Nhằm ngăn chặn và khống chế dịch cúm gia cầm chúng ta đã áp dụng các biện pháp mạnh mẽ như tiêu hủy gia cầm, cấm lưu thông và tiêu thụ gia cầm, sản phẩm gia cầmđồng thời vệ sinh tiêu độc
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, trước tiên em xin cảm ơn tới PGS – TS Tô Long Thành – Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung Ương là người thầy đã trực tiếp dìu dắt, hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho em trong suốt quá trình làm khóa luận tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong ban giám hiệu trường Viện Đại học Mở Hà Nội, các cán bộ kỹ thuật viên trong phòng thí nghiệm Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung Ương đã nhiệt tình giảng dạy, giúp đỡ, tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình học tập tại trường cũng như trong quá trình hoàn thành khóa luận Qua đây em cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè đã luôn bên cạnh động viên, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện vật chất
và tinh thần cho em Do thời gian và khả năng bản thân có hạn nên khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong được sự chỉ bảo của thầy cô
và góp ý của các bạn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2010
Sinh viên thực hiện Phạm Thị Trang
Trang 2MỤC LỤC
PH N I: M Ầ Ở ĐẦ 1U
1 ĐẶT V N Ấ ĐỀ 1
2 M C TIÊU Ụ ĐỀ TÀI 3
PH N II: T NG QUAN TÀI LI UẦ Ổ Ệ 4
2.1.GI I THI U CHUNG V B NH CÚM GIA C MỚ Ệ Ề Ệ Ầ 4
2.1.1 L ch s b nh cúm gia c mị ử ệ ầ 4
2.1.2 Tình hình d ch cúm gia c m trên th gi iị ầ ế ớ 5
2.1.3 Tình hình d ch cúm gia c m Vi t Namị ầ ở ệ 6
2.2 VIRUS H C B NH CÚM GIA C MỌ Ệ Ầ 8
2.2.1 C u trúc chung c a virusấ ủ 8
2.2.2 Thành ph n hóa h c c a virusầ ọ ủ 10
2.2.3 Quá trình nhân lên c a virusủ 10
2.2.4 Tính a d ng c a kháng nguyênđ ạ ủ 12
2.2.5 Độ ực l c c a virus cúm gia c mủ ầ 12
2.2.6 S c ứ đề kháng c a virus cúm gia c mủ ầ 13
2.2.7 Nuôi c y và l u gi virusấ ư ữ 14
2.3 D CH T H C B NH CÚM GIA C MỊ Ễ Ọ Ệ Ầ 14
2.3.1 Động v t mang virusậ 14
2.3.2 Động v t c m nhi mậ ả ễ 15
2.3.3 S truy n lâyự ề 15
2.3.4 Mùa v phát b nhụ ệ 16
2.3.5 Tu i m c b nhổ ắ ệ 16
2.4 TRI U TR NG, B NH TÍCH C A B NH CÚM GIA C MỆ Ứ Ệ Ủ Ệ Ầ 16
2.4.1 Tri u tr ngệ ứ 16
2.4.2 B nh tíchệ 17
2.5 CÁC PHƯƠNG PHÁP CH N OÁN B NHẨ Đ Ệ 17
2.5.1 Ch n oán lâm sàngẩ đ 17
2.5.2 Ch n oán phòng thí nghi mẩ đ ệ 18
2.6 MI N D CH CH NG B NH CÚM GIA C MỄ Ị Ố Ệ Ầ 18
2.6.1 Mi n d ch không ễ ị đặc hi uệ 18
2.6.2 Mi n d ch ễ ị đặc hi u ệ 18
2.7 TÌNH HÌNH S D NG VACXIN PHÒNG B NH CÚM GIA C MỬ Ụ Ệ Ầ TRÊN TH GI I VÀ KHUY N CÁO C A T CH C D CH T TH Ế Ớ Ế Ủ Ổ Ứ Ị Ễ Ế GI IỚ 21
2.7.1 Các lo i vacxin phòng b nh cúm gia c m hi n nayạ ệ ầ ệ 21
2.7.2 Yêu c u c n ầ ầ đạ đượ đố ớt c i v i vacxin cúm gia c mầ 22
2.7.3 Tình hình s d ng vacxin cúm gia c m trên th gi iử ụ ầ ế ớ 23
2.7.5 Các lo i vacxin phòng b nh cúm gia c m ạ ệ ầ được s d ng ử ụ ở Vi t Namệ 25
2.8 ĐẶC TÍNH K THU T C A VACXIN H5N1 (K - NEWH5) C AỸ Ậ Ủ Ủ MÊXICO 27
Trang 32.8.1 Thành ph n, hàm lầ ượng c a các ho t ch t có trong công ủ ạ ấ
th cứ 27
2.8.2 Đặc tính c a s n ph mủ ả ẩ 27
PH N III: N I DUNG, NGUYÊN LI U VÀẦ Ộ Ệ 29
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN C UỨ 29
3.1 N I DUNG NGHIÊN C UỘ Ứ 29
3.1.1 Ki m nghi m vacxin phòng ch ng cúm gia c m H5N1 (K ể ệ ố ầ – New H5) c a Mêxicoủ 29
3.1.2 Kh o nghi m vacxin phòng ch ng cúm gia c m H5N1 (K ả ệ ố ầ – New H5) c a Mêxicoủ 29
3.2 NGUYÊN LI UỆ 29
3.2.1 Động v t thí nghi mậ ệ 29
3.2.2 Vacxin 29
3.2.3 Các trang thi t b và c s v t ch tế ị ơ ở ậ ấ 29
3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN C UỨ 29
3.3.1 Phương pháp l y và x lý m u b nh ph mấ ử ẫ ệ ẩ 30
3.3.2 M t s phộ ố ương pháp thường được dùng trong ch n oán ẩ đ cúm gia c mầ 31
3.4 B TRÍ THÍ NGHI MỐ Ệ 39
3.4.1 Ki m nghi m Vacxinể ệ 39
3.4.2 Kh o nghi m Vacxinả ệ 41
PH N IV: K T QU VÀ TH O LU NẦ Ế Ả Ả Ậ 43
4.1 K T QU KI M NGHI M VACXINẾ Ả Ể Ệ 43
4.1.1 Ch tiêu vô trùngỉ 43
4.1.2 Ch tiêu an toànỉ 44
4.1.3 Ch tiêu hi u l cỉ ệ ự 45
4.2 K T QU KH O NGHI M VACXINẾ Ả Ả Ệ 46
4.2.1 K t qu ki m tra hi u giá kháng th kháng kháng nguyên ế ả ể ệ ể H5 trong huy t thanh v t trế ị ước và sau khi tiêm vacxin K New-H5 .46
4.2.2 K t qu công cế ả ường độc cho v t v i virus H5N1ị ớ 49
4.2.3 K t qu ki m tra kháng th kháng kháng nguyên H5 và ế ả ể ể Newcastle trong huy t thanh gà trế ước khi tiêm vacxin 51
4.2.4 K t qu ki m tra hi u giá kháng th kháng kháng nguyên ế ả ể ệ ể H5 trong huy t thanh gà sau khi tiêm vacxin K New-H5 ế 52
4.2.5 K t qu công cế ả ường độc cho gà v i virus H5N1ớ 54
4.2.6 K t qu ki m tra s có m t c a virus cúm H5 trên àn gia ế ả ể ự ặ ủ đ c m sau khi tiêm vacxinầ 56
PH N V: K T LU N VÀ Ầ Ế Ậ ĐỀ NGHỊ 57
5.1 K T LU NẾ Ậ 57
5.2 ĐỀ NGHỊ 58
Trang 5PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, ngành chăn nuôi gia cầm của Việt Nam đang giữ một vị trí quan trọng, cung cấp một phần đáng kể thịt và trứng cho nhu cầu thực phẩm ngày càng tăng của nhân dân Trong những năm gần đây, chúng ta thường xuyên nhập gia cầm giống, trứng gia cầm giống nhằm phát triển chăn nuôi trong nước tuy nhiên, việc nhập gia cầm và các sản phẩm của gia cầm luôn là nguy cơ lây lan dịch bệnh từ nước ngoài vào nước ta Một trong những bệnh gây thiệt hại nặng nề cho ngành chăn nuôi gia cầm hiện nay, đang được Việt Nam cũng như thế giới quan tâm đó là cúm gia cầm
Bệnh cúm gia cầm là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, nguy hiểm có tốc độ lây lan nhanh với tỷ lệ chết cao có thể lên đến 100% đối với đàn gia cầm nhiễm bệnh Bệnh cúm gia cầm là một loại bệnh cúm do virus gây ra cho các loài gia cầm (hay chim) và có thể xâm nhiễm một số loài động vật có vú Virus này được phát hiện lần đầu tiên tại Ý vào đầu thập niên 1900 và giờ đây phát hiện ở hầu hết các nơi trên thế giới, gây thiệt hại nặng nề về kinh tế
Virus cúm gia cầm là một thành viên của họ Orthomyxoviridae, là virus ARN
phân mảnh có khả năng đột biến mạnh Với tính chất nguy hiểm, bệnh cúm gia cầm được tổ chức Y tế Thế giới (OIE) xếp vào bảng A-bảng danh mục các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nhất của động vật
Dịch cúm gia cầm xảy ra lần đầu tiên ở Việt Nam vào cuối tháng 12 năm 2003 Dịch đã bùng phát ở 57 tỉnh, thành phố khiến 50 triệu gia cầm bị chết hoặc bị tiêu hủy, thiệt hại lên đến 5000 tỷ đồng, gây ra những hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng đến đời sống xã hội, làm thiệt hại nặng nề cho ngành chăn nuôi gia cầm nước ta Nhiều cơ sở chăn nuôi công nghiệp quy mô lớn, nhiều trang trại và hộ chăn nuôi gia đình đã bị phá sản
Sự nguy hại của bệnh cúm gia cầm không phải chỉ gây tỷ lệ chết cao ở gia cầm mà còn có thể lây từ gà sang người thậm chí gây tử vong Năm 1997
