Theo thống kê, Hà Nội vào tháng 5/2009 trung bình mỗi ngày,Viện các bệnh Truyền nhiễm và Nhiệt đới quốc gia tiếp nhận gần 50 bệnh nhân bị mắc sốt xuất huyết đến khám và điều trị, gây nên
Trang 1VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI KHOA CÔNG NGHỆ SINH HỌC
—œ–
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU MỒI BẢ DIỆT MUỖI TRUYỀN BỆNH SỐT
DENGUE/SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE AEDES AEGYPTI TẠI HÀ NỘI.
Giáo viên hướng dẫn : TS Phạm Thị KhoaSinh viên thực hiện : Nguyễn Quang HuyLớp : KSCNSH - 0605 Khoá : 2006-2010
Trang 2
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới TS.Phạm Thị Khoa,Khoa Hóa thực nghiệm, Viện Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng Trung Ương,cùng toàn bộ các cán bộ công tác tại khoa đã tận tình hướng dẫn dạy bảo và tạomọi điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Em xin chân thành cảm ơn GS.TS Lê Văn Nhương Chủ nhiệm, GS.TS HoàngĐình Hòa Phó Chủ nhiệm, TS Nguyễn Văn Đạo Phó Chủ Nhiệm Khoa Côngnghệ sinh học, cùng toàn thể các thầy cô giáo Viện Đại Học Mở Hà Nội đã tậntình dạy dỗ em trong suốt những năm qua
Em xin chân thành cảm ơn sự hỗ trợ, động viên của gia đình và bạn bè trongquá trình học và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Hà Nội, ngày 18 tháng 5 năm 2010
Sinh viên
Nguyễn Quang Huy
Trang 3Những từ viết tắt
WHO Tổ chức y tế thế giới
SD/SXHD Sốt dengue/sốt xuất huyết dengue
TTYTDP Trung tâm y tế dự phòng
DDT Dichloro diphenyl trichloroethane
ICON Hóa chất lamdacyhalothrin
Fendona Hóa chất alpha-cypemethrin
………
Trang 4Mục lục
Mở đầu……….1
Chương 1 Tổng quan tài liệu………3
1.Dịch tễ học……….3
1.1.Tình hình bệnh SD/SHXD trên thế giới………4
1.2.Xu hướng……… 5
1.3.Tình hình bệnh SD/SXHD tại Việt Nam……… 6
2.Bệnh SD/SXHD……… 7
3.Điều trị………10
3.1.Nguyên tắc chung……… 10
3.2.Phân cấp điều trị bệnh nhân……… 10
4.Dự phòng……… 11
5.Đặc điểm sinh học muỗi Aedes aegypti 12
6.Chương trình tiêu diệt và phòng chống sốt xuất huyết tại Việt Nam……… 15
7.Các biện pháp diệt trừ muỗi Aedes aegypti đã và đang được tiến hành trên thế giới và tại Việt Nam……… 22
7.1.Các biện pháp hóa học……… 22
7.2.Các biện pháp sinh học……… 24
Chương 2.Thời gian, địa điểm, Phương pháp nghiên cứu……… 31
1.Thời gian……… 31
2.Địa điểm……… 31
3.Phương pháp nghiên cứu……… 31
Trang 53.1.Phương pháp điều tra thu thập muỗi……….31
3.2.Phương pháp nghiên cứu sản xuất mồi diệt muỗi……… 31
Chương 3.Kết quả và thảo luận……… 34
1.Hiệu lực của mồi bả diệt muỗi trong điều kiện phòng thí nghiệm và thực địa……… 36
1.1.Đánh giá hiệu lực của mồi bả diệt muỗi trong phòng thí nghiệm…… 36
1.2.Hiệu lực của mồi diệt muỗi trong phạm vi thực địa hẹp……… 36
1.3.Ảnh hưởng của mồi diệt muỗi đến sự đốt người của muỗi……… 37
1.4.Thành phần các loại muỗi bị thu hút và tiêu diệt……… 37
1.5.Kết quả điều tra sau khi đã tiến hành thử nghiệm hiệu lực của mồi diệt muỗi trên diện rộng……… 38
2.Đánh giá sự chấp nhận của cộng đồng đối với bả diệt muỗi………40
3.Ý nghĩa bảo vệ môi trường và hiệu quả kinh tế……… 40
4.Độc tính của mồi diệt muỗi đối với muỗi, người và động vật 40
5.Kết Luận……… 42
Tài liệu tham khảo……… 44
Trang 7Mở đầu
