi quy
Qua các đề tài nghiên cứu lạm phát trong nước chúng ta có thể thấy rằng các ý kiến và bằng chứng thực nghiệm của các tác giả đưa ra không hề tương đồng về các nhân tố tác động đến lạm phát Việt Nam Thêm vào đó, đại đa số các bài nghiên cứu về lạm phát trong nước đều thực hiện trước năm 2008 còn thời kỳ sau đó được cho là nhiều biến động vĩ mô và lạm phát lên xuống thất thường thì chỉ có bài nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu Kinh tế và Chính sách VEPR(2011) là có nói đến Và hầu hết các tác giả đều không xét đến ảnh hưởng qua lại của các yếu tố vĩ mô tác động đến lạm phát Chính vì những nhận định không đồng nhất về các yếu tố ảnh hưởng đến lạm phát Việt Nam nên đề tài sẽ tập trung định lượng các nhân tố vĩ mô tác động đến lạm phát và tập trung trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau đây:
- Nguyên nhân nào gây nên tình trạng lạm phát cao hiện nay?
- Trong những nhân tố tác động đến lạm phát, nhân tố nào là chủ đạo làm lạm phát tăng cao và tác động như thế nào đến lạm phát trong nước?
- Lạm phát trong thời gian tới sẽ biến động ra sao?
Trang 13PHẦN 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để tìm ra trong những nhân tố tác động đến lạm phát, nhân tố nào là chủ đạo làm lạm phát tăng cao và tác động như thế nào đến lạm phát trong nước đồng thời dự báo những biến động sắp tới của lạm phát Đề tài sẽ sử dụng mô hình Vecto Tự Hồi Quy VAR(Vecto autoregressive) Mô hình được khá nhiều tác giả nước ngoài(Canova và Gambetti(2008), BIS(2002), Ramakrishnan và Vamvakidis(2002), Mohammad(1999), Chrishtopher Sims(1980) và (1996)) sử dụng để kiểm định tác động của những cú sốc tiền tệ, chính sách tiền tệ lên tăng trưởng sản lượng, lạm phát, dự báo lạm phát, giải thích lạm phát…
3.1 Giới thiệu mô hình Tự hồi quy Vecto VAR(Vecto autoregressive model)
Khi dự báo dựa trên mô hình một phương trình, trước hết cần dự báo biến độc lập và sau đó dự báo biến phụ thuộc Dự báo như vậy sai số sẽ tăng nhanh khi ta dự báo quá
xa trong tương lai
Và như chúng ta đã biết, mối quan hệ giữa các biến số kinh tế không đơn thuần chỉ theo một chiều, biến độc lập(biến giải thích) ảnh hưởng lên biến phụ thuộc mà trong nhiều trường hợp nó còn có ảnh hưởng ngược lại Do đó mà ta phải xét ảnh hưởng qua lại giữa các biến này cùng một lúc Chính vì thế mô hình kinh tế lượng mà ta phải xét đến không phải là mô hình một phương trình mà là mô hình nhiều phương trình Tuy nhiên, để ước lượng được các mô hình này ta phải đảm bảo rằng các phương trình trong hệ được định dạng, một số biến được coi là nội sinh (biến mà giá trị được xác định bởi mô hình, là biến ngẫu nhiên) và một số biến khác được coi là ngoại sinh hay
đã xác định trước (ngoại sinh cộng với nội sinh trễ) Việc định dạng này thường được thực hiện bằng cách giả thiết rằng một số biến được xác định trước chỉ có mặt trong một số phương trình Quyết định này thường mang tính chủ quan và đã bị Chrishtopher Sims lên tiếng chỉ trích Theo Sims, nếu tồn tại mối quan hệ đồng thời giữa một số biến thì các biến này phải được xét có vai trò như nhau, tức là tất cả các biến xét đến đều là biến nội sinh Dựa trên tinh thần đó mà Sims đã xây dựng mô hình Vector tự hồi quy Var
Trang 14Mô hình VAR dạng cấu trúc tổng quát do Sims(1980) đề xuất với m biến trễ, p bước được viết ở dạng:
Trong đó yt = (y1i,…,ymt); A là các ma trận cấp mxm, A là ma trận cấp mx1, ԑt là ma trận cấp mx1
Mô hình VAR dạng rút gọn tương ứng là:
Trong đó yt =(y1t,…,ymt); Bi là các ma trận cấp mxm, B là ma trận cấp mx1, vt là ma trận cấp mx1 yếu tố ngẫu nhiên
Khái niệm về mô hình VAR cơ bản(Basic VAR):
Mô hình Var về cấu trúc gồm nhiều phương trình(mô hình hệ phương trình) và có các trễ của các biến số Var là mô hình động của một số biến thời gian Mô hình này về cấu trúc gồm nhiều phương trình(vecto) và có các trễ của các biến số(auto regressive)
Ta xét hai chuỗi thời gian Y1 và Y2 Mô hình Var tổng quát đối với Y1 và Y2 có dạng sau đây:
Phương pháp ước lượng mô hình Var
- Xét tính dừng của các biến trong mô hình Nếu chưa dừng thì sử dụng kỹ thuật lấy sai phân để đưa về các chuỗi dừng
Trang 15- Lựa chọn khoảng trễ phù hợp
- Xem xét mức độ phù hợp của mô hình chạy ra (bằng việc kiểm định tính dừng của phần dư Nếu phần dư của mô hình dừng thì mô hình nhận được phù hợp với chuỗi thời gian và ngược lại
- So sánh các mô hình và lựa chọn mô hình phù hợp nhất
Một số vấn đề trong xây dựng mô hình Var
Bên cạnh những ưu điểm nổi trội của mô hình Var: không cần xác định biến nào là biến nội sinh và biến nào là biến ngoại sinh hay ta có thể sử dụng phương pháp OLS cho từng phương trình riêng rẽ thì mô hình Var còn vướng phải một số hạn chế:
- Khi xét đến mô hình Var ta còn phải xét đến tính dừng của các biến trong mô hình Yêu cầu đặt ra khi ta ước lượng mô hình Var là tất cả các biến phải dừng, nếu trong trường hợp các biến này chưa dừng thì ta phải lấy sai phân để đảm bảo chuỗi dừng Càng khó khăn hơn nữa nếu một hỗn hợp chứa các biến có tính dừng
và các biến không có tính dừng thì việc biến đổi dữ liệu không phải là việc dễ dàng
- Khó khăn trong việc lựa chọn khoảng trễ thích hợp Giả sử mô hình Var bạn đang xét có ba biến và mỗi biến sẽ có 8 trễ đưa vào từng phương trình Như xem xét ở trên thì số hệ số mà bạn phải ước lượng là 32.8+3=75 Và nếu ta tăng số biến
