Phân tích lý thuyết về khủng hoảng kinh tế theo quan điểm Marxist. Ý nghĩa của lý thuyết này trong điều kiện hiện nay. I. Quan điểm của Marx về khủng hoảng kinh tế. 1. Những lý luận của Marx về khủng hoảng kinh tế và bản chất của nó. Ngay từ khi tiền tệ xuất hiện trong sản xuất hàng hóa giản đơn, nó đã mang trong mình mầm mống của sự khủng hoảng. Đến chủ nghĩa tư bản, khi mà nền sản xuất đã được xã hội hóa cao độ, khủng hoảng kinh tế là điều không thể tránh khỏi. Sự ra đời của cuộc đại công nghiệp cơ khí đầu thế kỉ XIX đã làm cho quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa bị gián đoạn bởi những cuộc khủng hoảng mang tính chu kì. Hình thức đầu tiên và phổ biến trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa chính là khủng hoảng sản xuất “thừa” với các biểu hiện chủ yếu sau: • Khủng hoảng sản xuất thừa của tư bản công nghiệp do sự tắc nghẽn trong quá trình lưu thông hàng hóa của tư bản thương nghiệp. • Khủng hoảng tài chính tiền tệ do sự dư thừa của các loại giấy tờ có giá (tư bản giả). Sự dư thừa của tư bản tiền tệ trong hệ thống các ngân hàng dẫn đến những cuộc khủng hoảng tiền tệ giữa các quốc gia do sự di chuyển của các dòng vốn lưu động, gây nên sự thiếu tiền ở thị trường này nhưng thừa tiền ở thị trường khác. • Khủng hoảng nợ công do sự dư thừa của trái phiếu chính phủ, thứ để biến những khoản tiền tiết kiệm cuối cùng của người dân trở thành tư bản. Một định nghĩa khác với cách hiểu ngày nay là trong học thuyết Kinh tế chính trị MarxLenin. Theo Marx, khủng hoảng kinh tế đề cập đến quá trình tái sản xuất đang bị suy sụp tạm thời. Thời gian khủng hoảng làm những xung đột giữa các giai cấp trong xã hội thêm căng thẳng đồng thời nó tái khởi động một quá trình tích tụ tư bản mới. Nhiều học giả cho rằng tự bản thân Karl Marx không đưa ra kết luận cuối cùng về bản chất của khủng hoảng kinh tế trong chủ nghĩa tư bản. Thực vậy, những nghiên cứu của ông gợi ý nhiều lý luận khác nhau mà tất cả chúng đều gây tranh cãi. Một đặc điểm chủ yếu của những lý luận này là khủng hoảng không phải ngẫu nhiên và không tự nhiên mà nó bắt nguồn từ bản chất của chủ nghĩa tư bản với vai trò là một hình thái xã hội. Marx viết :“cản trở của nền sản xuất tư bản chính là tư bản”. Những lý luận này bao gồm: • Xu hướng suy giảm tỷ suất lợi nhuận: Tích tụ tư bản gắn liền xu hướng chung của mức độ tập trung tư bản. Điều này tự nó làm giảm tỷ suất lợi nhuận rồi kìm hãm chủ nghĩa tư bản và có thể đưa đến khủng hoảng. • Tiêu thụ dưới mức: Nếu giai cấp tư sản thắng thế trong cuộc đấu tranh giai cấp với mục đích cắt giảm tiền lương và bóc lột thêm lao động, nhờ đó tăng tỷ suất giá trị thặng dư, khi đó nền kinh tế tư bản đối mặt với vấn đề thường xuyên là nhu cầu tiêu dùng không tương xứng với quy mô sản xuất và tổng cầu không tương xứng với tổng cung. • Sức ép lợi nhuận từ lao động: Tích tụ tư bản có thể đẩy nhu cầu thuê mướn tăng lên và làm tăng tiền lương. Nếu tiền lương tăng cao sẽ ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận và khi đạt đến một mức độ nhất định sẽ gây ra suy thoái kinh tế. Theo đó, khi khủng hoảng nổ ra, hang hóa không tiêu thụ được, sản xuất bị thu hẹp, nhiều doanh nghiệp bị vỡ nợ, phá sản, công nhân thất nghiệp, thị trường rối loạn. Hàng hóa bị thừa so với sức mua có hạn của quần chúng lao động phải phá hủy trong khi hàng triệu người lao động lại lại lâm vào tình trạng đói khổ vì họ không có khả