Phòng chống một số bệnh do muỗi truyền được tiến hành chủ yếu bằngphương pháp hóa học khi dịch bệnh xảy ra Biện pháp diệt muỗi đạt được hiệuquả cao, đem lại thành quả to lớn trong y học dự phòng Biện pháp hóa học chủyếu là phun tồn lưu, phun không gian, tẩm màn, tẩm rèm, hương xua diệt muỗi,kem bôi xua muỗi Diệt bọ gậy thường áp dụng các biện pháp sinh học như thả
cá, dùng chế khuẩn vi sinh Bacillus, bẫy ánh sáng, bẫy âm thanh… tuy nhiênbiện pháp nào cũng đều có nhược điểm, không thế tối ưu, hoàn hảo,vì vậy tìm rahướng nghiên cứu biện pháp mới là hết sức quan trọng và cần thiết
Thành phố Hà Nội là nơi có dịch SD/SXHD bùng phát mạnh mẽ nhữngnăm gàn đây Theo thống kê, Hà Nội vào tháng 5/2009 trung bình mỗi ngày,Viện các bệnh Truyền nhiễm và Nhiệt đới quốc gia tiếp nhận gần 50 bệnh nhân
bị mắc sốt xuất huyết đến khám và điều trị, gây nên tình trạng quá tải Cũng tạiđây, vào khoảng thời gian 5/2009 mỗi ngày có 30-40 bệnh nhân đến khám vì sốtxuất huyết, trong đó đến 90% là ở Hà Nội Đặc biệt, nhiều trường hợp chủ quannhập viện muộn với biến chứng nặng như: chảy máu nội tạng, sốc, trụy mạch,chảy máu dạ dày, rong kinh kéo dài , mất nhiều máu Nếu không được điều trị
và hỗ trợ truyền máu kịp thời, nguy cơ tử vong rất cao.(Bộ y tế, 2009)
Một trong những nguyên nhân do muỗi truyền bệnh đã kháng với các hóachất được coi là ít độc với con người, gây chết cho muỗi nhanh thuộc nhómpyrethroid ( Phạm Thị Khoa 2006 - 2010) Nghiên cứu biện pháp tổng hợpphòng trừ muỗi truyền bệnh làm giảm mật độ quần thể muỗi, đặc biệt nghiên cứu
bả diệt muỗi thân thiện môi trường, chúng tôi thực hiện đề tài “ Nghiên cứu mồi
bả diệt muỗi truyền bệnh sốt dengue/sốt xuất huyết dengue Aedes aegypti tại
Hà Nội”.
Trang 8- Bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học.
- Xác định hiệu quả mồi bả diệt muỗi truyền bệnh SD/SXHD Aedes aegypti
tại Hà Nội với các công thức khác nhau
Trang 9Chương 1:TỔNG QUAN TÀI LiỆU
Sốt dengue (dengue fever, DF, đọc là đăng-gi) hay sốt xuất huyết dengue(dengue hemorrhagic fever, DHF), (bệnh SD/SXHD) có biểu hiện nặng nhất củabệnh là hội chứng sốc dengue (dengue shock syndrome, DSS) được gây ra do
Dengue virus (chi Flavivirus, họ Flaviviridae) Virus này có 4 chủng huyết thanh
khác nhau là DEN-1, DEN-2, DEN-3 và DEN-4 Bệnh nhân nhiễm với chủng virusnào thì chỉ có khả năng tạo nên miễn dịch suốt đời với chủng virus đó Chính vì vậynhững người sống trong vùng lưu hành dịch dengue có thể mắc bệnh sốt xuất huyếtnhiều hơn một lần trong đời Sốt dengue và sốt xuất huyết dengue chủ yếu là bệnh ởvùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Nhiễm virus dengue gây nên triệu chứng lâm sàngkhác nhau tùy từng cá thể Bệnh có thể chỉ biểu hiện như một hội chứng nhiễm viruskhông đặc hiệu hoặc bệnh lý xuất huyết trầm trọng và đưa đến tử vong (Bùi Đại,1999)
Có thể nói SD/SXHD là một bệnh do virus lây truyền do muỗi thường gặp nhất
ở người Trong những năm gần đây bệnh đã trở thành mối quan ngại lớn đối với sứckhỏe cộng đồng trên bình diện quốc tế Trên toàn thế giới có khoảng 2,5 tỷ ngườihiện đang sống trong vùng có lưu hành bệnh Sự lan tràn về mặt địa lý của cả véc tơtruyền bệnh (muỗi) và virus đã đưa đến sự tăng cao tỷ lệ bệnh trong vòng 25 nămqua cũng như khả năng xuất hiện dịch do nhiều chủng huyết thanh khác nhau ở các
đô thị trong vùng nhiệt đới
1 Dịch tễ học
Trang 101.1 Tình hình bệnh SD/SHXD trên thế giới.
