Môi trường là vấn đề toàn cầu. Bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu vừa là một nội dung cơ bản của phát triển bền vững. Bảo vệ môi trường là vấn đề sống còn của đất nước, của nhân loại, là nhiệm vụ có tính xã hội sâu sắc, gắn liền với quá trình phát triển kinh tế xã hội, hoà bình và tiến bộ xã hội trên phạm vi toàn cầu. Từ sau Đổi mới (1986), thực hiện chủ trương công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhiệm vụ bảo vệ môi trường luôn được Đảng và Nhà nước coi trọng và được xác định là một trong ba trụ cột trong tiến trình phát triển nhanh và bền vững của nước ta. Hệ thống quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của Đảng, hệ thống cơ chế, chính sách, pháp luật của Nhà nước ngày càng hoàn thiện, các hoạt động bảo vệ môi trường của nước ta đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần tích cực trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước nhanh và bền vững.Ngày nay ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, sự quan tâm chủ yếu không phải là khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên để tạo ra năng suất và sản lượng bằng mọi giá. Trái lại, vấn đề năng suất và sản lượng được tạo ra phải bảo đảm sự cân đối với việc duy trì, bảo vệ và nuôi dưỡng nguồn tài nguyên cho các thế hệ mai sau. Cách nghĩ, cách làm ấy được coi là sự phát triển bền vững. Quan điểm phát triển bền vững đã được Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng khẳng định: “Kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế xã hội với bảo vệ và cải thiện môi trường theo hướng phát triển bền vững” 1, tr.89. Do đó, nghiên cứu vấn đề “Phân tích, đánh giá hệ thống chính sách và thực thi chính sách bảo vệ môi trưởng ở Việt Nam” làm đề tài tiểu luận có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Trang 1KHOA …
TIỂU LUẬN Chủ đề: PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH VÀ THỰC THI CHÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƯỞNG Ở VIỆT NAM
Họ tên học viên:……….
Lớp:……….,
- 2021
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Chương 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH VÀ THỰC THI CHÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI
1.2 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về bảo vệ môi trưởng ởViệt Nam 5
Chương 2.
THỰC TRẠNG HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH VÀ THỰC THI CHÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƯỞNG Ở VIỆT
Chương 3.
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ VỀ HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH VÀ THỰC THI CHÍNH SÁCH BẢO VỆ
3.1 Phương hướng nâng cao hiệu quả về hệ thống chính sáchvà thực thi chính sách bảo vệ môi trưởng ở Việt Nam 12 3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả về hệ thống chính sách vàthực thi chính sách bảo vệ môi trưởng ở Việt Nam 13
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Môi trường là vấn đề toàn cầu Bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu vừa