Trang 6lần đầu tiên virus cúm gia cầm đã vượt “rào cản về loài” để lây sang người ở Hồng Kông làm cho 6 người chết trong số 18 người nhiễm bệnh Đầu năm
2004 nhiều trường hợp nhiễm H5N1 ở người đầu tiên cũng được phát hiện tại Việt Nam và Thái Lan Đến năm 2005 những ca bệnh cúm này ở người cũng được ghi nhận tại Campuchia, Indonexia và Trung Quốc Trước những diễn biến phức tạp của bệnh đã làm cho cộng đồng quốc tế lo ngại về nguy cơ của một đại dịch cúm ở người Nhằm ngăn chặn và khống chế dịch cúm gia cầm chúng ta đã áp dụng các biện pháp mạnh mẽ như tiêu hủy gia cầm, cấm lưu thông và tiêu thụ gia cầm, sản phẩm gia cầmđồng thời vệ sinh tiêu độc, kiểm tra huyết thanh học thường xuyên đối với đàn gia cầm, tuyên truyền về sự nguy hiểm của bệnh cúm gia cầm trên các phương tiện truyền thông, tổ chức lại chăn nuôi, áp dụng các biện pháp sinh học… Các biện pháp trên được áp dụng triệt để ngay từ đầu đã góp phần khống chế các đợt dịch song rất tốn kém, gây ô nhiễm môi trường và ít mang lại hiệu quả mong muốn khi mà điều kiện thực tế nước ta còn nhiều hộ gia đình chăn nuôi nhỏ lẻ Chính vì vậy, việc sử dụng vacxin được coi như là biện pháp hỗ trợ tích cực trong chiến lược phòng chống bệnh cúm gia càm Theo kinh nghiệm của một số nước như: Italia, Mêxico, Pakistan, Mỹ, Hồng Kông cho thấy tiêm phòng vacxin là một biện pháp hỗ trợ trong chương trình khống chế bệnh cúm gia cầm nhằm làm giảm thiệt hại do bệnh gây ra Các tổ chức như: FAO, OIE, WHO đã khuyến cáo các nước nên sử dụng một chiến lược tiêm phòng có định hướng trong chính sách đối phó với bệnh cúm gia cầm Trên cơ sở đó Việt Nam cũng
đã tiến hành nhập khẩu, kiểm nghiệm, khảo nghiệm và tiêm thí điểm vacxin đối với gia cầm bằng các loại vacxin ngoại nhập từ Trung Quốc, Hà Lan, Mêxico Những ưu điểm của biện pháp chủng ngừa trong chiến lược khống chế dịch cúm gia cầm độc lực cao đó là:
- Làm giảm sự cảm nhiễm bệnh đối với gia cầm đã được tiêm vacxin
Trang 7- Làm giảm đáng kể lượng virus bài thải ra môi trường bên ngài dẫn đến làm giảm nguy cơ lây lan giữa các đàn gia cầm, tránh lây nhiễm sang người.
- Có tính khả thi đối với những đàn gà có giá trị cao và gà chăn nuôi gia đình, gà cảnh, giảm thiệt hại kinh tế cho ngành chăn nuôi gia cầm
Để hiểu rõ khả năng ứng dụng của vacxin cúm gia cầm trong điều kiện Việt Nam trước khi đưa vacxin vào tiêm phòng chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Kiểm nghiệm và khảo nghiệm vacxin phòng chống cúm
gia cầm H 5 N 1 (K New- H 5 ) của Mêxico”.
2 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI
Đánh giá được vacxin cúm gia cầm H5N1 (K New-H5) theo quy định của nhà nước
Trang 8PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1.GIỚI THIỆU CHUNG VỀ BỆNH CÚM GIA CẦM
2.1.1 Lịch sử bệnh cúm gia cầm
Bệnh cúm gia cầm (Avian Influenza – AI) được phát hiện và xảy ra từ rất lâu trên thế giới Nó được mô tả lần đầu tiên ở Italia vào năm 1878 bởi Porroncito với tên gọi bệnh “Dịch tả gia cầm” Đây là một bệnh rất nguy hiểm
và gây tử vong cao ở đàn gia cầm Đến năm 1901, Centanni và Savunozzi mới xác định được căn nguyên là một tác nhân qua lọc (filterable agent) [13] Nhưng phải đến năm 1955, virus gây bệnh mới được Schafer xác định thuộc type A thông qua kháng nguyên bề mặt H7N1 và H7N7 gây chết nhiều gà, gà tây và chim hoang ở Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Trung Cận Đông, Châu Phi [1]
Năm 1959 bệnh xảy ra trên đàn gà ở Scotland do virus cúm A H5 gây ra [2] Năm 1963, virus cúm type A được phân lập từ gà tây ở Bắc Mỹ do loài thủy cầm di trú lây nhiễm virus vào đàn gà Cuối thập kỷ 60, thấy phân type H1N1 ở lợn và có liên quan đến những ổ dịch ở gà tây với biểu hiện đặc trưng
là những triệu trứng ở đường hô hấp và giảm đẻ
Năm 1971, Beard đã mô tả rất kỹ về virus gây bệnh và đặc điểm bệnh
lý lâm sàng của gà trong các ổ dịch cúm gà, gà tây khá lớn xảy ra ở Mỹ mà chủng gây bệnh là H7N1
Từ khi phát hiện ra virus cúm type A, các nhà khoa học đã tăng cường nghiên cứu và thấy virus cúm có ở nhiều loài chim hoang dã và gia cầm nuôi
ở nhiều vùng khác nhau trên thế giới Bệnh dịch nghiêm trọng nhất xảy ra ở gia cầm là những chủng gây bệnh cao thuộc phân type H5 và H7, như ở Scotland năm 1950 là H5N1, ở Mỹ năm 1983 – 1984 là H5N2
Nhiều công trình nghiên cứu có hệ thống về bệnh cúm gia cầm lần lượt được công bố ở Australia năm 1975, ở Anh năm 1979 và ở Mỹ năm 1983 –
1984 Các nghiên cứu này đã tập trung nghiên cứu về đặc điểm sinh học, bệnh
Trang 9học và dịch tễ học, các phương pháp chẩn đoán miễn dịch và biện pháp phòng chống bệnh.
Ngày nay, dịch cúm gia cầm đã xảy ra ở khắp nơi trên thế giới với mức
độ ngày càng nguy hiểm, đã thúc đẩy các nhà khoa học và hiệp hội chăn nuôi gia cầm tổ chức hội thảo chuyên đề về bệnh cúm gia cầm [4] Hội thảo lần đầu tiên tổ chức vào năm 1981 tại Beltsville, 2 lần tiếp theo tại Ailen năm
1987 và 1992 Đến nay thì bệnh cúm gia cầm vẫn luôn là một trong những nội dung quan trọng trong các hội nghị về dịch tễ trên thế giới Từ đó có thể thấy, bệnh cúm gia cầm ngày càng trở nên nguy hiểm, gây nhiều thiệt hại về mặt kinh tế cho ngành chăn nuôi trên phạm vi toàn cầu
2.1.2 Tình hình dịch cúm gia cầm trên thế giới
Virus cúm gia cầm có mặt ở khắp nơi trên thế giới và gây dịch bệnh ở nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ Đặc biệt, ở Hồng Kông năm 1997 virus không chỉ gây bệnh cho gia cầm mà lần đầu tiên đã vượt “rào cản về loài” để lây sang người làm cho 6 người chết trong số 18 người nhiễm bệnh [6]
Từ cuối năm 2003, dịch cúm gia cầm đã xảy ra với quy mô lớn, diễn biến hết sức phức tạp với tốc độ bùng phát nhanh ở các nước Châu Á và lan sang các quốc gia khác
Cuối tháng 02/2004 đã có rất nhiều nước và vùng lãnh thổ công bố dịch cúm gia cầm do virus H5N1 gây ra trong đó có: Hàn Quốc, Thái Lan, Nhật Bản, Lào, Campuchia, Indonesia, Malaysia, Trung Quốc, Hồng Kông và Việt Nam [11] Chủng virus độc lực cao gây bệnh đã được phân lập và định type là H5N1 là chủ yếu, ngoài ra còn có chủng H7N3 và H9N2 ở Pakistan, chủng H7N3
ở Canada, chủng H7N2 ở Mỹ, chủng H6 và H5N2 ở Nam Phi, chủng H10N7 ở Ai Cập và chủng H7 ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên
Đến giữa năm 2005, dịch cúm gia cầm do H5N1 bắt đầu xuất hiện tại Kazakhstan, Nga rồi nhanh chóng lan rộng sang các nước khác ở khu vực Châu Âu như Rumani, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Azerbaijan, rồi tràn sang Châu
Trang 10Theo thống kê của tổ chức Dịch tễ Thế giới - OIE (2006) tính đến ngày 02/08/22006 chủng virus độc lực cao H5N1 đã có mặt tại 51 quốc gia và vùng lãnh thổ trên hầu hết các Châu lục.
