Ai ơi đứng lại mà trông Kìa vạc nấu đó, kìa sông đãi bìa Kìa giấy Yên Thái như kia Giếng sâu chín trượng nước thì trong xanh Đầu chợ Bưởi có điếm cầm canh Người đi kẻ lại như tranh họa đ
Trang 1Thăng long Hà Nội trong ca dao ngạn ngữ - 5
Nhà xuất bản Hà Nội - 2002
Giang Quân sưu tầm, biên soạn
(In lần thứ hai có bổ sung, sửa chữa)
Phần 5 - Ca Dao
200 Bao giờ hết chủ Hồ Tây
Vét sông Tô Lịch có ngày ấm no
201 Thứ nhất là tội đeo gông
Thứ nhì đất Gưởi nằm không có màn
202 Làng Vòng bán lợn, bán gà
Làng Thụy nấu rượu la đà cả đêm
203 Yên Phụ buôn bán dưới thuyền
Xuống đò Phố Mới bán than quạt trà
204 Giếng Yên Thái vừa trong vừa mát
Đường Yên Thái gạch lát dễ đi
Em về bên ấy làm chi
Nước giếng thì đục, đường đi thì lầy
205 Yên Thái có giếng trong xanh
Có đôi cá sấu ngồi canh đầu làng
Ai qua nhắn nhủ cô nàng
Yêu nhau xin chớ phũ phàng đổi thay
206 Nước Hồ Tây vừa trong vừa mát
Đường chợ Bưởi lắm cát dễ đi
Cô kia bóng bẩy làm chi
Để cho anh ấy đi đi về về
207 Chợ Bưởi một tháng sáu phiên
Rủ nhau đi chợ nên duyên đèo bòng
Ngày tư, ngày chín em mong
Buồng cau, con lợn bận lòng anh lo
208 Chợ Bưởi ngày chín, ngày tư
Riêng một tháng tám lại dư phiên rằm
Ai ơi nhớ lấy kẻo nhầm
Đi mua hoa quả chơi rằm trung thu
209 Nhất vui là chợ Ma Phường
Lắm hàng mọi chốn tìm đường đến mua
Trang 2Hàng cau, hàng quít, hàng dừa
Hàng mơ, hàng mận, hàng dưa, hàng hồng
Ai lên Yên Thái mà trông
Trẻ già trai gái vợ chồng dắt nhau
210 Làng Nghè lập được trống quân
Ngoài Bưởi seo giấy cho dân học hành
211 Đêm qua bóc uốn một mình
Nghe hơi sương xuống nhớ tình nhân xưa Tình nhân xưa bây giờ xa vắng
Nỗi mong chờ cay đắng riêng em
Than ôi tăm cá, bóng chim
Biết đâu đường lối mà tìm hỡi ai!
212 Tàu seo nước giá như đồng
Tay đưa liềm giấy mà lòng nhớ ai
Nhớ người tuổi ngoại đôi mươi
Da xanh mai mái miệng cười đưa duyên
213 Mong cho chóng đến vụ hè
Tàu seo nghỉ việc em về với anh
Cùng nhau gánh đá xây thành
Trăm năm gìn giư xmối tình đôi ta
214 Mong cho chóng đến vụ hè
Tàu seo nghỉ việc anh về với em
Cùng nhau xe chỉ mài kim
Tình kia khâu lại cho thêm chắc bền
215 Người ta bán vạn, buôn ngàn
Em đây làm giấy cơ hàn vẫn tươi
Dám xin nho sĩ chớ cười
Công em khó nhọc, giấy người viết thơ
216 Người ta đúc tượng làm chùa
Còn em làm giấy bốn mùa chẳng ngơi Dám xin sư bác chớ cười
Vì em làm giấy cho người chép kinh
217 Giã nay rồi lại gia xmai
Đôi chân tê mỏi, đó ơi vì mày
Seo đêm rồi lại seo ngày
Đôi tay nhức buốt vì mày giấy ơi!