Hình 1: Virus dengue trên kính hiển vi điện tử xuyên thấu Virus có hình các đốmđen kết hợp lại thành nhóm
Vụ dịch đầu tiên đã được ghi nhận xảy ra vào những năm từ 1778-1780 ở châu
Á, châu Phi và Bắc Mỹ Sự xuất hiện gần như đồng thời của các vụ dịch trên ba lụcđịa khác nhau chứng tỏ rằng virus gây bệnh cũng như véctơ truyền bệnh đã phân bốrộng rãi trên toàn thế giới từ hơn 200 năm trước Trong thời gian này dengue chỉđược xem là bệnh nhẹ Một vụ đại dịch dengue xuất hiện ở Đông Nam Á sau Chiếntranh thế giới thứ II và từ đó lan rộng trên toàn cầu SD/SXHD lần đầu tiên đượcphát hiện ở Philippines vào năm 1950 nhưng đến năm 1970 bệnh đã trở thànhnguyên nhân nhập viện và tử vong thường gặp ở trẻ em trong vùng này
Cũng theo WHO (1998), trong vòng 10 năm gần đây, bệnh SD/SXHD trở nêntrầm trọng, có trên 100 nước ở châu Phi, châu Mỹ, vùng Ðông Ðịa Trung Hải, cácnước Ðông Nam á và Tây Thái Bình Dương đều báo cáo có bệnh này Trong vòng 9
Trang 11năm từ 1990 đến 1998, số trường hợp trung bình hằng năm mắc SD/SXHD khoảng514.139.000 người.
1.2 Xu hướng
Báo cáo của WHO cho biết mỗi năm có từ 60 đến 100 triệu người trên thế giới
bị nhiễm virus sốt xuất huyết dengue Trong đó, các dạng bệnh nghiêm trọng của sốtxuất huyết dengue đang gia tăng nhanh chóng tại nhiều vùng gian chí tuyến, làm hơn20.000 người tử vong/năm, đặc biệt ở trẻ em dưới 15 tuổi.Khoảng 2,5 tỉ người tại
100 nước nhiệt đới có nguy cơ phơi nhiễm sốt xuất huyết dengue, một căn bệnhnhiệt đới đang lây lan nhanh chỉ sau bệnh sốt rét.Tổ chức Y tế thế giới (WHO) nhậnđịnh các phương tiện vận chuyển công cộng, đô thị hóa dày đặc và lộn xộn, vấn đềthoát nước bẩn không được giải quyết triệt để, cuộc chiến chống muỗi chưa tới nơitới chốn đã tạo điều kiện cho dịch bệnh SD/SXHD lan tràn Và những yếu tố nàyđang đe dọa 2,5 tỉ người trên thế giới
Trước năm 1970, chỉ có 9 quốc gia có dịch lưu hành Con số này tăng lên gấphơn 4 lần vào năm 1995 Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính mỗi năm cókhoảng 50 đến 100 triệu người mắc bệnh Không chỉ có số trường hợp mắc bệnh giatăng mà khả năng nhiễm nhiều loại virus khác nhau cũng ngày càng đáng báo động.Sau đây là một vài con số thống kê khác :
Trong vụ dịch, tỉ lệ mắc bệnh ở những đối tượng nhạy cảm thường là 40-50%nhưng cũng có thể cao đến 80-90%
Mỗi năm có khoảng 500.000 trường hợp SD/SXHD cần nhập viện, phần lớntrong số đó là trẻ em Tỉ lệ tử vong trung bình vào khoảng 2,5%
Nếu không được điều trị, tỉ lệ tử vong của SD/SXHD có thể vượt quá 20%
Trang 12Với phương thức điều trị tích cực hiện đại, tỉ lệ tử vong có thể thấp hơn 1%.
Hình 2: Dịch sốt dengue trên toàn thế giới năm 2006 (vùng in đậm: dịch dengue,
vùng in mờ: vùng phân bố muỗi Aedes aegypti).
