Ty thể được coi là trung tâm năng lượng của tế bào vì là nơi chuyển hóa các chất hữu cơ... Đôi khi ti thể được miêu tả như "nguồn năng lượng của tế bào ", bởi vì chức năng cơ bản của nó
Trang 1Ti thể
Dưới kính hiển vi quang học, các ti thể nhìn
thành các cấu trúc dạng sợi quan sát Màng nhân
và màng tế bào thì không thể nhìn thấy được
Ti thể (tiếng Anh: mitochondrion (số nhiều:
mitochondria)) là bào quan phổ biến ở các tế
bào nhân chuẩn có lớp màng kép và hệ gene
riêng Ty thể được coi là trung tâm năng lượng
của tế bào vì là nơi chuyển hóa các chất hữu cơ
Trang 2thành năng lượng tế bào có thể sử dụng được là ATP Nguồn gốc của ty thể được coi như là một
dạng vi khuẩn (xem thêm thuyết nội cộng sinh)
Trong sinh học tế bào, một ty thể (xuất phát từ
tiếng Hy Lạp mitos có nghĩa là sợi và khondrion
có nghĩa là hạt) là một tiểu thể (hay còn gọi là
cơ quan) được tìm thấy trong hầu hết các tế bào sinh vật nhân thực, bao gồm thực vật, động vật, nấm và nhóm đơn bào Ở một vài nhóm, như là động vật nguyên sinh trypanosoma protozoa, có một ty thể lớn duy nhất, ngoài ra thông thường một tế bào có hàng trăm cho đến hàng ngàn ty thể Con số chính xác của ty thể phụ thuộc vào mức độ hoạt động chuyển hóa của tế bào: càng nhiều hoạt động chuyển hóa thì càng có nhiều ty thể Ty thể có thể chiếm đến 25% thể tích của bào tương
Đôi khi ti thể được miêu tả như "nguồn năng
lượng của tế bào ", bởi vì chức năng cơ bản của
nó la chuyển đổi các vật chất hữu cơ thành năng
lượng dưới dạng ATP (adenosine triphosphate)
Trang 3Mục lục
1 Cấu trúc ti thể
o 1.1 Màng ti thể
o 1.2 Khoang cơ bản của ti thể
2 Chức năng ti thể
o 2.1 Biến đổi năng lượng
2.1.1 Pyruvate: Chu trình Krebs
2.1.2 NADH và FADH2: Chuỗi vận chuyển điện từ
3 Áp dụng trong nghiên cứu di truyền quần thể
4 Thuyết nội cộng sinh
5 Xem thêm
6 Liên kết ngoài
Cấu trúc ti thể
Trang 4Thiết đồ cắt ngang của một ty thể, cho thấy:
(1) màng trong, (2) màng ngoài, (3) mào ty thể, (4) chất nền
Tùy thuộc loại tế bào, ti thể có cấu trúc tổng thể khác nhau Ở bên phải của ảnh, ti thể giống như hình dạng của xúc xích, có kích thước chiều dài
từ 1 đến 4 µm Trong khi đó ở bên trái của ảnh,
ti thể có hình dạng một mạng lưới các ống liên kết nhau có độ phân nhánh cao Quan sát các ti thể có gắn huỳnh quang ở các tế bào sống cho thấy chúng là các tiểu thể hay bào quan năng động có khả năng thay đổi hình dạng phong
phú Ngoài ra ti thể có khả năng liên kết với ti thể khác hoặc tự phân chia thành hai ti thể khác nhau
Trang 5Lớp ngoài của ti thể bao gồm hai màng có chức
năng khác biệt nhau: màng ngoài ti thểvà màng
trong ti thể Màng ngoài bao trùm toàn bộ ti thể,
tạo nên ranh giới ngoài của nó Lớp màng trong thì tạo thành các nếp gấp hay còn gọi là mào
(cristae), hướng vào tâm Mào này là nơi chứa
các nhà máy hay bộ phận cần thiết cho quá trình
hô hấp hiếu khí hay hô hấp ái khí và tổng hợp ATP, và cấu trúc gấp nếp ấy giúp gia tăng diện tích lớp màng trong của ti thể
Các màng ti thể chia ti thể thành hai khoang
khác biệt nhau: khoang "chứa chất cơ bản" nằm bên trong ti thể và khoang "liên màng" hay gian màng nằm giữa lớp màng ngoài và màng trong
Màng ti thể
Màng ngoài và màng trong cấu trúc gồm các lớp phospholipid kép được gắn với các protein,