năng thanh toán. Cuộc khủng hoảng kinh tế đầu tiên trong chủ nghĩa tư bản diễn ra ở Anh năm 1825 và cuộc khủng hoảng đầu tiên diễn ra trên quy mô toàn thế giới nổ ra năm 1847. Các cuộc khủng hoảng diễn ra mang tính chu kì đã gây nhiều thiệt hại cho giai cấp tư bản và đẩy người dân lao đông vào bần cùng hóa. Marx đã nói: “ Khủng hoảng kinh tế là người bạn đồng hành của chủ nghĩa tư bản.” 2. Những nguyên nhân gây ra khủng hoảng kinh tế dưới cách nhìn của Marx. Theo Marx, nguyên nhân của khủng hoảng tư bản chủ nghĩa bắt nguồn từ chính mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản. Thứ nhất, đó là những mâu thuẫn nội tại của chính chủ nghĩa tư bản: • Mâu thuẫn giữa nền sản suất đại kế hoạch của tư bản công nghiệp và giới hạn thị trường với sự gia nhập tự do của tư bản thương nghiệp làm giảm dần tỉ suất lợi nhuận bình quân. • Mâu thuẫn giữa tính chuyên môn hóa trong lao động của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa với cơ cấu lao động bất hợp lí. • Mâu thuẫn từ việc nguồn gốc giá trị thặng dư được tạo ra từ khu vực sản xuất nhưng bị tướ
Trang 1HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Học phần: Lịch sử các học thuyết kinh tế
ĐỀ TÀI 3: Phân tích lý thuyết về khủng hoảng kinh
tế theo quan điểm Marxist Ý nghĩa của lý thuyết này trong điều kiện hiện nay.
Trang 2
Hà nội, ngày tháng năm 2020
Mục Lục
LỜI MỞ ĐẦU 3
I QUAN ĐIỂM CỦA MARX VỀ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ 4
1 NHỮNG LÝ LUẬN CỦA MARX VỀ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ VÀ BẢN CHẤT CỦA NÓ 4
2 NHỮNG NGUYÊN NHÂN GÂY RA KHỦNG HOẢNG KINH TẾ
DƯỚI CÁCH NHÌN CỦA MARX 6
3 TÍNH CHU KÌ CỦA KHỦNG HOẢNG KINH TẾ 7
II NHỮNG BIỆN PHÁP CỦA MARX ĐỂ CHỐNG KHỦNG HOẢNG KINH TẾ 8
III VẬN DỤNG CÁC BIỆN PHÁP CHỐNG KHỦNG HOẢNG CỦA MARX VÀO NỀN KINH TẾ HIỆN NAY 9
1 TÌNH HÌNH KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM HIỆN NAY 9
2 VẬN DỤNG BIỆN PHÁP CỦA MARX TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG NÓI CHUNG VÀ NỀN KINH TẾ VIỆT NAM NÓI RIÊNG 11
Tài liệu tham khảo 13
Trang 3Lời mở đầu
Lehman Brothers - một tập đoàn tư bản tài chính có lịch sử phát triển suốt 158 năm và là một trong những tập đoàn lớn nhất nước
Mĩ, mới đây đã phải tuyên bố phá sản trước sức ép từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới Trong khi đó, hàng loạt các tập đoàn và ngân hàng khổng lồ thậm chí đã phải cần đến sự cứu trợ khẩn cấp của chính phủ để tránh khỏi kết cục xấu nhất Tuy nhiên, có vẻ như điều
đó đã được dự đoán trước trong cuốn sách Das Kapital của Karl Marx Marx đã đúng khi cho rằng chủ nghĩa tư bản luôn tiềm tàng nguy cơ khủng hoảng, Marx đã thấy trước được sự tồn tại song song của sức mạnh hủy diệt nằm bên trong hệ thống tư bản chủ nghĩa dù ông chưa bao giờ dự báo hệ thống sẽ sụp đổ một cách không thể tránh khỏi
Những lý luận và quan điểm của Marx cùng cách giải thích của ông về chủ nghĩa tư bản và khủng hoảng kinh tế đã giúp chúng ta có những cái nhìn đúng đắn và xác thực nhất về vấn đề này Marx cũng đưa ra nhiều biện pháp để chống khủng hoảng và kiềm chế sự suy thoái trong kinh tế Những biện pháp của Marx vẫn có ý nghĩa rất lớn trong bối cảnh hiện nay, chúng vẫn phát huy được tác dụng ở
Trang 4tầm vĩ mô khi được vận dụng một cách hợp lí và linh hoạt Một học giả nổi tiếng đã nhận định :” Càng suy xét về cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay, ta càng thấy Karl Marx vĩ đại.”
