Trước tình hình dịch bệnh bùng phát, một trong những nguyên nhân là do muỗi truyền bệnh phát triển tính kháng hóa chất diệt côn trùng dẫn tới kiểm soát dịch gặp nhiều khó khăn.. 1.3.3 Mu
Trang 1KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI
BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU TÍNH KHÁNG HOÁ CHẤT DIỆT CÔN TRÙNG CỦA LOÀI
MUỖI TRUYỀN BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT AEDES AEGYPTI LINNAEUS,1762 TẠI THÀNH
PHỐ NHATRANG, TỈNH KHÁNH HOÀ.
Sinh viên thực hiện : Ngô Trọng Hòa
Lớp : KSCNSH - 0605
Khoá : 2006-2010
Trang 2Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến ban giám hiệu Viện Đại Học Mở HàNội cùng quý thầy cô trong khoa Công Nghệ Sinh Học đã nhiệt tình dạy dỗ vàtạo điều kiện học tập tốt nhất cho tôi trong suốt 4 năm vừa qua
Để hoàn thành khoá luận này, trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành vàsâu sắc nhất tới TS Phạm Thị Khoa- Trưởng Khoa Hóa Thực Nghiệm, Viện Sốtrét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung Ương người đã hướng dẫn tận tình tôitrong suốt quá trình thực tập nghiên cứu và hoàn thành đề tài này Ngoài ra, tôixin cảm ơn các cán bộ phòng Hóa Thực Nghiệm, Viện Sốt rét – Kí sinh trùng –Côn trùng Trung ương đã giúp đỡ và chỉ bảo cho tôi
Tôi xin cảm ơn Khoa Sinh Học Phân Tử, Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côntrùng Trung Ương cùng các bạn sinh viên trong nhóm thực tập đã góp ý và giúp
đỡ tôi hoàn thành khóa luận này
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè đã giúp đỡ
và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốtnghiệp của mình
Hà Nội, ngày 19 tháng 5 năm 2010 Sinh viên
Ngô Trọng Hòa
Trang 4CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN……… 4
1.1 TÌNH HÌNH BỆNH SỐT DENGUE/ SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE (SD/SXHD) TRÊN THẾ GIỚI……… 4
1.2 TÌNH HÌNH BỆNH SỐT DENGUE / SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE (SD/SXHD) TẠI VIỆT NAM ……… 6
1.3 MUỖI AEDES AEGYPTI VÀ VAI TRÒ TRUYỀN BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT………8
1.3.1 Đặc điểm phân bố của Ae.aegypti tại Việt Nam……… 8
1.3.2 Một số đặc điểm sinh học của Ae.aegypti ……… 9
1.3.3 muỗi Ae.aegypti dưới tác động của hoá chất diệt côn trùng…… 10
1.4 SỰ KHÁNG HOÁ CHẤT DIỆT Ở MUỖI……… 14
1.4.1 Các cơ chế kháng hoá chất chính ở muỗi……… 16
1.4.1.1 Kháng do cơ chế trao đổi chất……….16
1.4.1.2 Kháng do đột biến gen……… 20
1.4.2 Các phương pháp phát hiện và giám sát sự kháng hoá chất…… 21
1.4.2.1 Phương pháp thử sinh học (Bioassays)……… 21
1.4.2.2 Phương pháp thử hoá sinh (Biochemical assays) vá sinh học phân tử……… 22
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……….26
Trang 52.2.1 Địa điểm, thời gian nghiên cứu……… 26 2.2.2 Phương pháp nghiên cứu……… 28 2.2.2.1 Phương pháp thu mẫu……… 27
2.2.2.2 Phương pháp thử nghiệm sinh học theo WHO/ CDS/ CPS /
MAL/ 98.12……… 27 2.2.2.3 Phương pháp phân tích AND……… 31CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN……… 41
3.1 KẾT QUẢ THỬ NHẠY CẢM CỦA MUỖI AE.AEGYPTI VỚI CÁC
HOÁ CHẤT DIỆT CÔN TRÙNGTHEO PHƯƠNG PHÁP CỦA WHO/
3.2 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH ADN CỦA MUỖI AE.AEGYPTI BẰNG KĨ
THUẬT PCR ĐA MỒI ĐẶC HIỆU……… 42KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……… 48TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 49
Trang 7Mở đầu
Muỗi Aedes aegypti là véc tơ chính truyền bệnh sốt Dengue/sốt xuất huyết
Dengue (SD/SXHD) Mỗi năm trên thế giới có khoảng 50-100 triệu người nhiễmvirus Dengue [39,45 ] Tại Việt Nam, bệnh lưu hành ở nhiều thành phố và trị
trấn, đặc biệt là các thành phố lớn Hiện nay bệnh SD/SXHD chưa có vắc xin
hiệu quả để phòng bệnh và không có thuốc trị đặc hiệu Vì vậy, biện pháp duy
nhất để phòng chống SD/SXHD là phòng chống véc tơ [14] Có nhiều biện pháp phòng chống véc tơ Tuy nhiên chưa có biện pháp nào hiệu quả hơn biện pháp
phun không gian hóa chất diệt côn trùng để diệt ngay muỗi trưởng thành nhiễm
vi rút trong các ổ dịch [14]
Trong những năm gần đây, việc sử dụng rộng rãi hóa chất đã làm cho nhiềuloài muỗi kháng hóa chất và sự kháng có nguy cơ lan rộng khó kiểm soát. TheoWHO, 2006 có hơn 500 loài chân đốt có ý nghĩa y học kháng với hoá chất diệtcôn trùng Trong đó có gần 50% số loài muỗi là véc tơ sốt rét, sốt xuất huyết
dengue, truyền bệnh giun chỉ, có tới 62 loài muỗi Anopheles Người ta đã chứng minh có sự kháng chéo DDT với nhóm Pyrethroid An gambiae ở Châu Phi đã kháng với permethrin, deltamethrin, lambda - cyhalothrin An sacharovi kháng
với DDT, propoxur, bendiocarb, permethrin và lambda - cyhalothrin ở Thổ Nhĩ
Kỳ (WHO, 1996) Loài muỗi truyền giun chỉ Culex quinquefasciatus được liệt
vào danh sách loài muỗi đa kháng Một số bệnh từ cổ xưa nay có thể quay trở lại
do môi trường ô nhiễm và muỗi kháng hóa chất (WHO, 2006) [27] Ở Việt Nam
từ năm 1975 người ta đã phát hiện tính kháng hoá chất diệt của loài muỗi truyền
giun chỉ Culex quinquefasciatus, loài muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết dengue
Aedes aegypti Loài muỗi truyền bệnh sốt rét ven biển Nam Bộ An epiroticus,
loài An sinensis, An vagus, … [7].
