1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tài liệu Thăng long Hà Nội trong ca dao ngạn ngữ (phần 5) doc

15 632 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thăng Long Hà Nội trong ca dao ngạn ngữ - 5
Tác giả Giang Quân
Thể loại Tài liệu
Năm xuất bản 2002
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 214,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ai ơi đứng lại mà trông Kìa vạc nấu đó, kìa sông đãi bìa Kìa giấy Yên Thái như kia Giếng sâu chín trượng nước thì trong xanh Đầu chợ Bưởi có điếm cầm canh Người đi kẻ lại như tranh họa đ

Trang 1

Thăng long Hà Nội trong ca dao ngạn ngữ - 5

Nhà xuất bản Hà Nội - 2002

Giang Quân sưu tầm, biên soạn

(In lần thứ hai có bổ sung, sửa chữa)

Phần 5 - Ca Dao

200 Bao giờ hết chủ Hồ Tây

Vét sông Tô Lịch có ngày ấm no

201 Thứ nhất là tội đeo gông

Thứ nhì đất Gưởi nằm không có màn

202 Làng Vòng bán lợn, bán gà

Làng Thụy nấu rượu la đà cả đêm

203 Yên Phụ buôn bán dưới thuyền

Xuống đò Phố Mới bán than quạt trà

204 Giếng Yên Thái vừa trong vừa mát

Đường Yên Thái gạch lát dễ đi

Em về bên ấy làm chi

Nước giếng thì đục, đường đi thì lầy

205 Yên Thái có giếng trong xanh

Có đôi cá sấu ngồi canh đầu làng

Ai qua nhắn nhủ cô nàng

Yêu nhau xin chớ phũ phàng đổi thay

206 Nước Hồ Tây vừa trong vừa mát

Đường chợ Bưởi lắm cát dễ đi

Cô kia bóng bẩy làm chi

Để cho anh ấy đi đi về về

207 Chợ Bưởi một tháng sáu phiên

Rủ nhau đi chợ nên duyên đèo bòng

Ngày tư, ngày chín em mong

Buồng cau, con lợn bận lòng anh lo

208 Chợ Bưởi ngày chín, ngày tư

Riêng một tháng tám lại dư phiên rằm

Ai ơi nhớ lấy kẻo nhầm

Đi mua hoa quả chơi rằm trung thu

209 Nhất vui là chợ Ma Phường

Lắm hàng mọi chốn tìm đường đến mua

Trang 2

Hàng cau, hàng quít, hàng dừa

Hàng mơ, hàng mận, hàng dưa, hàng hồng

Ai lên Yên Thái mà trông

Trẻ già trai gái vợ chồng dắt nhau

210 Làng Nghè lập được trống quân

Ngoài Bưởi seo giấy cho dân học hành

211 Đêm qua bóc uốn một mình

Nghe hơi sương xuống nhớ tình nhân xưa Tình nhân xưa bây giờ xa vắng

Nỗi mong chờ cay đắng riêng em

Than ôi tăm cá, bóng chim

Biết đâu đường lối mà tìm hỡi ai!

212 Tàu seo nước giá như đồng

Tay đưa liềm giấy mà lòng nhớ ai

Nhớ người tuổi ngoại đôi mươi

Da xanh mai mái miệng cười đưa duyên

213 Mong cho chóng đến vụ hè

Tàu seo nghỉ việc em về với anh

Cùng nhau gánh đá xây thành

Trăm năm gìn giư xmối tình đôi ta

214 Mong cho chóng đến vụ hè

Tàu seo nghỉ việc anh về với em

Cùng nhau xe chỉ mài kim

Tình kia khâu lại cho thêm chắc bền

215 Người ta bán vạn, buôn ngàn

Em đây làm giấy cơ hàn vẫn tươi

Dám xin nho sĩ chớ cười

Công em khó nhọc, giấy người viết thơ

216 Người ta đúc tượng làm chùa

Còn em làm giấy bốn mùa chẳng ngơi Dám xin sư bác chớ cười

Vì em làm giấy cho người chép kinh

217 Giã nay rồi lại gia xmai

Đôi chân tê mỏi, đó ơi vì mày

Seo đêm rồi lại seo ngày

Đôi tay nhức buốt vì mày giấy ơi!