và số trễ đưa vào mỗi phương trình thì số hệ số mà ta phải ước lượng sẽ khá lớn Ngoài ra, khó khăn trong việc lựa chọn khoảng trễ còn được thể hiện ở chỗ nếu ta tăng độ dài của trễ sẽ làm cho bậc tự do giảm, do vậy mà ảnh hưởng đến chất lượng các ước lượng
3.2 Thu thập và xử lý số liệu đầu vào:
Cơ sở dữ liệu
Dữ liệu trong bài nghiên cứu được tổng hợp, thu thập và tính toán từ nhiều nguồn khác nhau Để đảm bảo sự chính xác cho chuỗi dữ liệu trong quá trình xử lý, đa số dữ
Trang 16liệu được lấy trong các báo cáo của những tổ chức uy tín như : IFS (Tổ chức thống kê tài chính quốc tế thuộc IMF), EIU (Cơ quan tình báo kinh tế Anh), Tổng cục thống kê
VN (TCTK), báo cáo của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam (NHNN)…
Chỉ số giá tiêu dùng(%) (năm 2005=100) CPI IFS
Tổng sản phẩm trong nước(giá ss 1994) GDP TCTK, IFS
Tốc độ gia tăng cung tiền M2 (tỷ đồng) M2 IFS
Tỷ giá bình quân liên ngân hàng
USD/VND
Lãi suất tiền gửi kỳ hạn 3 tháng (%) LSTG TCTK, Báo cáo NHNN
Tín dụng trong nước (domestic creadit)(tỷ
đồng)
CREDIT IFS
Xuất nhập khẩu ròng (triệu USD) (CIF) XNK Bộ công thương, TCTK
Quy trình xử lý dữ liệu đầu vào:
Tất cả dữ liệu thu thập đều được lấy log trừ Lãi suất tiền gửi kỳ hạn 3 tháng là không lấy log và Xuất nhập khẩu ròng là trừ log trị tuyệt đối giá trị Dữ liệu được lấy log đưa
về phần trăm giống như trong nghiên cứu của Camen(2006), Bis(2002) và cũng giúp cho bộ dữ liệu ổn định hơn
Trang 17PHẦN 4: NỘI DUNG VÀ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN
CỨU
Qua phần 2 và 3 của đề tài chúng ta có thể phần nào hiểu được tại sao VAR lại được nhiều nghiên cứu sử dụng để kiểm định các nhân tố vĩ mô, lạm phát Tuy nhiên, để có một cái nhìn trực quan hơn về lạm phát Việt Nam, cách thức xây dựng và lựa chọn biến cho Mô hình kiểm định các yếu tố tác động đến lạm phát trong nước Đồng thời, nhằm trả lời cho câu hỏi: Nguyên nhân nào gây nên tình trạng lạm phát cao hiện nay? Trong những nhân tố tác động đến lạm phát, nhân tố nào là chủ đạo làm lạm phát tăng cao và tác động như thế nào đến lạm phát trong nước?
Đề tài sẽ sơ lược về tình hình lạm phát tại Việt Nam từ năm 2000 và định tính một số nguyên nhân gây nên lạm phát Sau đó, điểm qua một số mô hình đo lường lạm phát trên thế giới nhằm phân tích các yếu tố cơ bản tác động đến lạm phát, làm nền tảng cơ
sở lý thuyết cho việc phân tích các nhân tố cơ bản tác động đến lạm phát Việt Nam
Nêu lên những ứng dụng của Tự Hồi Quy Vecto(Var) trên thế giới, xây dựng mô hình
phù hợp cho Việt Nam, lựa chọn và sàn lọc biến cho mô hình và cuối cùng là kiểm định những nhân tố tác động đến lạm phát Việt Nam
4.1 Thực trạng lạm phát Việt Nam giai đoạn từ 2000 đến 2012:
- 2000-2003: Số liệu thống kê cho thấy chỉ số giá tiêu dùng giai đoạn từ năm 2000
đến năm 2003 của nước ta ở mức thấp và ổn định dưới 5% Chỉ số giá tiêu dùng năm 2000 là -0.6, chỉ số giá tiêu dùng một số tháng trong giai đoạn này cũng ở mức âm Nền kinh tế rơi vào tình trạng giảm phát, thuật ngữ “kích cầu” lần đầu tiên xuất hiện trong các chính sách điều hành kinh tế của chính phủ, một kế hoạch kích thích kinh tế thông qua nới lỏng tín dụng và mở rộng đầu tư nhà nước bắt đầu được thực hiện từ năm 2000
- 2004-2006: Sau một thời gian hạ nhiệt thì đến năm 2004 lạm phát lại tăng trở lại
Chỉ số CPI của năm 2004 ở mức 9,5% Vượt xa so với kế hoạch quốc hội đề ra là
4 – 5 % Nhưng các chỉ tiêu kinh tế xã hội còn lại đều hoàn thành so với kế hoạch
Trang 18đề ra Bước sang năm 2006, chính phủ lại tiếp tục thành công trong việc khống chế lạm phát, tỷ lệ lạm phát là 6.6% thấp hơn 1.6% so với tốc độ tăng trưởng kinh tế
- 2007-2009: Lạm phát Việt Nam tăng mạnh trong giai đoạn này Giá tiêu dùng
tháng 12 năm 2007 tăng tới 2,91%, không những cao hơn so với các tháng trong năm mà còn tăng cao nhất so với tốc độ tăng trong tháng 12 của hơn mười năm qua Lạm phát năm 2007 tăng lên 8.3% nhưng vẫn chưa cao như năm 2008 Chỉ tính riêng trong 6 tháng đầu năm 2008 chỉ số CPI của cả nước đã tăng 18.44%, cao nhất so với mức tăng cả năm trong 15 năm qua kể từ năm 1993
- 2010 đến nay: Tiếp sau xu hướng giảm của năm 2009, lạm phát lại tăng trở lại
mạnh mẽ từ tháng 9 năm 2010 khiến cho chỉ số giá tiêu dùng CPI cho 11 tháng đã tăng lên đến 9,58% so với 20,71% và 5,07% của cùng kỳ năm 2008 và 2009 Tình hình kinh tế 6 tháng đầu năm 2011 diễn ra trong điều kiện gặp nhiều khó khăn do giá hàng hóa trên thị trường thế giới tăng, giá cả hầu hết các mặt hàng trong nước
ở mức cao Và gần đây nhất, Viện Khoa học xã hội Việt Nam dự báo lạm phát
2012 (so với tháng 12/2011) sẽ giảm mạnh xuống mức 11,3% và thậm chí xuống mức 1 chữ số Tuy nhiên, vấn đề lạm phát hiện nay vẫn còn là “một căn bệnh” nhức nhối của toàn xã hội Chỉ số CPI tháng vẫn tăng cao mặc dù có giảm nhẹ qua các tháng gần đây
Trang 19Hình 4.1: Tình hình Lạm phát Việt Nam từ năm 2000
Tổng hợp từ Tổng cục thống kê
Như vậy có thể nói lạm phát việt nam từ năm 2000 đến nay luôn thay đổi thất thường
Nguyên nhân chủ yếu gây ra lạm phát ở Việt Nam từ 2000 đến 2012
Lạm phát Việt nam từ năm 2000 đến nay bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan, do tác động của nhân tố trong nước lẫn nhân
tố nước ngoài, có những nguyên nhân trực tiếp và cả gián tiếp Sau đây là một số nguyên nhân lạm phát nổi cộm:
- Đầu tư công kém hiệu quả:
Trong thời gian vừa qua để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế chính phủ đã có kế hoạch nâng cấp cơ sở hạ tầng đất nước và liên tục bội chi ngân sách trong nhiều năm Nguồn thu ngân sách không đáp ứng đủ nhu cầu chi tiêu của Chính phủ Vay nợ là một trong
Trang 20những giải pháp mà chính phủ lựa chọn để bù đắp thâm hụt ngân sách Phần lớn nguồn vay nợ của Chính phủ là vay nợ nước ngoài trong dài hạn, việc này sẽ gây sức
ép nghiêm trong lên tỷ giá và đến lượt tỷ giá gây sức ép và làm tăng lạm phát trong
nước
Vốn đầu tư chảy vào nền kinh tế chủ yếu thông qua kênh dẫn là các doanh nghiệp nhà nước và dự án đầu tư do nhà nước quản lý Đầu tư nhiều song hiệu quả thấp cộng với tình trạng lãng phí, tham ô, thất thoát tài sản nhà nước, đầu tư sai mục đích đã và đang
là những nhân tố đẩy giá thành sản phẩm của khu vực nhà nước lên cao và kéo theo việc tăng chi phí đầu vào của cả nền kinh tế
Bảng 4.1: Hệ số ICOR của Việt Nam giai đoạn 1995-2010
Nguồn: Ngân hàng nhà nước
- Chính sách tiền tệ:
Thường thì chính sách tiền tệ của chính phủ thường có độ trễ nhất định lên nền kinh
tế chính vì thế mà CSTT theo hướng kích cầu của chính phủ trước đây bây giờ mới phát huy “hậu quả” của nó
Chính sách tiền tệ kích cầu mà chính phủ áp dụng có tác dụng khơi thông dòng vốn, kích thích tiêu dùng của các tầng lớp dân cư và làm tăng tổng cầu, cũng từ chính sách
đó mà lượng tiền trong lưu thông tăng lên Như năm 2000, khi Ngân Hàng Nhà Nước(NHNN) bãi bỏ lãi suất trần, chuyển sang điều hành theo lãi suất cơ bản, tạo điều kiện cho cung-cầu về vốn theo cơ chế thị trường và các Ngân Hàng Thương Mại chủ động hơn trong kinh doanh Chính sách kích cầu trong giai đoạn này và việc duy trì chính sách kích thích tương đối liên tục trong những năm sau đó, một mặt giúp nền kinh tế lấy lại phần nào đà tăng trưởng, nhưng mặt khác đã tích tụ những mầm mống gây ra lạm phát cao bắt đầu bộc lộ từ giữa năm 2007
Cùng với chính sách kích cầu thì chính sách cung tiền và lãi suất của chính phủ cũng tác động đến lạm phát Việt Nam
Trang 21- Chính sách mở cửa của Việt Nam trong tiến trình hội nhập:
Việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào tháng 11/2006 mở ra một thời kỳ hội nhập sâu rộng chưa từng có, khiến mức độ giao lưu thương mại và đầu tư quốc tế tăng vọt, làm dòng vốn vào(cả đầu tư trực tiếp lẫn gián tiếp) tăng mạnh Kéo theo lượng USD trong lưu thông tăng mạnh, nên để giữ được sức mạnh cạnh tranh trong xuất khẩu Chính phủ nước ta đã lựa chọn biện pháp can thiệp bằng thị trường
mở, NHNN đã tung ra lượng tiền VND rất lớn để mua ngoại tệ Điều này khiến cho
dự trữ ngoại hối của Việt Nam tăng trưởng hơn 100% Dự trữ ngoại tệ tăng quá nhanh làm cho lượng cung ứng tiền tệ theo nghĩa rộng hàng năm phải tăng 20-30%, thúc đẩy vật giá trong nước tăng cao
- Yếu tố tâm lý, đầu cơ, làm giá:
Giá cả của một số mặt hàng(nhất là các mặt hàng độc quyền) ở Việt Nam tăng chưa hẳn là do chi phí đầu vào tăng cao mà do việc quản lý điều hành vĩ mô chưa thật tốt, các doanh nghiệp kinh doanh lợi dụng đầu cơ, tăng giá Và giá tăng rồi thì sẽ không giảm hoặc giảm rất chậm trong khi cơn sốt giá quốc tế đã hạ nhiệt
- Lạm phát do tình trạng tham nhũng cao:
Tại Việt Nam, trong 5 năm (2007-2011), các cơ quan tố tụng đã khởi tố bình quân mỗi năm khoảng 280 vụ với hơn 600 bị can về các tội tham nhũng Tuy nhiên, theo Tổng thanh tra Chính phủ Huỳnh Phong Thanh thì số vụ việc, vụ án tham nhũng được phát hiện là chưa tương xứng với tình hình tham nhũng thực tế đang diễn ra
Về khía cạnh phân tích định tính, lạm phát và tham nhũng rõ ràng có mối quan hệ nhân quả: nếu tình trạng tham nhũng càng phổ biến tại một quốc gia thì lạm phát quốc gia đó càng cao Tham nhũng chính là nguyên nhân trực tiếp và quan trọng khiến bội chi ngân sách cao, đầu tư công dàn trải, thất thoát, kém hiệu quả; và bội chi ngân sách cao, đầu tư công dàn trải, kém hiệu quả chính nó lại là một nguyên nhân quan trọng khiến lạm phát tăng cao
- Thu nhập của dân cư:
Thu nhập của người dân trong những năm vừa qua luôn tăng lên đã một phần làm tăng tổng cầu và mặt khác tạo tâm lý tăng giá các mặt hàng tiêu dùng khác
Trang 22Bảng 4.2: Mức lương tối thiểu trong cơ quan nhà nước từ năm 1999 đến 2012
Năm 1999 2001 2003 2005 2006 2008 2009 2010 2011 2012
Số tiền
(1000đ) 180 210 290 350 450 540 650 730 830 1050
Nguồn : www.laodong.com.vn
- Vai trò điều hành của NHNN và sự phối hợp của các cơ quan chức năng:
NHNN bị động và đôi khi chủ quan trong thực thi chính sách tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát Sự bị động này một phần là do NHNN thiếu tính độc lập và tự chủ trong việc quyết định và thực thi chính sách tiền tệ Thường trước khi thông qua một quyết định nào đó, NHNN phải xin phép hoặc hỏi ý kiến Chính Phủ Điều này dẫn đến sự chậm trễ trong triển khai chính sách tiền tệ, trong khi đó chính sách tiền tệ luôn có một độ trễ nhất định
- Tăng giá điện, xăng dầu:
Xăng và điện là 2 mặt hàng, nhiên liệu có ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và tiêu dùng Chính vì thế mà việc tăng giá xăng dầu và tăng giá điện tác động làm tăng giá hầu hết các mặt hàng trong nền kinh tế