trông giống với màng tế bào điển hình Tuy
nhiên hai màng này có những đặc điểm khác
biệt nhau Lớp màng ngoài bao bọc ty thể bao gồm 50% trọng lượng là phospholipid và chứa
Trang 6các enzyme hay men liên quan đến các hoạt
động khác nhau như ôxi hóa của epinephrine
(adrenaline), phân hủy của tryptophan, và quá trình tổng hợp kéo dài chuỗi axít béo
Ngược lại lớp mạng trong của ti thể chứa hơn
100 polypeptide khác nhau, và có tỷ lệ
protein/phospholipid cao (lớn hơn 3:1 theo trọng lượng, tương đương với 1 phân tử protêin so với
15 phân tử phospholipid) Ngoài ra, lớp màng trong có nhiều các phân tử phospholipid hiếm như cardiolipin, phân tử này có đặc điểm của
màng bào tương vi khuẩn
Lớp màng ngoài có chứa nhiều các protein tích
hợp còn gọi là các porin hay các cổng, chúng có
chứa bên trong một kênh tương đối lớn khoản (khoảng 2-3 nm) và cho phép các ion và các
phân tử nhỏ di chuyển ra vảo ty thể Tuy nhiên các phân tử lớn không thể xuyên qua lớp màng ngoài được Tuy nhiên lớp màng trong không có chứa các cổng porin nên không có tính thấm
cao; hầu hết các ion và các phân tử cần phải có
Trang 7chất vận chuyển đặt biệt để di chuyển vào bên trong khoan cơ bản hay khoan chứa chất cơ bản
Khoang cơ bản của ti thể
Bên cạnh các enzymes, ti thể còn chứa các
ribosome và nhiều phân tử DNA Vì vậy ti thể
có vật chất di tryền riêng của nó, và các nhà
máy để sản xuất ra RNA và protein chính nó
(Xem thêm Tổng hợp protein) DNA không
thuộc nhiễm sắc thể này mã hóa cho một số nhỏ peptide của ti thể (13 peptide ở người) và các peptide này được gắn kết vào lớp màng trong, cùng với các polypeptide được mă hóa bởi các gene nằm trong nhân tế bào
Chức năng ti thể
Dù chức năng cơ bản của ti thể là biến các chất hữu cơ thành năng lượng cho tế bào ở dưới dạng ATP, ty thể còn đóng một vai trò quan trọng
khoác trong nhiều quá trình chuyển hóa, như là:
Apoptosis, quá trình tế bào chết được lập
trình
Trang 8 Tổn thương tế bào thần kinh do thoát các chất trung gian Glutamate
Tăng sinh tế bào
Điều hòa trạng thái oxi hóa khử của tế bào (redox có nghĩa là quá trình oxi hóa khử)
Tổnh hợp nhân Heme
Tổng hợp Steroid
Tạo nhiệt (giúp giữ ấm cho có thể)
Một vài chức năng của ti thể chỉ được thực hiện
ở một số loại tế bào đặc hiệu nào đó Chẳng hạn như ti thể của tế bào gan chứa các enzymes cho phép loại bỏ độc tính của ammonia, đây là chất thải của quá trình chuyển hóa protein Một sự đột biến các gene điều hòa bất cứ các chức năng này đều có thể gây ra nhiều bệnh ty thể khác
nhau
Biến đổi năng lượng
Như miêu tả nêu trên, chức năng cơ bản của ti thể là sản xuất ra ATP Điều này được thực hiện nhờ quá trình chuyển hóa các sản phẩm chính như phân hủy đường, pyruvate và NADH (Phân
Trang 9hủy đường glycolysis được thực hiện ngoài ty thể, trong bào tương) Quá trình chuyển hóa này được thực hiện theo hai con đường khác nhau, tùy thuộc vào loại tế bảo và có hay không có
oxygen
Pyruvate: Chu trình Krebs
Xem chi tiết: Chu trình Krebs
Mỗi phân tử pyruvate được tạo ra từ phân hủy glucose được vận chuyển tích cực qua mạng
trong của ty thể, và vào trong khoan cơ bản, tại đây nó được kết hợp với coenzyme A để tạo
thành acetyl CoA Sau khi được tạo thành,