218 Ai ơi đứng lại mà trông

Kìa vạc nấu đó, kìa sông đãi bìa

Kìa giấy Yên Thái như kia

Giếng sâu chín trượng nước thì trong xanh Đầu chợ Bưởi có điếm cầm canh

Người đi kẻ lại như tranh họa đồ

Cổng chợ có miếu thờ vua

Đường cái chính xứ lên chùa Thiên Niên

Trang 3

Chùa Thiên Niên có cậy vọng cách

Chùa Bà Sách có cây đa lông

Cổng làng Đông có cây khế ngọt

Con gái Kẻ Cót thì đi buôn xề

Con trai làng Nghè dệt cửi kéo hoa

An Phú nấu kẹo mạch nha

Làng Vòng làm cốm để mà tiến vua

Họ Lại làm giấy sắc vua

Làng Láng mở hội kéo cờ hùng ghê

219 Tiếng đồn con gái Nghĩa Đô

Quanh năm làm giấy cho vua được nhờ

220 Ai ơi mua đó khó lòng

Không đi lên ẻn thì mong mỗi gì!

221 Trèo lên cây gạo cao cao

Kìa vạc nấu đó, kìa ao dặm bìa

222 Nàng về buôn bán cho ngoan

Để anh giã giấy lấy quan tiền dài

223 Anh về đi học cho ngoan

Để em cửi vải kiếm quan tiền dài

224 Nhịp chày giã đó nhặt thưa

Đèn le lói sáng lòng ngơ ngẩn buồn Nhớ ai mê mẩn tâm hồn

Thương ai mong đợi mỏi mòn tháng năm

225 Hỡi cô thắt lưng bao xanh

Có về Cầu Giấy với anh thì về

Làng Giấy có lịch có lề

Có sông tắm mát, có nghề xeo, can Tay can lòng những nhủ lòng

ở đây ấm áp lạnh lùng thương ai

Đường trần nay ngược mai xuôi

Gió hôm sương sớm ngậm ngùi một thân

226 Thương người dãi nắng dầm mưa Cho em cây đó, em đưa miếng trầu Trầu này đệm với vôi tầu

Ăn dăm ba miếng kẻo rầu lòng em

227 Rủ nhau mua nứa trên Trừm

Bơi qua bãi cát mới đem về nhà

Đem về mới đến bãi ta

Rỡ xong mới vác về nhà mới cưa

Mồ hôi lã chã như mưa

Cưa rồi mới thiến, thiến rồi mới pha Ngồi rồi lại vót nan ra

Tính xem vốn lại được là bao nhiêu

Trang 4

228 Phủ Hoài Đức có làng Tây Mỗ

Đất phì nhiêu dân số cũng đông

Tám trăm tám tám đàn ông

Sáu trăm tám sáu mẫu đồng tốt tươi Kiểu danh thắng lắm nơi đáng kể

Trước sóng đào sau kế ao sen

Bồ Đề, Cống Hạnh, Cầu Tiên

Đình trên lưng cá nằm nghiêng giữa làng Đồng cao thấy miên man gò đống

Làng tròn xoe, đất rộng của nhiều

Bán buôn thịnh nhất nghề thêu

Học hành ai cũng có điều đáng khen

229 Đi đâu mà chẳng biết ta

Ta ở kẻ Láng vốn nhà trồng rau

Rau thơm, rau húng, rau mùi

Thì là, cải cúc, đủ mùi hành hoa

Mồng tơi, mướp đắng, ớt, cà

Bí đao, đậu ván vốn nhà trồng nên

Anh giúp em đôi quang tám dẻ cho bền Mượn người lịch sự gánh lên kinh kỳ Gánh lên chợ Mới một khi