Nhưng việc chính phủ tăng giá xăng là một việc không tránh được Giá xăng dầu trên thế giới tăng và Việt Nam là một nước nhập cảng xăng dầu nhiều hơn gấp bội lượng xăng dầu xuất khẩu
- Tác động của dòng tiền nóng:
Tiền nóng là một loại vốn đầu tư lưu động không nhằm vào một việc cụ thể nào mà chỉ để dành được lợi nhuận lớn với mức rủi ro ít nhất Nó mang tính chất đầu cơ một thời gian ngắn và lưu động rất nhanh chóng trên thị trường tài chính quốc tế đặc trưng nổi bật của nó là ngắn hạn, đầu cơ, vào-ra rất kín đáo, rất khó quan sát và kiềm chế Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập sâu rộng, các trang thiết bị, kiến trúc thượng tầng và điều kiện đầu tư không ngừng được cải thiện Chính vì thế mà Việt Nam đang trở thành một thị trường thu hút dòng tiền nóng
Trang 23Khi tình hình kinh tế trong nước có chuyển biến xấu, lập tức vốn tiền nóng rút ra sau khi đã có lời Khi tiền nóng rút ra nhanh thì tạo thành một nhân tố thúc đẩy kinh tế chuyển biến xấu Vốn Đầu Tư Nước Ngoài(ĐTNN) đột nhiên dừng lại hoặc rút ra nhanh có thể làm hệ thống tài chính bị khủng hoảng và rối loạn nặng hơn Đầu tư có tính chất đầu cơ rút ra nhanh có thể làm biên độ dao động lớn hơn gây thiệt hại nặng hơn Chính vì thế chúng ta cần phải cảnh giác cao hơn nữa với các khoản đầu tư từ nhà ĐTNN
- Lạm phát là do chịu ảnh hưởng của giá hàng hóa thế giới:
Chi phí nguyên vật liệu nhập khẩu cũng tác động đến chỉ số giá tiêu dùng thông qua việc làm tăng giá các sản phẩm đầu ra Kinh tế thế giới tiếp tục đà phục hồi thì sản xuất sẽ tăng lên và nhu cầu về nguyên, nhiên, vật liệu cho sản xuất trên thế giới sẽ tăng lên Và khi cầu tăng lên thì chỉ số giá nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào mà chúng
ta bị phụ thuộc vào nước ngoài cũng sẽ tăng lên, tiếp tục ảnh hưởng đến chi phí đầu
vào Đó cũng chính là tác động của lạm phát do chi phí đẩy trong điều kiện “sống
nhờ” vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu mà chúng ta buộc phải chấp nhận
Hình 4.2: Diễn biến giá hàng hóa thế giới, T1.2001 – T7.2011
(nguồn IMF)
Trang 24Từ những phân tích trên ta có thể khái quát nguyên nhân gây ra lạm phát Việt nam giai đoạn từ năm 2000 đến tháng 3/2012 qua mô hình sau:
4.2 Các mô hình đo lường lạm phát:
4.2.1 Một số mô hình đo lường lạm phát truyền thống:
Mô hình đường cong Phillips:
Xuất phát từ bài báo “The Relation Between Unemployment and the Rate of Change
of Money Wage Rate in the UK, 1861-1957” Phillips(1958) viết trên cơ sở điều tra quan hệ giữa sự thay đổi tiền lương và tỷ lệ thất nghiệp Minh họa về lý thuyết này có ảnh hưởng nhất là Lipsey Tư tưởng chủ đạo trong mô hình Phillips- Lipsey là lạm phát lương được giải thích bởi sự dư cầu trong thị trường lao động, trong đó dư cầu được mô tả bằng tỷ lệ thất nghiệp
điều chỉnh theo giá
thị trường giá điện
3 Chính sách mở cửa của Việt Nam trong tiến trình hội nhập
4 Quản lý giá chưa tốt
KHÁCH QUAN:
1 Tác động của dòng tiền nóng
2 Chi phí nguyên vật liệu nhật khẩu gia tăng
Trang 25Sau này được hai nhà kinh tế học là Samuelson và Solow tổng quát lại khái niệm đường cong Phillips bằng cách chỉ ra quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp thay cho quan hệ tiền lương và thất nghiệp tạo cơ sở cho các nhà hoạch định chính sách trong việc lựa chọn mục tiêu lạm phát và thất nghiệp
Theo Samuelson và Solow các nhà hoạch định chính sách phải đối mặt với sự đánh đổi giữa lạm phát và thất nghiệp mà đường cong Phillips lại thể hiện mối quan hệ này
Mô hình đường cong Phillips ngày nay mà các nhà kinh tế học sử dụng để đưa ra những dự báo của mình đã đưa thêm yếu tố ngẫu nhiên vào mô hình của mình mô hình đường cong Phillips ngày nay được viết dưới dạng (4.1), nó khẳng định lạm phát phụ thuộc vào ba yếu tố: lạm phát kỳ vọng (πt-1) độ lệch của thất nghiệp so với thất nghiệp tự nhiên gọi là thất nghiệp chu kỳ ( ut-ut-1) và các cú sốc cung (εt) hay là một yếu tố ngẫu nhiên
Mô hình như sau:
Πt = t-1 + b( ut-ut-1) + εt (4.1)
Theo đó, khi người dân kỳ vọng lạm phát trong tương lai tiếp tục tăng thì sẽ không
muốn giữ tiền nữa mà thay vào đó sẽ tăng đầu tư vào các tài sản khác như: bất động sản, vàng,… từ đó làm gia tăng lượng tiền trong lưu thông gây mất cân bằng tiền-hàng
từ đó gây ra lạm phát Hoặc các đợt dịch, hạn hán, hay việc đưa thêm các loại tiền mới vào trong lưu thông của chính phủ làm cho người ta kỳ vọng rằng lạm phát sẽ tăng trong tương lai Hoặc có thể khi nhận thấy lạm phát hiện tại thì cá nhân với dự tính duy lý rằng trong sắp tới giá cả sẽ còn tiếp tục tăng cao nên đẩy mạnh tiêu dùng trong hiện tại qua đó làm tổng cầu tăng lên quá mức làm mất căn bằng cung cầu dẫn đến lạm phát
Các cú sốc cung cũng góp phần vào lạm phát: Nếu như tổng cầu không đổi hoặc tăng lên nhưng nguồn cung đột ngột giảm thì điều này sẽ làm cho mất cân bằng cung- cầu và làm cho mức giá chung tăng lên và gây ra lạm phát
Trang 26 Mô hình chi phí đẩy
Lạm phát chi phí đẩy xảy ra khi đường tổng cung dịch chuyển sang trái do chi phí sản xuất tăng nhanh hơn năng suất lao động Bốn loại chi phí có thể gây ra lạm phát loại
này là:tiền lương, thuế gián thu, lãi suất và giá nguyên liệu nhập khẩu Lạm phát chi
phí đẩy thường xuất hiện khi tiền lương tăng trước mà chưa tăng năng suất lao động
hay mức giá chung Đây có thể là kết quả từ kỳ vọng sai lạm phát hoặc sự thay đổi