là một nội dung cơ bản của phát triển bền vững Bảo vệ môi trường là vấn đề sống còn của đất nước, của nhân loại, là nhiệm vụ có tính xã hội sâu sắc, gắn liền với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, hoà bình và tiến bộ xã hội trên phạm vi toàn cầu Từ sau Đổi mới (1986), thực hiện chủ trương công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhiệm vụ bảo vệ môi trường luôn được Đảng và Nhà nước coi trọng và được xác định là một trong ba trụ cột trong tiến trình phát triển nhanh và bền vững của nước ta Hệ thống quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của Đảng, hệ thống cơ chế, chính sách, pháp luật của Nhà nước ngày càng hoàn thiện, các hoạt động bảo vệ môi trường của nước ta đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần tích cực trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước nhanh và bền vững
Ngày nay ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, sự quan tâm chủ yếu không phải là khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên để tạo ra năng suất và sản lượng bằng mọi giá Trái lại, vấn đề năng suất và sản lượng được tạo ra phải bảo đảm sự cân đối với việc duy trì, bảo vệ và nuôi dưỡng nguồn tài nguyên cho các thế hệ mai sau Cách nghĩ, cách làm ấy được coi là sự phát triển bền vững Quan điểm phát triển bền vững đã được Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng khẳng định: “Kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ và cải thiện môi trường theo hướng phát triển bền vững” [1,
tr.89] Do đó, nghiên cứu vấn đề “Phân tích, đánh giá hệ thống chính sách
và thực thi chính sách bảo vệ môi trưởng ở Việt Nam” làm đề tài tiểu luận
có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích:
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về hệ thống chính sách và thực thi chính sách bảo vệ môi trưởng ở Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách và thực thi chính sách bảo vệ môi trưởng ở Việt Nam thời gian tới
Trang 4* Nhiệm vụ:
- Phân tích cơ sở lý luận về chính sách và thực thi chính sách bảo vệ môi trưởng ở Việt Nam
- Đánh giá thực trạng hệ thống chính sách và thực thi chính sách bảo vệ môi trưởng ở Việt Nam thời gian qua
- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hệ thống chính sách và thực thi chính sách bảo vệ môi trưởng ở Việt Nam thời gian tới
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Hống chính sách và thực thi chính sách bảo vệ
môi trưởng ở Việt Nam
* Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu ở Việt Nam
Về thời gian: Các số liệu khảo sát, điều tra lấy từ năm 2015 đến nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận: Tiểu luận được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của
chủ nghĩa duy vật biện chững và chủ nghĩa duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường sinh thái
* Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở phương pháp luận duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử, luận văn sử dụng phương pháp trừu tượng hoá khoa học, phương pháp phân tích và tổng hợp, thống kê so sánh; và phương pháp chuyên gia
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
* Ý nghĩa lý luận: Tiểu luận nghiên cứu thành công sẽ góp phần cung
cấp cơ sở khoa học cho các nhà quản lý đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách và thực thi chính sách bảo vệ môi trưởng ở Việt Nam hiện nay
* Ý nghĩa thực tiến: Tiểu luận có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong
giảng dạy, học tập trong các trường đại học, cao đẳng
6 Kết cấu của đề tài
Đề tài gồm phần mở đầu, 3 chương (6 tiết), kết luận và danh mục tài liệu tham khảo
Trang 5NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH
VÀ THỰC THI CHÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƯỞNG Ở VIỆT NAM