acetyl CoA sẽ đi vào chu trình Krebs, hay còn gọi là chu trình tricarboxylic acid (TCA) hay là
chu trình axít citric Quá trình này tạo ra 3 phân
tử NADH và 1 phân tử FADH2, tất cả chúng sẽ
tham gia vào chuỗi vận chuyển điện tử
Trong trường hợp có men succinate
dehydrogenase, men này bám vào màng trong của ty thể, thì tất cả các men của chu trình Krebs
sẽ được hòa tan vào khoan cơ bản của ty thể
Trang 10NADH và FADH 2 : Chuỗi vận chuyển điện từ
Xem chi tiết: Chuỗi vận chuyển điện từ
Năng lượng tạo ra từ NADH và FADH2 được chuyển đến oxygen trong các bước của chuỗi vân chuyển điện tử Các phức hợp protein trong lớp màng trong (NADH dehydrogenase,
cytochrome c reductase, cytochrome c oxidase) chúng sẽ thực hiên vận chuyển các năng lương giải phóng đến các bơm proton (H+) để vận
chuyển ngược với chiều gradient (nồng độ của protons trong khoang liên màng thì cao hơn
trong khoang cơ bản) Một hệ thống vận chuyển tích cực (cần năng lượng) sẽ bơm các proton
ngược chiều với hướng vật lý của chúng (theo chiều "ngược lại") từ khoan cơ bản vào khoang liên màng
Khi nồng độ proton tăng lên trong khoang liên
màng sẽ tạo ra một gradient khuyếch tán mạnh
Lối thoát duy nhất cho các proton này đó là qua
con đường tổng hơp ATP Bằng cách vận
chuyển các proton từ khoang liên màng ngược
Trang 11vào lại khoang cơ bản, phức hợp tổng hợp ATP
có thể tạo ra ATP từ ADP và các phosphate vô
cơ (Pi) Quá trình này được gọi là tình trạng
thẩm thấu hóa học (chemiosmosis) và đây là ví
dụ của quá trình khuếch tán hỗ trợ (facilitated
diffusion) Peter Mitchell đã đạt được giải
thưởng Nobel về hóa học năm 1978 với công trình chemiosmosis trạng thái thẩm phân hóa
học Sau đó là giải Nobel năm 1997 được trao cho Paul D Boyer và John E Walker trong việc làm sáng tỏ cơ chế hoạt động của tổng hợp
ATP
Áp dụng trong nghiên cứu di truyền quần thể
Xem chi tiết: di truyền ti thể
Bởi vì trứng sẽ hủy ty thể của tinh trùng để thụ tinh, DNA của ty thể của một cá thể chỉ có
nguồn gốc từ mẹ Còn những gene khác thì
đựoc thừa hường của cả bố lẫn mẹ Do bởi đặc tính di truyền chỉ tử mẹ của DNA ty thể này mà các nhà khoa học về Di truyền quẩn thể và sinh học tiến hóa thường sử dụng số liệu của chuỗi
Trang 12DNA ty thể để rút ra các kết luận vể gene học và
tiến hóa (Xem thêm: Êva ty thể.)
Tuy nhiên các nghiên cứu mới đây đã đặt ra
nghi vấn cho giả thuyết này Kraytsberg và cộng
sự đã chỉ ra rằng các kết hơp vể di truyền ty thể
cũng có thể gặp ở người (Tạp chí Science]]
304:981, May 2004, pubmed #15143273)
Thuyết nội cộng sinh
Xem chi tiết: Thuyết nội cộng sinh
Ty thể là bào quan không như các bào quan bình thường khác bởi vì vó chứa các ribosome và vật chất di truyền riêng cho chúng DNA của ty thể
có dạng vòng và có các đặc tính khác biệt so với
mã di truyền eukaryotic.(giống cấu trúc của
procaryork)
Điều này và các băng chứng tương tự đã hỗ trợ cho thuyết nôi cộng sinh — đó là ty thể có
nguồn gốc từ các thể nôi cộng sinh
endosymbiont prokaryotic Do đó rộng rãi chấp nhận giả thuyết rằng tổ tiên của ty thể hiện đại
Trang 13là vi khuẩn phụ thuộc, chúng cư ngụ bên trong các tiền thân cổ đại của tất cả các hữu thể
eukaryotic (người ta cho rằng ty thể ở
eucaryork có nguồn gốc do sự kí sinh của sinh vật kị khí sống kí sinh)