Mong cho đến chợ em thì nghỉ ngơi

Cậu cai phát vé vừa rồi

Một lúc lại thấy cậu bồi ra mua

Củ hành em bán một xu

Củ cải hai rưỡi, tính xu lấy tiền

Người hiền ra bán của hiền

Nào em có dám cửa quyền cậu đâu

Bán hàng mắt trước mắt sau

Kìa thằng đội xếp đứng đầu Hàng Ngang

230 Đầm Đại Từ hoa sen thơm ngát Giếng Đại Từ nước mát trong xanh

Dòng Tô uốn khúc lượn quanh

Đất nuôi trẻ nhỏ lừng danh trong ngoài

231 Sông Tô nước chảy quanh co

Phạm Công hiển hóa, âm phò quốc vương

232 Hỡi cô đội nón quai thao

Đi qua Thanh Liệt thì vào làng anh

Làng anh Tô Lịch trong xanh

Có nhiều vải, nhãn ngon lành em ăn

233 Hỡi cô mà thắt bao xanh

Có về Kim Lũ với anh thì về

Kim Lũ có hai cây đề

Cây cao bóng mát gần kề đôi ta

Tình sâu không quản đường xa

Nhà anh cao rộng cũng là nhà em

Nhà anh có con sông êm

Cho em tắm mát những đêm mùa hè

Trang 5

234 Mình từ làng kẹo mà ra

Nên mình nói ngọt cho ta phải lòng

235 Vua Ngô ba mươi sáu tàn vàng

Chết xuống âm phủ chẳng mang được gì Chúa Chổm uống rượu tì tì

Chết xuống âm phủ khác gì vua Ngô

236 Nhật trình từ Ráy đến ô

Bây giờ ta kể duyên do các làng

Tứ Kỷ đó rõ ràng

Trông lên lại thấy một làng Pháp Vân Trông xa rồi lại trông gần

Đại Từ trước mặt, sau lưng Linh Đường Vang lừng chợ Sét một bên

Qua cầu lại thấy bên trên có chùa

Kẻ đi người lại như đua

Kẻ đi ghé nón, người vô cúi đầu

Nhác trông làng Tám càng màu

Thiên thanh con lục, địa đầu Tam Giang

237 Đồn rằng Văn Điển vui thay

Ngoài phố chợ họp năm ngày một phiên Tàu qua phố dưới, phố trên

Đình thì ở giữa hai bên rặng bàng

Làng Mơ cất rượu khê nồng

Làng Vọng dệt gối, chăn tằm làng Mui

Kẻ Giả thì bán bùi nhùi

Làng Lê bán phấn cho người tốt da

Kẻ Vọng khéo ngọc, khéo ngà

Đưa đem đi bán cho nhà kẻ sang

Kẻ Lủ thì bán bỏng rang

Trên Ô hàng Đậu lắm hàng nhiều thay Ngâu, Tựu thì bán dao phay

Dù đem chặt nứa gẫy cây lại liền

Trong kho lắm bạc nhiều tiền

Để cho giấy lại chạy liền với dây

238 Làng Quang dưa, vải khắp đồng Ngô khoai khắp ruộng, nhãn lồng xóm Văn

239 ớt cay là ớt Định Công

Nhãn ngon là loại nhãn lồng làng Quang

240 Làng anh rặt thợ kim hoàn

Để anh đánh nhẫn cho nàng đeo tay

241 Ai về Khương Hạ, Đình Gừng

Dưa chua, cà muối, xin đừng quên nhau

Dù ai buôn đâu bán đâu

Cũng không bỏ được cống Ngâu chợ Chùa

Trang 6

242 Vải ngon thì nhất làng Bằng

Khắp thành Hà Nội hỏi rằng đâu hơn

Củ đậu Bằng Thượng thiếu gì

Dưa hấu Bằng Hạ đâu bì được chăng

243 Thanh Trì có bánh cuốn ngon

Có gò Ngũ Nhạc có con sông Hồng

Thanh Trì cảnh đẹp người đông

Có cây sáo trúc bên đồng lúa xanh

244 Làng Đam bán mắm tôm xanh

