Với riêng VN, trong điều kiện nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, ở giai đoạn đầu của sự phát triển, thâm hụt tài khoản vãng lai là điều hết sức bình thường, và nhiề khi là cần thiết
Trang 1Học viện Ngân HàngNhóm 1 lớp NHC-K10.
Thảo luận TCQT
Các thành viên:
1 Nguyễn Thị Hoàng Hoa
2 Hoàng Thị Hải Anh
3 Nguyễn Văn Vui
4 Nguyễn Phương Loan
5 Vũ Thùy Linh
6 Trần Tuyết Ngọc
7 Phạm Phương Minh
8 Trần Thị Thu Thủy
9 Nguyễn Thị Lan Anh
10 Lê Thị Thanh Huyền
Hà Nội, tháng 11 năm 2009
Trang 2từ năm 2002, cán cân vãng lai lại chuyển sang thâm hụt, đặc biệt trong năm
2007 thâm hụt thương mại ở mức lớn 11 tỷ USD, thâm hụt vãng lai khoảng
7 tỷ USD ( 11%GDP) Thông thường với các nước trên thế giới, thâm hụt ở mức 5% GDP đã là rất đáng lo ngại
Trang 3Để có một cái nhìn khách quan về tình hình nhập siêu và thâm hụt tài khoản vãng lai ở VN, chúng ta cần so sánh tình hình của các nước điều kiện và hoàn cảnh gần gũi ta
Tài khoản vãng lai của các nước khu vực châu Á năm 2007 (% của GDP)
( Nguồn: Báo cáo của Merrill Lynch )Ngoại trừ Ấn Độ cũng thâm hụt tài khoản vãng lai, VN là nước duy nhất trong khối ASEAN thâm hụt tài khoản vãng lai Nhưng kể cả so với Ấn Độ thì về mặt tương đối, mức độ thâm hụt ở VN là quá lớn, lên tới gần 10% GDP ( Ấn Độ chỉ 2%) So với các nước trong khu vực như Trung Quốc, Singapo, Thái Lan, Malayxia… thì tình hình thâm hụt tài khoản vãng lai ở
VN là rất đáng lo ngại
Có thể nói trong điều kiện của một nền kinh tế mở thì tình trạng thặng dư hay thâm hụt tài khoản vãng lai là một điều hoàn toàn bình thường Với riêng VN, trong điều kiện nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, ở giai đoạn đầu của sự phát triển, thâm hụt tài khoản vãng lai là điều hết sức bình
thường, và nhiề khi là cần thiết để có thể tận dụng được nguồn vốn từ bên ngoài để phát triển kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân Tuy nhiên nếu
Trang 4con số chỉ ở mức vừa phải (thường là dưới 5%) thì không đáng lo ngại, nhưng khi vượt ngưỡng này thì sẽ gây rủi ro cho nền kinh tế.
Tài khoản vãng lai các thị trường mới nổi 2007 (% của GDP)
( Nguồn: Báo cáo của Merrill Lynch )
Nhìn biểu đồ trên thì VN không phải là nước duy nhất thâm hụt tài khoản vãng lai trong các nước được đánh giá là nền kinh tế mới nổi, nhưng về mức
độ so sánh thì VN vượt xa các nước khác
Vậy các nguồn để có thể bù đắp cho sự thâm hụt tài khoản vãng lai là gi?