trong phân bổ thu nhập Khi công đoàn thành công trong việc đẩy tiền lương lên cao,
khi đó doanh nghiệp sẽ tìm cách tăng giá Nếu họ làm được điều này thì lạm phát sẽ gia tăng Vòng xoáy đi lên trong tiền lương và giá cả sẽ tiếp diễn khi chính phủ tìm cách tránh một cuộc suy thoái bằng cách sử dụng chính sách tiền tệ mở rộng Việc chính phủ tăng các loại thuế tác động đồng thời tới tất cả các nhà sản xuất cũng
có thể gây ra lạm phát Thuế gián thu kể cả thuế nhập khẩu cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc tăng giá cả trong nước, bởi lẽ thuế gián thu sẽ được cộng trực tiếp vào giá của các mặt hàng nhập khẩu, tiêu dùng cho nên việc tăng giảm các loại thuế này ít nhiều cũng có những ảnh hưởng nhất định đến việc tăng giảm giá trong nước bằng với mức thuế Ngoài ra, nếu một loại nguyên liệu đóng vai trò quan trọng trong sản xuất thì khi đó nếu giá nguyên liệu đó thay đổi cũng có thể gây ra những thay đổi đáng kể về giá của các mặt hàng trong nước mà nguyên liệu đó
là thành phần chính từ đó gây áp lực làm mặt bằng giá cả sẽ tiếp tục tăng Đặc biệt đối với các nước đang phát triển khi phần lớn nguyên vật liệu là phải nhập khẩu từ bên ngoài nên sự thay đổi giá của chúng tác động lớn đến tình hình lạm phát trong nước
Về phương diện lý thuyết thì lãi suất danh nghĩa và tỷ lệ lạm phát có mối quan hệ
cùng chiều theo hiệu ứng Fisher Khi lạm phát tăng thì lãi suất danh nghĩa tăng để
đảm bảo mức lãi suất thực được chấp nhận bởi các chủ thể trong nền kinh tế Triển vọng của lãi suất thực có ảnh hưởng đến kỳ vọng lạm phát Sau khi xác định được kỳ vọng lạm phát, nếu người tiêu dùng tin rằng lãi suất tiết kiệm sẽ không thay đối hoặc tăng rất thấp, nghĩa là lãi suất thực sẽ âm thì họ sẽ có khuynh hướng rút tiền gửi tiết kiệm và đầu tư vào bất động sản hoặc chứng khoán để bảo vệ sức mua Điều này sẽ làm xảy ra bong bóng trên thị trường bất động
sản và sẽ gây áp lực làm CPI có xu hướng tăng lên Vì thế, lãi suất thực là một biến số
quan trọng tác động đến tiêu dùng và đặc biệt là lạm phát kỳ vọng
Trang 27Ngoài ra, mối quan hệ giữa lãi suất và lạm phát còn hình thành dựa trên sự ảnh hưởng
của lãi suất đến tổng cầu Trong cơ cấu của tổng cầu thì hai thành phần chịu tác động
trực tiếp của lãi suất đó là đầu tư và tiêu dùng, trong đó lãi suất và tiêu dùng có mối
tương quan nghịch chiều, lãi suất và đầu từ nhìn chung có mối tương quan nghịch
nhưng còn tùy thuộc vào độ co giãn của cầu đầu tư so với lãi suất Do đó, lãi suất
được xem là một yếu tố, một công cụ quan trọng tác động đến lạm phát mục tiêu và
lạm phát kỳ vọng hiện hữu
Hình 4.3: Cơ chế dẫn truyền của lãi suất đến lạm phát
Những yếu tố nêu trên có thể có tác động riêng lẻ, nhưng cũng có thể gây ra tác động
tổng hợp, làm cho lạm phát gia tăng Khi đó các doanh nghiệp sẽ đối phó lại bằng
cách tăng giá cả hàng hóa và làm xuất hiện lạm phát mặc dù cầu về sản phẩm của họ
không tăng
Trang 28Hình 4.4: Chi phí tăng đẩy giá lên cao
Khi chi phí đầu vào tăng lên làm dịch chuyển đường tổng cung AS0 đến AS1 Mỗi mức sản lượng Y được sản xuất với mức chi phí cao hơn Dư cầu hàng hóa xuất hiện tại mức giá P0 Điều này dẫn đến sự tăng lên của mức giá chung từ P0 đến P1 Giá tăng sản lượng giảm và có thể kèm theo là thất nghiệp
Mô hình lạm phát do cầu kéo
Các nhà kinh tế học thuộc trường phái Keynes coi lạm phát là do sự dịch chuyển sang phải của đường tổng cầu phát sinh từ sự gia tăng nào đó trong tổng chi tiêu Trường phái Keynes không cho rằng giá cả luôn luôn cố định mà khẳng định giá cả sẽ tăng bất cứ khi nào có sự gia tăng tổng cầu trong ngắn hạn Tuy nhiên theo Keynes lạm phát thật sự chỉ xảy ra khi có sự gia tăng của giá cả mà không có sự mở rộng của sản lượng Điều này hàm ý lạm phát chỉ xảy ra khi tổng cầu tăng cao hơn mức sản lượng
tiềm năng Lạm phát cầu kéo xảy ra khi tổng cầu tăng lên mạnh mẽ Theo đó sự tăng
lên của tổng cầu có thể được giải thích bằng phương trình số nhân chi tiêu của Keynes:
Trang 29Trong đó: Y: tổng thu nhập, mpc: khuynh hướng tiêu dùng biên, C: chi tiêu dùng của khu vực tư, I: đầu tư của khu vực tư, G: chi tiêu của chính phủ, X-M: cán cân thanh toán, Δ: chỉ sự thay đổi của các biến trên Qua đó ta thấy bất kỳ sự gia tăng nào trong bốn thành tố trên đều có thể làm tăng tổng cầu Nếu mpc càng lớn thì số nhân chi tiêu 1/(1-mpc) càng lớn sẽ kéo theo sự thay đổi của tổng cầu càng lớn
Lạm phát cũng có nguyên nhân từ nhu cầu xuất khẩu, khi nhu cầu xuất khẩu tăng làm
cho mức cung trong nước giảm từ đó làm tăng giá các mặt hàng trong nước Nhu cầu xuất khẩu và luồng vốn chảy vào trong nước cũng có thề gây ra lạm phát đặc biệt trong chế độ tỷ giá cố định, vì điều này có thể làm gia tăng lượng nội tệ lưu thông trong nền kinh tế
Hình 4.5: Mô hình chi tiêu quá khả năng cung ứng
Minh họa lạm phát cầu kéo theo quan điểm kinh tế vĩ mô: các công ty tuyển thêm nhân viên mới trong thị trường lao động bằng cách tăng lương Người lao động căn cứ vào mức lương kỳ vọng thực tế W/P*
mà quyết định công việc (W là lương danh nghĩa, P*
là giá kỳ vọng).Vì giá kỳ vọng P* sẽ được điều chỉnh theo sự thay mức giá chung nhưng có độ trễ nhất định nên người lao động hiểu nhầm đó là sự tăng lên trong mức lương thực tế Điều này dẫn đến tăng việc làm và sản lượng thực tế với đường tổng cung AS0 sẽ dịch chuyển từ A đến B Trong mô hình lạm phát cầu kéo việc tăng lên trong tổng cầu làm nới rộng sản lượng từ Y0 đến Y1 và đẩy giá lên từ P0lên P1