I Quan điểm của Marx về khủng hoảng kinh tế.
1 Những lý luận của Marx về khủng hoảng kinh tế và bản chất của nó.
Ngay từ khi tiền tệ xuất hiện trong sản xuất hàng hóa giản đơn, nó đã mang trong mình mầm mống của sự khủng hoảng Đến chủ nghĩa tư bản, khi mà nền sản xuất đã được xã hội hóa cao độ, khủng hoảng kinh tế là điều không thể tránh khỏi Sự ra đời của cuộc đại công nghiệp cơ khí đầu thế kỉ XIX đã làm cho quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa bị gián đoạn bởi những cuộc khủng hoảng mang tính chu kì Hình thức đầu tiên và phổ biến trong nền sản xuất
tư bản chủ nghĩa chính là khủng hoảng sản xuất “thừa” với các biểu hiện chủ yếu sau:
Trang 5 Khủng hoảng sản xuất thừa của tư bản công nghiệp do sự
tắc nghẽn trong quá trình lưu thông hàng hóa của tư bản thương nghiệp
Khủng hoảng tài chính tiền tệ do sự dư thừa của các loại
giấy tờ có giá (tư bản giả) Sự dư thừa của tư bản tiền tệ trong hệ thống các ngân hàng dẫn đến những cuộc khủng hoảng tiền tệ giữa các quốc gia do sự di chuyển của các dòng vốn lưu động, gây nên sự thiếu tiền ở thị trường này nhưng thừa tiền ở thị trường khác
Khủng hoảng nợ công do sự dư thừa của trái phiếu chính
phủ, thứ để biến những khoản tiền tiết kiệm cuối cùng của người dân trở thành tư bản
thuyết Kinh tế chính trị Marx-Lenin Theo Marx, khủng hoảng kinh
tế đề cập đến quá trình tái sản xuất đang bị suy sụp tạm thời Thời gian khủng hoảng làm những xung đột giữa các giai cấp trong xã hội thêm căng thẳng đồng thời nó tái khởi động một quá trình tích tụ
tư bản mới Nhiều học giả cho rằng tự bản thân Karl Marx không đưa ra kết luận cuối cùng về bản chất của khủng hoảng kinh tế trong chủ nghĩa tư bản Thực vậy, những nghiên cứu của ông gợi ý nhiều
lý luận khác nhau mà tất cả chúng đều gây tranh cãi Một đặc điểm chủ yếu của những lý luận này là khủng hoảng không phải ngẫu
Trang 6tư bản với vai trò là một hình thái xã hội Marx viết :“cản trở của
nền sản xuất tư bản chính là tư bản”.
Những lý luận này bao gồm:
Xu hướng suy giảm tỷ suất lợi nhuận: Tích tụ tư bản gắn
liền xu hướng chung của mức độ tập trung tư bản Điều này tự
có thể đưa đến khủng hoảng
Tiêu thụ dưới mức: Nếu giai cấp tư sản thắng thế trong cuộc
đấu tranh giai cấp với mục đích cắt giảm tiền lương và bóc lột thêm lao động, nhờ đó tăng tỷ suất giá trị thặng dư, khi đó nền
Sức ép lợi nhuận từ lao động: Tích tụ tư bản có thể đẩy nhu
cầu thuê mướn tăng lên và làm tăng tiền lương Nếu tiền lương tăng cao sẽ ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận và khi đạt đến một mức độ nhất định sẽ gây ra suy thoái kinh tế
Theo đó, khi khủng hoảng nổ ra, hang hóa không tiêu thụ được, sản xuất bị thu hẹp, nhiều doanh nghiệp bị vỡ nợ, phá sản, công nhân thất nghiệp, thị trường rối loạn Hàng hóa bị thừa so với sức mua có hạn của quần chúng lao động phải phá hủy trong khi hàng triệu người lao động lại lại lâm vào tình trạng đói khổ vì họ không có khả năng thanh toán
Trang 7Cuộc khủng hoảng kinh tế đầu tiên trong chủ nghĩa tư bản diễn ra ở Anh năm 1825 và cuộc khủng hoảng đầu tiên diễn ra trên quy mô toàn thế giới nổ ra năm 1847 Các cuộc khủng hoảng diễn
ra mang tính chu kì đã gây nhiều thiệt hại cho giai cấp tư bản và đẩy người dân lao đông vào bần cùng hóa Marx đã nói: “ Khủng hoảng kinh tế là người bạn đồng hành của chủ nghĩa tư bản.”
