Nhớ đời thứ sáu Hùng Vương Ân sai hăm tám tướng cường nữ nhung Xâm cương cậy thế khỏe hùng Kéo sang đóng chặt một vùng Vũ Ninh Trời cho thánh tướng giáng sinh Giáng về Phù Đổng ẩn hình h
Trang 1Thăng long Hà Nội trong ca dao ngạn ngữ - 6
Nhà xuất bản Hà Nội - 2002
Giang Quân sưu tầm, biên soạn
(In lần thứ hai có bổ sung, sửa chữa)
Phần 6 - Ca Dao
301 Thứ nhất Hội Gióng, Hội Dâu
Thứ nhì Hội Bưởi, Hội Vó chẳng đâu vui bằng
302 Nhớ xưa đương thuở triều Hùng
Vũ Ninh nổi đám bụi hồng nẻo xa
Trời thương Bách Việt sơn hà
Trong nơi thảo mãng nẩy ra kỳ tài
Lên ba đang tuổi anh hài
Roi ngã ngựa sắt ra oai trận tiền
Một phen khói lửa dẹp yên
Sóc Sơn nhẹ gót thần tiên lên trời
303 Nhớ đời thứ sáu Hùng Vương
Ân sai hăm tám tướng cường nữ nhung
Xâm cương cậy thế khỏe hùng
Kéo sang đóng chặt một vùng Vũ Ninh
Trời cho thánh tướng giáng sinh
Giáng về Phù Đổng ẩn hình hai hay
Mới lên ba tuổi thơ ngây
Thấy vua cầu tướng ngày rầy ra quân
Gọi sứ phán bảo ân cần
Gươm vàng, ngựa sắt đề binh tức thì
Thánh vương khi ấy ra uy
Nửa ngày sấm sét, tứ bề giặc tan
áo thiêng gửi lại Linh San
Thoắt đà thoát nợ trần hoàn lên tiên
Miếu đền còn dấu có viên
Sử xanh bia đá tiếng truyền tự xưa
304 Nhớ xưa thứ sáu đời Hùng
Giặc Ân sang chiếm cả vùng Vũ Ninh
Chúng nó có Thạch Linh thần tướng
Dạ hung tàn chúng nướng dân đen
Vua Hùng sai sứ một phen
Về làng Phù Đổng thuộc miền Tiên Du
Thánh sai gọi sứ vua vào báo:
Họp thợ rào rèn nấu ngựa, roi
Ngựa, roi, áo sắt đúc rồi
Trang 2Ra oai một trận tơi bời giặc Ân
Công Thánh đã cứu dân, cứu nước
Con cúc cung đứng trước đền vàng
Lòng thành chén rượu, uần nhang
Cầu xin rộng lượng Thánh ban phúc lành
305 Trò lên cây gạo cao cao
Bước xuống hội Gióng vui sao vui vầy
Giáo gươm cờ xí trùng trùng
Hằng năm mở hội tưng bừng vui thay
Nhớ xưa Thánh Gióng tích rày
Uy phong rạng rỡ đến nay còn truyền
306 Giáo gươm cờ quạt tưng bừng
Nhác trông uy vũ tưởng chừng năm xưa Anh hùng trí dũng có thừa
Sử vàng bia đá bây giờ là đây
Non xanh nước biếc sánh tày
Danh thơm Phù Đổng xưa nay tiếng truyền
307 Lịch triều có sắc truy phong
Tiếng tăm lừng lẫy khắp trong nước nhà Trước nơi đinh vũ nguy nga
Muôn dân kính chúc hương hoa kính thành Đời đời nổi tiếng anh linh
Tùy dân hộ quốc uy danh rõ ràng
Cúi đầu lạy đức Thiên Vương
Nghìn thu sông Nguyệt, non Thường ghi công
308 Dạo chơi non nước Vệ Linh
Phong cảnh hữu tình để nhớ cho ai
Ngàn tây có dải núi Dài
Có con sông Khốn chảy ngoài nẻo đông
309 Tháng Giêng giỗ Thánh Sóc Sơn
Tháng ba giỗ tổ Hùng Vương nhớ về
310 Bàn Cờ, Trảm Tướng, Cao Tung
Mũi Cày, Đụn Rạ, trùng trùng non cao
Sóc Sơn là ngọn núi nào
Có ông Thánh Gióng bay vào trời xanh
Sông Cà Lồ phía Nam quanh
Uốn quanh trăm khúc như tình đôi ta
311 Nhớ thuở có loạn Tống binh
Đức vua ngự giá thân chinh về làng
Cửa nhà giặc đốt tan hoang
Lợn bò giặc bắt, đường làng vắng tanh
Người người cầu khấn thánh linh
Có Thánh Phù Đổng hiện hình cứu dân
Đôi bên giáp trận ầm ầm