Ta thấy: CA + K + OFB = BOP
Như vậy, để bù đắp thâm hụt của cán cân vãng lai, ta có thể sử dụng nguồn
từ cán cân vốn hoặc từ OFB hoặc có thể để cho CA tự bù đắp bằng cách phá giá nội tệ
1 Bù đắp thâm hụt CA bằng K hoặc OFB
Có thể bù đắp cán cân vãng lai từ các nguồn sau:
Kiều hối
Trang 6Bảng tổng kết cán cân vãng lai và cán cân vốn của Việt Nam từ 1999 đến
năm 2008 và dự tính năm 2009
Từ bảng tổng kết trên ta có thể rút ra nhận xét rằng: CA liên tục thâm hụt từnăm 2005 đến năm 2008 và mức độ thâm hụt ngày càng tăng dần trong khi
Trang 7đó K từ năm 2005 đến năm 2008 liên tục thặng dư vì Việt Nam đã sử dụng
K để bù đắp thâm hụt của CA là chủ yếu
Ví dụ: Thiếu hụt năm 2007 được giải quyết bằng ba nguồn tài chính từ nướcngoài đổ vào: (1) Kiều hối chuyển về nước 6,3 tỉ USD bằng 9,8% GDP, (2)đầu tư trực tiếp của nước ngoài khoảng 4 tỉ USD, và (3) phần còn lại là đầu
tư gián tiếp vào thị trường chứng khoán và vay mượn ngắn hạn
Xét các nguồn cụ thể:
1.1 Lượng ngoại tệ chuyển từ nước ngoài vào Việt Nam:
Từ năm 1999 đến năm 2008 lượng ngoại tệ chuyển vào Việt Nam khôngngừng tăng:
Năm 1999, lượng ngoại tệ chuyển vào Việt Nam đạt 1,18 tỷ USD, năm 2005
là 3,8 tỷ USD thì năm 2007 đã đạt 6,43 tỷ USD Trong đó quan trọng nhất lànguồn kiều hồi chuyển về Việt Nam
Các quy định về quản lý ngoại hối thể hiện trong nghị định
63/1999NĐ-CP đến pháp lệnh ngoại hối năm 2005 đã từng bước tự do hóa các giao dịchvãng lai, đặc biệt là chính sách kiều hối ngày càng thông thoáng, phù hợpvới thông lệ quốc tế Người nhận kiều hối không phải đóng thuế thu nhập,giá trị kiều hối chuyển về nước không hạn chế, các đơn vị chi trả kiều hốiđừa tiền đến tận nhà cho người thụ hưởng….ngoài ra Việt Nam trở thànhthành viên tổ chức thương mại thế giới WTO cùng với những ổn định vềchính trị, sự tăng trưởng cao về kinh tế, sự sôi động của thị trường chứngkhoán và thị trường bất động sản, sự cải thiện mạnh mẽ về môi trường đầu
tư, thị trường lao động khởi sắc và mức độ hội nhập kinh tế quốc tế caotrong những năm qua…cho phép thu hút lượng kiều hối chuyển về nước liên
Trang 8tục tăng nhanh Kiều hối hiện nay được chuyển về nước theo nhiều conđường như chuyển tiền qua ngân hàng, qua các công ty chuyển tiền nhanh,qua các đại lý làm dịch vụ kiều hối,chuyển tiền tự do, tự mang vào khi nhậpcảnh nên càng tạo điều kiện ngoại hối vào Việt Nam
Viện trợ chính thức không hoàn lại là 0,188 tỉ USD Đây là nguồn quantrọng góp phần gia tăng dự trữ ngoại hối của Việt Nam trong thời gian này
Kiều hối (triệu USD)
1757 1820 2100
2700
3800 4500 5500
Dự báo năm 2009 giảm nhiều so với năm 2008:
Hôm 17 tháng 6, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu nóirằng kiều hối trong năm 2009 có thể đạt mức 5,6 đến 5,7 tỉ đô la, thấp hơn20% so với năm trước Dự báo của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam xuấtphát từ tình hình thực tế là trong 6 tháng đầu năm nay, lượng kiều hối màViệt Nam nhận được chỉ là 2,83 tỷ đô la