2 Những nguyên nhân gây ra khủng hoảng kinh tế dưới cách nhìn của Marx.
Theo Marx, nguyên nhân của khủng hoảng tư bản chủ nghĩa bắt nguồn từ chính mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản
Thứ nhất, đó là những mâu thuẫn nội tại của chính chủ nghĩa
tư bản:
nghiệp và giới hạn thị trường với sự gia nhập tự do của tư bản thương nghiệp làm giảm dần tỉ suất lợi nhuận bình quân
nền kinh tế tư bản chủ nghĩa với cơ cấu lao động bất hợp lí
khu vực sản xuất nhưng bị tước đoạt quá nhiều do sự phát triển ngày càng phình to của khu vực phi sản xuất (chứng khoán, bất động sản)
Trang 8 Mâu thuẫn do mất cân đối giữa tiết kiệm, đầu tư và tiêu dung Đầu tư và tiêu dùng thường lớn hơn nhiều so với tiết kiệm khi tiền tệ được luân chuyển qua hệ thống các ngân hàng đồng thời tạo nên gánh nặng lạm phát rất cao vào các thời điểm nền kinh tế đang hưng thịnh, mở đầu cho một sự gia tăng lãi suất đột biến, dấn đến sự bùng nổ của khủng hoảng
Thứ hai, đó là mâu thuẫn giữa trình độ xã hội hóa cao của lực lượng sản xuất với chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội:
nghiệp rất chặt chẽ và khoa học với khuynh hướng tự phát
vô chính phủ trong xã hội
hạn của tư bản với sức mua ngày càng eo hẹp của quần chúng do bị bần cùng hóa
sản lao và những người lao động làm thuê
Marx đã mổ xẻ những nguyên nhân cốt lõi gây nên khủng hoảng kinh tế và điều đó không chỉ chính xác với các cuộc khủng hoảng nửa cuối thế kỉ XIX, nửa đầu thế kỉ XX mà còn có phần đúng đắn đối với cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay
3 Tính chu kì của khủng hoảng kinh tế
Trang 9Khủng hoảng kinh tế xuất hiện làm cho quá trình sản xuất tư bản của chủ nghĩa tư bản mang tính chu kì Chu kì kinh tế của chủ nghĩa tư bản là khoảng thời gian nền kinh tế tư bản vận động từ đầu cuộc khủng hoảng này đến đầu cuộc khủng hoảng sau Một chu kì kinh tế kéo dài khoảng từ 8 đến 12 năm Karl Marx chính là người đầu tiên phát hiện ra tính chu kì của khủng hoảng kinh tế gồm có bốn giai đoạn theo thứ tự : Khủng hoảng, tiêu điều, phục hồi và hưng thịnh
Marx đã khẳng định rằng khủng hoảng kinh tế là điều không thể tránh khỏi trong thế giới tư bản chủ nghĩa Tuy nhiên, cần có sự can thiệp tích cực của nhà nước tư sản vào quá trình kinh tế Sự can thiệp này dù không triệt tiêu được khủng hoảng và tính chu kì của
nó trong nền kinh tế nhưng cũng có thể hạn chế được những tác động xấu của khủng hoảng
II Những biện pháp của Marx để chống khủng
hoảng kinh tế.
