Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến đội ngũ cán bộ, công chức, coi cán bộ, công chức là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh người sáng lập, rèn luyện Đảng và Nhà nước ta đã nhấn mạnh: “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, “Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng” 3, tr.209.Thấm nhuần tư tưởng của Người, hơn 90 năm xây dựng và phát triển, Đảng và Nhà nước ta luôn coi cán bộ, công chức là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Mỗi thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều đánh dấu những bước trưởng thành, tiến bộ của đội ngũ cán bộ, công chức của Đảng và Nhà nước.Vì thế, Đảng, Nhà nước ta luôn chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đồng bộ, toàn diện, coi đây là vấn đề mấu chốt, trong sự nghiệp cách mạng.Trong những năm gần đây, đội ngũ cán bộ, công chức tại tỉnh Vĩnh Phúc đã có bước phát triển về chất. Tuy nhiên, trước những yêu cầu của tình hình, nhiệm vụ mới, đội ngũ này vẫn còn bộc lộ những yếu kém, bất cập về kiến thức, năng lực, trình độ, phương pháp, tác phong công tác. Một số công chức gặp khó khăn, lúng túng, thậm chí va vấp, phạm sai lầm, khuyết điểm trong thi hành nhiệm vụ. Bên cạnh đó, trước tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường, một bộ phận cán bộ, công chức có biểu hiện suy thoái về phẩm chất đạo đức, quan liêu, vi phạm dân chủ. Những điều đó đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín và hiệu quả lãnh đạo, quản lý và làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với chính quyền; đồng thời phải nâng cao năng lực lãnh đạo đội ngũ cán bộ, công chức. Do đó, nghiên cứu vấn đề “Vận dụng tư tưởng phương Đông về lãnh đạo trong nâng cao năng lực lãnh đạo của người cán bộ, công chức tại tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay” làm đề tài tiểu luận có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Trang 1KHOA …
TIỂU LUẬN Chủ đề: VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG PHƯƠNG ĐÔNG VỀ LÃNH ĐẠO TRONG NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA NGƯỜI CÁN
BỘ, CÔNG CHỨC TẠI TỈNH VĨNH PHÚC HIỆN NAY
Họ tên học viên:……….
Lớp:……….,
- 2021
Trang 2MỤC LỤC
Trang
I.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TƯ TƯỞNG PHƯƠNG ĐÔNG VỀ LÃNH ĐẠO TRONG NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA NGƯỜI CÁN BỘ,
1.1 Tư tưởng phương Đông về lãnh đạo 2 1.2 Năng lực lãnh đạo của người cán bộ, công chức tại tỉnhVĩnh Phúc hiện nay 4
II.
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG PHƯƠNG ĐÔNG VỀ LÃNH ĐẠO TRONG NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA NGƯỜI CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TẠI TỈNH
2.1 Nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũcông chức 9 2.2 Đội ngũ cán bộ, công chức phải tự giác học tập và rèn luyệnđể nâng cao năng lực lãnh đạo của bản thân 10 2.3 Đối với các tổ chức, cơ quan tại tỉnh Vĩnh Phúc 12
Trang 3MỞ ĐẦU
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến đội ngũ cán bộ, công chức, coi cán bộ, công chức là nhân tố quyết định
sự thành bại của cách mạng Chủ tịch Hồ Chí Minh người sáng lập, rèn luyện Đảng và Nhà nước ta đã nhấn mạnh: “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”,
“công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, “Huấn luyện cán
bộ là công việc gốc của Đảng” [3, tr.209]
Thấm nhuần tư tưởng của Người, hơn 90 năm xây dựng và phát triển, Đảng và Nhà nước ta luôn coi cán bộ, công chức là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng Mỗi thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều đánh dấu những bước trưởng thành, tiến bộ của đội ngũ cán bộ, công chức của Đảng và Nhà nước.Vì thế, Đảng, Nhà nước ta luôn chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đồng bộ, toàn diện, coi đây là vấn đề mấu chốt, trong sự nghiệp cách mạng