Giải thích về nguyên nhân khiến cho kiều hối chuyển về Việt Nam giảm sút,giới quan sát đã nêu bật yếu tố khủng hoảng toàn cầu Kiều hối nói chungxuất phát từ hai nguồn chính : tiền dành dụm của người Việt Nam trong
Trang 9nước đi xuất khẩu lao động gởi về cho gia đình, và tiền của người Việt định
cư ở nước ngoài gởi về giúp đỡ thân nhân trong nước
Do khủng hoảng kinh tế, nhiều nước trước đây thu nhận nhiều lao động ViệtNam đã bắt đầu sa thải nhân viên có sẵn, hay đình chỉ việc thu nhận nhâncông mới Hệ quả là nguồn kiều hối đến từ giới này cạn dần Theo một ghinhận của chính bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Việt Nam vào đầutháng 9, thì trong 8 tháng đầu năm nay, mới chỉ có hơn 45.000 lao động ViệtNam được gởi ra nước ngoài làm việc, trong lúc chỉ tiêu toàn năm của Nhànước là xuất khẩu được 90.000 lao động Trước đó, báo chí Việt Nam liêntục loan tin về những trường hợp công nhân Việt Nam từ Malaysia, ĐàiLoan, Nhật Bản, Cộng Hoà Séc, Slovakia phải hồi hương vì bị mất công
ăn việc làm
Tuy nhiên, số tiền gởi về nước của các lao động Việt Nam hiện ở nước ngoàichỉ chiếm một phần nhỏ trong số kiều hối gởi về nước Theo nhật báo MỹWall Street Journal, gần 2 phần ba lượng kiều hối mà Việt Nam nhận đượctrong thời gian qua đến từ Hoa Kỳ, nơi có một cộng đồng người Việt hảingoại đông đảo Kinh tế Hoa Kỳ đang trải qua một giai đoạn khó khăn, nạnthất nghiệp gia tăng, các yếu tố này tất nhiên tác động đến lượng tiền gởi vềViệt Nam Theo Wall Street Journal, chính quyền Mỹ đã ước tính là kiều hối
mà cộng đồng người Việt tại Mỹ chuyển về Việt Nam trong năm nay có thểgiảm khoảng 10%
1.2.Cán cân vốn
a Đầu tư trực tiếp
Đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng mạnh từ 2000-2008
Trang 10Đó là do môi trường kinh doanh được cải thiện hơn, lợi thế về chi phí đầu tưnhư chi phí lao động đang cạnh tranh với các nước trong khu vực Đặc biệt
là sau khi Việt Nam gia nhập WTO, luật pháp được hoàn thiện cho phù hợpvới luật quốc tế Nguồn FDI thu hút ngày càng tăng còn do cơ sở hạ tầngcủa Việt Nam được nâng cấp nhanh, đặc biệt là các cảng biển, đường giaothông và các nhà máy điện Ngoài ra, thủ tục hành chính tuy còn phức tạpnhưng đã được cải thiện rất nhiều trong thời gian qua Việc công khai minhbạch trong vấn đề thông tin, các chính sách, cơ chế quản lý dần tạo đượcniềm tin của các nhà đầu tư đối với Việt Nam Hơn nữa, môi trường chính trị
ổn định, giá nhân công rẻ cũng là ưu điểm củaViệt Nam trong thu hút vốnđầu tư trực tiếp nước ngoài
Vốn thực hiện của đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng đều đặn từ 2000 đến
2007, đặc biệt 2007 được coi là năm đột biến trong thu hút vốn FDI Tronggiai đoạn 2001- 2005 cam kết đầu tư FDI bình quân tại Việt Nam đạt trên 3
tỷ USD/năm, cam kết nguồn vốn ODA bình quân đạt gần 3 tỷ USD/năm.Trong đó giải ngân FDI và ODA trung bình khoảng 1,5 tỷ USD/năm Đặcbiệt năm 2007 giả ngân FDI là 6,55 tỷ USD tăng mạnh so với những nămtrước trong năm 2008, lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký đạtmức kỷ lục 64 tỷ USD, gần gấp 3 lần năm 2007, trong đó 60,3 tỷ USD làvốn đầu tư đăng ký mới, 3,7 tỷ USD là vốn đăng ký tăng thêm Lĩnh vựccông nghiệp và xây dựng chiếm 54,1% tổng vốn đăng ký tương đương 32,6