Theo Marx, để chống khủng hoảng kinh tế và tác động xấu của tính chu kì trong khủng hoảng, ta cần phải kéo dài thời gian phục hồi, hưng thịnh và rút ngắn thời gian khủng hoảng, tiêu điều trong một chu kì kinh tế Trong luận thuyết đó, Marx đã đề ra những biện pháp chống khủng hoảng kinh tế chủ yếu sau:
thuẫn mới phát sinh trong hệ thống tư bản chủ nghĩa Việc giải
Trang 10quyết thỏa đáng được các mâu thuẫn có thể giúp ngăn chặn khủng hoảng kinh tế và giảm trừ được thiệt hại to lớn một khi khủng hoảng kinh tế xảy ra
xuất bằng cách hạ thấp tiền công, tăng cường độ và thời gian lao động của công nhân đồng thời đổi mới tư bản cố định (máy móc, thiết bị, ) Từ đó làm tăng nhu cầu về tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng, tạo điều kiện cho sự phục hồi chung của nền kinh tế
ngân hàng thống nhất, đảm bảo mức cung ứng tiền tệ ổn định trong nền kinh tế, đảm bảo mức lãi suất chênh lệch trong các ngành có tỉ suất lợi nhuận khác nhau
giảm được khó khăn về tài chính cho các doanh nghiệp và người lao động
triển của lực lượng sản xuất với khoa học kĩ thuật để đảm bảo cho cơ cấu lao động ở mức hợp lí, phù hợp với điều kiện sản xuất của từng quốc gia nhưng không bị chi phối bởi giới hạn thị trường
đẩy nền kinh tế phát triển ổn định và tránh khỏi những biến động lớn
Trang 11 Các tập đoàn, công ti lớn phải được đặt dưới sự bảo trợ của nhà nước, hay nói cách khác là quốc hữu hóa một phần nền kinh tế tư nhân tư bản chủ nghĩa Từ đó nâng cao sự hiệu quả trong tổ chức quản lý và hạn chế được nhiều rủi ro trong hoạt động
Các biện pháp chống khủng hoảng và suy giảm kinh tế của Marx là rất thiết thực và mang tính vận dụng cao Chúng có thể phát huy hiệu quả cao nếu được áp dụng hợp lí trong từng điều kiện cụ thể Những tư tưởng của Marx mang cả tính thời đại lẫn tính tiên tri, điều đó tạo nên giá trị của học thuyết của Marx
III Vận dụng các biện pháp chống khủng hoảng
của Marx vào nền kinh tế hiện nay.
1. Tình hình kinh tế thế giới và Việt Nam hiện nay.
a Tình hình chung nền kinh tế thế giới.
Từ năm 2000 đến nay, nền kinh tế đã trải qua nhiều thăng trầm
và biến động mạnh Kinh tế toàn thế giới chịu nhiều tác động trực tiếp từ sự tấn công của các cuộc suy thoái kinh tế, từ những biến động chính trị, từ các cuộc khủng bố khốc liệt ở các nước phương tây, từ những cuộc chiến tranh tiêu tốn hàng tỉ USD của Mĩ và các nước tư bản cùng hàng loạt thiên tai khủng khiếp xảy ra trên toàn cầu Những vấn đề bất ổn của kinh tế thế giới đang ngày càng gia tăng, đặc biệt là tài chính, an ninh, lương thực Tuy nhiên sự điều
Trang 12chỉnh chính sách kinh tế của các nước ngày càng tích cực và mạnh
mẽ hơn
Xét lại về thực trạng của kinh tế thế giới giai đoạn 2000-2010 Một cách khái quát, kinh tế thế giới đã trải qua 3 thời kì rõ rệt:
cao của kinh tế thế giới
thoái của kinh tế thế giới
Xu hướng phát triển của kinh tế thế giới trong thập niên đầu thế kỉ XXI cho thấy, nền kinh tế thế giới đang vận động với tốc độ biến chuyển ngày càng nhanh, các chu kỳ kinh tế đang được rút ngắn lại với khoảng cách giữa tăng trưởng và suy thoái trở nên rất mong manh Các quy luật kinh tế chịu sự tác động đan xen của nhiều yếu tố, nhiều chủ thể trở nên phức tạp và khó dự đoán hơn bao giờ hết Quá trình truyền dẫn giữa các nền kinh tế ngày càng được rút ngắn Giai đoạn phục hồi sau cuộc khủng hoảng tài chính
2008 – 2009 kéo dài hơn dự đoán Nhiều yếu tố rủi ro còn tiềm ẩn khiến nền kinh tế thế giới mặc dù tăng trưởng cao hơn mức kỳ vọng trong năm 2010 nhưng dự báo tốc độ tăng trưởng sẽ chỉ phục hồi trở lại vào năm 2012
b Tình hình kinh tế Việt Nam cùng sự tác động của kinh tế thế giới.
Trang 13Việt Nam là một quốc gia châu Á đang có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, thu nhập bình quân đầu người tăng đáng kể, là nơi thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài FDI, kinh tế Việt Nam đang chuyển dịch mạnh mẽ, các ngân hàng có tốc độ tăng trưởng tín dụng cao Trong khi các nước phát triển có xu hướng phát triển kinh tế chậm lại thì Việt Nam cùng các nước mới nổi khác đang thể hiện vai trò là động lực tăng trưởng của nền kinh tế thế giới
Nam cũng chịu tác động và suy thoái trong các năm 2008-2009 Thương nghiệp của Việt Nam gặp nhiều rào cản do chính sách bảo
hộ hàng hóa của các nước Các dòng vốn nước ngoài đổ vào Việt Nam suy giảm nhiều, nhất và vốn đầu tư FDI Thị trường bị thu hẹp cùng nhiều bất cập trong cơ cấu nội tại đã khiến cho các doanh nghiệp, ngành nghề trong nước gặp nhiều khó khăn Lạm phát ở mức khá cao và thâm hụt ngân sách đang là những vấn đề bất cập nhất Chính phủ cần có những biện pháp cấp bách để giải quyết khủng hoảng trước khí nền kinh tế Việt Nam rơi vào vòng xoáy mới