218 Ai ơi đứng lại mà trông
Kìa vạc nấu đó, kìa sông đãi bìa
Kìa giấy Yên Thái như kia
Giếng sâu chín trượng nước thì trong xanh Đầu chợ Bưởi có điếm cầm canh
Người đi kẻ lại như tranh họa đồ
Cổng chợ có miếu thờ vua
Đường cái chính xứ lên chùa Thiên Niên
Trang 3Chùa Thiên Niên có cậy vọng cách
Chùa Bà Sách có cây đa lông
Cổng làng Đông có cây khế ngọt
Con gái Kẻ Cót thì đi buôn xề
Con trai làng Nghè dệt cửi kéo hoa
An Phú nấu kẹo mạch nha
Làng Vòng làm cốm để mà tiến vua
Họ Lại làm giấy sắc vua
Làng Láng mở hội kéo cờ hùng ghê
219 Tiếng đồn con gái Nghĩa Đô
Quanh năm làm giấy cho vua được nhờ
220 Ai ơi mua đó khó lòng
Không đi lên ẻn thì mong mỗi gì!
221 Trèo lên cây gạo cao cao
Kìa vạc nấu đó, kìa ao dặm bìa
222 Nàng về buôn bán cho ngoan
Để anh giã giấy lấy quan tiền dài
223 Anh về đi học cho ngoan
Để em cửi vải kiếm quan tiền dài
224 Nhịp chày giã đó nhặt thưa
Đèn le lói sáng lòng ngơ ngẩn buồn Nhớ ai mê mẩn tâm hồn
Thương ai mong đợi mỏi mòn tháng năm
225 Hỡi cô thắt lưng bao xanh
Có về Cầu Giấy với anh thì về
Làng Giấy có lịch có lề
Có sông tắm mát, có nghề xeo, can Tay can lòng những nhủ lòng
ở đây ấm áp lạnh lùng thương ai
Đường trần nay ngược mai xuôi
Gió hôm sương sớm ngậm ngùi một thân
226 Thương người dãi nắng dầm mưa Cho em cây đó, em đưa miếng trầu Trầu này đệm với vôi tầu
Ăn dăm ba miếng kẻo rầu lòng em
227 Rủ nhau mua nứa trên Trừm
Bơi qua bãi cát mới đem về nhà
Đem về mới đến bãi ta
Rỡ xong mới vác về nhà mới cưa
Mồ hôi lã chã như mưa
Cưa rồi mới thiến, thiến rồi mới pha Ngồi rồi lại vót nan ra
Tính xem vốn lại được là bao nhiêu
Trang 4228 Phủ Hoài Đức có làng Tây Mỗ
Đất phì nhiêu dân số cũng đông
Tám trăm tám tám đàn ông
Sáu trăm tám sáu mẫu đồng tốt tươi Kiểu danh thắng lắm nơi đáng kể
Trước sóng đào sau kế ao sen
Bồ Đề, Cống Hạnh, Cầu Tiên
Đình trên lưng cá nằm nghiêng giữa làng Đồng cao thấy miên man gò đống
Làng tròn xoe, đất rộng của nhiều
Bán buôn thịnh nhất nghề thêu
Học hành ai cũng có điều đáng khen
229 Đi đâu mà chẳng biết ta
Ta ở kẻ Láng vốn nhà trồng rau
Rau thơm, rau húng, rau mùi
Thì là, cải cúc, đủ mùi hành hoa
Mồng tơi, mướp đắng, ớt, cà
Bí đao, đậu ván vốn nhà trồng nên
Anh giúp em đôi quang tám dẻ cho bền Mượn người lịch sự gánh lên kinh kỳ Gánh lên chợ Mới một khi
Mong cho đến chợ em thì nghỉ ngơi
Cậu cai phát vé vừa rồi
Một lúc lại thấy cậu bồi ra mua
Củ hành em bán một xu
Củ cải hai rưỡi, tính xu lấy tiền
Người hiền ra bán của hiền
Nào em có dám cửa quyền cậu đâu
Bán hàng mắt trước mắt sau
Kìa thằng đội xếp đứng đầu Hàng Ngang
230 Đầm Đại Từ hoa sen thơm ngát Giếng Đại Từ nước mát trong xanh
Dòng Tô uốn khúc lượn quanh
Đất nuôi trẻ nhỏ lừng danh trong ngoài
231 Sông Tô nước chảy quanh co
Phạm Công hiển hóa, âm phò quốc vương
232 Hỡi cô đội nón quai thao
Đi qua Thanh Liệt thì vào làng anh
Làng anh Tô Lịch trong xanh
Có nhiều vải, nhãn ngon lành em ăn
233 Hỡi cô mà thắt bao xanh
Có về Kim Lũ với anh thì về
Kim Lũ có hai cây đề