Trang 30Nếu vận dụng lý thuyết kỳ vọng để giải thích, chúng ta xét tại điểm B của (hình 3.3.) đây không phải là một vị trí ổn định Sau một giai đoạn nào đó, các công nhân sẽ nhận ra tiền lương của họ không tăng lên do mức giá chung tăng lên Họ sẽ đòi hỏi phải tăng mức lương cao hơn để bù đắp sự tăng lên của giá cả Vì vậy sự tăng lên trong lương danh nghĩa đẩy lương thực tế về vị trí cân bằng và đường tổng cung dịch chuyển sang trái Tại điểm cân bằng mới C mức lương thực tế cũng như tại A nhưng lương danh nghĩa và mức giá chung đều tăng
Mô hình lạm phát theo quan điểm kỳ vọng
Yếu tố kỳ vọng là một trong những điểm khác biệt của các lý thuyết về lạm phát được phát triển sau này Mặc dù các nhà kinh tế nổi tiếng như: Keynes, Hicks, Lange, có bàn về yếu tố kỳ vọng nhưng nó thật sự được nghiên cứu rộng rãi nhất là
vào thập niên 1970 trở lại đây Kết quả của các nghiên cứu này cho thấy : Các kỳ
vọng lạm phát ảnh hưởng đến lạm phát thông qua hai góc độ: thứ nhất, chúng ảnh
hưởng đến mức lãi suất thực và vì thế mà nó ảnh hưởng đến bất kỳ tỷ lệ lãi suất danh nghĩa cụ thể nào và từ đó ảnh hưởng đến lạm phát Thứ hai,chúng ảnh hưởng đến giá
cả và tiền lương và vì thế nó ảnh hưởng đến lạm phát thực tế trong giai đoạn tiếp theo sau đó Cơ chế để hình thành lạm phát kỳ vọng là tình trạng lạm phát trong quá khứ và những động thái của chính phủ trong giai đoạn hiện tại Có hai loại kỳ vọng được nghiên cứu trong thời gian qua là:
Kỳ vọng thích nghi
Kỳ vọng thích nghi là kỳ vọng được đưa ra dựa vào những thông tin trong quá khứ Nếu dự báo lạm phát theo cách này sẽ dẫn đến những sai lầm hệ thống Kỳ vọng thích nghi chỉ phù hợp cho trường hợp xác định kỳ vọng phụ thuộc vào sự thay đổi của lạm phát quá khứ
Kỳ vọng hợp lý
Kỳ vọng hợp lý giả định mọi người sử dụng tối ưu tất cả các thông tin hiện có trong
đó có cả các thông tin trong hiện tại để đưa ra những dự báo cho tương lai Kỳ vọng được xem là hợp lý khi chúng trùng với các dự báo từ lý thuyết kinh tế liên quan
Trang 31 Mô hình lạm phát theo trường phái tiền tệ
Lạm phát tiền tệ là lạm phát do lượng tiền trong lưu thông tăng lên (chẳng hạn có thể
do Ngân hàng trung ương mua ngoại tệ để tránh gây ra sự mất giá của đồng ngoại tệ
so với đồng trong nước, hoặc cũng có thể Ngân hàng trung ương tăng cung tiền để kích thích nền kinh tế hoặc có thể tài trợ thâm hụt ngân sách … làm tăng lượng tiền trong lưu thông gây ra lạm phát) Như chúng ta đã biết, khi ngân sách bị thâm hụt
có thể do nhu cầu chi tiêu của chính phủ cho chiến tranh hay do nền kinh tế suy thoái cần kích cầu đầu tư và tài trợ thâm hụt ngân sách thông qua phát hành tiền là cách đơn giản nhất Tuy nhiên, có nhiều cách tài trợ thâm hụt ngân sách khác nhau như: phát hành trái phiếu, vay nợ nước ngoài,… song do ngân sách bị thâm hụt kéo dài làm giảm lòng tin của nhà đầu tư vào khả năng trả nợ cho nên họ sẽ từ chối mua trái phiếu của chính phủ Điều này làm hạn chế phương án tài trợ thâm hụt ngân sách của chính phủ Nhất là các nước đang phát triển thị trường tài chính chưa phát triển nên chính phủ càng khó khăn hơn trong việc tìm kiếm nguốn tài trợ cho ngân sách để thực hiện các dự án đầu tư của chính phủ Cho nên in tiền là giải pháp mà chính phủ các nước lực chọn Và ở các nước đang phát triển do ngân sách bị giới hạn và các dự án đầu tư của chính phủ phần lớn được tài trợ bởi các ngân hàng thương mại quốc doanh và nguồn tiền mà các ngân hàng này cho vay là được hỗ trợ từ ngân hàng trung ương Do đó, mặc dù ngân sách thâm hụt không lớn nhưng do chính sách tín dụng mềm cũng gây ra lạm phát
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau của các nhà kinh tế trong trường phái này Tuy nhiên, yếu tố trung tâm gây ra lạm phát vẫn là tiền tăng trong lưu thông, có hai
cách tiếp cận được thừa nhận rộng rãi đó là : mô hình lạm phát theo lý thuyết
định lượng về tiền, mô hình về khoảng chênh lệch sản lượng lên tỷ lệ lạm phát
Mô hình lạm phát theo lý thuyết định lượng về tiền
Những nhà kinh tế học cổ điển và tân cổ điển đã dùng thuyết số lượng tiền để giải thích lạm phát Thuyết số lượng tiền tệ dựa trên phương trình trao đổi như sau:
MV = PT
Trang 32Trong đó: M, là khối lượng tiền V, là vòng quay của tiền P, mức giá chung
trong nền kinh tế T, khối lượng giao dịch thực
Với giả thuyết T bằng với sản lượng Y của nền kinh tế Đường tổng cung AS được giả định là cho trước và ở mức toàn dụng hay nói cách khác sản lượng đang ở trạng thái cân bằng dài hạn:
AS = Y (4.2) Với Y là tổng sản lượng thực được cho bởi hàm sản xuất trong dài hạn, trong khi đó tổng cầu AD được xác định như sau:
AD = (MV)/P (4.3) Cân bằng trong thị trường hàng hóa và dịch vụ xảy ra khi AS = AD từ đó ta có :
MV=PY (4.4)
Từ phương trình (4.3), ta có phương trình số lượng được viết dưới dạng phần trăm thay đổi như sau:
lnM + lnV= lnP + lnY (4.5)
%thay đổi M + % thay đổi V = % thay đổi + % thay đổi Y (4.7)
%thay đổi P = %thay đổi M + % thay đổi V- % thay đổi Y (4.8)