Năm 2008, dịch cúm gia cầm phát ra tại 22 quốc gia và vùng lãnh thổ gồm Ixraen, Ảrập Xêút, Thụy Sỹ, Ucraina, Thổ Nhĩ Kỳ, Nga, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Anh, Trung Quốc, Pakisxtan, Nigiêria, Băngladet, Tô Gô, Hồng Kông, Ai Cập, Đức, Inđônêxia, Lào, Thái Lan và Việt Nam
Ngay từ tháng 1 năm 2009, nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ thông báo
có phát sinh dịch cúm gia cầm như Canada, Đức, Ba Lan, Nêpan, Ấn Độ, Ai Cập, Băngladet, Inđônêxia, Trung quốc
2.1.3 Tình hình dịch cúm gia cầm ở Việt Nam
Dịch cúm gia cầm xuất hiện lần đầu tiên ở nước ta vào cuối tháng 12 năm 2003, sau đó liên tục tái phát Tính đến nay, đã có 6 đợt dịch cúm gia cầm xuất hiện ở Việt Nam:
Đợt dịch thứ hai: Từ tháng 4 đến hết tháng 11/2004 Bệnh xuất hiện ở
46 xã, phường tại 32 quận, huyện, thị xã thuộc 17 tỉnh Tổng số gia cầm bị tiêu hủy trong thời gian này là 84.078 con trong đó có 59.999 gà, 8.132 vịt và 19.947 chim cút [1]
Đợt dịch thứ ba: Từ tháng 12 đến hết tháng 6/2005 Trong khoảng thời
gian này dịch đã xuất hiện ở 670 xã của 182 huyện thuộc 36 tỉnh, thành phố
Ở đợt dịch này có 470.495 con gà, 825.689 vịt, ngan và 551.029 chim cút đã chết hoặc bị tiêu hủy
Trang 11Đợt dịch thứ tư: Từ tháng 10/2005 đến tháng 1/2006 Dịch đã xảy ra ở
cả ba miền với 24 tỉnh, thành tái phát Tổng số gia cầm tiêu hủy là 3.972.763 con trong đó 1.338.378 gà, 2.135.081 thủy cầm và loài khác
Đợt dịch thứ năm: Từ ngày 6/12/2006 đến ngày 23/8/2007 Dịch tái phát
lại ở rất nhiều tỉnh thành trong cả nước Dịch không tập trung mà rải rác, lẻ tẻ ở khắp nơi và có thể chia thành nhiều đợt Từ ngày 6/12/2006 đến 7/3/2007 dịch xảy ra trên 83 xã, phường của 33 quận, huyện thuộc 11 tỉnh thành Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu hủy là 103.094 con, trong đó có 13.622 gà, 89.472 ngan, vịt từ 1/5/2007 đến 23/8/2007, dịch xảy ra ở 167 xã, phường của 10 quận, huyện thuộc 23 tỉnh Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu hủy là 294.894 con, trong đó có 21.525 gà, 264.549 vịt và 8.775 ngan
Đợt dịch thứ sáu: Từ đầu năm 2008 đến nay, năm 2008 không có đợt
cúm gia cầm nào xảy ra trên diện rộng, chỉ xuất hiện tại các điểm dịch ở những đàn gia cầm nuôi phân tán, nhỏ lẻ, chủ yếu không được tiêm vacxin phòng dịch Tổng số gia cầm chết và buộc phải tiêu hủy là 106.508 con Từ đầu năm đến giữa tháng 2/2009 dịch cúm gia cầm đã xuất hiện ở 31 xã thuộc
16 huyện của 9 tỉnh Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và buộc phải tiêu hủy là 32.815 con
3 tháng đầu năm 2010 dịch cúm gia cầm diễn ra liên tục, có tới 23 ổ dịch
ở các tỉnh đã được báo cáo: Cà Mau (3 ổ dịch xảy ra liên tiếp trong 3 tháng), Thái Nguyên, Cao bằng, Hà Tĩnh, Điện Biên, Sóc Trăng (2 ổ dịch), Hà Tĩnh, Điện Biên, Sóc Trăng, Kon Tum, Quảng Trị, Nghệ An (2 ổ dịch), Nam Định, Khánh Hòa (2 ổ dịch), Điện Biên, Nam Định, Tuyên Quang, Hà Giang
Nhìn chung từ 2003 – 2010, chúng ta thấy rằng thiệt hại do bệnh cúm gia cầm gây ra là rất lớn, gây ảnh hưởng đến nền kinh tế và tình hình xã hội của đất nước
Trang 122.2 VIRUS HỌC BỆNH CÚM GIA CẦM
2.2.1 Cấu trúc chung của virus
Virus cúm gia cầm là 1 thành viên thuộc họ Orthomyxoviridae là virus ARN phân mảnh có khả năng đột biến mạnh Hiện nay họ Orthomyxoviridae
bao gồm 4 nhóm virus:
- Nhóm virus cúm type A: Gây bệnh cho mọi loài chim, một số động vật
có vú và con người
- Nhóm virus cúm type B: Chỉ gây bệnh cho người
- Nhóm virus cúm type C: Gây bệnh cho người và lợn
- Nhóm Thogotovirus
Virus thuộc họ Orthomyxoviridae có đặc tính cấu trúc chung là hệ gen
chứa axit ribonucleic (ARN) một sợi, có cấu trúc là sợi âm được ký hiệu là ss (-)ARN (Negative Single Stranded RNA) Sọi âm ARN của hệ gen có độ dài
từ 10.000 - 15.000 nucleotit (tùy loại virus), mặc dù nối với nhau thành 1 sợi ARN liên tục nhưng hệ gen lại chia thành 6-8 phân đoạn (segment), mỗi phân đoạn là một gen chịu trách nhiệm mã hóa cho mỗi loại protein của virus [11], [23]
* Hình thái cấu trúc virus cúm gia cầm: Hạt virus (virion) có dạng
hình khối tròn, hình trứng, hoặc dạng khối kéo dài, đường kính khoảng 80 –
120 nm Nhiều khi virus có dạng hình sợi dài đến vài µm Phân tử lượng của hạt virus khoảng 250 triệu Dalton
Cấu trúc di tryền của virus thuộc loại ARN sợi âm ở dạng đơn bào gồm
8 loại khác nhau (PB2, PB1, PA, HA, NP, NA, NS, M) mã hóa cho 10 loại Protein khác nhau: PB2, PB1, PA, HA, NP, NA, NS1, NS2, M1 và M2 [15] Tám phân đoạn của sợi ARN có thể tách và phân biệt rõ ràng nhờ phương pháp điện di
Trang 13Hình 1.2 Cấu trúc virus cúm H5N1
Nguồn: [www.biolog.p/ptasia-grypa-5.htm]
+ 3 phân đoạn lớn đầu tiên mã hóa cho 3 loại protein PB1, PB2 và PA Các protein này có vai trò làm enzym tổng hợp Acid Ribonucleic nguyên liệu cho hệ gen và các ARN thông tin tổng hợp protein của virus [16]
+ Phân đoạn 4 mã hóa cho protein Haemagglutinin (HA) là một protein
bề mặt cắm gốc vào bên trong, có chức năng bám dính vào thụ thể của tế bào,
có khả năng gây ngưng kết hồng cầu, có khả năng hợp nhất vỏ virus với màng
tế bào nhiễm và tham gia vào phản ứng trung hòa virus [17]
+ Phân đoạn 5 mã hóa cho protein Nucleoprotein (Np) một loại protein được phosphoryl hóa hạt virion dưới dạng liên kết với một phân đoạn ARN nên loại NP còn được gọi Ribonucleoprotein
+ Phân đoạn 6 mã hóa cho protein NA (Neuraminidase) Đây là enzym phân cắt HA sau khi virus vào bên trong tế bào nhiễm [18]
+ Phân đoạn 7 mã hóa cho protein màng M (gồm 2 tiểu phần M1 và M2) M1 là protein màng có vai trò làm đệm bọc lấy ARN hệ gen tham gia vào quá trình tổng hợp và nảy mầm của virus, M2 (protein kênh) có chức
Trang 14năng tạo khe H+ giúp cởi bỏ virus sau khi xâm nhập vào tế bào cảm nhiễm M1 có chức năng tham gia vào quá trình tổng hợp và nảy màm của virus [14] + Phân đoạn 8 có độ dài ổn định (890 nucleotit) mã hóa cho 2 tiểu phần protein cấu trúc NS1 và NS2 có vai trò bảo vệ hệ gen virus, mà thiếu chúng virion sinh ra không hoàn chỉnh trở thành virus khuyết thiếu.