Cây cao bóng mát gần kề đôi ta
Tình sâu không quản đường xa
Nhà anh cao rộng cũng là nhà em
Nhà anh có con sông êm
Cho em tắm mát những đêm mùa hè
Trang 5234 Mình từ làng kẹo mà ra
Nên mình nói ngọt cho ta phải lòng
235 Vua Ngô ba mươi sáu tàn vàng
Chết xuống âm phủ chẳng mang được gì Chúa Chổm uống rượu tì tì
Chết xuống âm phủ khác gì vua Ngô
236 Nhật trình từ Ráy đến ô
Bây giờ ta kể duyên do các làng
Tứ Kỷ đó rõ ràng
Trông lên lại thấy một làng Pháp Vân Trông xa rồi lại trông gần
Đại Từ trước mặt, sau lưng Linh Đường Vang lừng chợ Sét một bên
Qua cầu lại thấy bên trên có chùa
Kẻ đi người lại như đua
Kẻ đi ghé nón, người vô cúi đầu
Nhác trông làng Tám càng màu
Thiên thanh con lục, địa đầu Tam Giang
237 Đồn rằng Văn Điển vui thay
Ngoài phố chợ họp năm ngày một phiên Tàu qua phố dưới, phố trên
Đình thì ở giữa hai bên rặng bàng
Làng Mơ cất rượu khê nồng
Làng Vọng dệt gối, chăn tằm làng Mui
Kẻ Giả thì bán bùi nhùi
Làng Lê bán phấn cho người tốt da
Kẻ Vọng khéo ngọc, khéo ngà
Đưa đem đi bán cho nhà kẻ sang
Kẻ Lủ thì bán bỏng rang
Trên Ô hàng Đậu lắm hàng nhiều thay Ngâu, Tựu thì bán dao phay
Dù đem chặt nứa gẫy cây lại liền
Trong kho lắm bạc nhiều tiền
Để cho giấy lại chạy liền với dây
238 Làng Quang dưa, vải khắp đồng Ngô khoai khắp ruộng, nhãn lồng xóm Văn
239 ớt cay là ớt Định Công
Nhãn ngon là loại nhãn lồng làng Quang
240 Làng anh rặt thợ kim hoàn
Để anh đánh nhẫn cho nàng đeo tay
241 Ai về Khương Hạ, Đình Gừng
Dưa chua, cà muối, xin đừng quên nhau
Dù ai buôn đâu bán đâu
Cũng không bỏ được cống Ngâu chợ Chùa
Trang 6242 Vải ngon thì nhất làng Bằng
Khắp thành Hà Nội hỏi rằng đâu hơn
Củ đậu Bằng Thượng thiếu gì
Dưa hấu Bằng Hạ đâu bì được chăng
243 Thanh Trì có bánh cuốn ngon
Có gò Ngũ Nhạc có con sông Hồng
Thanh Trì cảnh đẹp người đông
Có cây sáo trúc bên đồng lúa xanh
244 Làng Đam bán mắm tôm xanh
Làng Họa đan dó, làng Tranh quay guồng
Đông Phù cắp thúng đi buôn
Đông Trạch bán thịt, làng Om văn thừng
Tương Trúc thì giỏi buôn sừng
Tự Khoát đan thúng, Vẹt từng làm quan
245 Làng Đam thì bán mắm tôm
Làng Họa đan dó, làng Om quấn thừng
Tương Trúc làm nghề lược sừng
Tự Khoát đan thúng, Vĩnh Trung làm giành
246 Nôi Am là chính quê em
Bện thừng, đẽo guốc đã quen lắm rồi
Lại còn nổi tiếng khắp nơi
Làm bánh mứt kẹo ăn chơi tết, rằm
247 Đất ta là đất làm thừng
Trăm chắp nghìn nối xin đừng quên nhau
248 Đẹp nhất con gái làng Tranh
Chua ngoa Kẻ Nhót, ba vành Kẻ Om
249 Quê hương nghĩa nặng tình sâu
Thấy hoa gạo đỏ rủ nhau cùng về
250 Anh về Hạ Thái, Đông Phù
Ghé vô Bình Vọng thì cho em về
Xa xôi đường sá chẳng nề
Yêu anh tài sắc vì nghề thợ sơn
251 Đông Phù có sông Tô Lịch
Có con người lịch họa phượng, họa rồng
Yêu nhau chẳng quản đèo bòng
Cách mười sông, chín núi cũng một lòng theo anh
252 Ai về chợ Nhót mua tranh
Mua hàng quả hộp, mua hoành sơn son
Mua con người lịch đẹp giòn
Múa tay thảo nét trúc vờn, điều bay
253 Trèo lên cây gạo cao cao
Lệ cheo làng Nhót độ bao nhiêu tiền?