Đầu rơi kín đất, máu đầm cỏ cây
Gươm khua, ngựa xéo, voi giày
Trang 3Giặc như kiến cỏ chúng quay ra hàng
Đức vua ngự giá hồi loan
Đổi tên Bình Lỗ cho làng Vệ Linh
Khao quân mở tiệc linh đình
Tạ từ Thánh Sóc hiển linh giúp vầy
Dựng đền, tạc tượng vào đây
Truyền sai dân chúng tháng ngày khói hương
312 Văn Lang sạch bóng giặc Ân
Nơi đây Thánh Gióng dừng chân gội đầu
Cổ xưa truyền lại có câu
Vùng quê lấy Sọ làm đầu vẻ vang
Nước trong, trong mát như gương
Cổ giếng ghi tích lưu truyền mai sau
Hằng năm rưới nước gội đầu
Dâng lên Thánh Gióng bấy lâu tôn thờ
313 Rủ nhau lên núi Mũi Cày
Xem bàn cờ Thánh, xem cây ngô đồng
314 Núi Sóc ai đắp nên cao
Ngã ba Sà sông ấy ai đào mà sâu?
315 Thôi thôi từ tạ bạn vàng
Cá lui về sông Nguyệt Đức, chim ngược ngàn non Tây
316 Mặt trời nửa đỏ nửa vàng
Khuyên em về Kẻ Sải ăn dưa gang với mình
317 Đất Phú Mỹ, chữ Mỹ là đẹp
Đất Đa Lộc, chữ Lộc là giàu
Em đến đây muốn cho đẹp trước giàu sau
Lửa hương càng đượm, càng lâu, càng bền
318 Tiếc thay con chim phượng hoàng còn dại chưa khôn Núi Vệ Linh chẳng đậu, lại đậu ngàn cỏ may
319 Ba Biều chí dũng gan liền
Tả xung hữu đột, trận tiền chỉ huy
Đạn của giặc tứ vi bắn lại
Biều chẳng may bị phải trọng thương
Khen thay khí tiết kiên cường
Trước khi tắt thở khẩn trương dặn dò:
Khuyên đồng đội đánh cho quyết liệt
Dẫu hy sinh tử tiết không hàng
Dặn xong xuống cõi suối vàng
Nghĩa quân thương tiếc hai hàng châu sa
320 Tòi mòi, chín đỏ chín đen
Con gái Minh Phú hay ăn tòi mòi
Nước sông đổ lẫn nước ngòi
Con gái Minh Phú cầm roi dạy chồng
Trang 4321 Ai về thăm huyện Đông Anh
Ghé xem phong cảnh Loa Thành Thục Vương
Cổ Loa hình ốc khác thường
Ngàn năm dấu vết chiến trường còn đây
322 Ai về qua huyện Đông Anh
Ghé xem phong cảnh Loa Thành Thục Vương
Cổ Loa thành ốc khác thường
Trải bao năm tháng nẻo đường còn đây
323 Ai về qua huyện Đông Ngàn
Ghé thăm thành ốc rùa vàng tiên xây
Căm hờn Giếng Ngọc tràn đầy
Máu pha thành lũy, ngàn cây bóng tà
324 Cổ Loa là đất đế kinh
Trông ra lại thấy tòa thành tiên xây
325 Thứ nhất là hội Cổ Loa
Thứ nhì hội Gióng, thứ ba hội Tràm
326 Bao giờ lấp ngã ba Chanh
Để ta gánh đá xây thành Cổ Loa
327 Sinh ra trên tổng Đông Ngàn
Không ham vật võ khó làm thân trai
328 Ai về Đào Xá vui thay
Xóm Bắc có Chợ, xóm Tây có chùa
Xóm Đông có miếu thờ vua
Xóm Nam có bến đò đưa dập dìu
329 Đồn rằng chợ Bỏi vui thay
Đằng đông có miếu, đằng tây có chùa
Giữa chợ lại có đền thờ
Dưới sông nước chảy đò đưa dập dìu
330 Nước Đào Thục vừa trong vừa mát Đường Đào Thục bốn góc bàn cờ
Đẹp hơn phường phố kinh đô
Đẹp như một bức bản đồ trong tranh
331 Đánh giặc thì đánh qua sông
Đừng đánh qua đồng nát lúa người ta
Đánh giặc thì đánh qua Sà
Đừng đánh qua Nhội nát nhà Kẻ Giâm
332 Đông Đồ là Đông Đồ Đoài
Ăn cơm thì ít, ăn khoai thì nhiều
333 Cơm nắm ăn với muối vừng
Lấy chồng Hà Thiết xin đừng chê đen
Một năm ba cái lụt liền
Trang 5Lấy gì làm thú giải phiền chàng ơi!