Các phân đoạn này nối với nhau nhờ nuclecapsit có cấu trúc đối xứng xoắn, tạo vòm ở giới hạn cuối của mỗi phân đoạn và liên kết với nhau qua các cầu nối peptit
Dựa trên cơ sở xác định đặc tính của glycoprotein bề mặt, yếu tố ngưng kết hồng cầu Haemagglutinin (HA) và enzym trung hòa Neuraminidase (NA)
là những kháng nguyên có vai trò quan trọng trong miễn dịch bảo hộ và có tính đa dạng cao mà virus cúm type A được định phân type Đến nay virus cúm type A chia thành 16 phân type trên cơ sở kháng nguyên ngưng kết H (H1 – H16) và 9 kháng nguyên N (N1 – N9) Trong mỗi một phân type, lại có nhiều chủng virus khác nhau trong đó các virus cúm lưu hành ở người đã được biết gồm 3 subtype HA (H1, H2, H3) và 2 phân type NA (N1, N2) Đối với gia cầm chỉ có phân type H5 và H7 của virus cúm có độc lực cao mặc dù có rất nhiều chủng cũng thuộc phân type này phân lập từ chim có dộc lực thấp Các chủng virus gây bệnh trầm trọng trên gà được gọi là các chủng gây bệnh cúm gia cầm thể độc lực cao với tỷ lệ chết có thể lên tới 100%
2.2.2 Thành phần hóa học của virus
ARN của virus chiếm 0,8 – 1,1%, Protein: 70 - 75%, Lipit: 20 -24%, và hidrocabon chiếm 5 - 8% khối lượng hạt virus Lipit tập trung ở màng virus
và chủ yếu là lipit có gốc phospho, số còn lại là cholesterol, glucolipit và một
ít hidrocacbon gồm các loại men galactose, manose, ribose, fruccose, glucosamin Thành phần Protein chính của virus chủ yếu là glycoprotein [7]
2.2.3 Quá trình nhân lên của virus
Fener và cộng sự [19], Kingsbury [20] mô tả quá trình sản sinh của virus được tóm tắt như sau:
Trang 15Virus xâm nhập vào tế bào nhờ chức năng của protein HA thông qua hiện tượng ẩm bào (endocytosis) qua cơ chế trung gian tiếp hợp thụ thể Thụ thể liên kết tế bào của virus cúm có bản chất là axit sialic cắm sâu vào glycoprotein hay glycolipit của vỏ virus Trong khoang ẩm bào, khi nồng độ
pH được điều hòa để giảm xuống mức thấp sẽ xảy ra quá trình hợp nhất màng
tế bào và virus Sự hợp nhất này phụ thuộc vào sự cắt rời protein HA nhờ enzyme peptidase và enzyme protease của tế bào Lúc này nucleocapsid của virus đi vào trong nguyên sinh chất rồi vào trong nhân tế bào, chuẩn bị thực hiện quá trình tổng hợp ARN nguyên liệu hệ gen cho các virion mới
Hệ thống enzyme sao chép của virus ngay lập tức tạo nên các ARN thông tin Các phân đoạn ARN hệ gen được mã hóa ở 10-13 nucleotit đầu 5´ với nguyên liệu mã hóa lấy từ ARN tế bào, nhờ vào hoạt tính enzyme PB2 của virus ARN thông tin của virus sao chép trong nhân được vận chuyển ra nguyên sinh chất, được riboxom trợ giúp tổng hợp nên protein cấu trúc và protein nguyên liệu Protein H, N, M2 ở lại trong nguyên sinh chất được vận chuyển xuyên qua hệ thống võng mạc nội mô (RE) và hệ golgi sau đó được cắm lên màng tế bào nhiễm Protein NS1, NP, M1 được chuyển vận vào nhân
để bao bọc đệm lấy nguyên liệu ARN hệ gen mới được tổng hợp [11], [22] Song song với quá trình sao chép ARN thông tin và tổng hợp protein cấu trúc, protein nguyên liệu virus tiến hành tổng hợp nguyên liệu di truyền là các sợi ARN mới Từ sợi ARN âm đơn của virus ban đầu, một sợi dương ARN toàn vẹn được tạo ra theo cơ chế bổ sung, sợi dương mới này lại làm khuôn để tổng hợp nên sợi âm ARN mới làm nguyên liệu Các sợi âm ARN mới, một số vừa làm nguyên liệu để lắp ráp virion mới, số khác lại làm khuôn
để tổng hợp ARN theo cơ chế như sợi ARN của virus đầu tiên Các sợi ARN
hệ gen được tạo ra là một sợi hoàn chỉnh về độ dài và được các protein đệm (NS1, M1, NP) bao gói tạo nên ribonucleocapsid (nucleoriboprotein) ngay trong nhân tế bào nhiễm, sau đó được chuyển vận ra nguyên sinh chất rồi
Trang 16Sự kết hợp cuối cùng của tỏ hợp nucleoiboprotein với các protein cấu trúc (HA, NA, M2) tạo nên các hạt virus hoàn chỉnh mới và được giải phóng
ra khỏi tế bào nhiễm theo hình thức nảy chồi [20]
2.2.4 Tính đa dạng của kháng nguyên
Virus cúm type A có đặc điểm đặc trưng là chúng thường có đột biến gen dẫn đến sự biến đổi liên tục về tính kháng nguyên Hai khả năng đột biến của virus cúm:
+ Đột biến điểm (còn gọi là đột biến ngẫu nhiên hoặc hiện tượng trôi trượt hoặc lệch kháng nguyên – Antigenic drift): Là kiểu đột biến xảy ra thường xuyên, đặc biệt là đối với kháng nguyên H và kháng nguyên N tạo ra những sự thay đổi nhỏ về trình tự nucleotit của gen mã hóa Kết quả là tạo ra những phân type cúm hoàn toàn mới Hậu quả của biến dị điểm nguy hiểm ở chỗ là nếu quá trình dập dịch không triệt để, virus vẫn tồn tại trong đàn gia cầm và biến đổi Gia cầm, động vật và con người có thể mắc các virus cúm biến dị này với hậu quả khó lường
+ Đột biến do tái tổ hợp di truyền (còn gọi là đột biến thay đổi bản chất kháng nguyên – Antigenic shift): Là sự tái tổ hợp di truyền xảy ra định kỳ trong đó có sự sắp xếp lại các nucleotit do sự trộn lẫn 2 bộ gen của virus cúm khác nhau Điều đó đã tạo nên những sai khác cơ bản về bộ gen của virus đời con so với virus bố mẹ Khi nhiều virus khác nhau cùng xâm nhiễm vào một
tế bào chủ, các thế hệ virus được sinh ra sau đó có thể được sinh ra từ sự tái tổ hợp của các gen bố mẹ xuất phát từ nhiều virus khác nhau Mặt khác kiểu gen của virus cúm type A gồm 8 đoạn gen nên từ 2 virus bố mẹ có thể xuất hiện
256 tổ hợp các virus thế hệ sau
2.2.5 Độc lực của virus cúm gia cầm
Để đánh giá độc lực của virus cúm sử dụng phương pháp gây bệnh cho
gà 3 -6 tuần tuổi bằng cách tiêm vào tĩnh mạch 0,2 ml nước trứng đã được gây nhiễm virus với tỷ lệ pha loãng 1/10, sau đó đánh giâ mức độ nhiễm bệnh của gà để cho điểm (chỉ số IVPI) Điểm tối đa là 3 điểm và đó là virus có độc
Trang 17lực cao nhất Theo quy định của Tổ chức Dịch tễ thế giới (OIE) năm 1992 [21] bất cứ virus cúm nào có chỉ số IVPI từ 1,2 trở lên với gà 6 tuần tuổi, hoặc bất kỳ virus cúm nào thuộc subtype H5 hoặc H7 có trình tự acid amin trùng với trình tự acid amin của chủng có độc lực cao là thuộc loại HPAI – độc lực cao (Highly Pathogenic Avian Influenza) Căn cứ vào độc lực, các nhà khoa học đã thống nhất chia độc lực của virus cúm thành 3 loại:
+ Loại virus có độc lực cao: Sau 10 ngày tiêm tĩnh mạch cho gà, virus phải làm chết 75% - 100% gà thực nghiệm Virus phân lập từ gà bệnh phát triển tốt và gây bệnh trong môi trường nuôi cấy tế bào không có trypsin
+ Loại virus có độc lực trung bình: Là những chủng virus gây bệnh với triệu trứng lâm sàng rõ rệt nhưng gây chết gà không quá 15% số gà bị nhiễm bệnh tự nhiên hoặc không gây quá 20% số gà mẫn cảm thực nghiệm
+ Loại virus có độc lực thấp (nhược độc): Là những virus phát triển tốt trong cơ thể gà, có thể gây ra dịch cúm nhưng không có triệu trứng lâm sàng
rõ rệt, không tạo bệnh tích đại thể và không làm chết gà
Trong thực tế người ta chia virus cúm gà ra làm 2 loại: Loại virus có độc lực thấp – LPAI (Low Pathogenic Avian Influenza) và loại virus có độc lực cao – HPAI (Highly Pathogenic Avian Influenza) Các vụ dịch lớn xảy ra đều do virus HPAI gây ra thường là virus có kháng nguyên H5, H7, H9 Thực
tế cho thấy rằng các chủng có độc lực thấp trong quá trình lưu hành trong thiên nhiên và trong đàn thủy cầm có thể đột biến nội gen hoặc đột biến tái tổ hợp để trở thành các chủng có độc lực cao và gây ra dịch lớn
2.2.6 Sức đề kháng của virus cúm gia cầm
Virus cúm gia cầm có sức đề kháng yếu và bị “chết” đễ dàng ở môi trường bên ngoài nếu như không được bảo vệ bằng các chất hữu cơ có trong nước bọt và phân:
Dễ dàng bị tiêu diệt ở nhiệt độ cao: 56oC trong 3 giờ, 60oC trong 30 phút, 70oC virus bị chết ngay
Trang 18Điểm đẳng điện của virus tương ứng với pH = 5,3 nên trong môi trường axit độc tính của virus giảm nhanh hơn trong môi trường kiềm.