1.1 Bảo vệ môi trưởng ở Việt Nam
* Môi trường
Môi trường là toàn bộ những điều kiện mà trong đó con người sinh sống Khái niệm này bao hàm cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Ở đây chúng ta sẽ chỉ chủ yếu xét đến môi trường tự nhiên
Môi trường tự nhiên được sử dụng với nhiều tên gọi khác nhau như môi trường sinh thái, môi trường sinh quyển Môi trường sinh thái là điều kiện thường xuyên và tất yếu đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội
Như vậy trong mối quan hệ giữa tự nhiên và xã hội thì môi trường sinh thái đại diện cho bộ phận còn lại của tự nhiên bên cạnh bộ phận đặc thù của tự nhiên là xã hội
Vai trò của môi trường sinh thái đối với xã hội trong quá trình lịch sử ở những giai đoạn khác nhau cũng được thể hiện một cách khác nhau
Khi xã hội còn ở trình độ mông muội - khi con người chủ yếu chỉ biết săn bắt hái lượm những sản phẩm có sẵn trong tự nhiên thì hầu như con người hoàn toàn bị giới tự nhiên chi phối, thống trị Cuộc sống xã hội hoàn toàn phụ thuộc môi trường tự nhiên
Khi con người văn minh hơn - nhất là khi khoa học kĩ thuật phát triển thì con người đã từng bước chế ngự được tự nhiên Con người đã từng bước chế ngự , khai thác tự nhiên phục vụ cho nhu cầu của mình Nhiều ngành nghề ra đời từ những điều kiện tự nhiên như nông nghiệp, lâm nghiệp, khai thác khoáng sản, đồng thời có những ngành ít phụ thuộc tự nhiên hơn cũng ra đời như điện tử, phần mềm (mới ra đời trong thời gian gần đây)
Tuy nhiên cho đến nay xã hội vẫn phụ thuộc môi trường tự nhiên rất nhiều,
nó có thể tạo điều kiện thuận lợi hoặc gây khó khăn cho sản xuất, do đó ảnh hưởng đến năng suất lao động, tốc độ phát triển của xã hội
Trang 6* Vấn đề môi trường ở Việt Nam
Do chiến tranh tàn phá, sự gia tăng dân số nhanh, sự phát triển của các ngành kinh tế, tài nguyên môi trườngViệt Nam đã bị phá hủy nhiều Thực sự Việt Nam đang gặp nhiều vấn đề về môi trường
Ngày nay Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa - hiên đại hóa đất nước, nền kinh tế mới chuyển đổi sang kinh tế thị trường Sự phát triển công nghiệp với những công nghệ ít thân thiện với môi trường đồng thời với một hệ thống chính sách và thực hiện ít hiệu quả trong việc bảo vệ môi trường đang làm cho môi trường Việt Nam trở nên ô nhiễm hơn Cơ chế thị trường cùng với một bộ phận nhân dân thiếu hiểu biết sẵn sàng khai thác đến cạn kiệt mọi nguồn tài nguyê vì lợi nhuận Đói nghèo cũng đẩy nhiều người vào cảnh phải tàn phá thiên nhiên vì miếng cơm manh áo hàng ngày Ngay cả du lịch sinh thái, khi được tổ chưc không hợp lí cũng phá hủy cảnh quan môi trường Rác thải sinh hoạt, công nghiệp, khói bụi ngày càng nhiều hơn và thực sự rất khó giải quyết
Bảy vấn đề môi trường gay cấn của Việt Nam:
Nạn phá rừng:
Năm 1943 ta có 37% đất phủ xanh Năm 1975 ta có 29,1% đất phủ xanh Năm 2020 ta có 23,6% đất phủ xanh
Đối với vùng nhiệt đới dưới 30% là khủng hoảng môi trường Chế độ thủy văn thay đổi g khí hậu thay đổi g cảnh quan thay đổi g suy thoái độ đa dạng sinh học [3, tr.90]
Suy giảm tài nguyên đất: Giảm diện tích bình quân đầu người là do
dân số tăng
Năm 1940 Việt Nam có 0,2 ha/ người
Năm 1960 Việt Nam có 0,18 ha/ người
Năm 1970 Việt Nam có 0,15 ha/ người
Năm 1980 Việt Nam có 0,13 ha/ người
Năm 1990 Việt Nam có 0,11 ha/ người
Năm 2000 Việt Nam có 0,06 ha/ người
Trang 7Năm 2020 Việt Nam có 0,04 ha/ người.