Các nhà kinh tế cổ điển và tân cổ điển giả định rằng V là một hằng số không thay đổi trong ngắn hạn được bởi điều này phụ thuộc vào hệ thống tài chính nên yếu tố này không thể thay đổi ngay được Fisher đã đưa thêm giả định là Y là hằng số trong dài hạn Với giả thuyết V không đổi thì bất cứ sự gia tăng cung tiền nào cũng làm gia tăng GDP danh nghĩa Vì các nhân tố sản xuất và hàm sản xuất quyết định mức GDP thực tế và xem GDP thực tế không đổi nên mọi sự thay đổi GDP danh nghĩa phải thể hiện ở sự thay đổi mức giá Vì vậy lý thuyết số lượng ngụ ý rằng giá cả tỷ lệ thuận với mức cung tiền
Trang 33 Mô hình ảnh hưởng của khoảng chênh lệch sản lượng lên tỷ lệ lạm phát
Theo mô hình tổng cung-tổng cầu thì chính sách tiền tệ hỗ trợ tăng trưởng kinh tế sẽ
có tác dụng trong ngắn hạn, nếu sử dụng trong dài hạn thì sẽ không làm tăng trưởng kinh tế mà tác động đến lạm phát Xem hình:
Hình 4.6: Mô hình tổng cung-tổng cầu
Trong đó: AD: Tổng cầu, AS: tổng cung, Y: sản lượng thực tế, Y*: sản lượng tiềm năng, P: mức giá
Theo đó tín dụng tác động đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn thông qua 3 kênh: tiêu dùng, đầu tư, xuất khẩu-nhập khẩu Nếu mở rộng tín dụng trên cả 3 kênh này kéo theo tổng cầu, tức là sản lượng Y tăng lên Nếu thu hẹp tín dụng thì 3 kênh này giảm về mặt giá trị, sẽ kéo theo tổng cầu giảm, tức Y giảm Tuy nhiên tín dụng chỉ có tác dụng tích cực trong ngắn hạn còn trong dài hạn thì tăng trưởng tín dụng sẽ làm mất cân đối kinh tế vĩ mô gây ra lạm phát Cụ thể:
Tăng trưởng tín dụng trong ngắn hạn sẽ kéo theo tổng cầu, sản lượng Y tăng lên:
Trong dài hạn, nền kinh tế luôn đạt mức cân bằng tại sản lượng tiềm năng Y* Do
đó, giả sử ban đầu nền kinh tế ở trạng thái cân bằng tại điểm (1) với mức giá P1 và sản lượng tiềm năng Y* Khi Ngân hàng Trung ương thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng (tín dụng tăng, lãi suất giảm) khiến cho đầu tư, tiêu dùng và xuất khẩu ròng tăng làm đường tổng cầu AD1 dịch chuyển sang phải AD2, điểm cân bằng chuyển sang (1’) với mức giá P2>P1 và sản lượng Y’ lớn hơn sản lượng tiềm năng (Y’>Y*)
Trang 34Tác động của chính sách tiền tệ nới lỏng đến tăng trưởng kinh tế trong dài hạn: Như đã trình bày ở trên chính sách tiền tệ nới lỏng trong ngắn hạn đã tác động đến tăng sản lượng và Y”> Y* do đường tổng cầu AD1 dịch chuyển sang AD2 Nhưng trong dài hạn, khi sản lượng lớn hơn sản lượng tiềm năng (Y*) thì do các nguồn lực của sản xuất đã được sử dụng vượt mức nền kinh tế thực có, ngay lập tức tiền lương
và chi phí sản xuất tăng lên làm đường tổng cung (AS1) dịch chuyển sang trái (AS2), điểm cân bằng chuyển sang (2) và sản lượng lại quay trở về vị trí cũ (Y*) Nếu chính sách tiền tệ tiếp tục nới lỏng, đường tổng cầu tiếp tục dịch chuyển sang phải (AD3) và đường tổng cung lại tiếp tục dịch chuyển sang trái (AS3) Như vậy, có thể thấy trong ngắn hạn, tác động của chính sách tiền tệ mở rộng có thể làm tăng tổng cầu
từ Y* sang Y1 rồi Y2, nhưng trong dài hạn thì sản lượng không tăng và vẫn giữ ở mức sản lượng tiềm năng Y* còn giá cả thì đã tăng từ mức P1 lên P3 Như vậy, chính sách tiền tệ chỉ tác động đến tăng trưởng trong ngắn hạn, còn tác động đến lạm phát là dài hạn
4.2.1 Một số mô hình nghiên cứu lạm phát trong thời gian vừa qua và ý nghĩa của nó:
Các nghiên cứu ở nước ngoài
Mohammad (1999) nghiên cứu lạm phát Trung Quốc trong ngắn hạn và
dài hạn bằng mô hình hiệu chỉnh sai số ECM Nghiên cứu này dựa trên mô hình tiền tệ truyền thống nhưng thêm một số biến khác để phù hợp với đặc trưng nền kinh tế
Trong đó: P: chỉ số giá chung, M: Cung tiền, g: khoảng chênh lệch sản lượng so với sản lượng tiềm năng, đại diện dư cầu, W: lương cơ bản, AP: là chỉ số sản
Trang 35lượng nông nghiệp, IP:là chỉ số sản xuất nông nghiệp, δ(L):là toán tử trễ, ε: biến ngẫu nhiên
Nghiên cứu của Mohammad sử dụng phương pháp Johansen –Juselius phân tích quan hệ dài hạn của các biến trong mô hình(4.10) và mô hình hiệu chỉnh sai số ECM để xác định sự phụ thuộc giữa ngắn hạn và dài hạn và quan hệ nhân quả giữa giá
và tiền
Ý nghĩa của mô hình: Mohammad đã sử dụng công cụ nghiên cứu hiện đại là kiểm
định đồng liên kết Johansen – Juselius và kiểm định sai số ECM để nghiên cứu biến động của giữa tiền tệ và giá cả, ngoài ra còn kèm thêm các yếu tố cơ cấu: năng suất công nghiệp và năng suất nông nghiệp để xét lạm phát
do 2 lý do: lạm phát nước ngoài tăng nên giá nhập khẩu tăng hoặc sự sụt giá của đồng tiền trong nước dẫn đến nhập khẩu gia tăng Vì vậy, tác giả cho rằng trong ngắn hạn các yếu tố chính xác định lạm phát là cung tiền, lương tối thiểu, năng suất lao động, khoảng chênh lệch sản lượng so với sản lượng tiềm năng, lãi suất, tỷ giá, lạm phát nước ngoài Để biết vị trí nền kinh tế hiện tại có quan hệ với cấu trúc cân bằng trong dài hạn như thế nào, các tác giả đã ước lượng độ lệch cung tiền, lao động, và các biến ngoại sinh so với cân bằng dài hạn đem các biến đó vào mô hình như là yếu tố xác định lạm phát Do đó, tác giả đã ước lượng mô hình như sau:
Trang 36(4.11) Trong đó :
DCPI: Lạm phát giá tiêu dùng(%), DCPI*: Lạm phát giá tiêu dùng của nước ngoài
DEXC:Tỷ lệ tăng tỷ giá hoái đối, DM: tỷ lệ tăng trưởng tiền danh nghĩa
LWAG: Tỷ lệ tăng trưởng tiền lương tối thiểu, LPRO:sự thay đổi năng suất lao động(GDP/người)
OG: Khoảng chênh lệch sản lượng so với sản lượng tiềm năng, DR: phần chênh lệch lãi suất
ecmM: Độ dao động của cung tiền so với trạng thái ổn định dài hạn
ecmL: Độ dao động của lao động so với trạng thái ổn định dài hạn