Ở 4oC virus có thể sống ít nhất là 35 ngày trong các chất hữu cơ và khoảng 23 ngày trong thân thịt đông lạnh Trong nước, virus có thể sống tới 4 ngày ở nhiệt độ 30oC và trên 30 ngày ở nhiệt độ 0oC
Trong phủ tạng gia cầm, virus tồn tại từ 24 – 39 ngày, ánh sáng chiếu trực tiếp virus sống được 40 giờ còn chiếu bình thường thì sống được 15 ngày [8] Virus cúm gia cầm mẫn cảm với các chất hóa học như formalin, axit pha loãng,este, hydroxyl amon… Vì vậy người ta thường dùng các chất này như là các chất sát trùng hữu hiệu để tổng tẩy uế chuồng tại, dụng cụ và các thiết bị chăn nuôi khi cơ sở chăn nuôi có nguy cơ bị đe dọa bởi dịch cúm gia cầm
2.2.7 Nuôi cấy và lưu giữ virus
Virus cúm gà phát triển tốt trong phôi gà 9-11 ngày tuổi, trong môi trường tế bào xơ phôi gà CEF (Chicken Embryo Fibroblast) và tế bào dòng có nguồn gốc thận chó MDCK (Madin Darby Canine Kidney) vối điều kiện môi trường nuôi cấy không chứa trypsin
Virus bảo quản ở -70oC hoặc đông khô giữ đặc tính gây bệnh rất lâu
Tuy nhiên tần suất và số lượng virus phân lập được ở loài thủy cầm đều cao hơn các loài khác Điều tra thủy cầm di trú ở Bắc Mỹ cho thấy trên 60% chim non bị nhiễm virus do tập hợp đàn trước khi di trú Trong các loài thủy cầm di trú thì vịt trời có khả năng nhiễm virus cao hơn các nhóm khác
Trang 19Cuối tháng 10/2004 FAO, OIE và WHO đã lưu ý các nước đã trải qua dịch cúm gia cầm H5N1 rằng vịt nuôi có thể đóng vai trò quan trọng trong việc làm lây lan chủng virus cúm gia cầm H5N1 thể độc lực cao cho các gia cầm khỏe và rất có thể truyền lây trực tiếp cho người vì vật nuôi nhiễm virus, gà bệnh và gà có biểu hiện ốm bài thải một lượng virus tương đương nhau nhưng vịt nuôi không thể hiện các triệu trứng lâm sàng bệnh lý và vịt có thể là con vật tàng trữ virus cúm H5N1 Hiện tại FAO và OIE đang phối hợp với nhau để đánh giá vai trò của vật nuôi và tìm ra chiến lược lâu dài nhằm khống chế các
ổ dịch cúm gia cầm ở Châu Á
2.3.2 Động vật cảm nhiễm
Virus cúm type A xuất hiện ở tất cả các loài chim thuần dưỡng hay hoang dã Phần lớn các loài gia cầm non đều mẫn cảm với virus cúm type A Hiện nay đã phân lập được virus từ vịt bầu, ngỗng, chim cút, gà Nhật, gà lôi… Vịt nuôi bị nhiễm virus cúm nhưng ít phát bệnh do vịt có sức đề kháng với virus gây bệnh, kể cả những chủng có độc lực cao gây bệnh nặng cho gà,
gà tây Tuy nhiên năm 1961 ở Nam Phi đã phân lập được virus cúm type A H5N1 gây bệnh cho cả gà và vịt
2.3.3 Sự truyền lây
Khi gia cầm nhiễm cúm, virus cúm được nhân lên trong đường hô hấp
và đường tiêu hóa Sự truyền lây của bệnh được thực hiện theo 2 phương thức
là trực tiếp và gián tiếp (là chủ yếu)
Lây trực tiếp do con vật mẫn cảm tiếp xúc với con vật mắc bệnh thông qua các hạt khí dung được bài tiết từ đường hô hấp hoặc qua phân, thức ăn và nước uống bị nhiễm
Lây gián tiếp qua các hạt khí dung trong không khí với khoảng cách gàn hoặc những dụng cụ chứ virus do gia cầm mắc bệnh bài thải qua phân hoặc lây qua chim, thú, thức ăn, nước uống, lồng nhốt, quần áo, xe vận chuyển, côn trùng…
Trang 20Như vậy, virus cúm dễ dàng lây truyền tới vùng khác do con người, dụng cụ, thức ăn chăn nuôi và các phương tiện vận chuyển Đối với các virus gây bệnh cúm truyền nhiễm cao ở gia cầm thì sự truyền lây chủ yếu qua phân
và đường miệng
2.3.4 Mùa vụ phát bệnh
Bệnh cúm gia cầm xảy ra quanh năm nhưng chủ yếu xảy ra vào các vụ Đông Xuân từ tháng 10 năm trước tới tháng 2 năm sau do có những biến đổi bất lợi về thời tiết như nhiệt độ lạnh, mưa nhiều, độ ẩm cao…
2.3.5 Tuổi mắc bệnh
Tuổi mắc bệnh cúm gia cầm sớm nhất ở gà là 26 ngày tuổi, ở vịt là 28 ngày tuổi, ở ngan là 24 ngày tuổi Gia cầm mái dễ bị nhiễm hơn gia cầm trống Gia cầm non và gia cầm già mẫn cảm với mầm bệnh hơn gia cầm trưởng thành
2.4 TRIỆU TRỨNG, BỆNH TÍCH CỦA BỆNH CÚM GIA CẦM
2.4.1 Triệu trứng
Các biểu hiện lâm sàng của bệnh cúm gia cầm phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Độc lực của virus, loài nhiễm bệnh, lứa tuổi, nhiễm vi khuẩn kế phát hoặc các yếu tố môi trường tác động
Triệu trứng điển hình của bệnh cúm gia cầm:
- Chết đột ngột, tỷ lệ tử vong cao có khi lên đến 100% trong vài ngày
- Có các biểu hiện của đường hô hấp: ho, hắt hơi, thở khò khè, viêm xoang, chảy nước mắt
- Sưng phù đầu và mặt, xuất huyết dưới da, tím tái đặc biệt ở mào, xuất huyết ơ chân
- Gà đứng tụm lại với nhau, lông xù Gà mái đẻ giảm sản lượng trứng
- Rối loạn thần kinh, có hiện tượng co giật hoặc đầu tư thế không bình thường
Trong một số trường hợp, bệnh bùng phát nhanh trước và sau khi gia cầm bị chết không có triệu trứng lâm sàng
Trang 212.4.2 Bệnh tích
2.4.2.1 Bệnh tích đại thể
Tiến hành mổ khám gia cầm chết do cúm có thể thấy các bệnh tích đặc trưng:
- Mào, tích sưng tím sẫm, phù mí mắt Phù keo nhầy và xuất huyết dưới
da đầu, cơ đùi Xuất huyết thành dải, dệt dưới da chân
- Viêm cata và viêm tơ huyết niêm mạc khí quản, niêm mạc đường tiêu hóa Khí quản phù chứa nhiều dịch nhày
- Tăng sinh túi khí, viêm tơ huyết tương mạc của các cơ quan nội tạng như màng bao tim, màng gan, màng ruột… Xuất huyết mỡ vành tim
- Ruột viêm cata và xuất huyết
- Lách, gan, thận, phổi sưng to, hoại tử màu vàng, màu xám
- Gà mái đẻ viêm ống dẫn trứng, vỡ trứng non
- Nội tạng xuất huyết có thể hoại tử
Tuy nhiên những gia cầm chết đột ngột có thể không có các bệnh tích
kể trên
2.4.2.2 Bệnh tích vi thể
Các biến đổi đặc trưng về tổ chức học bao gồm: Phù nề, dồn máu, xuất huyết và thâm nhập lympho đơn nhân ở cơ vân, cơ tim, lách, phổi, mào, tích, gan, thận, mật và thần kinh
2.5 CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN BỆNH
2.5.1 Chẩn đoán lâm sàng
Chẩn đoán phân biệt llaam sàng dựa vào tiệu trứng, bệnh tích và tính chất dịch tễ để xác định bệnh cúm gia cầm với các bệnh khác như Newcastle, viêm thanh khí quản truyền nhiễm, viêm phế quản truyền nhiễm… Trong trường hợp gia cầm bị bệnh tụ huyết trùng và các bệnh nhiễm trùng huyết khác, có thể quan sát thấy hiện tượng phù ở mào và tích ở gia cầm bệnh