1.3 Tình hình bệnh SD/SXHD tại Việt Nam
Sốt Dengue và sốt xuất huyết Dengue được du nhập vào Việt Nam từ nhữngnăm 1960, cho đến nay đã trở thành một bệnh dịch lưu hành Riêng năm 1998, sốmắc trên toàn quốc lên tới 234.920 người và chết 377 người Sốt xuất huyết dengue
có thể gây bệnh cảnh nguy kịch, hội chứng sốc Dengue nhanh chóng dẫn tới tử vongnếu không được chẩn trị kịp thời( WHO, 2009)
Hiện đã phân lập được cả 4 típ bệnh SD/SXHD xuất hiện quanh năm và tần sốmắc bệnh nhiều nhất từ tháng 6 đến tháng 10 Vào những năm 1991-1995, típ gâybệnh chủ yếu là típ Den 1 và Den 2; năm 1997-1998 là típ Den 3 Từ 1999 đến nay,típ Den 4 gia tăng và có lẽ sẽ là típ gây bệnh chính trong những năm tới
Ở các tỉnh miền Nam, SD/SXHD đang trở thành dịch ở nhiều địa phương
Trang 13Muỗi bị nhiễm virus Dengue có thể truyền bệnh suốt vòng đời có 2 loài muỗi Aedes gây bệnh chủ yếu là Aedes aegypti và Aedes albopictus Virus dengue truyền bệnh
từ người bệnh sang người lành qua muỗi Aedes đốt Virus là loại ARN virus, có 4
típ huyết thanh, có những kháng nguyên rất giống nhau, có thể gây phản ứng chéo 1phần sau khi bị nhiễm 1 trong 4 típ và có những kháng nguyên đặc hiệu cho riêngtừng típ Virus có ở trong máu người bệnh trong thời gian bị sốt Người bệnh là ổ
chứa virus chính Người bệnh nhiễm virus dengue bị muỗi Aedes đốt mang virus rồi
truyền cho người lành Khi bị bệnh, cơ thể sẽ xuất hiện kháng thể lgM kháng denguetạm thời kéo dài 8 tuần và khi phát hiện kháng thể này trong huyết thanh chứng tỏbệnh nhân đang bị nhiễm virus dengue cấp tính hoặc vừa mới khỏi bệnh
2 Bệnh SD/SXHD
Người nhiễm virus dengue do muỗi cái thuộc giống Aedes đốt Muỗi Aedes
aegypti là véc tơ truyền bệnh chủ yếu ở hầu hết các khu vực bệnh lưu hành Muỗi
hoạt động vào ban ngày và chỉ có muỗi cái mới đốt người và truyền bệnh Khi muỗi
cái Aedes hút máu bệnh nhân nhiễm virus dengue, virus này sẽ ủ bệnh trong cơ thể
muỗi khoảng 8 đến 11 ngày Trong khoảng thời gian sống còn lại sau đó, muỗi cónguy cơ truyền bệnh cho người Khi virus vào cơ thể người, chúng tuần hoàn trong
máu từ 2 đến 7 ngày Trong khoảng thời gian này nếu muỗi Aedes hút máu thì virus
được truyền cho muỗi
Trang 14Hình 3: Sự lây truyền virus dengue qua muỗi Aedes aegypti
Nhiễm virus dengue thường không có biểu hiện rõ ràng Sốt dengue cổ điển(thể nhẹ) chủ yếu xuất hiện ở người lần đầu mắc bệnh, chưa có miễn dịch Sốt xuấthuyết dengue/Hội chứng sốc dengue (thể nặng) thường xảy ra trong lần nhiễm trùngsau, khi bệnh nhân đã có sẵn miễn dịch chủ động (do đã bị bệnh) hoặc thụ động (do
mẹ truyền sang) đối với một loại huyết thanh khác Bệnh thường biểu hiện nặng độtngột sau 2 đến 5 ngày (giai đoạn hạ sốt) Các phức hợp kháng nguyên-kháng thể lưuhành trong máu, sự hoạt hóa hệ thống bổ thể và giải phóng các chất hoạt mạch cóthể gây nên tăng tính thấm mao mạch đối với huyết tương, xuất huyết và có thể làđông máu nội mạch lan tỏa Trong quá trình đào thải miễn dịch của các tế bào nhiễmvirus, các protease và lymphokine được phóng thích gây hoạt hóa hệ thống bổ thểcũng như các yếu tố tăng tính thấm thành mạch
Miễn dịch tăng cường bệnh: Một số nhà nghiên cứu đưa ra giả thiết rằng "thểnặng của bệnh là sốt xuất huyết dengue/hội chứng sốc dengue xảy ra khi một người
đã nhiễm bệnh trong quá khứ bởi một loại huyết thanh virus nay lại nhiễm một loại
Trang 15huyết thanh virus khác" Giả thiết này được củng cố bởi các ghi nhận lâm sàng rằngsốt xuất huyết dengue gặp chủ yếu ở những người đã ít nhất một lần mắc bệnh trước
đó và sốt xuất huyết dengue xảy ra thường xuyên hơn ở các cư dân trong vùng dịchlưu hành hơn là các du khách mắc bệnh tại nơi này trong cùng thời điểm Nếu giảthiết này là đúng hoàn toàn thì việc lưu chuyển các loại huyết thanh virus khác nhau
từ vùng này đến vùng khác trên thế giới sẽ ngày càng gây nên tình trạng bệnh nặng
nề hơn trong tương lai