ecmE: Độ lệch của các cú sốc ngoại sinh so với mức ổn định dài hạn
CRISIS: Biến giả định nhận giá trị 1 trong giai đoạn 1997Q3-1998Q4
SEAS: Các biến giả để kiểm tra mức ảnh hưởng của yếu tố mùa vụ
Nhóm tác giả đã kết luận rằng tỷ giá hối đoái và lạm phát nước ngoài là yếu tố then chốt ảnh hưởng lạm phát trong nước, cung tiền chỉ có ý nghĩa thống kê còn mức tác động thì ít
Ý nghĩa của mô hình: Nhóm tác giả đã đưa phần chênh lệch của các biến cung tiền,
lao động so với mức cân bằng dài hạn vào mô hình lạm phát để xem xét chính xác hơn mức lạm phát của Indonesia
Trang 37 Gerlach và Peng (2006) đã dùng mô hình đường Phillips để phân tích lạm phát
ở Trung Quốc
(4.12) Trong đó: πt :tỷ lệ lạm phát, gt là phần thiếu hụt sản lượng và các cú sốc từ phía cung được biểu diễn bởi phần dư εt
Sau khi ước lượng và kiểm định nhóm nghiên cứu đã đưa ra mô hình cuối cùng như sau:
(4.13) Trong đó biến Z được giả thiết là biến tự hồi quy Biến Z đại diện cho các biến không giải thích được như: sự thay đổi giá cả, mở rộng thương mại,…
Ý nghĩa của mô hình: Gerlach và Peng đã đưa ra cách hiệu chỉnh nhằm khắc phục các
khuyết tật của mô hình bằng biến công cụ mới Z với giả định biến này là biến tự hồi qui theo luật tự hồi qui bậc hai Từ đó có cách đánh giá xác đáng cho lạm phát Trung Quốc
Tình hình nghiên cứu trong nước
Võ Trí Thành (1997) đã dùng mô hình trễ đa thức nghiên cứu các yếu tố xác
định lạm phát Việt Nam nữa đầu thập kỷ năm 1990 với mô hình như sau:
(4.14)
Trong đó: π: tỷ lệ lạm phát, gM: tỷ lệ tăng trưởng cung tiền danh nghĩa
gY: tỷ lệ tăng trưởng sản lượng
ω : đo lường độ lệch giữa tỷ lệ mất giá tiền nội địa và lãi suất
πe
: lạm phát kỳ vọng
Trang 38Kết luận của mô hình: với chuỗi số liệu 1990:12-1994:12, tác giả kết luận ω, gM có ý
nghĩa cao nên đây là yếu tố dùng để dự báo lạm phát, gY chỉ tác động trong ngắn hạn
Dương Thị Thanh Mai (2002) đánh giá lạm phát của các nước đang phát triển,
phụ thuộc vào ba yếu tố: tăng lượng cung tiền, tăng thu nhập, tỷ giá Mô hình hồi qui như sau:
(4.15)
Trong đó: lnMt: logarit cơ số tự nhiên của cung tiền danh nghĩa
lnYt: logarit cơ số tự nhiên của sản lượng trong nước
lnNERt: logarit cơ số tự nhiên của tỷ giá hối đoái
γt: sai số
Với chuỗi dự liệu từ năm 1997-2000, tác giả đi đến các kết luận là tỷ giá không có tính hiệu báo trước cho lạm phát Khi kiểm định mô hình trong ba giai đoạn từ năm 1989-1992, 1993-1996, 1997-2000, tác giả cũng cho kết luận là tỷ giá không có tín hiệu báo trước cho lạm phát Với các kết quả như trên tác giả khuyên các nhà làm chính sách có thể điều hành chính sách tỷ giá linh hoạt mà không phải quan tâm đến lạm phát
Nguyen Thi Thuy Vinh và Seiichi Fujita(2007):
Đưa ra một mô hình VAR để kiểm tra mối tương quan giữa tỷ giá hối đoái thực và
sản lượng, giữa tỷ giá hối đoái thực và mức giá trong nền kinh tế của Việt Nam Nhóm tác giả căn cứ vào những phát trong khuôn khổ lý thuyết của mô hình cốt lõi được đề xuất bởi Kamin và Rogers(2000) Mô hình chính được thể hiện như sau :
(4.16) Trong đó: xt là một vector của 3 biến nội sinh: Lio (log của sản lượng công nghiệp thực sự), LCPI (log của chỉ số giá tiêu dùng ), và LRER(log của tỷ giá hối đoái thực tế), zt là một vector của các biến ngoại sinh, USINT(danh nghĩa United Nói lãi suất );
Trang 39Dt là một vector của các thành phần xác định; Ai và Bi là ma trận các hệ số; εt là sai số ngẫu nhiên
Kết quả của mô hình cho thấy: tỷ giá hối đoái thực có ảnh hưởng đến sự thay đổi của
sản lượng công nghiệp thực Tuy nhiên, ảnh hưởng này không quá lớn Tỷ giá không
có ý nghĩa thống kê trong việc giải thích lạm phát Thay vào đó, các cú sốc từ bên ngoài, biến động trong tỷ lệ lãi suất của Mỹ lại ảnh hưởng đến lạm phát
Camen(2006):
Sử dụng mô hình VAR với số liệu tháng trong giai đoạn từ tháng 2 năm 1996 đến tháng tư năm 2005 và phát hiện rằng: Tín dụng trong kinh tế chiếm 25% nguyên nhân gây nên biến động lạm phát và là nhân tố chính gây ảnh hưởng đến lạm phát sau 24 tháng; tổng phương tiện thanh toán và lãi suất chỉ giải thích một phần rất nhỏ trong biến động của CPI(chưa tới 5%); giá dầu thô và giá gạo quốc tế đóng vai trò quan trọng cùng với tỷ giá giải thích biến động của lạm phát(19%); cung tiền Mỹ cũng đóng vai trò quan trọng trong hầu hết các giai đoạn nghiên cứu
Viện nghiên cứu VEPR(2011) :
Đã xây dựng mô hình VECM dựa trên cơ sở lạm phát được diễn đạt là sự thay đổi
trong mức giá logP, phụ thuộc vào sự thay đổi của giá hàng hóa thương mại logPT, giá hàng hóa phi thương mại logPN và giá được kiểm soát logPC Mối quan hệ này có
thể được diễn đạt trong phương trình sau:
logP = α1logPT + α2logPN + (1 – α1 + α2)logPC (4.17)
trong đó α1+ α2<1
Kết luận của mô hình: trái ngược với những nghiên cứu đã có, kết quả của mô hình
VECM cho thấy tỷ giá, cụ thể là việc phá giá, có tác động đáng kể làm tăng áp lực lạm phát Sự khác biệt trong kết quả này có thể được giải thích một phần là do các nghiên cứu trước đây chủ yếu nghiên cứu trong các giai đoạn tỷ giá được giữ tương đối cứng nhắc
Như vậy, thông qua tổng hợp các mô hình nghiên cứu lạm phát, chúng ta có thể nhận
thấy: Hầu hết các nghiên cứu đều cho rằng trong những năm đầu thập kỷ 1990, nhịp tăng cung tiền có tác động nhiều đến lạm phát với độ trễ từ 1-2 tháng Và ngoài cung