Trang 222.5.2 Chẩn đoán phòng thí nghiệm
- Chẩn đoán virus học: Nuôi cấy, phân lập virus cúm trên trứng gà có phôi (9-10 ngày tuổi) hoặc trên môi trường tế bào thận chó MDCK (Madin Darby Canine Kidney) Sau đó giám định virus bằng các phản ứng HA, HI
- Chẩn đoán huyết thanh học: Dùng phản ứng HI để phát hiện và xác định hiệu giá kháng thể trong huyết thanh gia cầm
- Dùng phản ứng ELISA để phát hiện kháng thể trong huyết thanh
- Giám định virus bằng kỹ thuật RT-PCR, rRT-PCR
2.6 MIỄN DỊCH CHỐNG BỆNH CÚM GIA CẦM
Hệ thống miễn dịch đóng vai trò quyết định trong phòng chống bệnh của loài chim Tổ chức và hoạt động của hệ miễn dịch của loài chim nói chung và gia cầm nói riêng hoàn toàn tương tự như ở động vật có vú Cũng như miễn dịch chống lại các bệnh khác, miễn dịch chống bệnh cúm bao gồm
2 loại là miễn dịch đặc hiệu và miễn dịch không đặc hiệu
2.6.1 Miễn dịch không đặc hiệu
Bất cứ tác nhân gây bệnh nào muốn xâm nhập vào cơ thể thì phải qua hàng rào phòng thủ đầu tiên là hệ thống miễn dịch không đặc hiệu Khi mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể, gia cầm bảo vệ trước hết bằng miễn dịch không đặc hiệu nhằm ngăn cản hoặc giảm số lượng và khả năng gây bệnh của chúng Miễn dịch không đặc hiệu đóng vai trò quan trọng khi miễn dịch đặc hiệu chưa phát huy tác dụng Hệ thống miễn dịch không đặc hiệu bao gồm:
+ Hàng rào vật lý: Gồm da, miên mạc và các dịch tiết có tác dụng bảo
vệ cơ thể ngăn cản tác nhân gây bệnh xâm nhập vào cơ thể
+ Các yếu tố kháng khuẩn có trong dịch tiết của cơ thể: Gồm các Enzyme, Interferon γ, các yếu tố gây hoại tử mô bào, các tế bào thực bào của
cơ thể
2.6.2 Miễn dịch đặc hiệu
Những mầm bệnh vượt qua hàng rào vật lý hoặc cơ chế phòng vệ miễn dịch tự nhiên sẽ kích thích một đáp ứng miễn dịch đặc hiệu Miễn dịch đặc
Trang 23hiệu là trạng thái miễn dịch xuất hiện khi cơ thể đã tiếp xúc với kháng nguyên
và có phản ứng sinh ra kháng thể đặc hiệu chống lại chúng Kháng thể đặc hiệu có thể là dịch thể có thể là tế bào có thẩm quyền miễn dịch đã được hoạt hóa Vì vậy người ta chia miễn dịch đặc hiệu ra làm hai loại: Miễn dịch dịch thể và miễn dịch qua trung gian tế bào
2.6.2.1 Miễn dịch dịch thể
Do các tế bào lympho B đảm nhận Các tế bào lympho B khu trú ở các tâm điểm mầm và vùng tủy của lách, hạch lâm ba Trong hạch lâm ba, các tế bào lympho B có thể gặp một kháng nguyên và nhận biết kháng nguyên đó bởi các kháng thể có trên bề mặt của chúng Tế bào B có thể nhận dạng kháng nguyên khi nó tương tác với globulin miễn dịch nhô ra trên bề mặt tế bào Sau khi đã nhận biết kháng nguyên và được kích thích bởi các cytokine
do tế bào T tiết ra, các tế bào lympho B được biệt hóa thành tương bào (plasma) để sản sinh kháng thể Chúng tiết ra các loại globulin miễn dịch (Ig) gồm có 3 lớp chính là IgM, IgG, IgA trong đó IgG của gia cầm lớn hơn động vật có vú nên thường được gọi là IgY
Một đáp ứng miễn dịch điển hình của gia cầm bắt đầu bằng sự sản xuất
ra IgM Sau vài lần đáp ứng miễn dịch chuyển sang sản xuất IgG IgG là kháng thể chính sinh ra trong miễn dịch thứ phát và chiếm ưu thế trong máu gia cầm Kháng thể IgM có thể phát hiện ở gia cầm chỉ sau khi bị nhiễm 5 ngày trong khi kháng thể IgG chỉ được phát hiện ở 7 đến 9 ngày sau khi bị nhiễm Kháng thể IgA dường như rất yếu Vịt thường có đáp ứng miễn dịch yếu và thiếu kháng thẻ kháng kháng nguyên HA cả trong trường hợp nhiễm tự nhiên và gây bệnh thực nghiệm Nếu so sánh mức độ đáp ứng miễn dịch đối với virus cúm gia cầm thì chúng được sắp xếp như sau: Gà > gà Lôi > gà Tây
> chim cút > vịt [24] Kết quả nghiên cứu của Tian và các cộng sự [25] cho thấy vacxin cúm gia cầm H5N1 vô hoạt nhũ dầu có thể bảo hộ cho vịt chống lại virus
Trang 24Miễn dịch đặc hiệu qua trung gian tế bào do các tế bào lympho T đảm nhiệm Các lympho bào bắt nguồn từ tủy xương di chuyển đến tuyến ức, tại
đó chúng được huấn luyện, biệt hóa thành tiền lympho T, rồi thành lympho T chưa chín, sau đó thành lympho T chín Từ tuyến ức chúng di tản đến các cơ quan lympho ngoại vi như các hạch lâm ba, các mảng payers ở ruột hoặc tới lách
Khi đại thực bào đưa thông tin đến các lympho T, chúng tiếp nhận, biệt hóa trở thành nguyên bào lympho T rồi thành tế bào mẫm cảm với kháng nguyên có chức năng như một kháng thể đặc hiệu và gọi là kháng thể tế bào Các lympho T thực hiện 2 chức năng quan trọng như sau:
- Chức năng hỗ trợ: Do các lympho T có dấu ấn CD4 đảm nhiệm (TH)
+ Giúp đỡ các té bào lympho B phát triển thành tương bào để sản xuất kháng thể
+ Giúp các tế bào TCD8 trở thành tế bào TC gây độc Tế bào TC được hoạt hóa và tiêu diệt tế bào đích
+ Thực hiện phản ứng quá mẫn muộn
+ Sản xuất ra các cytokine có tác dụng điều khiển sự phát triển của các dòng tế bào bạch cầu và các tế bào mầm của hệ thống tạo máu
+ Sản xuất các cytokine có tác dụng hoạt hóa các tế bào đại thực bào + Thúc đẩy quá trình sản xuất các phân tử glycoprotein MHC trên các
tế bào trình diện kháng nguyên
Đa số các tế bào T hỗ trợ thể hiện dấu ấn CD4 nhận biết kháng nguyên được trình diện trên bề mặt của các tế bào trình diện kháng nguyên với các phân tử MHC lớp II Chức năng này do 2 tiểu quần thẻ TH đảm trách TH1 tham gia phản ứng quá mẫn muộn, sản xuất IL-2 và Interferrol γ, TH2 hỗ trợ tế bào B và sản xuất chủ yếu IL-4, IL-5
- Chức năng thực hiện: Do các lympho T mang dấu ấn CD8 đảm
nhiệm có 2 loại:
Trang 25+ Lympho T gây độc (TC): Chúng gây độc đối với tế bào bị nhiễm virus, tế bào ung thư và mảnh ghép dị loài Chúng có khả năng nhận biết các mảnh peptit của kháng nguyên của tế bào đích gắn với phân tử MHC lớp 1 + Lympho T ức chế (TS): Chúng triệt thoái quá trình sản xuất imunoglomunin của tế bào B và triệt thoái ức chế các phản ứng quá mẫn muộn và miễn dịch tế bào.