Trang 8Muỗi và một số loài côn trùng kháng với hóa chất diệt bằng hai kiểu chính[47] Kiểu kháng thứ nhất thông qua trao đổi chất [50], cơ chế của kiểu khángnày là sự biểu hiện quá mức của gen mã hóa các enzym có chức năng giải độcnhư cytochrome P450, esterase và GST, nên làm giảm đáng kể tác dụng của cácloại hóa chất diệt con trùng Kiểu kháng này gặp ở nhiều loài muỗi như
An.gambie, An.minimus [48, 51] và không được di truyền Kiểu kháng thứ hai
thông qua sự thay đổi gen, nên được di truyền [47] Cơ chế của kiểu kháng này
là do đột biến ở các vị trí đích trên gen mã hóa protein liên quan đến sự chuyển
hóa của hóa chất, làm cho bản chất của protein bị thay đổi dẫn đến sự chuyểnhóa bị thay đổi theo chiều hướng giảm tác dụng Gen liên quan đến kháng cáchóa chất nhóm Pyrethroid mã hóa protein điều chỉnh điện thế cổng kênh Natrixuyên màng tế bào thần kinh của muỗi, hay còn gọi là gen kháng ngã gục
(knockdown resistance gen – Kdr) Kháng Kdr gây kháng chéo với một số hóa chất khác như DDT hoặc lindan [41].
Hiện nay, muốn đạt được hiệu quả trong phun hoá chất diệt làm giảm mật
độ muỗi đốt người vào mùa phát triển và đặc biệt khi dịch bệnh do muỗi truyềnngày càng gia tăng người ta phải tăng liều lượng hoá chất hoăc thay đổi chủngloại hoá chất diệt Việc sử dụng hóa chất đã tạo áp lực chon lọc đối với quần thểmuỗi và làm thay đổi cấu trúc di truyền với quần thể đó Theo dõi, giám sát sựkháng hoá chất của các loài muỗi truyền bệnh bằng thử nghiệm sinh học mộtcách hệ thống đồng thời kết hợp nghiên cứu với một số phương pháp di truyềnnhư kỹ thuật PCR với các cặp mồi đặc hiệu, góp phần tìm ra cơ chế kháng hoáchất diệt phục vụ cho chiến lược phòng chống các bệnh do muỗi truyền, lựa chọncác biện pháp thích hợp, tránh lãng phí và gây ô nhiễm môi sinh đang là nhu cầucấp thiết hiện nay [3,27]
Trang 9Trong bối cảnh đó, chúng tôi tiến hành đề tài: “Bước đầu nghiên cứu tính
kháng hóa chất diệt côn trùng của loài muỗi truyền bệnh SXH Ae.aegypti
Linnaeus, 1762 tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa”
Với mục tiêu:
1 Xác định mức độ nhạy cảm của muỗi Ae.aegypti tại thành phố Nha Trang,
tỉnh Khánh Hòa với một số hóa chất diệt côn trùng bằng phương pháp thửsinh học theo WHO/CDS/CPC/MAL/98.12
2 Phát hiện các điểm đột biến trên gen mã hóa cho protein xuyên màng của kênhvận chuyển ion Natri liên quan đến tính kháng hóa chất nhóm Pyrethroid và
DDT bằng kĩ thuật PCR đa mồi đặc hiệu đối với muỗi Ae.aegypti Linnaeus,
1762 tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Trang 10
shock syndrome, DSS) được gây ra do Dengue virus (chi Flavivirus, họ
Flaviviridae) Virus này có 4 chủng huyết thanh khác nhau là DEN-1, DEN-2,
DEN-3 và DEN-4 Bệnh nhân nhiễm với chủng virus nào thì chỉ có khả năngmiễn dịch suốt đời với chủng virus đó Chính vì vậy mà những người sống trongvùng lưu hành dịch SD/SXHD có thể mắc bệnh sốt xuất huyết nhiều hơn một lầntrong đời SD/SXHD chủ yếu là bệnh ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Bệnhnhân nhiễm virus dengue có triệu chứng lâm sàng khác nhau tùy từng người.Bệnh có thể chỉ biểu hiện như một hội chứng nhiễm virus không đặc hiệu hoặcbệnh lý xuất huyết trầm trọng và đưa đến tử vong [32]
SD/SXHD là một bệnh nhiễm virus cấp tính lây truyền do muỗi từ ngườibệnh sang người lành thường gặp nhất ở người Trong những năm gần đây bệnh
đã trở thành mối quan ngại lớn đối với sức khỏe cộng đồng trên bình diện quốc
tế Toàn thế giới có khoảng 2.5 tỷ người hiện đang sống trong vùng có lưu hànhbệnh Sự lan tràn về mặt địa lý của cả véc tơ truyền bệnh (muỗi) và virus đã dẫnđến sự tăng cao tỷ lệ mắc bệnh trong vòng 25 năm qua, cũng như khả năng xuấthiện dịch do nhiều chủng huyết thanh khác nhau ở các đô thị trong vùng nhiệtđới [34]
Trang 11Hình 1: Virus dengue trên kính hiển vi điện tử xuyên thấu Các thể virus có
hình các đốm đen kết hợp lại thành nhóm.(theohttp://en.wikipedia.org/wiki/Dengue_fever) Những vụ dịch đầu tiên đã được ghi nhận xảy ra vào những năm từ 1778-