tỷ USD; lĩnh vực dịch vụ 27,4 tỷ USD, chiếm 45,5% Tuy nhiên con sốtrong khoản mục đầu tư trực tiếp nước ngoài ròng thì chúng ta chỉ tính đếncon số giải ngân thực tế
Đầu tư trực tiếp của Việt Nam ra nước ngoại mở rộng sang các nước Nga,
Mĩ, Đức và các nước trong khu vực vào các lĩnh vực khai khoáng, chế biến
Trang 11nông sản, thương mại…Tuy nhiên so với luồng vốn FDI thu hút vào ViệtNam thì đầu tư trực tiếp của Việt Nam ra nước ngoài không đáng kể Đángchú ý là thị trường chứng khoán Việt Nam đã phát triển, trong đó giao dịchcủa các nhà đầu tư nước ngoài vào chứng khoán do người cư trú Việt Namphát hành cũng góp phần làm tăng cung ngoại tệ Cầu ngoại tệ cho các mụcđích chi dịch vụ, chi thu nhập đầu tư vẫn tăng nhưng tốc độ tăng khôngnhanh bằng tốc độ tăng của cung ngoại tệ.
FDI cam kết
2,695 3,230 2,963 3,145 4,2225,814
10,200 20,300 60,217
10,453 0
Nguồn: Thời báo kinh tế - Kinh tế VN;
Tổng cục thống kê; Bộ kế hoạch và đầu tư
FDI giảm mạnh trong năm 2009:
Trong năm 2009, vốn FDI đăng ký vào giải ngân chắc chắn sẽ suy giảm sovới năm 2008 Nhìn vào cơ cấu vốn đăng ký FDI năm 2008 có thể thấy rằngMalayxia, Đài Loan, Nhật Bản và Xingapo đã chiếm tới 80% vốn đăng ký.Nền kinh tế các nước này dự báo sẽ gặp nhiều khó khăn hơn nữa trong năm
2009, cộng với việc vốn tự đó của các dự án đăng ký chỉ chiếm khoảng 30%giá trị dự đăng ký Thực tế tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoàiFDI suy giảm mạnh, đạt 10,453 tỷ USD và chỉ bằng 18,4% so với cùng kỳ
Trang 12năm ngoái, Cục Đầu tư nước ngoài công bố ngày 25/8 Hai tháng trước,trung bình mỗi tháng có thêm hơn 1 tỷ USD bổ sung vào vốn FDI cả nướcnhưng riêng tháng 8, cả nước chỉ thu hút được thêm 350 triệu USD vốn FDI.
Chính phủ tiếp tục thực hiện việc phát hành trái phiếu quốc tế trong năm 2009-2010 và giao Bộ Tài chính lựa chọn thời gian cụ thể thích hợp
Bộ Tài chính được chủ động xác định thời hạn và lãi suất của trái phiếu trong quá trình chào bán và định giá trái phiếu với điều kiện đảm bảo lãi suấttrái phiếu thời hạn 10 năm không quá 7%/năm (lãi suất của các trái phiếu có
kỳ hạn khác tương ứng với điều kiện trên)
Số tiền thu được từ việc bán trái phiếu quốc tế để hoàn trả ngân sách nhà nước 700 triệu USD, số còn lại giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với BộTài chính lựa chọn dự án phù hợp, có khả năng trả được nợ, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định trong thời gian chuẩn bị phát hành
Việc phát hành trái phiếu này tuân thủ theo Nghị quyết 7/2007/NQ-CP ngày 1/6/2007 và Nghị quyết 54/2007/NQ-CP của Chính phủ Theo nội dung của
2 Nghị quyết trên, Việt Nam phát hành 1 tỷ USD trái phiếu Chính phủ ra thị
Trang 13trường vốn quốc tế Kỳ hạn trái phiếu quốc tế phát hành trong năm 2007 mở rộng từ 10-30 năm, trong đó ưu tiên kỳ hạn 15 và 20 năm.