324 Còn ai đem bỏ chùa này
Nam mô Di phật, con thày, thày thương
325 Trách người quân tử bạc tình
Chơi hoa lại nỡ bẻ cành bán rao
326 Tiếc thay hạt gạo trắng ngần
Đã vo nước đục lại vần than rơm
337 Lạy trời cho cả gió lên
Cho cờ vua Bình Định bay trên kinh thành
338 Nhong nhong ngựa Ông đã về
Cắt cỏ Bồ Đề cho ngựa Ông ăn
339 Chàng về Hồ, thiếp cũng về Hồ Chàng về Hồ Hán, thiếp về Hồ Tây
340 Chỉ vì có bà chúa Tây
Để cho kẻ Dựa mang dây buộc đùm
341 Trạng chết Chúa cũng băng hà
Dưa gang đỏ đít thì cà đỏ chôn
342 Hễ ai mà nói dối ai
Tối ba mươi tết Ba Giai vào nhà
343 Đục cùn thì giữ lấy Tông
Đục long Cán gẫy còn mong nỗi gì!
344 Sự đời chỉ tại Bà chúa Chè
Cho nước Chúa mất, cho nghè làng xiêu
345 Kẻ nào có tội mấy đời
Ra đường gặp phải cậu Trời bắt đi
346 Cậu Ba kẻ Gióng kia ơi
Sao chẳng ở lại mà chơi kinh kỳ
347 Trăm quan có mắt như mờ
Để cho Huy Quận vào sờ chánh cung
348 Đống Đa ghi để lại đây
Bên kia Thanh Miếu bên này Bộc Am
349 Quý Tị giữa ngày mồng Năm
Giờ Dần chính nguyệt ầm ầm huyên hoa Một chi đánh ở Đống Đa
Cầu Duệ kéo xuống, tốt xa muôn phần Phép voi bại trận tiên phong
Cầu Tương sụt cả xuống sông Bồ Đề
Trang 6Đao binh tử trận đầy khe
Dọc đường giáo mác nằm kề năm năm Điền Châu Thái thú đảm đương
Liều mình tử trận chiến trường nên công Trận vây ở trong Nam Đồng
Rạng ngày mồng Sáu cờ dong lai hàng Vua ban sứ bộ tiếp sang
Quan tài phong kín đón đường kéo ra Con con cháu cháu hằng hà
Mừng lấy được xác Điền Châu đem về Tướng tài can đảm cũng ghê
Làm đền phụng sự tức thì Đống Đa
350 Quận ông đã tiến về đây
Quận Cồ nức tiếng đông tây khắp vùng
351 Đời vua Thánh Tổ, Thánh Tông Cơm nguội đầy nổi trẻ chả buồn ăn
352 Ung dung gậy trúc chống đi
áo chùng chấm gót, mũ ni che đầu
Cụ ơi, cụ sắp đi đâu?