Làng Họa đan dó, làng Tranh quay guồng

Đông Phù cắp thúng đi buôn

Đông Trạch bán thịt, làng Om văn thừng

Tương Trúc thì giỏi buôn sừng

Tự Khoát đan thúng, Vẹt từng làm quan

245 Làng Đam thì bán mắm tôm

Làng Họa đan dó, làng Om quấn thừng

Tương Trúc làm nghề lược sừng

Tự Khoát đan thúng, Vĩnh Trung làm giành

246 Nôi Am là chính quê em

Bện thừng, đẽo guốc đã quen lắm rồi

Lại còn nổi tiếng khắp nơi

Làm bánh mứt kẹo ăn chơi tết, rằm

247 Đất ta là đất làm thừng

Trăm chắp nghìn nối xin đừng quên nhau

248 Đẹp nhất con gái làng Tranh

Chua ngoa Kẻ Nhót, ba vành Kẻ Om

249 Quê hương nghĩa nặng tình sâu

Thấy hoa gạo đỏ rủ nhau cùng về

250 Anh về Hạ Thái, Đông Phù

Ghé vô Bình Vọng thì cho em về

Xa xôi đường sá chẳng nề

Yêu anh tài sắc vì nghề thợ sơn

251 Đông Phù có sông Tô Lịch

Có con người lịch họa phượng, họa rồng

Yêu nhau chẳng quản đèo bòng

Cách mười sông, chín núi cũng một lòng theo anh

252 Ai về chợ Nhót mua tranh

Mua hàng quả hộp, mua hoành sơn son

Mua con người lịch đẹp giòn

Múa tay thảo nét trúc vờn, điều bay

253 Trèo lên cây gạo cao cao

Lệ cheo làng Nhót độ bao nhiêu tiền?

Trang 7

Cheo thời có bảy quan hai

Lệ làng khảo rể trăm hai mươi vồ

Thôi thôi tôi giã ơn cô

Tiền cheo cũng nặng, trăm vồ cũng đau

254 Em còn đi cấy làm chi

Có nón có áo cắp đi theo thuyền

Ông trời đã kết nhân duyên

Em ơi về Hữu xuống thuyền với anh

255 Nhuệ giang nước chảy quanh co Nào ai xuôi ngược con đò em đưa

256 Nhất ngon là mía Lam Điền

Trai khôn kẻ Tó, gái hiền Từ Trung

257 Em là con gái Kẻ Ngâu

Em đi buôn chỉ dãi dầu sớm hôm

Cái khăn vuông thâm nửa đội, nửa cầm Khăn đội rơi mất, khăn thân lập lờ

Anh ơi nhặt giúp em nhờ

Công anh nhặt giúp bao giờ cho quên Anh quên, em chẳng cho quên

Anh nhớ, em nhớ mới nên vợ chồng

258 Bún ngon bún mát Tứ Kỳ

Pháp Vân cua ốc đồn thì chẳng ngoa

259 Muốn ăn chiêm quýt mùa ri

Đem con mà gả nhân nghì Huỳnh Cung

260 Yên Ngưu đất thực là ương

Kẻ nấu rượu lậu, người tương đó mà

261 Rượu ngon xưa vốn nghề nhà

Hoàng Mai, Vọng Thủy không qua rượu Vồi

262 Em là con gái Kẻ Mơ

Em đi bán rượu tình cờ gặp anh

Rượu ngon chẳng quản be sành

áo rách khéo vá hơn lành vụng may

Rượu lạt uống lắm cũng say

Người khôn nói lắm hết hay hóa nhàm

263 Làng Mui thì bán củi đồng

Nam Dư mía mật giầu lòng ăn chơi

Thanh Trì buôn bán mọi nơi

Đồng Nhân, Thúy ái là nơi chăn tằm

Làng Mơ thì bán rượu tăm

Sở Lờ cua ốc quanh năm đủ đời

264 Sở Mui chẳng khác Sở Lờ

Quanh năm cua ốc, be bờ, đắp mương

Trang 8

Sống ngâm thịt chết ngâm xương

Trời ơi có biết trăm đường cực không!