Số trái phiếu quốc tế phát hành theo 2 Nghị quyết trên được dành cho Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam, Tổng công ty Sông Đà và Tổng công ty Lắp máy Việt Nam vay lại để thực hiện đầu tư các
Dự án: Nhà máy lọc dầu Dung Quất, Dự án mua tàu vận tải, Dự án Thủy điện Xê Ca Mản 3 và Nhà máy thủy điện Hủa Na
Tính đến ngày 9/9, đã có 40 đợt phát hành trái phiếu bằng tiền đồng và 2 đợtphát hành trái phiếu bằng ngoại tệ do Chính phủ bảo lãnh phát hành trong năm 2009 Tuy nhiên, mới chỉ có 2.310 tỷ đồng và 230 triệu USD được huy động
Có 36 đợt phát hành trái phiếu tiền đồng hoàn toàn thất bại khi không thu được một đồng nào Lần phát hành gần đây nhất nối dài chuỗi phiên phát hành không thành công là ngày 9/9, do Công ty Đầu tư Phát triển Đường caotốc Việt Nam phát hành 1.000 tỷ đồng nhu cầu trái phiếu chia đều cho hai kỳhạn 3 năm và 5 năm hoàn toàn không được bán ra phần nào
Phần lớn số tiền phát hành (2.000 tỷ đồng) được tập trung ở kỳ hạn 2 năm (kỳ hạn ngắn nhất) thông qua Ngân hàng Chính sách Xã hội, phát hành trongtháng 6 với lãi suất bình quân là 8,93%/năm
Nguyên nhân trực tiếp dễ nhận thấy của sự thất bại trong huy động vốn bằngtrái phiếu của Chính phủ là lãi suất không hấp dẫn
Trong hầu hết các đợt phát hành, lãi suất trần mà tổ chức phát hành đưa ra đều thấp hơn lãi suất thấp nhất mà các nhà thầu đăng ký Tính trung bình qua các đợt phát hành, mức chênh lệnh này là 0,88%/năm
Thông thường, trái phiếu Chính phủ được coi là loại chứng khoán phi rủi ro
Trang 14về mặt thanh khoản trên thị trường tài chính Tuy nhiên, nếu lãi suất của loạicông cụ nợ này không đủ lớn để chiến thắng được mức bù rủi ro lãi suất mà thị trường yêu cầu thì các nhà đầu tư sẽ không mặn mà với việc “ôm” vào loại chứng khoán này
Rủi ro lãi suất trong giai đoạn hiện nay chủ yếu là khả năng giảm lãi suất thực do lạm phát có thể xảy ra
Các thành viên tham gia đấu thầu trái phiếu Chính phủ chủ yếu là các ngân hàng thương mại Trong thời gian vừa qua cũng như hiện nay, các ngânhàng thương mại cạnh tranh khá quyết liệt trong lĩnh vực huy động tiền gửi nhằm tài trợ cho các khoản tín dụng mở rộng theo mục tiêu gói kích thích kinh tế của Chính phủ và để đề phòng khả năng lạm phát có thể xảy ra Cuộccạnh tranh này đã đẩy mặt bằng lãi suất huy động lên cao và vô hình chung đẩy lãi suất yêu cầu của các tổ chức này đối với lãi suất trái phiếu lên cao Vậy tại sao các tổ chức phát hành vẫn cứ “khăng khăng” giữ mức lãi suất không hấp dẫn với các nhà đầu tư qua nhiều lần “kiên trì” tổ chức đấu thầu, nhưng không thành
Một số chuyên gia phân tích kinh tế cho rằng Chính phủ không sẵn sàng với mức lãi suất huy động trái phiếu đủ cao do chi phí cơ hội từ việc chậm giải ngân lớn Thực tế, theo thông tin từ ủy ban Thường vụ Quốc hội, trong sáu tháng đầu năm 2009, Chính phủ mới chỉ giải ngân được khoảng 27% so với kế hoạch 37.000 tỷ đồng vốn trái phiếu Chính phủ ban đầu
Tình trạng chậm giải ngân trong lĩnh vực đầu tư công xưa nay vẫn tồn tại dai dẳng do những bất cập cố hữu về cơ chế Tuy nhiên hiện nay đang là giaiđoạn đặc biệt, một số vướng mắc có thể được giải quyết đặc cách nhằm khai thông cho dòng vốn chảy nhanh nhất vào khu vực sản xuất qua đó kích thích
cả tổng cầu và tổng cung
Có ý kiến cho rằng, để giải quyết tình thế cấp thiết, trong ngắn hạn, Chính
Trang 15phủ nên chấp nhận mức lãi suất cao nhằm huy động được vốn cho các gói kích thích kinh tế.