2.7 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG VACXIN PHÒNG BỆNH CÚM GIA CẦM TRÊN THẾ GIỚI VÀ KHUYẾN CÁO CỦA TỔ CHỨC DỊCH TỄ THẾ GIỚI
2.7.1 Các loại vacxin phòng bệnh cúm gia cầm hiện nay
* Vacxin vô hoạt đồng chủng: Ví dụ vacxin H5N1 của Harbin Weiker
(Trung Quốc)
Là những loại vacxin ban đầu được sản xuất như vacxin tự phát sinh, có nghĩa là vacxin chứa cùng những virus cúm gà giống như chủng gây bệnh trên thực địa Vacxin loại này có tác dụng phòng bệnh và làm giảm lượng virus bài thải ra môi trường, tuy nhiên không thể chẩn đoán phân biệt gia cầm được tiêm chủng và gia cầm đã tiếp xúc với mầm bệnh trên thực địa trừ khi có những con chưa được tiêm chủng được nhốt trong chuồng
* Vacxin vô hoạt dị chủng: Ví dụ vacxin vô hoạt H5N2 của Intervet (Hà
Lan) và của Harbin Weiker (Trung Quốc)
Được sản xuất từ chủng virus cúm có kháng nguyên H giống chủng
Trang 26gây bệnh trên thực địa Đàn gia cầm được tiêm vacxin, khi tiếp xúc với thực địa chúng sẽ được bảo hộ lâm sàng và giảm thải trừ virus ra ngoài môi trường nhờ phản ứng miễn dịch sản sinh bởi kháng nguyên H đồng chủng, trong khi kháng thể chống Neuraminidase sản sinh bởi virus thực địa có thể sử dụng như chất đánh dấu sự lây nhiễm trên thực địa.
Khi so sánh 2 loại vacxin đồng chủng và dị chủng như trên thấy mức độ bảo hộ lâm sàng và việc thải trừ virus ra môi trường bên ngoài của vacxin đồng chủng tốt hơn do khối lượng kháng nguyên trong vacxin cao hơn Đối với vacxin dị chủng mức độ bảo hộ không chặt chẽ với mức độ đồng chủng giữa gen ngưng kết tố hồng cầu trong vacxin và chủng trên thực địa Đây là một ưu điểm lớn cho phép thành lập ngân hàng vacxin bởi giống gốc có thể chứa một chủng phân lập cùng dòng sẵn có trước khi có dịch mà không chứa virus có mặt trên thực địa
2.7.1.2 Vacxin tái tổ hợp: Ví dụ như vacxin sống virus tái tổ hợp H5 Trovac của Merial (liên doanh Pháp-Mỹ) và H5N1 của Wiker ( Trung Quốc)
Vacxin tái tổ hợp cho phép phân biệt giữa động vật nhiễm bệnh và động vật tiêm chủng vacxin bởi chúng không sản sinh kháng thể chống lại kháng nguyên Nucleoprotein phổ biến ở tất cả virus cúm gà Chỉ những động vật nhiễm bệnh trên thực địa mới tạo ra kháng thể nhóm A (nucleoprotein) và phát hiện ra kháng thể này qua phản ứng kết tủa ngưng kết trên thạch hoặc phản ứng ELISA
Việc sử dụng vacxin này cũng được giới hạn với những loài mà virus đích sẽ nhân lên hoặc sẽ chỉ được giới hạn trong đàn gà có huyết thanh âm tính với virus đích Ví dụ virus viêm thanh khí quản truyền nhiễm sẽ không nhân lên ở gà tây và gà tây đặc biệt quan trọng trong vấn đề dịch tễ của bệnh cúm gà Vì vậy, việc sử dụng vacxin được hạn chế ở vùng không có gà tây
2.7.2 Yêu cầu cần đạt được đối với vacxin cúm gia cầm
Mỗi loại vacxin phòng bệnh cúm gia cầm cần đạt được những yêu cầu
cơ bản sau:
Trang 27* An toàn: Chỉ tiêu an toàn là chỉ tiêu được coi trọng hàng đầu cần phải
quan tâm An toàn của vacxin là khi dùng trên vật chủ không gây bệnh cho chúng và bệnh tích cho các cơ quan trong cơ thể gia cầm Tuy nhiên, những biểu hiện phản ứng cục bộ hoặc toàn thân nhẹ trong một thời gian ngắn với triệu trứng không đặc trưng có thể được chấp nhận ở một số loại vacxin nếu sau đó con vật trở lên khỏe mạnh và có miễn dịch Tính an toàn của một vacxin còn phụ thuộc vào thời điểm đưa vacxin vào con vật
Theo tiêu chuẩn của tổ chức Dịch tễ thế giới (OIE), vacxin cúm gia cầm vô hoạt đạt tiêu chuẩn an toàn khi sử dụng 2 liều vacxin trên 10 gà 3 tuần tuổi, theo dõi 2 tuần không có biểu hiện của bệnh cũng như bệnh lý cục bộ [15]
* Hiệu lực: Hiệu lực của vacxin còn có thể hiểu là khả năng kích thích
tạo miễn dịch đặc hiệu đủ sức chống bệnh của một vacxin ít nhất là trong giai đoạn mẫn cảm với bệnh
Hiệu lực của vacxin phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó tính kháng nguyên của virus vacxin, tính đặc hiệu giữa kháng thể sinh ra và kháng nguyên là quan trọng nhất Những virus có tính kháng nguyên cao và giữ được tính kháng nguyên cao sau khi được chế tạo vacxin thì khả năng kích thích miễn dịch càng cao
2.7.3 Tình hình sử dụng vacxin cúm gia cầm trên thế giới
Mặc dù có một số loại vacxin đã được nghiên cứu và thử nghiệm trong phòng thí nghiệm về khả năng ứng dụng ngoài thực địa nhưng chỉ có 2 loại vacxin được cấp giấy phép và được sử dụng đối với gia cầm: các loại vacxin cúm toàn thân vô hoạt và vacxin vector đậu gà tái tổ hợp với gen AI H5 nhận
từ virus cúm của gà tây (A/turkey/Ireland/83) [H5N8]
Từ tháng 1/1995 Mêxico đã có chương trình sử dụng vacxin phòng chống bệnh cúm gia cầm và đã sử dụng 1,3 tỷ liều vacxin vô hoạt và 850 triệu liều vacxin tái tổ hợp đậu gà Đến tháng 6/1995 bệnh cúm gia cầm thể độc lực cao do virus H5N2 đã được thanh toán tại Mêxico Tuy nhiên virus cúm H5N2
Trang 28Từ năm 1995 Pakistan bắt đầu sử dụng vacxin phòng chống cúm gia cầm ở 3 vùng với các ổ dịch H7N3 thể độc lực cao Các nước Châu Á, vùng cận Đông và Đông Âu sử dụng vacxin vô hạt chế tạo từ chủng virus H9N2 độc lực thấp.