Ra đình Yến lão tiệc chầu vua ban Cháu ơi, cháu chơi cho ngoan
Cụ về có gói phần ban chia đều
Ơn vua ít cũng như nhiều
353 Long Thành bao quản gió mưa Cửa Ô Quan Chưởng bây giờ còn đây
354 Bao giờ lúa mọc trên chì
Voi đi trên giấy, Tây thì về Tây
355 Tầu cười, Tây bước, Nhật lo
Việt Nam độc lập chết co đầy đường
356 Ba con đổi lấy một cha
Làm cho thiên hạ xót xa vì tiền
357 Con ơi đừng khóc mẹ sầu
Cha con đốt lửa dưới tàu Long Môn Bao giờ con lớn con khôn
Thì con lại xuống Long Môn con làm Làm việc từ sáng đến đêm
Máu say vì lửa, mặt hoen than dầu
358 Nghĩ xem cái nước Nam mình Tây sang bảo hộ tài tình đến đâu? Nghĩ xem tiền của ở đâu
Đưa ra mà bắc được cầu qua sông Chả hay tiền của của chung
Đưa ra mà bắc qua sông Bồ Đề
Bắc cho thiện hạ đi về
Trang 7Những cột dây thép khác gì nhện chăng Tưởng rằng anh Pháp nghĩa nhân
Chả hay lấy của dân Nam làm giàu Tưởng rằng bảo hộ cho nhau
Chả hay đánh mắng ra màn coi khinh Cũng giang sơn cũng triều đình
Thế mà nước mất dân tình lầm than
Lo sưu, lo thuế đã cam
Nay kinh, mai lính, gian nan mịt mù Dân thì phải thợ, phải thu
Tỉnh thành đặt chốn lao tù cấm ngăn Một năm biết mấy lần liền
Nay thuế quốc trái, mai thu quốc phòng Những quân vui thú nức lòng
Đua nhau ăn bẩn như muông khác gì Nước khô rồi nước lại hồi
Còn trời, còn đất, còn nòi giống ta
359 Cầu sắt mà bắc ngang sông
Chàng ơi sang tỉnh mà trông chẳng lầm
Hà Nội bắc sang Gia Lâm
Tính cây lô mét độ năm cây tròn
Họa hình Tây bắc ống nhòm
Ngắm đi ngắm lại xem còn cong không Giở về hội nghị cộng đồng
Đến năm Mậu Tuất khởi công bắc cầu
Mộ phu khắp cả đâu đâu
Xây từ ái Mộ bắt đầu xây ra
Bắc qua con sông Nhị Hà
Chia khoang làm nhịp, mười ba cột vừa Lập mưu xây được bây giờ
Chế ra cái chụp để mà bơm lên
Bơm hết nước đến bùn đen
Người chết như rạ vẫn phải len mình vào
Vỡ bơm nước lại chảy vào
Chết thì mặc chết ai nào biết không Mỗi giờ thuê có một đồng
Xi măng với đá, dây dòng xuống xây Đóng phà, đóng cột, cắm cây
Xây trên buông xuống thành n_ chân cầu Bây giờ đục sắt bắc cầu
Cột ngang, cột dọc, đường tàu song song Bắc từ Dốc Gạch bắc sang
Chính giữa đường sắt làm đường tàu đi Đôi bên nhịp sắt chữ chi
Bên đi, bên lại chớ hề gặp nhau
Còn hai bên cạnh rìa cầu
Sắt chằng hoa thị đi cầu không kinh Hai vì đèn máy sáng tinh
Ai đi đến đấy có xinh chăng là
Kẻ đi người lại hằng hà