1780 ở châu Á, châu Phi và Bắc Mỹ Sự xuất hiện gần như đồng thời của cáctrận dịch trên ba lục địa khác nhau chứng tỏ rằng virus gây bệnh cũng như véc tơtruyền bệnh đã phân bố rộng rãi trên toàn thế giới từ hơn 200 năm trước Trongthời gian này sốt dengue chỉ được xem là bệnh nhẹ Một vụ đại dịch dengue xuấthiện ở Đông Nam Á sau Chiến tranh thế giới thứ II và từ đó lan rộng trên toàncầu Cũng ở khu vực Đông Nam Á, dengue lần đầu tiên được phát hiện ởPhilippines vào năm 1950 nhưng đến năm 1970 bệnh đã trở thành nguyên nhânnhập viện và tử vong thường gặp ở trẻ em trong vùng này [32] Tỉ lệ mắc bệnhtrên toàn thế giới đã gia tăng mạnh mẽ trong những năm gần đây Bệnh hiện đãtrở thành dịch tại trên 100 quốc gia ở châu Phi, châu Mỹ, khu vực phía Đông ĐịaTrung Hải, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương Đông Nam Á và Tây TháiBình Dương là khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất Trước năm 1970, chỉ có 9quốc gia có dịch lưu hành Con số này tăng lên gấp hơn 4 lần vào năm 1995 Tổ
Trang 12chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính mỗi năm có khoảng 50 đến 100 triệu ngườimắc bệnh Không chỉ có số trường hợp mắc bệnh gia tăng mà khả năng nhiễmnhiều loại virus khác nhau cũng ngày càng đáng báo động Sau đây là một sốthống kê khác [44,45]:
Trong vụ dịch, tỉ lệ mắc bệnh ở những đối tượng nhạy cảm thường là 50% nhưng cũng có thể cao đến 80-90%
40- Mỗi năm có khoảng 500.000 trường hợp sốt xuất huyết dengue cần nhậpviện, phần lớn trong số đó là trẻ em Tỉ lệ tử vong trung bình vào khoảng2.5%
Nếu không được điều trị, tỉ lệ tử vong của sốt xuất huyết dengue có thểvượt quá 20% Với phương thức điều trị tích cực hiện đại, tỉ lệ tử vong cóthể thấp hơn 1%
Hiện nay biện pháp phòng dịch chủ yếu trên thế giới vẫn là sử dụng hóachất để khống chế muỗi truyền bệnh.Tuy nhiên do việc sử dụng hóa chất tràn lankhông kiểm soát liều lượng, kỹ thuật phun v.v khiến các véc tơ truyền bệnh pháttriển tính kháng hóa chất diệt côn trùng Nghiên cứu phát hiện mức độ kháng hóachất, cơ chế kháng hóa chất của muỗi truyền bệnh nhằm đề xuất sử dụng hóachất phòng chống sự kháng và dập dịch hiệu quả đang là nhu cầu cấp bách hiệnnay
Trang 13(véc tơ chính) và Ae.albopictus (véc tơ phụ) là hai véc tơ truyền bệnh sốt xuất
huyết ở nước ta [2]
Ở Việt Nam, bệnh bắt đầu xuất hiện vào những năm của thập niên 1960 tạiĐồng bằng sông Cửu Long Bệnh phát thành dịch nhanh chóng và lan nhanh đếncác vùng khác dọc theo hai bờ sông Hiện nay sốt dengue/sốt xuất huyết dengue(SD/SXHD) đã trở thành bệnh lưu hành tại Việt Nam Bệnh không chỉ xuất hiện
ở đô thị mà cả vùng nông thôn, nơi có muỗi vectơ truyền bệnh Dịch lớnSD/SXHD bùng nổ theo chu kỳ khoảng 3-5 năm Năm 1998, trên toàn quốcbùng nổ vụ dịch lớn, số mắc bệnh và tử vong cao (mắc: 234.920 người, tử vong377) (số liệu của Viện VSDT)
Bệnh SD/SXHD ở Việt Nam phát triển theo mùa và cũng có sự khác biệtgiữa các miền Miền Bắc: bệnh thường xảy ra đỉnh cao từ tháng 7 đến tháng 9.Miền Nam và miền Trung, bệnh SD/SXHD xuất hiện quanh năm với tần số mắcbệnh nhiều nhất từ tháng 6 đến tháng 10 Ở miền Nam, nơi có bệnh lưu hành caonên lứa tuổi mắc bệnh phần lớn là trẻ em (95%)
Ở nước ta, đã phân lập được cả 4 týp virus Dengue gây bệnh Vào nhữngnăm 1991-1995, týp gây bệnh chủ yếu là týp Den 1 và Den 2; năm 1997-1998 làtýp Den 3 Từ 1999 đến nay, týp Den 4 gia tăng và có lẽ sẽ là týp gây bệnh chínhtrong những năm tới
Tình hình bệnh SD/SXHD trong cả nước, đặc biệt là ở phía Nam, vẫn tiếp
tục gia tăng trong những năm qua, mặc dù đã có những cố gắng từ Bộ Y tế trong
nỗ lực giảm số người mắc hoặc chết do bệnh SD/SXHD Năm 2003, cả nước có 47.731 trường hợp mắc SXH (tăng 50.3% so với năm 2002), và 72 ca tử vong
(tăng 38.5% so với năm 2002)
Trang 14Theo một báo cáo gần đây của Cục Y tế dự phòng và Phòng chống
HIV/AIDS (Bộ Y tế), tính đến ngày 28/2/2004, cả nước ghi nhận 3.865 trường
hợp mắc bệnh SD/SXHD, trong đó có bảy trường hợp tử vong So với cùng kỳ
năm 2003, số trường hợp mắc bệnh SD/SXHD đã tăng trên 97%, riêng số tử
vong đã tăng bốn trường hợp Các tỉnh, thành phố có số trường hợp mắc bệnh
SD/SXHD cao nhất là TP.HCM, Tiền Giang, Đồng Tháp
Trước tình hình dịch bệnh bùng phát, một trong những nguyên nhân là do
muỗi truyền bệnh phát triển tính kháng hóa chất diệt côn trùng dẫn tới kiểm soát dịch gặp nhiều khó khăn Đòi hỏi phải phát triển các nghiên cứu chuyên sâu
nhằm đề ra chiến lược phòng chống phù hợp với điều kiện ở Việt Nam
1.3 MUỖI AEDES AEGYPTI VÀ VAI TRÒ TRUYỀN BỆNH SỐT XUẤT
HUYẾT:
Họ muỗi (Culicidae) có khoảng 3200 loài, thuộc bộ 2 cánh (Diptera) Họ muỗi chia làm 3 phân họ: Toxorhynchitinae, Anophelinae và Culicinae Những giống có vai trò quan trọng trong y học nằm trong phân họ Anophelinae (
Anopheles ) và phân họ Culicinae ( Aedes và Culex ) Ở Việt Nam có hai loài Aedes aegypti và Aedes albopictus là 2 véc tơ truyền sốt xuất huyết.