Như vậy yếu tố nguy cơ gây bệnh nặng trong sốt xuất huyết dengue là người sẵn cókháng thể kháng lại một loại huyết thanh đã gây bệnh trước đó, chủng virus gâybệnh, trẻ nhỏ hơn 12 tuổi, phụ nữ và người da trắng
Hình 4: Các hình thái lâm sàng của nhiễm virus dengue
Trang 163 Điều trị
3.1 Nguyên tắc chung
Vấn đề mất nước trong sốt xuất huyết dengue: không phải sốt xuất huyếtdengue gây mất nước Đây là sự nhầm lẫn khá lâu dài Bệnh dù nặng dù nhẹ vẫnkhông có mất nước trên lâm sàng Cân nặng không giảm, da không khô, một số tếbào nội tạng thừa nước thấy được trên siêu âm Thường và đa số bệnh nhân sốt xuấthuyết dengue là đủ và thừa nước, đã đủ nước ngay lúc mới bắt đầu truyền dịch cấpcứu Vì sao phải truyền dịch cấp cứu sốc dengue: vì bệnh nhân bị giảm thể tích tuầnhoàn máu Tại sao bị giảm thể tích tuần hoàn máu, giảm khoảng 20 đến 30% thếtích: vì albumin trong máu thoát quản ra khỏi lòng mạch Nước bình thường ra vàogiữa lòng mạch với các mô và tế bào, nay không trở vào lòng mạch cho đủ nhu cầu,bởi một số lớn albumin hiện diện ngoài lòng mạch Có thể nói bệnh siêu vi denguegây thoát quản huyết tương, không phải là bệnh mất nước Đây là điểm mấu chốt,quan trọng để sớm thay đổi tư duy điều trị
3.2 Phân cấp điều trị bệnh nhân
Sau đây là những gợi ý về phân cấp bệnh nhân theo tuyến điều trị trong trườnghợp có dịch với lượng bênh nhân tăng cao trong cùng thời điểm Xin lưu ý đây chỉ lànhững gợi ý và tuyệt đối không phải là phác đồ điều trị nên không thể áp dụng chomọi trường hợp(Bùi Đại,1999)
Tiêu chuẩn điều trị tại nhà:
Tất cả những bệnh nhân Sốt dengue không có nhu cầu phải truyền dịch tĩnh
Trang 17 Bệnh nhân Độ I có khả năng bù dịch bằng đường uống
Bệnh nhân Độ II có khả năng bù dịch bằng đường uống và không có chảymáu quan trọng
Tiêu chuẩn nhập viện trong thời gian ngắn (12 - 24 giờ):
Tất cả những trường hợp bệnh cần bù dịch qua đường tĩnh mạch
Bệnh nhân Độ I và Độ II và không thể điều trị bù dịch bằng đường uống
Bệnh nhân Độ I hoặc Độ II nhưng có đau tức gan và gan lớn
Tất cả bệnh nhân độ III
Tiêu chuẩn nhập viện trong thời gian dài (> 24 giờ):
Tất cả bệnh nhân thuộc nhóm nhập viện trong thời gian ngắn không đáp ứngđiều trị bù dịch
Bệnh nhân Độ I hoặc Độ II kèm theo nhưng yếu tố cơ địa dễ chuyển thànhbệnh nặng (hen phế quản, dị ứng, đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mạntính )
Bệnh nhân Độ II hoặc Độ III và có chảy máu quan trọng
Trang 18WHO, một vắc xin chống cả bốn loại huyết thanh virus gây bệnh đang được pháttriển và hoàn thiện Vắc xin này tỏ ra an toàn và hiện đang được đưa vào dùng thửnghiệm trên lâm sàng Hiện nay vắc xin chống sốt xuất huyết cả 4 chủng huyết
thanh của Dengue virus đang ở pha 2 thử nghiệm lâm sàng.
5 Đặc điểm sinh học muỗi Aedes aegypti:
Aedes aegypti có nguồn gốc từ châu Phi Loài muỗi này dần dần lan tràn ra hầu
hết các khu vực có khí hậu nhiệt đới đầu tiên là nhờ các phương tiện vận chuyển
như: tàu thuyền và sau đó có thể cả máy bay Ngày nay có hai loài phụ của Aedes
aegypti là Aedes aegypti queenslandensis, một dạng hoang dã ở châu Phi không phải
là véc tơ truyền bệnh chính, và Aedes aegypti formosus là muỗi sống ở khu vực đô thị vùng nhiệt đới và là véc tơ truyền bệnh chính Trong quá khứ, muỗi Aedes
aegypti phải nhờ vào các vũng nước mưa để đẻ trứng Tuy nhiên ngày nay quá trình
đô thị hóa diễn ra với tốc độ ồ ạt đang cung cấp cho muỗi những hồ nước nhân tạo
để muỗi đẻ trứng dễ dàng hơn nhiều
Aedes albopictus trước đây là véc tơ truyền bệnh chính của dengue và hiện nay
vẫn còn là véc tơ quan trọng ở châu Á Loài muỗi này gần đây đã lan tràn đến khuvực Trung Mỹ, Hoa Kỳ và tại đây muỗi này là véc tơ truyền bệnh quan trọng thứ
hai Trong khi muỗi Aedes aegypti formosus chủ yếu sống ở khu vực đô thị thì muỗi
Aedes albopictus lại cư trú chủ yếu ở vùng nông thôn Muỗi Aedes aegypti không
truyền virus qua trứng, trong khi muỗi Aedes albopictus thì có khả năng này
Trang 19Hình 5: Vòng đời muỗi Aedes aegypti.