Trang 7Cheo thời có bảy quan hai
Lệ làng khảo rể trăm hai mươi vồ
Thôi thôi tôi giã ơn cô
Tiền cheo cũng nặng, trăm vồ cũng đau
254 Em còn đi cấy làm chi
Có nón có áo cắp đi theo thuyền
Ông trời đã kết nhân duyên
Em ơi về Hữu xuống thuyền với anh
255 Nhuệ giang nước chảy quanh co Nào ai xuôi ngược con đò em đưa
256 Nhất ngon là mía Lam Điền
Trai khôn kẻ Tó, gái hiền Từ Trung
257 Em là con gái Kẻ Ngâu
Em đi buôn chỉ dãi dầu sớm hôm
Cái khăn vuông thâm nửa đội, nửa cầm Khăn đội rơi mất, khăn thân lập lờ
Anh ơi nhặt giúp em nhờ
Công anh nhặt giúp bao giờ cho quên Anh quên, em chẳng cho quên
Anh nhớ, em nhớ mới nên vợ chồng
258 Bún ngon bún mát Tứ Kỳ
Pháp Vân cua ốc đồn thì chẳng ngoa
259 Muốn ăn chiêm quýt mùa ri
Đem con mà gả nhân nghì Huỳnh Cung
260 Yên Ngưu đất thực là ương
Kẻ nấu rượu lậu, người tương đó mà
261 Rượu ngon xưa vốn nghề nhà
Hoàng Mai, Vọng Thủy không qua rượu Vồi
262 Em là con gái Kẻ Mơ
Em đi bán rượu tình cờ gặp anh
Rượu ngon chẳng quản be sành
áo rách khéo vá hơn lành vụng may
Rượu lạt uống lắm cũng say
Người khôn nói lắm hết hay hóa nhàm
263 Làng Mui thì bán củi đồng
Nam Dư mía mật giầu lòng ăn chơi
Thanh Trì buôn bán mọi nơi
Đồng Nhân, Thúy ái là nơi chăn tằm
Làng Mơ thì bán rượu tăm
Sở Lờ cua ốc quanh năm đủ đời
264 Sở Mui chẳng khác Sở Lờ
Quanh năm cua ốc, be bờ, đắp mương
Trang 8Sống ngâm thịt chết ngâm xương
Trời ơi có biết trăm đường cực không!