1.3.1 Đặc điểm phân bố của Ae.aegypti ở Việt Nam:
Ae.aegypti phân bố trong vùng nhiệt đới và ôn đới của các châu lục (giữa
450 vĩ tuyến Bắc và 350 vĩ tuyếnNam) giới hạn bằng đường đẳng nhiệt 100 oC,
về độ cao có mặt từ 0 đến 1200 mét, một ít quần thể có mặt đến độ cao 1800 mét(ở Ấn Độ)[2]
Trang 15Ở Việt Nam, Aedes aegypti thường tập trung tại các thành phố, thị trấn,
nhiều vùng ở nông thôn ven biển, đồng bằng và ngày càng mở rộng phân bố tớicác thành phố, thị trấn, nông thôn miền núi
1.3.2 Một số đặc điểm sinh học của Ae.aegypti:
Hình 2 Bọ gậy và muỗi Ae.aegypti (theo WHO, 1975)
Đặc điểm hình thái: muỗi Ae.aegypti có kích thước trung bình, thân có màu
đen bóng, có nhiều vân trắng bạc tập trung thành cụm hay đường trên mình vàđầu muỗi.Trên mặt lưng ở gốc các đốt 2 dến 8 đều có đường vân ngang từng đốt.Gốc các đốt chân sau có những khoang trắng, riêng đốt chân thứ 5 trắng hoàntoàn
Thời gian phát triển của các pha trước trưởng thành ( từ trứng đến quăng )trung bình khoảng 7 ngày, thời gian từ quăng đến muỗi trưởng thành khoảng1.5- 3 ngày, thời gian tiêu sinh khoảng 2-5 ngày Muỗi cái sống từ 20-60 ngày,muỗi đực sống khoảng 9 - 12 ngày Muỗi cái đẻ khoảng 60 - 100 trứng/lần đẻ,
Trang 16trứng muỗi có màu đen vỏ dầy, nhiều túi hơi, riêng lẻ từng quả một dính vàothành vật chứa hay chìm xuống nước Trong điều kiện thuận lợi trứng muỗi cóthể tồn tại đến 6 -8 tháng thậm chí 1 năm [4].
- Ổ bọ gậy: Muỗi Ae.aegypti đẻ trứng ở những nơi nước sạch chứa trong lu
vại, bể, chai lọ, vỏ dừa, lọ hoa … các dụng cụ chứa nước ở trong cũng nhưnhưng nơi râm mát quanh nhà Bọ gây thường phát triển tốt ở nguồn nước sạchnhất là nước mưa
Sự phát triển của Ae.aegypti diễn ra quanh năm nhưng phát triển mạnh nhất
vào mùa mưa, ở miền bắc vào khoảng tháng 7 đến tháng 9, miền Trung và miền
Nam Ae.aegypti phát triển mạnh vào tháng 6 dến tháng 10.
Vai trò truyền bệnh của Ae.aegypti: Ở Việt Nam Ae.aegypti là véc tơ
truyền bệnh sốt xuất huyết chính Theo WHO (1980), thời gian ủ bệnh ở muỗi
Aedes aegypti cái trước khi truyền bệnh (tức là thời gian vi rút nhân lên trong
hạch nước bọt của muỗi) trung bình là từ 3 – 10 ngày và phụ thuộc vào nhiệt độ:
ở nhiệt độ 300C, muỗi cái cần 8 – 12 ngày; ở nhiệt độ cao hơn (320C - 350C) cần
4 – 7 ngày, nếu nhiệt độ thấp hơn (270C - 300C), thời gian này là 9 – 21 ngày.Hoặc muỗi có thể truyền bệnh ngay nếu hút máu người bệnh dở dang rồi hútmáu ngay sang người lành Người ta thấy muỗi cái bị nhiễm virus Dengue có thểtruyền bệnh suốt vòng đời của muỗi
1.3.3 Muỗi Ae.aegypti dưới tác động của hóa chất diệt côn trùng:
Trong những năm gần đây nhu cầu sử dụng hóa chất diệt côn trùng ngày
càng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như nông ngiệp, lâm nghiệp, gia dụng …cùng với việc sử dụng hóa chất diệt côn trùng trong công tác phòng chống dịch bệnh
đã làm cho độ nhạy cảm của các véc tơ truyền bệnh cũng như muỗi Ae.aegypti
Trang 17giảm dần, làm tăng tính chịu đựng cũng như xuất hiện sự kháng hóa chất diệt
côn trùng Vì vậy, theo dõi giám sát mức nhạy cảm của Ae.aegypti với hóa chất
diệt côn trùng là cần thiết cho việc lựa chọn biện pháp và hóa chất thích hợp để
phòng chống loài muỗi truyền sốt xuất huyết nguy hiểm này
Một số hóa chất diệt, phòng chống muỗi:
Theo Jan A.Rozendall (1998), các hoá chất diệt muỗi gồm 4 nhóm chính [4,
27]:
- Nhóm Chlo hữu cơ (Oganochlorines): DDT, lindane
- Nhóm Photpho hữu cơ (Oganophosphate): malathion, fenitrothion,
chlorpyrifos-methyl, pyrimifos-methyl…
- Nhóm Carbamate: propoxur, bendiocarb…
- Nhóm Pyrethroids tổng hợp: permethrin, cypermethrin, deltamethrin,
lambda-cyhalothrin, bifenthrin v.v
Việc sử dụng hóa chất để phòng chống véc tơ ở Việt Nam đã có nhiều thành
tựu đáng kể, nhất là đối với muỗi Anopheles [3, 5, 8, 10, 12]; Vũ Đức Hương,
Nguyễn Thị Bạch Ngọc và ctv, 2006 [22]; Nguyễn Văn Quyết, 2005 [9]…)
Trang 18Bảng 2 Các hoá ch t di t mu i đã s d ng trong ch ất diệt muỗi đã sử dụng trong chương trình phòng chống ệt muỗi đã sử dụng trong chương trình phòng chống ỗi đã sử dụng trong chương trình phòng chống ử dụng trong chương trình phòng chống ụng trong chương trình phòng chống ương trình phòng chống ng trình phòng ch ng ống
s t rét Vi t Nam: ống ở Việt Nam: ệt muỗi đã sử dụng trong chương trình phòng chống
Các hoá chất nhóm Pyrethroids:
Pyrethroids là dẫn xuất của este cacboxylat (còn gọi là este pyrethrum hoặc
este pyrethrin) có nguồn gốc tự nhiên từ cây hoa cúc họ Chrysanthemum