Nhu cầu huy động vốn để tài trợ cho các gói kích thích kinh tế là không hạn chế Trong số các kênh huy động tiền để tài trợ cho mục tiêu cấp thiết trên, phát hành trái phiếu là kênh tối ưu hơn cả so với phát hành tiền do tính chất “tiện ích kép” của nó, đó là vừa huy động được tiền, vừa góp phần kìm chế lạm phát do không làm tăng tổng phương tiện thanh toán
Tuy nhiên, Chính phủ không thể huy động trái phiếu bằng mọi giá do có
sự xung đột với mục tiêu kích thích tín dụng của chính sách tiền tệ hiện nay Cùng với gói hỗ trợ lãi suất, việc duy trì lãi suất cơ bản 7%/năm đối với cho vay kinh doanh là để tạo mặt bằng chi phí vốn thấp cho các doanh nghiệp Đây chính là rào cản đối với lãi suất trái phiếu Chính phủ không thể áp dụng hai hệ thống lãi suất thiếu thống nhất cũng giống như người ta không thể duy trì hai mực nước chênh lệch giữa hai bình thông nhau Mặt khác, Chính phủ cũng không thể làm điều duy ý chí là “đông cứng” thị trường tài chính
Biết trước những bất cập nan giải đối với lãi suất trái phiếu, các nhà phát hành trái phiếu Chính phủ vẫn kiên trì tổ chức đấu thầu với “hi vọng” sẽ
“khớp” được với danh mục đầu tư của một nhà thầu nào đó
Trong lúc đang cần vốn để kích thích kinh tế nhưng thất bại trong việc huy động bằng phát hành trái phiếu, Chính phủ đã đạt được thỏa thuận vay
500 triệu USD từ Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) Khoản cho vay này
đã được ADB chính thức phê duyệt hôm 15/9/2009 Thủ tướng Chính phủ cũng đã yêu cầu Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch và Đầu
tư nghiên cứu phương án giải ngân khoản vay có thời hạn 5 năm này
Ngoài việc góp phần bổ sung nguồn vốn cho gói kích thích kinh tế, khoản
Trang 16ngoại tệ 500 triệu USD này cũng được hy vọng sẽ góp phần vào việc bình ổnthị trường ngoại hối vẫn còn chưa “hạ nhiệt”.