265 Kẻ Mui anh đã biết chưa

Đàn ông vác nặng be bờ, đắp truông

Mẹ em đẻ em trong buồng

Về sau em lớn quay guồng ươm tơ

266 Huyện Thanh Trì kia làng Thịnh Liệt Đồn cá rô Đầm Sét là ngon

Bấy lâu cạn nước trơ bùn

Biết rằng hương vị có còn như xưa

267 Nhất trong là nước giếng Hồi

Nhất béo nhất bùi cá rô Đầm Sét

268 Kẻ chơi một huyện Thanh ?Trì Mọc thì gạo xáo, Láng thì trồng rau Đình Gừng bán cá đội đầu

Định Công đan gối, Lủ Cầu bánh trong

269 Mỗi năm vào dịp xuân sang

Em về Triều Khúc xem làng hội xuân Múa cờ, múa trống, múa lân

Nhớ ai trong hội có lần gọi em

270 ở giữa Văn Quán, Phùng Khoang

Có làng công nghệ là làng Đơ Thao

Tơ thanh, sợi óng, chỉ màu

Nón thúng đã đẹp, quai thao lại bền

271 Ai mang chiếc nón quai thao

Để anh thương nhớ ra vào khôn nguôi

272 Nón em đang đội trên đầu

Anh mà giật mất dạ sầu em thay

Lấy gì mà đội hôm nay

Anh mua nón khác, nón này em xin Nón em chả đáng đồng tiền

Chưa kết được bạn chưa yên cửa nhà Nón em mua ở tỉnh xa

Mua ở Hà Nội quan ba mươi đồng

Trở về gặp khách má hồng

Sao anh ăn ở ra lòng thờ ơ

Mua nón, em phải mua tua

Nón này thày mẹ em mua rành rành Nhẽ đâu em để cho anh

Về nhà mẹ mắng, em đành bảo sao

273 Nón này Hà Nội làm ra

Mang lên tỉnh Bắc thêu hoa rõ ràng

Vợ chồng đồng tịch đồng sàng

Mà chàng bắt nón em ngang giữa đường

Trang 9

Để mà nắng gió hôm nay

Má hồng em nhạt thế này chàng ơi

Bây giờ chàng giả nón tôi

Tôi đội cái nón che đôi má hồng

Bao giờ kết nghĩa vợ chồng

Thì chàng lại được má hồng tốt tươi

274 Nghĩ cảnh sống làng ta mà chán

Nợ bề bề, ruộng bán không trôi

Năm nay tết đến nơi rồi

Chủ Hàng Bồ sắp cho người về thăm Người năm chục kẻ một trăm

Bấm tay nợ phải đến dăm ba nghìn

275 Làng tôi công nghệ đâu bằng

Là làng Triều Khúc ở gần Thanh Xuân Quai thao tết khéo vô ngần

Là nghề của Vũ sứ thần dạy cho

Tóc rối, lông vịt, mã cò

Bán ra ngoại quốc cũng to mối lời

Khăn san kiểu lối tân thời

Cấy tua chân chỉ mọi người đều tinh Tua cờ nhà đạo, nhà binh

Bán ra Hà Nội, Huế, Vinh, Sài Gòn

Chân chỉ hạt bột y môn

Chỉ tơ, chỉ gốc, lại còn chỉ thêu

Dây đàn, dây rút thật nhiều

Chỉ quả chữ thọ có điều tinh thông

Khéo thay những dải kim tòng

Được bằng thưởng nhất Hà Đông bảo tàng Phu-la, tơ lụa, đăng ten,

Tiêu thụ các xứ bán buôn thật nhiều Buồng chơi dùng đệm lông cừu

Hỏi thăm Triều Khúc có nhiều tài hoa Thắng đai ngựa, chổi lông gà

Thắt lưng, khăn mặt người ta thường dùng Len đan mũ trẻ ít công

“Tích-cô” dệt máy dùng trong mùa hè Hoa bằng lông vịt mới kỳ

Giỏ đựng ấm tích bằng tre khéo làm Nghề kẹo mạ, thợ kim hoàn

Nghề nào cũng giỏi khôn ngoan ai tày Quai úi dết, sợi giày tây

Vẽ tranh sơn thủy dùng bày phòng chơi Hơn ba mươi nghệ tân thời

Sĩ, nông, công, cổ mọi người đều hay Nghề nào cũng khéo chân tay

Nhất thân vinh hiển buổi này cạnh tranh

Đơ thao Triều Khúc rành rành

Tiếng khen công nghệ nổi danh Bắc Kỳ

276 Ai về Yên Xá thì về

Có ao tắm mát có nghề thêu ren

Trang 10

277 Mấy ông quan huyện Thanh Trì