cinerariefolium và C.roseum, chứa nhiều hoạt chất pyrethrin có độc tính cao đối
với côn trùng nhưng có độc tính thấp với động vật máu nóng [52]
Đặc tính chung của nhóm Pyrethroid là:
+Có tác dụng chọn lọc cao, diệt được các loại côn trùng kháng clo hữu cơ,phôtpho hữu cơ và carbamat
Trang 19+Hoà tan nhanh trong lipit và lipoprotein nên có tác dụng tiếp xúcmạnh, hóa chất diệt gây hiện tượng choáng độc nhanh và có tác dụng xua một
số loại côn trùng
+Độ độc cấp tính đối với con người và động vật máu nóng thấp hơn nhiều
so với hợp chất phôtpho hữu cơ, nhanh chóng phân huỷ trong cơ thể sống vàtrong môi trường, nhưng rất độc với cá và động vật thuỷ sinh khác [52]
Alpha-cypermethrin thuộc nhóm độc loại II, liều độc LD50 tuỳ thuộc vào
tỷ lệ đồng phân cis/trans, đối với chuột LD50=79-400mg/kg qua đường miệng,
có tác dụng độc tiếp xúc, ức chế thần kinh trung ương và ngoại vi với liều rấtnhỏ, có phổ diệt rộng với côn trùng miệng nhai và chích hút Ngoài tác dụng diệtmuỗi, ruồi alpha-cypermethrin còn tác dụng diệt trừ ve, bọ chét, chấy rận cho vậtnuôi, trừ được nhiều sâu và nhện hại, đặc biệt là côn trùng thuộc bộ cánh vẩy[52]
Deltamethrin
Deltamethrin có tên thương phẩm là Decis, Decamethrin, Cislin, K-Othrin,
có công thức phân tử là C22H19Br2NO3, khối lượng phân tử 505.2 đvc
Deltamethrin được sản xuất dưới dạng K-Othrin 2,5SC, 2,5WP, 2,5EC, cótác dụng diệt theo đường tiếp xúc và tiêu hoá, liều gây độc với chuột làLD50=139mg/kg (trong dung dịch dầu) và >5000mg/kg (trong dịch treo), đối
Trang 20với thỏ LD50=2940mg/kg và diệt được nhiều côn trùng y học gây hại như ve, bọchét, chấy rận hại vật nuôi.
Deltamethrin có tính độc cao đối với côn trùng và một số động vật máulạnh, nhưng có tính độc thấp với động vật máu nóng và có hệ số sử dụng an toàncao [52]
Permethrin
Permethrin có tên thương phẩm là Permit, Ambush, Coopex,Agniban, Imperator, Outflank, có công thức phân tử là C21H20Cl2O3, khốilượng phân tử 391,3 đvc
Permethrin có 4 cặp đồng phân quang học, gồm hai cặp đồng phân cis vàhai cặp đồng phân trans, tỷ lệ đồng phân cis: trans là 25:75 đến 50:50 [52]
Lambda-cyhalothrin
Lambda-cyhalothrin có tên thương phẩm là Karate, PP321, ICON, có côngthức phân tử C23H19ClF3NO3, khối lượng phân tử 449,9đvc, phân tử này có 4đồng phân quang học trong đó có hai cặp đồng phân dạng cis:trans (với tỷ lệ 1:1) Lambda-cyhalothrin được sản xuất dưới dạng huyền phù (CS), dạng bột dễtan trong nước (WP), dạng nhũ dầu (EC)
Lambda-cyhalothrin thuộc nhóm độc loại II, có tác dụng diệt tiếp xúc [52]
Etofenprox
Etofenprox có tên thương phẩm là Vectron, Trebon, có công thức phân tử
C25H46O3 Chất này có tác dụng diệt côn trùng qua đường tiếp xúc, phổ diệt côn
trùng rộng, độ độc với động vật máu nóng rất thấp [52]
1.4 SỰ KHÁNG HÓA CHẤT DIỆT Ở MUỖI:
Trang 21Tính kháng hóa chất diệt côn trùng (Insecticide resistance _ IR) theo định
nghĩa của WHO là sự phát triển khả năng sống sót của một số cá thể sau khi tiếp xúc với nồng độ của một hóa chất mà với nồng độ đó đa số cá thể của loài đó sẽ
bị chết sau khi tiếp xúc [37]
Khả năng phát triển tính kháng hóa chất diệt phụ thuộc vào các yếu tố: sinhhọc, sinh thái học của côn trùng, mức độ trao đổi dòng gen giữa các quần thể,thời gian tồn lưu của hóa chất và cường độ sử dụng gồm liều lượng và thời gian
sử dụng [36]
Tính kháng hóa chất diệt côn trùng là một hiện tượng có thể xuất hiện trongmọi nhóm côn trùng truyền bệnh, côn trùng nông nghiệp Năm 1992 danh sáchcác véc-tơ kháng hóa chất diệt côn trùng chỉ riêng đối với loài muỗi đã có 56 loài
thuộc phân họ Anophelinae, 39 loài thuộc phân họ Culicinae Sự kháng đã xảy
ra với tất cả các nhóm hóa chất diệt côn trùng bao gồm cả các hóa chất vi sinhlẫn chất điều hòa sinh trưởng côn trùng
Đối với muỗi, lần đầu tiên thông báo DDT đã bị kháng bởi Culex
tritaeniorhynchus và Ae.solicitans vào năm 1947 Sự kháng DDT ở muỗi đã đặt
ra vấn đề phải tìm ra hóa chất khác thay thế nó Nhiều hóa chất diệt muỗi đãđược đưa ra thử nghiệm và đem lại kết quả tốt, được WHO khuyến cáo sử dụng.Tuy nhiên vấn đề nảy sinh khi các véc tơ truyền bệnh phát triển tính kháng cáchóa chất này Sự kháng hóa chất của muỗi ngày càng tăng cả về số lượng lẫnmức độ kháng và một loài kháng với nhiều hóa chất (tính đa kháng) Đến năm
2000 đã có khoảng 100 loài muỗi kháng hóa chất [37].Một trong những nghuyênnhân chính dẫn đến sự kháng ngày càng tăng nhanh và trầm trọng là do sự sửdụng tràn lan hóa chất trong nông nghiệp và trong y tế