Muỗi Aedes aegypti rất tinh ranh, nhanh nhẹn, thường bay lượn quan sát chỗ
người lớn hay trẻ em sinh hoạt vui chơi Khi đã có thời cơ, sẵn sàng đáp xuốngchích hút máu ngay, rồi bay đi rất nhanh, vì chúng không rình mồi, không gây mê
khi chích hút như nhiều loại muỗi khác Muỗi Aedes aegypti hoạt động tìm mồi suốt
ngày, nhưng thường hoạt động tích cực vào sáng sớm và chiều mát, khi không khívừa mát mẻ vừa ấm áp, độ ẩm thích hợp và nó chỉ đậu nghỉ khi đã no máu hoặc vàoban đêm Chúng tìm mồi, chích hút máu người trong nhà hoặc ngoài hàng hiên nhà,trú đậu tiêu máu trong nhà, chưa thấy muỗi tìm mồi đốt người và trú đậu ngoài nhà
Nơi muỗi Aedes aegypti trú đậu thường có ánh sáng trung bình (không quá sáng
cũng không quá tối) kín gió hay gió nhẹ, ấm áp, có đồ ẩm thích hợp, thường đậutrên rìa mép chăn màn, quần áo treo mắc Đặc biệt chúng rất thích đậu nghỉ trên cácloại vải có màu tối đậm, có nhiều lông tơ mịn như vải len chẳng hạn, và cũng thích
Trang 20trú đậu trên quần áo đã mặc rồi có mùi mồ hôi chưa kịp giặt giũ…Một đặc điểm rấtriêng khá nguy hiểm, có ý nghĩa về mặt dịch tễ học và có vai trò quan trọng quyếtđịnh trong việc lan truyền bệnh gây thành dịch sốt xuất huyết : là tính thích hútnhiều loại máu của nhiều người trong mỗi chu kỳ sinh thực, nhất là người lạ từ nơikhác đến.Tập tính này buộc muỗi bay sang nhà khác tìm người có máu lạ để chíchhút, có thể xa đến hàng trăm mét, từ đó mầm bệnh lan truyền nhanh từ người bệnh
sang người lành, từ vùng có bệnh sang vùng an toàn.Mật độ muỗi Aedes aegypti
trong mỗi hộ gia đình, đặc biệt là trong vùng dịch (vào đầu và cuối mùa mưa hoặcnhững thời kỳ nắng nóng trong mùa mưa) thường rất cao, chính áp lực mật số caocũng buộc chúng phải phân tán tìm mồi và gieo rắc mầm bệnh, nên khả năng bùngphát bệnh, gây dịch bất ngờ cho giới chuyên môn là điều dễ hiểu.Một đặc điểm khác
là muỗi Aedes aegypti chỉ đẻ ở các vật chứa nước sạch có sẵn trong nhà và xung
quanh ngoài nhà, chưa thấy tài liệu nào ghi nhận nó đẻ nơi nước dơ bẩn do tù động.Đây là đặc điểm cần lưu ý trong chỉ đạo diệt lăng quăng
Những điều đã được ghi nhận nêu trên cho thấy, để khống chế loài muỗi này thì quả
là vô cùng khó khăn Chúng ta không mong muốn một biện pháp tiêu diệt đượcmuỗi vằn một cách triệt để, vì điều đó là không thể có, mà chỉ cần diệt được một vàithế hệ trong mùa dịch, khi chúng đang có mang mầm bệnh là virus dengue các túyp,
và mong khống chế được mật số muỗi ở mức hợp lý, thì cũng có khả năng ngănbệnh sốt xuất huyết không phát thành dịch lớn, nhưng điều đó cũng không dễ dànggì
Vì vậy, biện pháp tốt nhất để phòng tránh dịch bệnh sốt xuất huyết là ngoài chuyệnphát hiện bệnh sớm, điều trị đúng cách, khoanh vùng dập dịch kịp thời, thì quantrọng hơn là cần phải ngăn chặn muỗi tiếp xúc người - nhất là đối với những conmuỗi già chứa đầy mầm bệnh nguy hiểm - bằng cách tuyên truyền sao cho mỗi
Trang 21người dân tự ý thức và tích cực diệt muỗi mọi lúc, mọi nơi, chứ không chỉ có diệtlăng quăng chiếu lệ từng đợt như một số nơi đã và đang làm.