Đất bị xói mòn, rửa trôi, laterit hóa, chua phèn hóa, mặn hóa
Sử dụng tài nguyên nước không hợp lệ Không giữ được nước vì không
có hồ chứa nước, kĩ thuật điều tiết nước thấp Thiếu nước nghiêm trọng vào mùa khô Ô nhiễm nước nặng nề ở Đồng bằng sông Cửu Long Ô nhiễm mặn
do khai thác nước ngầm
Tài nguyên khoáng sản bị tổn thất, khai thác không hợp lí Than lộ
thiên mất 15-20% Hầm lò mất 30-40% Sử dụng đá granit để rải đường Gây
ô nhiễm môi trường do khai thác khoáng sản Khai thác vàng, đá quý bừa bãi
Suy thoái đa dạng sinh học: Nhiều loài có nguy cơ tuyệt chủng.Sách đỏ
đã liệt kê 500 loài động gặp nguy hiểm, 60 loài tuyệt chủng Các hệ thống vườn quốc gia xây dựng và bảo vệ tốt nhưng rất khó khăn về thể lệ, nguồn lực
để bảo vệ Có 3200 km bờ biển nhưng không đủ vốn để sắm tàu nên khai thác bừa bãi vùng ven bờ, nuôi thủy sản không khoa học [2, tr.54]
Ô nhiễm môi trường từ nước, không khí, rác, chất thải, tiếng ồn Các
khu công nghiệp ô nhiễm hóa chất
Hậu quả của chiến tranh: Hiện nay chất độc trong chiến tranh còn ảnh
hưởng, nhiều người còn di chứng không khắc phục được
Nhìn chung chất lượng môi trường Việt Nam ngày một xấu đi
1.2 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về bảo vệ môi trưởng ở Việt Nam
Trước bối cảnh mới của sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước,
Ban Bí thư đang tập trung chỉ đạo tổng kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 36/CT-Trung ương và xây dựng dự thảo Nghị quyết của Bộ Chính trị về công tác bảo
vệ môi trường, nhằm tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp bảo vệ môi trường, làm cơ sở cho sự phát triển đất nước bền vững Nhiều quan điểm mới của Đảng về phát triển bền vững đang được cập nhật và quán triệt một cách sâu rộng tới các cấp ủy, chính quyền các cấp, các tổ chức chính trị, xã hội và từng người dân
Trang 8Thứ nhất, bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân,
toàn quân và toàn xã hội Đây là một nội dung cơ bản không thể tách rời
trong đường lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tất cả các cấp, các ngành, là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Coi phòng ngừa và ngăn chặn ô nhiễm là nguyên tắc chủ đạo kết hợp với xử lý ô nhiễm, cải thiện môi trường và bảo tồn thiên nhiên Kết hợp phát huy nội lực với tăng cường hợp tác quốc tế trong bảo vệ môi trường và phát triển bền vững
Thứ hai, thành công của công tác bảo vệ môi trường còn là giải quyết
tốt hàng loạt mâu thuẫn giữa lợi ích trước mắt và lâu dài, cục bộ và tổng thể.
Công tác này đòi hỏi phải tập trung, kiên trì, giải quyết một cách hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm công bằng xã hội và bảo vệ môi trường; tiến hành đồng bộ các biện pháp một cách thường xuyên, liên tục với quyết tâm cao nhất
Thứ ba, ngày nay, giữ gìn môi trường là một tiêu chí quan trọng trong
đánh giá sản phẩm kinh tế, nhất là sản phẩm xuất khẩu; một yếu tố của hội nhập kinh tế quốc tế Bảo vệ môi trường nhằm bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường trong lành, an toàn An ninh sinh thái là một bộ
phận của an ninh quốc gia Bảo vệ môi trường, bảo đảm an ninh sinh thái là góp phần giữ vững và tăng cường an ninh quốc gia Vì vậy, Đảng ta nhấn mạnh quan điểm: Bảo vệ môi trường là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài, khó khăn mang tính toàn cầu; là yếu tố bảo đảm ổn định chính trị và an ninh quốc gia, nâng cao khả năng cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ, đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Thứ tư, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đòi hỏi phải thay đổi
từ thói quen, nếp nghĩ, tâm lý đến hành động của từng người, cộng đồng của từng quốc gia và toàn thế giới Chính những điều đó hình thành nên đạo đức
và nhân văn môi trường và là tiêu chí quan trọng của xã hội văn minh trong thời đại mới.