Trang 221.4.1 Các cơ chế kháng hóa chất chính ở muỗi:
Kháng hóa chất là kết quả chọn lọc các gen kháng ở côn trung dưới áp lựccủa hóa chất Các gen kháng có thể có sẵn trong quần thể mang gen kháng sốngsót mặc dù tiếp xúc với hóa chất và truyền lại những gen kháng cho thế hệ sau.Việc sử dụng nhắc lại một lọa hóa chất sẽ loại bỏ các cá thể nhạy và tỷ lệ các cáthể kháng sẽ tăng và cuối cùng số cá thể kháng sẽ chiếm đa số trong quần thể[55]
Muỗi và một số loài côn trùng kháng với hóa chất bằng hai kiểu chính [47]:
1-Kháng do cơ chế trao đổi chất: Tăng enzym liên quan tới khả năng giải độccủa côn trùng
2-Kháng do biến đổi gen: Những đột biến ở những gen quy định protein ở
vị trí đích
Thêm vào đó, một số hoá chất diệt côn trùng nhóm Permethrin cũng ảnhhưởng làm thay đổi tập tính côn trùng, giảm tỷ lệ muỗi vào trong nhà, làm tăng tỷ lệmuỗi ra khỏi nhà qua đó gây ra những sự thay đổi trong thời gian hoạt động(Mathenge và cộng sự, 2001) Một số loài côn trùng cũng tạo ra những lớp kitin dàyhơn hoặc làm biến đổi cấu trúc nhằm làm giảm quá trình xâm nhập của hoá chấtvào cơ thể (Stone và Brown, 1969; Apperson và Georghiou, 1975) [31]
1.4.1.2 Kháng do cơ chế trao đổi chất:
Đây là một trong những cơ chế kháng hóa chất diệt côn trùng quan trọng
Cơ chế của kiểu kháng này là sự biểu hiện quá mức của gen mã hóa các enzym
có chức năng giải độc như cytochrome P450, esterase và GTS lên làm giảmđáng kể tác dụng của các loại hóa chất diệt côn trùng Kiểu kháng này gặp ở
Trang 23nhiều loài muỗi như An.gambie truyền sốt rét ở châu Phi, An minimus … và ít
được di truyền[48][51]
Các Oxidase chức năng hỗn hợp:
Cytochrom P450 dựa trên các monooxygenase hoặc các oxidase chức nănghỗn hợp (MFOs) là một nhóm các enzym oxy hóa Chúng gây ra sự kháng đốivới nhiều hóa chất diệt Tác động của các oxydase này trên cơ chất tạo ra các sảnphẩm có khả năng hòa tan do đó có thể dễ dàng đào thải hơn Sự kháng doMFOs có thể bao gồm sự thay đổi cấu trúc hoặc tăng cường số lượng của một sốhoặc nhiều thành phần của hệ thống phức hợp này
Monooxygenase là các enzym xúc tác cho phản ứng khử phân tử oxy bằngcách kết hợp một nguyên tử oxy vào cơ chất của nó và một nguyên tử oxy vàonước
Cytochrome P450 oxidase (CYP) là một thuật ngữ chung chỉ một nhómenzym ôxi hóa khử có liên quan nhưng khác biệt nhau Hệ thống CytochromeP450 monooxygenase thực hiện chức năng hỗn hợp hầu như là yếu tố quan trọngnhất của Pha I biến dưỡng ở lớp thú Trình tự Cytochrome P450 tương đồngđược phát hiện ở thú, chim, cá, côn trùng, nhuyễn thể, thực vật, nấm nhầy và vikhuẩn
P450 định khu ở màng trong của ti thể hay mạng lưới nội chất của tế bàogan, nơi chuyển hóa hàng ngàn nội độc tố, ngoại độc tố, thuốc, xenobiotic vànhững phân tử không cần thiết hoặc có thể có hại Tuy nhiên, chúng hiện diệntrong nhũng mô khác của cơ thể bao gồm cả máng nhầy của bộ máy tiêu hóa Ởhầu hết động vật, Cytochrome P450 ở gan là enzym P450 được tìm hiểu nhiềunhất
Trang 24P450 xúc tác cho nhiều loại phản ứng, nhưng quan trọng nhất là sựhydroxyl hóa Những enzym này được gọi là hỗn hợp chức năng oxydase haymonoxygenase bởi vì chúng kết hợp một phần oxi vào cơ chất và một vào phân
tử nước Chúng không giống những dioxygenase kết hợp cả hai nguyên tử oxivào cơ chất Cytochrome P450 hấp thụ ánh sáng có bước sóng gần 450nm khigắn với carbon monoxide (CO), cho ra phức hợp có màu hồng ,nên chúng có tên
vị trí “ sắc tố 450 “ hay “màu hồng 450 “
Phân tử Cytochrome P450 oxidase có khoảng 500 amino acid và một nhómheme ở vị trí hoạt động Đa số chúng có thể chuyển hóa nhiều loại cơ chất vànhiều trong số chúng có thể xúc tác nhiều phản ứng, điều này chứng tỏ vai tròtrung tâm của chúng trong việc chuyển hóa những trạng thía khác nhau khôngngùng thay đổi của những phân tử có nguồn gốc bên ngoài Hệ thốngCytochrome P450 monoxygenase cần NADPH và phân tử oxi (O2) để hoạt động
Hydrolase:
Các enzyme này hoạt động trên các cầu nối carboxylester vàphosphodiester Chúng là các enzym quan trọng trong tính kháng với các hóachất diệt thuộc nhóm phốt pho hữu cơ và ít quan trọng hơn đối với nhómpyrethroid
Trang 25cơ chất khác nhau Hoạt tính này là hữu dụng trong việc giải độc của các hợpchất nội sinh chẳng hạn như các peroxide lipid GST cũng có thể kết hợp với cácđộc tố với chức năng như các protein vận chuyển Do đó trước đây chúng cònđược gọi là “ligandin”.