6 Chương trình tiêu diệt và phòng chống sốt xuất huyết tại Việt Nam.
* Kết quả năm 2009
Năm 2009, tình hình bệnh (SD/SXHD) diễn biến phức tạp và nguy hiểm tại cácnước khu vực (Singapore, Indonesia, Thái Lan, Philippines, Srilanka) và Việt Nam.Tại Việt Nam, bệnh nhân chủ yếu tập trung tại các tỉnh/thành phố là Hà Nội, Nghệ
An, Bắc Giang, Quảng Ninh, Thanh Hóa Các hoạt động giám sát dịch tễ và phòngchống SD/SXHD đã được triển khai chủ động và tích cực tại phần lớn các tỉnh/thànhphố Kết quả thực hiện cụ thể như sau:
6.1 Ban điều hành dự án khu vực :
6.1.1 Về công tác chỉ đạo :
- Tổ chức tập huấn lại cho các cán bộ Trung tâm y tế dự phòng (TTYTDP) 28tỉnh, thành phố về kỹ năng giám sát (bệnh nhân, huyết thanh, côn trùng, phun hóachất) tháng 7/2009
- Tổ chức hội nghị triển khai dự án phòng chống SD/SXHD khu vực miền Bắctháng 7/2009
- Công văn chỉ đạo và phối hợp TTYTDP 08 tỉnh trọng điểm triển khai xây dựng
kế hoạch phun hóa chất chủ động, chiến dịch diệt bọ gậy tháng 5/2009
- Tổ chức họp 8 tỉnh trọng điểm xây dựng lại kế hoạch, thông báo khó khăn tồn
Trang 22tại và triển khai kế hoạch phun hóa chất chủ động tháng 7/2009.
- Hướng dẫn bằng văn bản cách pha, phun hóa chất cập nhật mới nhất cho cáctỉnh trọng điểm tháng 9/2009
- Công văn tăng cường phòng chống SD/SXHD cho các tỉnh miền Bắc tháng9/2009
- Công văn củng cố hệ thống báo cáo SD/SXHD tháng 11/2009
- Công văn tăng cường công tác phòng chống SD/SXHD tháng 11/2009
- Công văn yêu cầu 28 tỉnh/thành phố báo cáo hoạt động phòng chống SD/SXHDtháng 12/2009
Trang 23- Tham gia giám sát chống dịch SD/SXHD tại Nam Định tháng 8/2009
- Tham gia giám sát chống dịch SD/SXHD tại Sơn La tháng 11/2009
I, II (99%), chỉ có 114 ca độ III, IV
Riêng tại Hà Nội số ca mắc năm nay tăng đột biến (16.175 trường hợp, 4 trườnghợp tử vong) tăng gấp 7.6 lần so với cùng thời kỳ 2008 (2131 trường hợp) Bệnhnhân phân bố tại 29/29 quận huyện (100%) với 521/577 xã phường (90,3%) Tuynhiên bệnh nhân tập trung chủ yếu ở khu vực nội thành và các huyện ngoại thànhnơi có tốc độ đô thị hóa cao (78%) 54% bệnh nhân là học sinh, sinh viên, người laođộng tự do và người ngoại tỉnh Số ca nghi mắc chủ yếu là SD (17,4%) và SXHD độ
I, II (82,6%), không có mắc độ III và IV Số ca mắc cũng tập trung chủ yếu ở người
Trang 24lớn (87,7%)
6.2.2 Giám sát huyết thanh:
Tổng số 2.818 mẫu/ 18.485 trường hợp nghi mắc (15,2%) được xét nghiệmhuyết thanh trong đó 1.634 mẫu giám sát tại địa phương (bằng Mac-Elisa kháng thể
và Test nhanh kháng nguyên NS1) và 1.184 mẫu xét nghiệm Mac-Elisa tại Viện Vệsinh Dịch tễ Trung ương Tỷ lệ dương tính với virut dengue là 23,9% (673+/2.818mẫu) Hà Nội 22,1% dương tính với virut dengue (415+/1878 mẫu xét nghiệm).Năm 2009 phân lập 169 mẫu, kết quả chủ yếu là dengue týp 1 (80+/169) và chủ yếu
ở Hà Nội, có 1 mẫu dengue týp 2 tại tỉnh Hà Tĩnh
Các tỉnh, thành phố tích cực lấy mẫu bệnh phẩm để xét nghiệm là Hà Nội, HảiPhòng, Nghệ An, Thái Bình
6.2.3 Giám sát véctơ