265 Kẻ Mui anh đã biết chưa
Đàn ông vác nặng be bờ, đắp truông
Mẹ em đẻ em trong buồng
Về sau em lớn quay guồng ươm tơ
266 Huyện Thanh Trì kia làng Thịnh Liệt Đồn cá rô Đầm Sét là ngon
Bấy lâu cạn nước trơ bùn
Biết rằng hương vị có còn như xưa
267 Nhất trong là nước giếng Hồi
Nhất béo nhất bùi cá rô Đầm Sét
268 Kẻ chơi một huyện Thanh ?Trì Mọc thì gạo xáo, Láng thì trồng rau Đình Gừng bán cá đội đầu
Định Công đan gối, Lủ Cầu bánh trong
269 Mỗi năm vào dịp xuân sang
Em về Triều Khúc xem làng hội xuân Múa cờ, múa trống, múa lân
Nhớ ai trong hội có lần gọi em
270 ở giữa Văn Quán, Phùng Khoang
Có làng công nghệ là làng Đơ Thao
Tơ thanh, sợi óng, chỉ màu
Nón thúng đã đẹp, quai thao lại bền
271 Ai mang chiếc nón quai thao
Để anh thương nhớ ra vào khôn nguôi
272 Nón em đang đội trên đầu
Anh mà giật mất dạ sầu em thay
Lấy gì mà đội hôm nay
Anh mua nón khác, nón này em xin Nón em chả đáng đồng tiền
Chưa kết được bạn chưa yên cửa nhà Nón em mua ở tỉnh xa
Mua ở Hà Nội quan ba mươi đồng
Trở về gặp khách má hồng
Sao anh ăn ở ra lòng thờ ơ
Mua nón, em phải mua tua
Nón này thày mẹ em mua rành rành Nhẽ đâu em để cho anh
Về nhà mẹ mắng, em đành bảo sao
273 Nón này Hà Nội làm ra
Mang lên tỉnh Bắc thêu hoa rõ ràng
Vợ chồng đồng tịch đồng sàng
Mà chàng bắt nón em ngang giữa đường
Trang 9Để mà nắng gió hôm nay
Má hồng em nhạt thế này chàng ơi
Bây giờ chàng giả nón tôi
Tôi đội cái nón che đôi má hồng
Bao giờ kết nghĩa vợ chồng
Thì chàng lại được má hồng tốt tươi
274 Nghĩ cảnh sống làng ta mà chán
Nợ bề bề, ruộng bán không trôi
Năm nay tết đến nơi rồi
Chủ Hàng Bồ sắp cho người về thăm Người năm chục kẻ một trăm
Bấm tay nợ phải đến dăm ba nghìn
275 Làng tôi công nghệ đâu bằng
Là làng Triều Khúc ở gần Thanh Xuân Quai thao tết khéo vô ngần
Là nghề của Vũ sứ thần dạy cho
Tóc rối, lông vịt, mã cò
Bán ra ngoại quốc cũng to mối lời
Khăn san kiểu lối tân thời
Cấy tua chân chỉ mọi người đều tinh Tua cờ nhà đạo, nhà binh
Bán ra Hà Nội, Huế, Vinh, Sài Gòn
Chân chỉ hạt bột y môn
Chỉ tơ, chỉ gốc, lại còn chỉ thêu
Dây đàn, dây rút thật nhiều
Chỉ quả chữ thọ có điều tinh thông
Khéo thay những dải kim tòng
Được bằng thưởng nhất Hà Đông bảo tàng Phu-la, tơ lụa, đăng ten,
Tiêu thụ các xứ bán buôn thật nhiều Buồng chơi dùng đệm lông cừu
Hỏi thăm Triều Khúc có nhiều tài hoa Thắng đai ngựa, chổi lông gà
Thắt lưng, khăn mặt người ta thường dùng Len đan mũ trẻ ít công
“Tích-cô” dệt máy dùng trong mùa hè Hoa bằng lông vịt mới kỳ
Giỏ đựng ấm tích bằng tre khéo làm Nghề kẹo mạ, thợ kim hoàn
Nghề nào cũng giỏi khôn ngoan ai tày Quai úi dết, sợi giày tây
Vẽ tranh sơn thủy dùng bày phòng chơi Hơn ba mươi nghệ tân thời
Sĩ, nông, công, cổ mọi người đều hay Nghề nào cũng khéo chân tay
Nhất thân vinh hiển buổi này cạnh tranh
Đơ thao Triều Khúc rành rành
Tiếng khen công nghệ nổi danh Bắc Kỳ
276 Ai về Yên Xá thì về
Có ao tắm mát có nghề thêu ren