Hầu hết các enzym GST ở động vật có ái lực với cơ chất 1– chloro – 2,4 –dinitrobenzene (CDNB), và các thử nghiệm quan trắc thường sử dụng cơ chấtnày cho việc đánh giá hoạt tính của GST Tuy nhiên, một số các chất nội sinhchẳng hạn như bilirubin có thể ức chế hoạt tính của GST Trong các phản ứngmiễn dịch phải tránh điều này xảy ra
Esterase (EST):
Esterase là một nhóm các enzym không cùng nguồn gốc, ít biểu hiện khảnăng đặc hiệu với cơ chất, song tất cả các esterase có một đặc tính chung là thủyphân liên kết tạo thành acid va alcohol Chúng thủy phân xúc tác cho phản ứngsau :
RCOOR1 + HOH → RCOOH + R1OH
Có nhiều loại esterase Ba yếu tố để phân loại các esterase đó là tính đặchiệu cơ chất, cấu trúc protein và chức năng sinh học của chúng
Trang 26Cơ chế của sự kháng này là do đột biến ở các vị trí đích trên gen mã hóa
protein liên quan đến sự chuyển hóa của hóa chất, làm cho bản chất của protein
bị thay đổi dẫn đến sự chuyên hóa bị thay đổi theo chiêu hướng giảm tác dụng
Có 3 hình thức kháng hóa chất diệt côn trùng băng cách thay đổi vị trí đích:
Acetylcholinesterase (AchE) không nhạy cảm:
Các hóa chất diệt côn trùng thuộc nhóm phốt pho hữu cơ và carbamate lànhững hóa chất gây độc thần kinh Các chất này ức chế enzymacetylcholinesterase Nhiều côn trùng và các dộng vật chân khớp khác đã pháttriển tính kháng với các hợp chất này thong qua việc cải biến cấu trúc enzymeacetylcholinesterase Enzym AchE ở các cá thể kháng trở nên kém nhạy cảm hơnnhiều so với AchE ở các cá thể nhạy với các hóa chất diệt côn trùng
Kháng“ ngã gục” ( Knockdown Resistance : kháng Kdr ):
Kháng “ngã gục’’ được đặt tên từ việc quan sát các côn trùng sau khi chotiếp xúc với DDT hoặc pyrethroid Các côn trùng nhạy cảm sau khi tiếp xúc vớihóa chất diệt nhanh chóng bị tê liệt hay “ngã gục’’ Các hóa chất nhómPyrethroid là các hóa chất được sử dụng rộng rãi trong phòng chống muỗi và cácdich bệnh do muỗi làm trung gian truyền bệnh Các hóa chất này làm thay đổiđộng học của các kênh vận chuyển Natri có vai trò truyền các xung thần kinh.Kháng “ngã gục’’ liên quan đến các đột biến gen tổng hợp các Protein có vai tròvận chuyển ion Natri+ qua màng ở một số loài côn trùng Protein điều chỉnh điệnthế cổng kênh Natri được phân thành 4 vùng tương đồng (1-4), chia thành 6 đoạncuộn xoắn xuyên màng tế bào thần kinh(S1-S6) [28] Protein này có nhiệm vụkhử cực điện thế hoạt động ở màng tế bào thần kinh [3].Khi màng tế bào bị khửcực, cổng kênh Natri đóng- mở Pha đầu, điện thế hoạt động tăng, một dòng
Trang 27Natri di qua cổng kênh Protein xuyên màng tế bào bị khử cực, sau vài phầnnghìn giây sự khử cực nhanh chóng bị ức chế toàn bộ [24] Khi hoạt chất của cácnhóm Pyrethroid bám vào và tác động lên Protein kênh Natri xuyên màng tế bàothần kinh, làm động học của kênh Natri bị thay đổi, tác động lên hệ thầnkinh[35].Khi gen mã hóa Protein này bị đột biến, một số acid amin bị thay thế,dẫn đến bản chất của Protein thay đổi làm cho các hóa chất nhóm Pyrethroidkhông bám lên được, nên làm giảm tác dụng của các hóa chất này Vì vậy, độtbiến Kdr luôn làm mất tác dụng của các hóa chất nhóm Pyrethroid [21].Sự kháng
chéo đối với DDT và pyrethroid là một chỉ thị của sự kháng Kdr, khi mà cơ chế
kháng trao đổi chất với các hóa chất diệt côn trùng này không quan sát thấy Sự
1.4.2 Các Phương pháp phát hiện và giám sát sự kháng hóa chất:
Bước đầu tiên trong phát hiện và giám sát sự kháng là theo dõi thay dổinhạy cảm của một quần thể véc tơ thông qua phương pháp thử sinh học, phươngpháp thử hóa sinh hoặc kiểm tra ở mức độ phân tử
1.4.2.1 Phương pháp thử sinh học (Bioassays):
Trang 28Tổ chức y tế thế giới (WHO) đã phát triển các phương pháp thử sinh học về
độ nhạy cảm của muỗi và một số côn trùng khác với hóa chất diệt côn trùng [54].Qua thực nghiệm, người ta thấy rằng trong phương pháp thử sinh học dựa vào tỉ
lệ muỗi chết theo thời gian để phát hiện nhũng biến đổi về độ nhạy cảm là tốthơn so với dựa vào tỷ lệ muỗi chết theo cường độ hóa chất diệt côn trùng.Phương pháp thử sinh học phụ thuộc thời gian đã được cải tiến nhiều lần và hiệnnay sử dụng các chai thủy tinh được phủ chất diệt côn trùng và các dung dịchhóa chất diệt côn trùng tẩm trên giấy thấm theo thang chuẩn hoặc là các chất hỗtrợ Phương pháp này làm đơn giản hóa quá trình thực hiện các thử nghiệm vàlàm tăng lượng thông tin có thể thu nhập từ một nguồn muỗi giới hạn [30]
1.4.2.2 Phương pháp thử hóa sinh (Biochemical assays) và sinh học phân tử:
Các phương pháp hóa sinh và phân tử có thể phát hiện các cơ chế kháng ởtừng cá thể côn trùng, chúng có thể khẳng định tính kháng chỉ với việc sử dụngmột lượng nhỏ côn trùng
* Các phương pháp thử hóa sinh đặc hiệu: đã được phát triển với tất cả các
cơ chế kháng đã biết, trừ thụ thể GABA và Na biến đổi [21,28,30] Sự nhận biết
cơ chế kháng giúp xác định phổ kháng chéo, dễ dàng lựa chọn các hóa chất diệtcôn trùng thay thế, cho phép vẽ chi tiết các khu vực có các quần thể kháng hóachất
* Phương pháp PCR với các cặp mồi đặc hiệu:
Việc sử dụng rộng rãi những hoá chất Pyrethroid và DDT đã dẫn đến sự
phát triển của khả năng kháng quỵ (Kdr) ở nhiều loài côn trùng (theo Liu và cộng sự, 2000; Soderlund và Knipple, 2003) bao gồm Anopheles và Aedes Việc