Italia trong giai đoạn 2000-2002 áp dụng chương trình tiêm chủng vacxin vô hoạt dị chủng H7N3 để phòng chống virus gây bệnh H7N1
Trung Quốc là nước sử dụng vacxin nhiều nhất với số lượng 2 tỷ 830 triệu liều ( tính từ tháng 12 năm 2003 đến tháng 04 năm 2005) Trung quốc đã
có bản tường trình về kết quả của 3 loại vacxin đang được sử dụng tại nước này, bao gồm:
+ Vacxin vô hoạt AI (chủng H5, N-28): Được phê chuẩn từ tháng 12/2003 và được sử dụng rộng rãi ở Trung Quốc trong các ổ dịch cúm gia cầm thể độc lực cao vào đầu năm 2004 [3]
+ Vacxin vô hoạt virus cúm tái tổ hợp (subtype H5N1, chủng Re-1): Được phê chuẩn tháng 1/2005 Vacxin được đánh giá là rất có hiệu quả trong tạo miễn dịch chống cúm với hiệu giá kháng thể cao và thời gian bảo hộ dài hơn Thủy cầm được tiêm vacxin này không bị nhiễm và bài thải virus cúm Hiện nay nhiều nước trên thế giới đã sử dụng kỹ thuật này để chế tạo chủng virus vacxin nhưng chỉ có Trung Quốc là thành công và đã thương mại hóa được vacxin
+ Vacxin sống virus đậu tái tổ hợp phòng chống cúm gia cầm H5: Được phê chuẩn tháng 1/2005 và được nhiều nước sử dụng như Trung Quốc, Mêxico… Sử dụng loại vacxin này có thể phân biệt được miễn dịch do tiêm phòng vacxin hay bị nhiễm tự nhiên
2.7.4 Khuyến cáo của OIE về việc sử dụng vacxin phòng chống cúm gia cầm
Theo quan điểm của OIE, vacxin nên được sử dụng như là một biện pháp trong chiến lược toàn diện phòng chống bệnh cúm gia cầm, mà chiến
Trang 29lược đó bao gồm: An toàn sinh học, nâng cao nhận thức người dân, chẩn đoán
và giám sát, loại bỏ gia cầm bị nhiễm virus, sử dụng vacxin
* Trước khi sử dụng vacxin cần lưu ý:
- Vacxin sử dụng phải dùng subtype hemaglutinin và phải được chứng minh trên bản động vật là có đủ khả năng bảo hộ chống lại sự xâm nhập của virus thực địa
- Vacxin cần phải được sản xuất theo công nghệ đã tiêu chuẩn hóa để đảm bảo có một vacxin hiệu quả và phù hợp về chủng virus
- Cần có các hoạch định trước về bảo quản tốt vacxin, phân phối và sử dụng vacxin
- Đảm bảo được việc giám sát huyết thanh học và virus học để xác định virus cường độc có lưu hành trong đàn gia cầm được dùng vacxin hay không
- Phải có một kế hoạch loại trừ để phòng tránh việc sử dụng vĩnh viễn vacxin
* Ưu điểm của tiêm chủng:
- Giảm đáng kể virus bài xuất trong đàn gia cầm nhiễm bệnh
- Giảm thiểu nhu cầu loại thải những đàn gia cầm khỏe mạnh
- Là phương án thay thế khả thi đối với những đàn gia cầm có giá trị cao và gia cầm chăn nuôi gia đình
- Giảm thiệt hại kinh tế cho ngành chăn nuôi gia cầm công nghiệp
* Nhược điểm của tiêm chủng:
-Không phù hợp với quy định thương mại quốc tế Tiêm chủng được chấp nhận như một biện pháp khống chế dịch cúm gà của OIE
-Những đàn gia cầm được tiêm phòng không có biểu hiện triệu trứng lâm sàng bệnh cúm, khó phát hiện dịch và khống chế dịch sớm
2.7.5 Các loại vacxin phòng bệnh cúm gia cầm được sử dụng ở Việt Nam
* Vacxin Trovac AIV H5
Sử dụng trên đàn gà thịt và gà đẻ, có thể tiêm phòng cho gà bất cứ độ
Trang 30Vacxin được sử dụng qua đường tiêm dưới da nơi gáy cổ bằng máy tiêm bán
tự động hay tự động, có thể tiêm đồng thời với vacxin phòng bệnh Marek do
đó thuận lợi và dễ kiểm soát hơn so với thực hiện tại hộ chăn nuôi Vacxin tạo đáp ứng miễn dịch sớm và không tạo miễn dịch truyền ngang từ đàn gà được tiêm chủng ngừa nuôi chung với gà con nhạy cảm chưa tiêm phòng
* Vacxin vô hoạt Nobilis influenza H5 N 2 (Hà Lan)
Sử dụng cho gà thịt, gà bố mẹ và gà đẻ trứng Chủng lần đầu cho gà
8-10 ngày tuổi, gà đẻ và gà bố mẹ nên chủng thêm làn 2 sau lần đầu 4-6 tuần, sau đó nhắc lại 16-18 tuần
* Vacxin vô hoạt H5 N 2 chủng N-28 của Công ty Phát triển Công nghệ Sinh học Harbin Weike (Trung Quốc)
Bộ Nông nghiệp Trung Quốc dã phê chuẩn vacxin này là một sản phẩm mới dùng cho gia cầm từ tháng 12/2003 Vacxin này đã được sử dụng rộng rãi
ở Trung Quốc trong các ổ dịch cúm gia cầm thể độc lực cao năm 2004 [3]
* Vacxin vô hoạt H5 N 1 chủng Re-1 Strain của Công ty Phát triển Công nghệ Sinh học Harbin Weike (Trung Quốc)
Bộ Nông nghiệp Trung Quốc dã phê chuẩn vacxin này là một sản phẩm mới dùng cho gia cầm từ tháng 1/2005 Vacxin có hiệu quả đối với bệnh cúm gia cầm, kích thích gia cầm sản xuất kháng thể với hiệu giá cao và thời gian bảo hộ dài Các thực nghiệm phòng thí nghiệm đã chứng minh rằng thủy cầm được tiêm chủng với vacxin này không bị nhiễm và không thải virus cúm gia cầm [3]
* Vacxin H5 N 9 của Merial tiêm phòng cho ngan
Ngày 20/12/2006 Bộ Nông nghiệp - PTNT đã có quyết định bổ sung đối tượng ngan vào dự án “Sử dụng vacxin nhằm khống chế và thanh toán bệnh cúm gia cầm thể độc lực cao giai đoạn 2005 - 2006” Vacxin sử dụng tiêm phòng cho ngan có tên Bioflu H5N9 của Công ty Merial ở Italia sản xuất
Trang 312.8 ĐẶC TÍNH KỸ THUẬT CỦA VACXIN H 5 N 1 (K - NEWH 5 ) CỦA MÊXICO
2.8.1 Thành phần, hàm lượng của các hoạt chất có trong công thức
K – NewH5 là một hỗn hợp virus gây bệnh Newcastle, chủng Lasota,
vô hoạt (chết) được sử dụng làm vật mang (vector), được gắn với gen hemaglutinin subtype H5 của virus cúm gia cầm, sản xuất trên phôi trứng, vô hoạt bằng formaldehyde và nhũ dầu
2.8.2 Đặc tính của sản phẩm
K – NewH5 là vacxin tái tổ hợp dung trong thú y, bao gồm một virus vật mang là virus gây bệnh Newcastle, loại nhược độc (lentogenic), chủng Lasota strain (Paramyxovirus 1 hoặc còn được gọi là APMV-1) và một đoạn gen được gắn vào là gen hemaglutinin H5 của virus cúm gia cầm, được sử dụng để phòng chống virus gây bệnh cúm gia cầm subtype H5 và virus gây bệnh Newcastle
Vacxin tạo nên sự bảo hộ cho gà chống lại nhiễm virus gây bệnh Newcastle cường độc thể nội tạng và bảo hộ chống lại virus gây bệnh cúm gia cầm thể độc lực cao và virus gây bệnh cúm gia cầm thể độc lực thấp subtype H5
* Cơ chế tác động:
K – NewH5 là một vacxin tái tổ hợp kích thích tạo miễn dịch đặc hiệu ở niêm mạc đường hô hấp chống lại virus gây bệnh Newcastle và các virus cúm gia cầm subtype H5 Miễn dịch đó ngăn cản sự nhiễm virus và sự nhân lên của các virus này trên niêm mạc đường hô hấp của gia cầm được dùng vacxin mà không hề có các tác dụng phụ không mong muốn
* Đối với bệnh Newcastle:
K – NewH5 tạo miễn dịch cục bộ (IgA) và miễn dịch dịch thể (IgM và IgG) chống lại virus gây bệnh Newcastle Các kháng thể dịch thể được tạo ra
có thể được đánh giá bằng phản ứng ngăn trở ngưng kết hồng cầu (HI)
* Đối với bệnh cúm gia cầm:
Trang 32K – NewH5 có chứa một mảnh gene gây ngưng kết hồng cầu H5 của virus gây bệnh cúm gia cầm, được gắn với vật mang là virus Paramyxo, có khả năng kích thích tạo miễn dịch cục bộ (IgA), cũng như miễn dịch dịch thể (IgM và IgG) đặc hiệu chống lại ngưng kết nguyên H5 Sử dụng vacxin cho gia cầm có thể ngăn cản sự nhiễm virus cường độc thực địa và ngăn cản sự bài thải virus, dẫn đến bảo hộ khi bị nhiễm virus cường độc thể độc lực cao Đây là một công cụ bổ sung trong chương trình phòng chống bệnh cúm gia cầm bằng các vacxin vô hoạt.
Sự có mặt của kháng thể chống lại virus cúm gia cầm do vacxin tái tổ hợp tạo ra trên gà thương phẩm có thể được phát hiện bằng phản ứng HI sử dụng kháng nguyên đồng chủng (homologóu antigen) trong hơn 50% số mẫu thu thập 21 ngày sau khi dụng vacxin Các kháng thể phát hiện được là chỉ thị cho việc đã dùng vacxin Không phát hiện được kháng thể bằng phương pháp ELISA cũng như bằng phương pháp HI sử dụng các kháng nguyên dị loài (heterologous antigen) subtype H5
Trang 33PHẦN III: NỘI DUNG, NGUYÊN LIỆU VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.1.1 Kiểm nghiệm vacxin phòng chống cúm gia cầm H 5 N 1 (K – New H 5 )
của Mêxico
- Đánh giá chỉ tiêu vô trùng
- Đánh giá chỉ tiêu an toàn
- Đánh giá chỉ tiêu hiệu lực
3.1.2 Khảo nghiệm vacxin phòng chống cúm gia cầm H 5 N 1 (K – New H 5 )
của Mêxico
- Đánh giá mức độ an toàn của vacxin trong điều kiện thực địa
- Đánh giá đáp ứng miễn dịch kháng kháng nguyên virus cúm H5 của đàn gia cầm tại thời điểm 21 ngày sau tiêm vacxin
- Đánh giá hiệu lực vacxin bằng phương pháp công cường độc
3.2.3 Các trang thiết bị và cơ sở vật chất
- Các trang thiết bị và cơ sở vật chất thuộc phòng thí nghiệm Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung ương
3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp thu thập số liệu, điều tra hiện trạng, lấy mẫu ngẫu nhiên, khách quan, trung thực