Trang 10277 Mấy ông quan huyện Thanh Trì
Khéo khôn: mỡ lấy, xương bì ông không
Lỗ lãi ông đắn sâu nông
Được lời ông lấy, lỗ không thèm nhìn Kiện cáo vài lạng làm tin
Của cải ông vét ông tìm ở đâu
278 Ông quan ở huyện Thanh Trì
Miếng mỡ thì lấy, miếng bì thì chê
279 Gia Lâm có đất Cổ Bi
Muôn đời cảnh đẹp còn ghi rành rành Chín mươi chín núi chung quanh
ở giữa hồ tả, bên thành hồ sen
Cửa tả, cửa hữu, cửa tiền
Ngũ hồ, tam đảo ở trên Trầu Quỳ
Cầu Lòn đường cái quan đi
Hậu miếu, hậu phủ còn ghi rõ truyền Này điện Cần Chánh, Kính Thiên
Voi đá, sấu đá hai bên sân rồng
Lại thêm hổ đá ngự phòng
Đủ nền dinh thự khắp trong nội thành Tương truyền đây đất đế kinh
Bao nhiêu cảnh đẹp lừng danh trong ngoài
280 Trên trời có đám mây xanh
ở giữa mây trắng xung quanh mây vàng Ước gì anh lấy được nàng
Để anh mua gạch Bát Tràng về xây
Xây dọc rồi lại xây ngang
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân
Có rửa thì rửa chân tay
Chớ rửa lông mày chết cá ao anh
281 Hồ sen xây gạch Bát Tràng
Phòng khi nóng nực thiếp chàng nghỉ ngơi
282 Xưa kia mộc mạc mao từ
Nay thời ngói lợp chu vi trang hoàng
Xưa kia tre trúc tầm thường
Nay thời tứ thiết vững vàng biết bao
Bát Tràng có mái đình cong
283 Giang Cao buôn gạo chợ Keo
Buôn khoai chợ Nhiễm bán rao đường làng Ngày ngày cắp thúng lên đàng
Kiếm củi rồi mót khoai lang đem về
284 Giao Tự lắm bãi nhiều soi
Lắm con gái đẹp nhiều nơi phải lòng
Giao Tự gần giếng, gần sông
Nước trong tắm mát má hồng thêm xinh
Trang 11285 Tay cầm bán nguyệt xênh xang Một thăm thức cỏ lai hàng tay ta
286 Trời mưa róc rách bãi cây
Cá rô rạch ngược cá ngày lên hương Đừng thấy chúng bạn coi thường
Dân đất Hàn Lạc chẳng phường ăn chơi Thông manh đứng lại mà coi
Kìa như châu chấu đá voi gãy ngà Trăm năm nơi đất phù sa
Lấy gì mà được vinh hoa bằng người Bực mình chẳng được ăn chơi
Trăm năm vẫn chịu là người lầm than Chị đây vốn thực đất Hàn
Quanh năm có được vinh hàn gì đâu
287 Nhớ ngày hăm ba tháng ba
Dân trại ta vượt Nhị Hà thăm quê Kinh quán, cựu quán đề huề
Hồ Tây cá nhảy đi về trong mây
288 Trung Màu chuột nhắt xáo dưa
Kỳ Lân nấu cháo cả cua lẫn càng
Đổng Viên mặc ục khoai lang
Phù Đổng cơm tấm giần sàng khỏe ghê Đổng Xuyên mỗi người mỗi nghề
Lớn thì đánh xiếc, bé thì mò tôm
Phù Dực đi bán vải non
Chửa đi đến chợ mía don đầy lồng Tấm gốc, tấm ngọn phần chồng
Còn bao tấm giữa để vào lòng mà ăn Công Đình cưa xẻ đã quen
Tế Xuyên bắt rẽ lấy tiền mua nhiêu Nhân Lễ thì đúc lưỡi cày
To Khê Viên Ngoại thì hay hàn nồi
Xa Long lắm chuối mình ơi
Phù Ninh dệt vải người người thâu đêm
289 Bao giờ mồng sáu tháng ba
Để làng mở hội em ra lấy chồng
290 Mồng sáu đi hội Bồ Đề
Mồng bảy trở về đi hội Đống cao
291.Dù ai đi ở nơi đâu
Tháng giêng mười tám bảo nhau mà về
Dù ai lâu đã xa quê
Nhớ lấy mà về mười tám tháng giêng
292 Dù ai bốc thuốc nơi đâu
Tháng giêng mười tám rủ nhau mà về
Dù ai buôn bán trăm nghề