Năm 2008 giải ngân ODA ước tính đạt 1,227 tỉ USD và 6 tháng đầu năm
2009, giải ngân ODA đạt 1,27 tỷ USD Theo trang web dddn.com.vn Hộinghị Tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam (CG) lần thứ 15 (diễn ra ngày 4-5/12/2008) cho biết mức cam kết ODA được nhóm các nhà tài trợ quốc tếđưa ra cho Việt Nam trong năm 2009 đạt 5,014.67 tỷ USD, thấp hơn mứccam kết đưa ra năm ngoái là 8% Sở dĩ các nhà tài trợ vẫn đưa ra những tínhiệu tích cực về cam kết ODA cho Việt Nam là do các nhà tài trợ đều đánhgiá Việt Nam sử dụng khá hiệu quả nguồn vốn này Một báo cáo của Vụ Tàichính đối ngoại (Bộ Tài chính) vừa được công bố, cho biết Việt Nam luôntheo đuổi chính sách quản lý nợ thận trọng Chính phủ Việt Nam đã banhành nhiều văn bản liên quan đến quản lý vay, trả nợ nước ngoài; xây dựng
và quản lý hệ thống chỉ tiêu nợ, thu thập, báo cáo thông tin nợ, bảo lãnh, chovay lại Vì vậy, các chỉ số nợ nước ngoài của Việt Nam từ 2000 đến nayluôn trong giới hạn an toàn, được WB và IMF đặt trong danh sách nhóm cácnước có mối nguy thấp về nợ nước ngoài
c Cán cân vốn ngắn hạn
Cán cân ngắn hạn bao gồm nhiều hạng mục phong phú và chủ yếu là: tín dụng thương mại ngắn hạn, hoạt động tiền gửi, mua bán các giấy tờ có giá ngắn hạn, các khoản tín dụng ngân hàng ngắn hạn, kinh doanh ngoại hối…
Trang 17ngắn
hạn(8)
Cán cân vốn ngắn hạn thặng dư có thể do: tín dụng thương mại quốc tế,
tín dụng ngân hàng quốc tế (các hình thức tài trợ ngoại thương của các ngân
hàng thương mại), trái phiếu thương mại ngắn hạn (Những công ty lớn có
mức tín dụng cao thường bán trái phiếu thương mại ngắn hạn để cấp vốn cho
các nhu cầu trước mắt của mình Đây là một giải pháp có chi phí thấp hơn
thay cho việc vay ngân hàng ngắn hạn Trái phiếu thương mại ngắn hạn là
một giấy bảo lãnh nợ ngắn hạn, nhìn chung có thời hạn thanh toán từ 2 đến
270 ngày Hầu hết trái phiếu này được bán ở mức chiết khấu so với mệnh
giá của nó và có thể khôi phục mệnh giá khi đến hạn Sự khác biệt giữa giá
bán chiết khấu và mệnh giá tượng trưng cho lãi dành cho người mua trái
phiếu Các nhà đầu tư có các khoản dư tiền mặt tạm thời thường là người
mua trái phiếu thương mại ngắn hạn Đối với họ đây là cách an toàn hợp lý
để sinh lợi trên tiền nhàn rỗi của họ) Tuy nhiên Việt Nam chưa phát triển
trong hoạt động tín dụng (cơ sở hạ tầng của tín dụng VN chưa đáp ứng được
các quy chuẩn tiên tiến để tham gia các phương thức hoạt động tín dụng bậc
cao), vì vậy, xét trên khía cạnh bù đắp cho thâm hụt CA, luồng vốn ngắn hạn
chảy vào Việt Nam dựa trên các nguồn:
Tín dụng thương mại quốc tế
Là hoạt động tài trợ ngoại thương giữa các doanh nghiệp xuất nhập
khẩu Công cụ của tín dụng thương mại như hối phiếu, kỳ phiếu…
Trang 18Tín dụng của doanh nghiệp xuất khẩu đối với doanh nghiệp nhập khẩu
Ví dụ: một nhập khẩu giày Việt Nam nhận lô giày trị giá 3.000 USD từ một
nhà xuất khẩu Trung Quốc với thời hạn thanh toán trong 60 ngày Sau 60
ngày, hóa đơn mới đến hạn Tức là, nhà cung ứng đã cấp vốn cho phần hàng