Trang 8Mưu kia nào kiệt tính đà cũng thông
Bề khoát tàu chạy bên trong
Khoát vừa ba thước đủ dùng không hơn Đường ô-tô chạy rập rờn
Cũng khoát thước rưỡi đường trơn phẳng lì Còn đường của An Nam đi
Khoát hơn nửa thước vậy thì tính sao Bây giờ kể đến bề cao
Cao hơn mười thước ai nào biết không Làm xong Tây tính tiền công
Lập mưu, lập kế trả công chẳng rành Chế ra giấy bạc dâu xanh
Trừ tiền giấy bút hết toanh dăm đồng Tiền công chẳng đáng tiền công
Kẻ còn, người mất mà lòng xót thay! Hội cầu năm ấy vui vầy
Nhớ ngày hăm mốt tháng hai, công hoàn
360 Hôm nay thứ sáu mình ơi
Ngày mai thứ bảy phiên tôi lục xì
361 Hôm nay thứ bảy mình ơi
Ngày mai chủ nhật đi chơi Bờ Hồ
362 Có tiền xuống xóm K.T
Khao nhau chầu hát, sướng mê mẩn đời Đốc Sao, nhà ấy mà chơi
ả đào xinh đẹp, lại người hát hay
363 Tối thì đẹp tựa tiên sa
Ngày nom rũ rượi như gà phải mưa
Báu gì hương chạ hoa thừa
Chẳng thà chẵn lẻ Hai Cua cho rồi
364 Quan viên ba bẩy quan viên
Chém cha cái loại lấy tiền vung văng Cầm chầu roi trống vụt sằng
Say tỉnh nhập nhằng, rờ mó hơn ma
365 Đừng mê ăn trắng mặc trơn
Lầu xanh gác đỏ cung đờn nhớp tai
Tim lam xắng téng, giang mai
Bùn tanh Cống Trắng chừa ai bao giờ
366 Nước Liên Hoa chảy ra Cống Trắng Khói ả phiền lẵng nhẵng theo sau
Đầu quan gối vể ả đào
Ro ro dọc tẩu áp vào môi thâm
367 Anh ơi trời đã nhá nhem
Đừng qua lối xóm Khâm Thiên rách quần
368 Canh khuya nghe khúc Tì Bà
Trang 9Tửng tưng đàn đáy, tim già cũng tung
369 Nửa đêm xenh phách đổ rền
Hà Đông sư tử gầm lên phốc vào
Quan ông râu vểnh bên đào
Dúm co bốn cẳng bổ nhao ra đường
370 Đài Khâm Thiên giám ở đâu
Đến đây chỉ thấy cô đầu hóng quan
371 Cô đầu, cô đít, cô đuôi
Bố tôi sạt nghiệp ai nuôi cô đầu
372 Trên trời có ông sau dâu
Hạ giới cô đầu có cái lưỡi gà con
Nhà nho có cái đục cùn
373 Chị dại đã có em khôn
Lẽ đâu mang giỏ thủng chôn đi mò
Em khôn, em ở trong bồ
Chị dại, chị ở kinh đô mới về
- Kinh đô thì mặc Kinh đô
Chị đi cho lắm thì đồ chị tan
374 Kinh đô cũng có người rồ
Man di cũng có sinh đồ, trạng nguyên
375 Em đây như chiếc chuông vàng
Trên tỉnh Hà Nội ba ngàn quân canh!
- Anh đây là lính xứ Thanh
Ra tỉnh Hà Nội, lên thành thử chuông!
376 Mình em nào hột, nào hoa
Hột vàng đeo cổ, xe nhà nghênh ngang
Mẹ em dọn chõng bán hàng
Nhặt từng đồng kẽm còn sang nỗi gì
Mà em bắc bậc kiêu kỳ
Thân em có đáng đồng chì hay không?