sử dụng DDT và Pyrethroid trong việc kiểm soát những loài gây hại cho việc
Trang 29trồng lúa và bông đã đóng góp đáng kể cho sự phát triển tính kháng ở An.gambiae từ miền Tây Châu Phi (theo Elissa và cộng sự, 1993); Martinez-Torres
và cộng sự, 1998) Cơ chế phân tử của Kdr được chỉ ra sự khác biệt với cơ chế
trao đổi chất [28, 40, 45]
Cổng điện thế của kênh vận chuyển ion Na+ chính là vị trí đích của cả DDT
và nhóm Pyrethroid Đột biến ở gen này có liên quan đến kháng quỵ
(Knockdown resistance) Kdr với những hoá chất này ở một vài loài côn trùng trong đó có cả Anopheles gambiae Đột biến ở alen Kdr có liên quan đến tính
kháng gặp nhiều ở côn trùng kết quả là sự thay thế Leucine bằng Phenilalanine ở
vị trí S6 đầu kỵ nước của vùng II (Theo Williamson và cs, 1996; Dong, 1997,Jamoz và cs, 1998, Martinez-Torress và cs, 1998, 1999b) Hai sự thay thế luânphiên ở vị trí này cũng liên quan tới việc kháng DDT và nhóm Pyrethroid, việcthay thế leucine bằng histidine cũng liên quan đến việc kháng hoá chất nhóm
Pyrethroid ở Hethiothis virescens (Parte và Taylor, 1997) và sự thay thế leucine
bằng serine liên quan đến sự kháng DDT và kháng ở mức độ thấp với permethrin
ở Culex pipiens tại Trung Quốc (Martinez-Torress và cs, 1999) Sự thay thế
leucine bằng phenilalanine ở vị trí 1014 ở cổng điện thế của kênh vận chuyển
Na+ có liên quan với sự kháng hoá chất DDT và permethrin ở rất nhiều loài côn
trùng, trong đó có Anopheles gambiae ở Tây Phi Ở loài An gambiae ở Kenya
thì gen quy định cổng điện thế của kênh vận chuyển Na+ nằm trên vai trái củanhiễm sắc thể số 2 (2L), vị trí 20C Đây là vị trí của locut mang tính chất đặctrưng chủ yếu xác định tính kháng permethrin [41]
Kháng ngã gục (Kdr) với Pyrethroid là do một sự biến đổi trong quan hệ
tương tác giữa hoá chất diệt côn trùng và vị trí liên kết của chúng trên kênh vậnchuyển Na+, Kdr hình thành những sự thay thế một hoặc nhiều nucleotit trong
gen quy định kênh vận chuyển Na+ Brengues và cs 2003 đã nghiên cứu tính
Trang 30kháng DDT và Pyrethroid ở Ae.aegypti ở 13 địa phương khác nhau trên thế giới
và thấy quần thể kháng đột biến kdr với DDT và Pyrethroid tại Semarang - trungtâm Java, Belem ở Brazil và quần thể Long Hòa ở Việt Nam Quần thể Belem có
axit amin valine ở vị trí 923 của exon 19 trong khi 3 quần thể Ae.aegypti khác và
An.gambiae có một axit amin leucine ở vị trí tương tự Tất cả các quần thể Ae.aegypti chứa một axit amin leucine tại vị trí 952 và 1 axit amin lysine ở vị trí
961của exon 20 nhưng ở vị trí tương tự của An.gambiae lại là valine và
histidine Quần thể Long Hoà chứa tryptophan ở vị trí 982 của exon 20 trong khi
3 quần thể Ae.aegypti khác và An.gambiae có leucine ở vị trí tương tự Tuy
nhiên, ở vị trí 1011 của exon 20quần thể Belem là methionine, còn 3 quần thể
Ae.aegypti khác và An.gambiae là leucine Quần thể Thái Lan, vị trí 1016 của
exon 21 là glycine trong khi 3 quần thể Ae.aegypti khác và An.gambiae lại là
valine [41]
Ở một vài loài côn trùng, hầu hết đột biến Kdr làm một leucine thay thế
thành phenylalanine (Leu→ Phe) trên đoạn kị nước S6 của vùng II trên gen quyđịnh kênh vận chuyển Na+(Williamson và cs, 1996; Martinez-Torres và cs,1998) Tuy nhiên, một sự thay thế thứ hai ở vị trí tương tự (Leu → Ser) đã được
tìm thấy ở An gambiae Đông Phi ( theo Ranson và cs, 2000 ) Cả những đột biến
đã được báo cáo ở loài An.sacharovi tại Thổ Nhĩ Kỳ [41].
Những nghiên cứu tính kháng chéo ở vị trí đích đã được tìm thấy trong loài
Ae.aegypti (Hemingway và cs, 1989; Brengues và cs, 2003) Việc phân tích trình
tự của cADN của chuỗi xoắn kị nước S6 ở vùng II của sáu quần thể Aedes kháng
Pyrethroid đã chỉ ra rằng sự thay thế phổ biến nhất Leu → Phe ở An gambiae thì chưa gặp trong loài Ae.aegypti [28,41]
Trang 31Loài muỗi Ae.aegypti kháng hoá chất nhóm Pyrethroid ở Việt Nam là đồng
hợp tử do sự thay đổi 2 nucleotit, dẫn đến một đột biến Leu → Trp Những cá
thể loài Ae.aegypti kháng Pyrethroid ở Brazil là đồng hợp tử hoặc dị hợp tử cho
cả hai axit amin không liền kề (isoleucine thành methionine và glycine thànhvaline), sự biến đổi này xảy ra là kết quả đột biến một nucleotit Những thay đổinày cũng đã được tìm thấy ở những cá thể muỗi từ hai vùng khác nhau ở miền
trung nước Mỹ Những mẫu Ae.aegypti từ Indonesia và Thái Lan đã có một đột
biến thay thế valine thành glycine là kết quả của sự thay đổi một nucleotit[41]
Có khoảng 20 trình tự axit amin đơn nhất của gen quy định kênh vậnchuyển ion Na+ đa hình đã được xác định liên quan với tính kháng Pyrethroid.Tất cả những đột biến đã được xác định ở muỗi đã được tìm thấy ở vùng II củakênh vận chuyển Na+
Giải trình tự ADN vùng II của cổng điện thế kênh vận chuyển ion Na+ xácđịnh kháng đột biến ở muỗi Tuy nhiên, điều này không thể ứng dụng cho nghiêncứu quần thể Phương pháp PCR chuẩn đoán đơn giản đã được phát triển(Martinez-Torres và cs, 1998) phương pháp này có khả năng chuẩn đoán nhanhnhững thay thế phổ biến Leu thành Phe ở muỗi kháng, và những cặp mồi đặchiệu nhằm xác định những đột biến khác đã được phát triển (Ranson và cs, 2000;Enayati và cs, 2003) Gen quy định kênh vận chuyển Na+ đã được sử dụng như là
một công cụ phân tử để tìm kiếm cấu trúc quần thể An gambiae tại Mali và
Burkina Faso [41]