Khéo khôn: mỡ lấy, xương bì ông không

Lỗ lãi ông đắn sâu nông

Được lời ông lấy, lỗ không thèm nhìn Kiện cáo vài lạng làm tin

Của cải ông vét ông tìm ở đâu

278 Ông quan ở huyện Thanh Trì

Miếng mỡ thì lấy, miếng bì thì chê

279 Gia Lâm có đất Cổ Bi

Muôn đời cảnh đẹp còn ghi rành rành Chín mươi chín núi chung quanh

ở giữa hồ tả, bên thành hồ sen

Cửa tả, cửa hữu, cửa tiền

Ngũ hồ, tam đảo ở trên Trầu Quỳ

Cầu Lòn đường cái quan đi

Hậu miếu, hậu phủ còn ghi rõ truyền Này điện Cần Chánh, Kính Thiên

Voi đá, sấu đá hai bên sân rồng

Lại thêm hổ đá ngự phòng

Đủ nền dinh thự khắp trong nội thành Tương truyền đây đất đế kinh

Bao nhiêu cảnh đẹp lừng danh trong ngoài

280 Trên trời có đám mây xanh

ở giữa mây trắng xung quanh mây vàng Ước gì anh lấy được nàng

Để anh mua gạch Bát Tràng về xây

Xây dọc rồi lại xây ngang

Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân

Có rửa thì rửa chân tay

Chớ rửa lông mày chết cá ao anh

281 Hồ sen xây gạch Bát Tràng

Phòng khi nóng nực thiếp chàng nghỉ ngơi

282 Xưa kia mộc mạc mao từ

Nay thời ngói lợp chu vi trang hoàng

Xưa kia tre trúc tầm thường

Nay thời tứ thiết vững vàng biết bao

Bát Tràng có mái đình cong

283 Giang Cao buôn gạo chợ Keo

Buôn khoai chợ Nhiễm bán rao đường làng Ngày ngày cắp thúng lên đàng

Kiếm củi rồi mót khoai lang đem về

284 Giao Tự lắm bãi nhiều soi

Lắm con gái đẹp nhiều nơi phải lòng

Giao Tự gần giếng, gần sông

Nước trong tắm mát má hồng thêm xinh

Trang 11

285 Tay cầm bán nguyệt xênh xang Một thăm thức cỏ lai hàng tay ta

286 Trời mưa róc rách bãi cây

Cá rô rạch ngược cá ngày lên hương Đừng thấy chúng bạn coi thường

Dân đất Hàn Lạc chẳng phường ăn chơi Thông manh đứng lại mà coi

Kìa như châu chấu đá voi gãy ngà Trăm năm nơi đất phù sa

Lấy gì mà được vinh hoa bằng người Bực mình chẳng được ăn chơi

Trăm năm vẫn chịu là người lầm than Chị đây vốn thực đất Hàn

Quanh năm có được vinh hàn gì đâu

287 Nhớ ngày hăm ba tháng ba

Dân trại ta vượt Nhị Hà thăm quê Kinh quán, cựu quán đề huề

Hồ Tây cá nhảy đi về trong mây

288 Trung Màu chuột nhắt xáo dưa

Kỳ Lân nấu cháo cả cua lẫn càng

Đổng Viên mặc ục khoai lang

Phù Đổng cơm tấm giần sàng khỏe ghê Đổng Xuyên mỗi người mỗi nghề

Lớn thì đánh xiếc, bé thì mò tôm

Phù Dực đi bán vải non

Chửa đi đến chợ mía don đầy lồng Tấm gốc, tấm ngọn phần chồng

Còn bao tấm giữa để vào lòng mà ăn Công Đình cưa xẻ đã quen

Tế Xuyên bắt rẽ lấy tiền mua nhiêu Nhân Lễ thì đúc lưỡi cày

To Khê Viên Ngoại thì hay hàn nồi

Xa Long lắm chuối mình ơi

Phù Ninh dệt vải người người thâu đêm

289 Bao giờ mồng sáu tháng ba

Để làng mở hội em ra lấy chồng

290 Mồng sáu đi hội Bồ Đề

Mồng bảy trở về đi hội Đống cao

291.Dù ai đi ở nơi đâu

Tháng giêng mười tám bảo nhau mà về

Dù ai lâu đã xa quê

Nhớ lấy mà về mười tám tháng giêng

292 Dù ai bốc thuốc nơi đâu

Tháng giêng mười tám rủ nhau mà về

Dù ai buôn bán trăm nghề

Ngày đăng: 23/12/2013, 15:15

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w