377 Thành Hà Nội năm cửa chàng ơi
Sông Nhị nước chảy phân đôi một dòng
Đôi ta chua ngọt đã từng
Thành cao, sóng mạnh cũng xin đừng quên ai
378 Từ khi Tự Đức lên ngôi
Võ đường Thiệu Trị vỡ đôi năm liền
Mong cho thiên hạ lòng thuyền
Trong làng lại có chiếc thuyền đi qua
Vỡ từ cửa ô Yên Hoa
Nhật Tân, Quảng Bá vỡ ra Tây Hồ
Thụy Phương trôi mất mả mồ
Kẻ Vòng, kẻ Cót xôi đồ làm ăn
Kẻ Trôi, kẻ Gối, kẻ Đăm
Trang 10Nước vào đến vách biết nằm nơi nao
Giời làm cả huyện lao đao
Ăn đói nhịn khát những đau ruột rà
Mong cho nước xuống nước ra
Để mà buôn bán gần xa trong đồng
Để mà tính chuyện canh nông
Mắt nhìn dòng nước mênh mông mong hoài Thòm thòm trống điểm canh hai
Nửa đêm gà gáy mười hai tháng thừa
379 Giời làm sóng lở cát bay
Cho tớ bỏ thày cho mẹ bỏ con
Cửa nhà trôi mấ chẳng còn
Vợ chồng cõng bế đàn con lên chùa
Năm nay nạn nước ơn vua
Quan trên phát trẩn ở chùa Tây Phương Giời làm một trận lỡ đường
Cho nên mới biết Tây Phương thế này Giời làm sóng lở cát bay
Quan trên phát trẩn mỗi ngày hai ca
Đàn ông cho chí đàn bà
Rạng ngày hăm tám đi ra mà về
Quan Tuần, quan án ngồi nghĩ cũng ghê Thuê n_ hai chiếc thuyền về đình chung Giàu cùng, khó lại chẳng cùng
Ai ơi còn cậy anh hùng làm chi
Sinh ra nước lụt làm gì
Giàu thì bán ruộng, khó thì bán con
Nghèo thì bán cả nồi cấn lẫn lon đựng cà
Có thì bán cửa bán nhà
Nghèo bán đứa bé lấy ba bẩy hào
Em ngồi em nghĩ xôn xao
Kẻ lên Tứ Mỹ, kẻ vào Sơn Đông
Kỳ này thì vợ bỏ chồng
Chồng lại bỏ vợ kẻ Đông, người Đoài
Người thì buôn sắn, người lại buôn khoai Người thì buôn mía dông dài quàng xiên Gạo hơn nhưng chẳng có tiền
Cho nên phải xách tổ tiên đi cầm
Nghèo thì bán bát, bán mâm
Giàu thì đi cố, đi cầm ruộng nương
Có thì bán sập, bán giường
Đói quá bán cả giá hương, long bài
Nhà giàu tích lúa lên hai
Để cho nhà khó đến nài chẳng cho
Đến khi lúa tốt được mùa
Ruộng cạn, má úa có nhờ nhau không! Giời làm một cạm thâm đông
Gặp cơn gió bấc sạch không làu bàu
Ai ngờ ngã bỡn mà đau
Tháng mười nước lại ở đâu mới về
380 Con cò mày đậu cành tre
Trang 11Thằng Tây bắn súng cò què một chân Đến mai ra chợ Đồng Xuân
Chú khách mới hỏi sao chân cò què
Cò rằng cò đậu cành tre
Thằng Tây bắn phải cò quà một chân
381 Đầu thì đội nón mõm bò
Chân đạp mặt đất, tay gò càng xe
382 Ai đưa tôi đến chốn này
Bên kia nhà xác, bên này nhà điên
383 Ai đưa em đến chốn này
Bên kia tòa án, bên này đề lao
Từ ngày mắc bệnh đề lao
Tin ra thì có, tin vào thì không
Mỗi ngày hai nắm cơm con
Dăm ba hạt muối đổ dồn xuống mo
Ăn xong chẳng được nói to
Hai tay cắp gáy lò dò đứng lên
Ăn xong thì xếp vào bên
Bà đầm vào điểm mới nên cơ hàn Cửa bằng sắt, khóa bằng đồng
Ai vào cứu giúp bế bồng tôi ra
384 Bao giờ trục mọc quanh thành Cha con nhà Nguyễn tan tành như tro
385 Bao giờ ngựa đá qua sông
Cha con nhà Nguyễn bế bồng nhau đi
386 Nguyễn ra rồi Nguyễn lại về Chúa Trịnh mất nước, vua Lê hãy còn Đầu cha lấy làm thân con
Mười bốn năm tròn, hết số thì thôi
387 Nhất thì bộ Lại, bộ Binh
Nhì thì bộ Hộ, bộ Hình cũng xong Thứ ba thì đến bộ Công
Nhược bằng bộ Lễ, lạy ông xin về
388 Bộ Binh, bộ Hộ, bộ Hình
Ba bộ đồng tình bóp vú con tôi
389 Văn thì cửu phẩm là sang
Võ thì tứ phẩm còn mang gươm hầu
390 Đốc Hà áo gấm áo hoa
Mẹ tôi váy đụp đã ba bốn tầng
391 Cha đời lính tẩy, lính Tây
Hễ trông thấy gái giở n_ xì xồ
Một tháng sáu phiên chợ Đơ