542 quận, huyện/28 tỉnh, thành phố vẫn tiếp tục thực hiện giám sát véc tơ từđầu năm tuy nhiên số điểm giám sát giảm do dự án tạm dừng Theo kết quả giám sátnăm 2009, các điểm giám sát véc tơ khác nhau có chỉ số véc tơ ở mức độ khác nhau,
có nhiều điểm chỉ số véc tơ tới ngưỡng hoặc vượt ngưỡng gây dịch, ví dụ: Hà Nội,Nghệ An đồng thời có ghi nhận bệnh nhân mắc SD/SXHD Chỉ số véc tơ tăng caovào các tháng đầu mùa dịch, đặc biệt vào đỉnh dịch là tháng 9 và tháng 10.Tỉnh/thành phố có giám sát véc tơ thường xuyên, tích cực là Hà Nội, Nam Định,Thanh Hóa, Nghệ An, Bắc Giang
Giám sát tính nhạy cảm của muỗi Ae.aegypti tại 13 tỉnh/thành phố phía Bắc
với hóa chất diệt côn trùng thuộc nhóm Pyrethroid (theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y
Trang 25tế thế giới) cho thấy muỗi Ae aegypti tại một số điểm ở Hà Nội như: Ba Đình, Hoàn
Kiếm, Hai Bà Trưng, Hoàng Mai, Triều Khúc đã kháng với deltamethrin Đối với
permethrin muỗi Ae aegypti tại Hưng Yên kháng, tại Thanh Hóa tăng sức chịu đựng Muỗi Ae aegypti tại Hà Nội, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Hưng Yên kháng Icon (Phạm Thị
Khoa,2009).
6.3 Tập huấn:
6.3.1 Ban điều hành khu vực:
Ban điều hành dự án phòng chống sốt huyết miền Bắc tổ chức tập huấn chocác cán bộ TTYTDP 28 tỉnh, thành phố về kỹ năng giám sát (bệnh nhân, huyếtthanh, côn trùng, phun hóa chất)
Phối hợp với TTYTDP Hà Nội tổ chức lớp tập huấn “Giám sát phát hiện,
chẩn đoán, chăm sóc, điều tra dịch tễ học và xử lý ổ dịch sốt xuất huyết” cho các
đối tượng là Trưởng khoa Kiểm soát dịch, bệnh và chuyên trách SD/SXHD 29 quận,huyện và thị xã của Hà Nội
6.3.2 Tại các địa phương:
TTYTDP tỉnh, thành phố đã tổ chức 315 lớp tập huấn cho các cán bộ chuyêntrách tuyến tỉnh và huyện với tổng số 18.970 học viên; 542 lớp tập huấn tuyến xãvới 836 cán bộ chính quyền địa phương, 1.430 giáo viên cấp I, II và 32.570 học sinhcấp Iⅈ 1.964 cộng tác viên
6.4 Tuyên truyền, giáo dục:
Trang 266.4.1 Ban điều hành dự án khu vực:
Tổ chức in 35.000 ấn phẩm truyền thông (15.000 tờ rơi và 20.000 thời khóabiểu) cấp phát cho 8 tỉnh trọng điểm miền Bắc sử dụng trong công tác phòng chốngSD/SXHD tại địa phương
6.4.2 Tại các địa phương :
Hoạt động truyền thông, giáo dục đã được triển khai đồng bộ, dưới nhiều hìnhthức, đa dạng từ Trung ương đến cơ sở Phát sóng 130 buổi truyền hình địa phương,168.853 buổi phát thanh, truyền thanh Cấp 12.073 tranh tuyên truyền, 1.153 khẩuhiệu, 722.919 tờ rơi đến các cơ sở y tế và cộng đồng
Mạng lưới cộng tác viên (CTV) và Ban chỉ đạo tuyến xã/phường đã thể hiệnvai trò quan trọng trong hoạt động giáo dục, tuyên truyền, cầu nối hữu hiệu đưa kiếnthức phòng chống bệnh SD/SXHD đến với người dân và làm thay đổi hành vi, tậpquán trữ nước không có lợi 263 xã/phường có CTV tuyên truyền, 26 quận/huyện cóCTV tuyên truyền, 216 xã/phường có học sinh tuyên truyền, 224 quận/huyện có họcsinh tuyên truyền, 623 xã/phường có tổ chức quần chúng tham gia tuyên truyền, 20quận/huyện có tổ chức quần chúng tham gia tuyên truyền Hoạt động tích cực nhấtghi nhận tại Hà Nội, Hải Dương, Thanh Hoá, Hà Tĩnh, Nam Định và Thái Bình