2. Vận dụng biện pháp của Marx trong nền kinh tế thị trường nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng.
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới bắt nguồn từ ngành tài chính tín dụng đã gây nhiều thiệt hại to lớn cho nền kinh tế Tuy nhiên, trước xu thế toàn cầu hóa như hiện nay, không chỉ có các nước tư bản phương Tây mới chịu ảnh hảnh hưởng của khủng
Trang 14hoảng kinh tế, nhiều nước như Việt Nam cũng phải chịu tác động lớn từ cuộc khủng hoảng đối với nền kinh tế quốc dân
a Nền kinh tế thị trường.
Trước cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới lan rộng với quy mô lớn, nhiều nước phương Tây đã sử dụng nhiều giải pháp để tháo gỡ khó khăn, nhất là những biện pháp chống khủng hoảng kinh tế của Marx đang được vận dụng một cách có hiệu quả trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa
Chính phủ Mĩ đã phải ra tay nới lỏng chính sách tiền tệ hết cỡ với việc hạ lãi suất cho vay qua đêm liên ngân hàng xuống còn 0-0,25%, tiếp đó là việc triển khai nhiều gói kích thích tài khóa khổng
lồ và ban hành nhiều đạo luật khác nhau nhằm ổn định nền kinh tế
Chính phủ các nước thành viên khu vực đồng tiền chung châu EURO cũng đã họp lại và thống nhất bác bỏ cắt giảm thuế VAT của
Ủy ban châu ÂU và ủng hộ gói kích thích kinh tế trị giá 200 tỉ Euro
để giúp các nước Eurozone thoát khỏi suy thoái kinh tế
Các nước châu Á-Thái Bình Dương cũng đã đưa ra các gói kích thích kinh tế nhằm khuyến khích cho vay,xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ các hộ dân và tạo thêm nhiều việc làm
Các biện pháp của các quốc gia trong việc chống khủng hoảng kinh tế đã phát huy được tác dụng, trong đó có nhiều biện pháp được dưa trên tư tưởng của học thuyết Marx Tuy nhiên cần phải
Trang 15thực hiện một cách nhanh nhạy và mạnh mẽ hơn nữa thì mới có thể đẩy lùi hiệu quả cuộc khủng hoảng kinh tế
b Nền kinh tế Việt Nam.
Trước diễn biến bất ổn của nền kinh tế, Chính phủ đã xác định nhiệm vụ trọng tâm và cấp bách là “phải tập trung mọi nỗ lực để
ngăn chặn suy giảm kinh tế, thúc đẩy sản xuất – kinh doanh, đẩy mạnh xuất khẩu, kích cầu đầu tư và tiêu dùng, bảo đảm an sinh xã hội.” Chính phủ đưa vào áp dụng Luật thuế thu nhập cá nhân để hỗ
trợ khó khăn cho một số đối tượng nộp thuế Bên cạnh đó, nhà nước cũng thực hiên chính sách miễn, giảm thuế và đầu tư từ ngân sách nhà nước Đặc biệt là việc thực hiện các gói kích thích kinh tế qua
đó tạo ra những lực đẩy giúp ngăn chặn suy giảm kinh tế, giải quyết khó khăn cho khu vực doanh nghiệp( đổi mới công nghệ và hạ lãi suất cho vay) và đảm bảo đời sống cho người dân (đảm bảo an sinh
xã hội, tạo việc làm, nâng cao thu nhập )
Chính phủ cũng cần có sự nhất quán trong chính sách kích cầu, giảm tỉ lệ lạm phát cùng thâm hụt ngân sách nhằm giữ vững lòng tin của nhân dân Việc tìm thị trường cho xuất khẩu cũng cần được chú trọng, đặc biệt là nên hướng vào thị trường Việt Nam, người Việt Nam dùng hàng Việt Nam
Các biện pháp trên đã cho thấy tác dụng rõ rệt và khả năng vận dụng tư tưởng của Marx vào chống khủng hoảng và suy giảm kinh tế Mặc dù còn nhiều thách thức nhưng nền kinh tế Việt Nam