Trang 9Đó là những quan điểm sâu sắc, có ý nghĩa chỉ đạo công tác bảo vệ môi trường trong suốt cả quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Chương 2 THỰC TRẠNG HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH VÀ THỰC THI CHÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƯỞNG Ở VIỆT NAM
2.1 Ưu điểm
Ở nước ta, vấn đề bảo vệ môi trường từng bước được Đảng, Nhà nước quan tâm thực hiện Năm 1993, Luật Bảo vệ môi trường được ban hành Đây
là văn bản quan trọng, tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức thực hiện công tác bảo vệ môi trường Lần đầu tiên, các khái niệm cơ bản có liên quan đến bảo
vệ môi trường đã được xác định làm cơ sở cho việc vận dụng vào hoạt động quản lý môi trường Đồng thời, đây cũng là lần đầu tiên quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của Nhà nước, tổ chức và cá nhân trong việc bảo vệ môi trường được pháp luật quy định rõ ràng
Vấn đề bảo vệ môi trường ở Việt Nam thực sự được quan tâm từ cuối những năm 80, đầu những năm 90 và đặc biệt là năm 1993 khi Luật Bảo vệ môi trường được ban hành Đây là văn bản quan trọng, tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức thực hiện công tác bảo vệ môi trường Lần đầu tiên, các khái niệm cơ bản có liên quan đến bảo vệ môi trường đã được định nghĩa, xác định làm cơ sở cho việc vận dụng vào hoạt động quản lý môi trường Trong đó, bảo vệ môi trường được hiểu là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành sạch đẹp, cải thiện môi trường, bảo đảm cân bằng sinh thái, ngăn chặn và khắc phục hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên Ngoài ra, các khái niệm về thành phần môi trường, chất thải, chất gây ô nhiễm, ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường, sự cố môi trường, tiêu chuẩn môi trường, công nghệ sạch, hệ sinh thái, đa dạng sinh học, đánh giá tác động môi trường được giải thích rõ trong Luật Đồng thời, đây cũng là lần đầu tiên quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của Nhà nước, tổ chức và cá nhân trong việc bảo vệ môi trường được pháp luật quy định
Trang 10Việc bảo vệ môi trường không những được quy định trong Luật Bảo vệ môi trường, mà còn được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật khác điều chỉnh các hoạt động của con người khi tác động vào thiên nhiên, ảnh hưởng đến môi trường sống
Ngoài văn bản pháp luật điều chỉnh trực tiếp việc bảo vệ môi trường như Luật BVMT, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường, xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường, Nhà nước ta cũng ban hành văn bản pháp luật chung và chuyên ngành khác quy định nghĩa vụ bảo vệ môi trường đối với các cơ quan, tổ chức và cá nhân hữu quan như: Luật Bảo vệ và phát triển rừng (1991), Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân (1989), Pháp lệnh về Thu thuế tài nguyên (1989), Pháp lệnh Bảo vệ đê điều (1989), Pháp lệnh Bảo
vệ nguồn lợi thuỷ sản (1989), Luật Đất đai (năm 1993 và được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1998, 2001), Luật Dầu khí (1993), Luật Khoáng sản (1996), Pháp lệnh An toàn và kiểm soát bức xạ (1996), Luật Tài nguyên nước (1998), Pháp lệnh Thú y (1993), Pháp lệnh Bảo vệ và kiểm dịch thực vật (1993) Liên quan đến lĩnh vực môi trường, những văn bản pháp luật này quy định về đánh giá tác động môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh; nghĩa vụ bảo vệ môi trường trong quá trình nuôi trồng, khai thác và chế biến thuỷ sản, trong hoạt động dầu khí, trong quá trình tham gia giao thông, xây dựng ; chế độ pháp lý trong việc khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên phục vụ cho phát triển kinh tế, xã hội Đồng thời các văn bản pháp luật này cũng quy định các nguyên tắc bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước với tư cách là bảo vệ sinh thái, môi trường Ngoài ra, pháp luật môi trường cũng xác định rõ bảo vệ môi trường là một bộ phận cấu thành trong hệ thống kinh tế, xã hội và được kế hoạch hoá đồng bộ với kế hoạch hoá của các ngành kinh tế quốc dân khác [4, tr.120]
Việc bảo vệ môi trường không những được quy định trong Luật Bảo vệ môi trường mà còn được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật khác điều chỉnh các hoạt động của con người khi tác động vào thiên nhiên, ảnh hưởng đến môi trường sống như các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