đó mà không tính phí, đối với nhà nhập khẩu thì đây là một vụ thỏa thuận tốt
hơn là dùng hạn mức tín dụng ngân hàng hay một hình thức khác phải trả lãi
suất
Tín dụng của doanh nghiệp nhập khẩu đối với doanh nghiệp xuất khẩu:
ứng trước tiền hàng
Tiền gửiTriệu USD 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009* Tiền gửi ròng -787 -2,088 -1,197 624 1,372 35 -634 -1,535 2,623 1,700 1,100
Tiền gửi trong tài khoản vốn biến động thất thường, đây không phải lànguồn bù đắp thường xuyên chủ yếu cho thâm hụt cán cân vãng lai Dựa vào
số liệu trên, có thể thấy lượng tiền gửi của nước ngoài ở Việt Nam âm trong
các năm từ 1999 đến 2001, 2005-2006, trong khi dương trong các năm
2002-2004 và đặc biệt năm 2007 và quý 1 năm 2008 tăng mạnh Cụ thể,
năm 2007 là 2,623 tỷ USD (chiếm 3,7% GDP) và quý 1/2008 là 3,302 tỷ
USD (chiếm tới 17,9% GDP) Trong năm 2008, chúng ta chứng kiến sự suy
giảm dòng tiền gửi từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển
Theo số liệu của Ngân hàng thế giới, trong năm 2008, lượng tiền gửi từ các
nước phát triển sang các nước đang phát triển giảm từ mức 2% của năm
2007 xuống mức 1,8% GDP của cac nước đang phát triển Việt Nam cũng
không nằm ngoài xu hướng đó, ước tính lượng tiền gửi trong năm 2008 cũng
chỉ vào khoảng 1,8% GDP (bằng một nửa tỷ lệ năm 2007), tương đương
1,57 tỷ USD Dự báo cả năm 2009, lượng tiền gửi vào Việt Nam đạt khoảng
1,1 tỷ USD
Trang 19d Chuyển giao vốn một chiều
- Các khoản viện trợ không hoàn lại cho mục đích đầu tư
- Các khoản nợ được xóa (Một vài VD tiêu biểu)
Tháng 12/2000, theo thỏa thuận được ký kết, Bỉ sẽ thực hiện xóa nợ cho Việt Nam khoảng 21,8 triệu USD, tương đương với 75% tổng số dư nợ Phần nợ 25% còn lại, tương đương 7,28 triệu USD sẽ được chuyển đổi thànhviện trợ để Việt Nam lập một quỹ đối ứng, sử dụng cho các dự án được Vương quốc Bỉ viện trợ trong khuôn khổ chương trình hợp tác phát triển giữa hai nước giai đoạn 2001-2003 Các lĩnh vực mà Chính phủ Bỉ ưu tiên viện trợ theo chương trình hợp tác song phương là xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ nông nghiệp và phát triển nông thôn, cải cách hành chình, y tế và giáo dục
Năm 2002, Chính phủ Italia đã xóa nợ cho Việt Nam 40 tỷ Lia (khoảng trên 20 triệu EURO) trong tổng số 54 tỷ Lia nợ của các dự án thuộc giai đoạn 90-92 và ký thêm 6 dự án mới trị giá 17 triệu Euro (trong đó 3,5 triệu cho không và 13,5 triệu vay ưu đãi, lãi suất từ 0,25% đến 0,5%/năm, thời hạn trả 35 năm, ân hạn 15 năm)
1.3 OFB
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) hôm 29/7 tuyên bố, đến trước năm 2014 sẽ cung cấp cho các nước nghèo khoản vay lên đến 17 tỷ USD, nhằm trợ giúp nhữngnước này ứng phó với bão tố tài chính
IMF nới lỏng việc cho vay
TT - Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đưa ra những cải cách lớn trong cách thức
và thủ tục cho vay với 185 nước thành viên Đây được coi là một phần trọng tâm trong nhiệm vụ của tổ chức này giúp bình ổn tài chính toàn cầu