Trong những năm gần đây, đội ngũ cán bộ, công chức tại tỉnh Vĩnh Phúc
đã có bước phát triển về chất Tuy nhiên, trước những yêu cầu của tình hình, nhiệm vụ mới, đội ngũ này vẫn còn bộc lộ những yếu kém, bất cập về kiến thức, năng lực, trình độ, phương pháp, tác phong công tác Một số công chức gặp khó khăn, lúng túng, thậm chí va vấp, phạm sai lầm, khuyết điểm trong thi hành nhiệm vụ Bên cạnh đó, trước tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường, một
bộ phận cán bộ, công chức có biểu hiện suy thoái về phẩm chất đạo đức, quan liêu, vi phạm dân chủ Những điều đó đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín
và hiệu quả lãnh đạo, quản lý và làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với chính quyền; đồng thời phải nâng cao năng lực lãnh đạo đội ngũ cán bộ, công chức Do
đó, nghiên cứu vấn đề “Vận dụng tư tưởng phương Đông về lãnh đạo trong
nâng cao năng lực lãnh đạo của người cán bộ, công chức tại tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay” làm đề tài tiểu luận có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Trang 4NỘI DUNG
I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TƯ TƯỞNG PHƯƠNG ĐÔNG
VỀ LÃNH ĐẠO TRONG NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA NGƯỜI CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TẠI TỈNH VĨNH PHÚC HIỆN NAY
1.1 Tư tưởng phương Đông về lãnh đạo
Tư tưởng phương Đông về lãnh đạo thể hiện tập trung trong các thuyết của các nhà triết gia, trong đó chủ yếu là quan niệm của Khổng Tử, hay tư tưởng của các nhà tư tưởng Việt Nam
Trong xã hội chiếm hữu nô lệ ở Trung Quốc cổ đại diễn ra cuộc đấu tranh quyết liệt xung quanh vấn đề Nhà nước trị nước, an dân bằng những cách thức nào giữa các trường phái chính trị - xã hội khác nhau Các nhà tư tưởng hồi bấy giờ đã đi tìm kiếm những phương thức cai trị xã hội hữu hiệu, dùng pháp luật hay đạo đức, lễ, nhạc
Nho giáo do Khổng Tử sáng lập, lúc đầu chủ trương “nhân trị”, “lễ trị” hoàn toàn nhưng về sau đã phải tìm kiếm đến những yếu tố thích hợp của tư tưởng pháp trị Lễ trị của Khổng Tử có tác dụng rất sâu sắc và bao quát, nó vừa
là sự cụ thể hoá, vừa là công cụ, biện pháp để thực hiện đức trị và “chính danh” , nhằm tạo ra một trật tự trong các quan hệ gia đình và xã hội Theo Mạnh Tử, vua vâng mệnh Trời để trị dân, nhưng mệnh Trời phải hợp lòng dân, vai trò chủ chốt là của dân và sự phụ thuộc của nhà cầm quyền vào nhân dân Còn Tuân Tử thì đã kết hợp “lễ trị với luật” để trị nước, có thể coi đây là chiếc cầu nối giữa tư tưởng nhân - lễ trị của Khổng - Mạnh và tư tưởng pháp trị sau này
Phái Mặc gia do Mặc Tử khởi xướng lại lý giải: con người có quyền bình đẳng tự nhiên với nhau và quyền lực tối cao trong xã hội thuộc về dân Là một học thuyết được xây dựng từ thời Xuân Thu - Chiến Quốc nhưng Nho giáo đã được coi là hệ tư tưởng trong suốt hơn 2000 năm cai trị của giai cấp thống trị phong kiến nhằm củng cố địa vị thế tập của mình
Tư tưởng quản lý của Khổng Tử là hệ thống lớn, trong đó quan trong nhất là: hoà, trung dung, nhân, phú dân, đức trị, giáo hoá, chính kỷ, lễ, chính danh, nghĩa lợi, tín, cầu hiền, … Hạt nhân của hệ tư tưởng lãnh đạo của Không Tử là
Trang 5chữ “nhân”, lấy con người làm gốc hay gọi là “dân bản”, nó xuyên suốt từng bộ phận trong tư tưởng lãnh đạo của Khổng Tử
Tư tưởng lãnh đạo của Khổng Tử là tìm sự ổn định, quản lý của phương Tây là mong thay đổi Ổn định là cơ sở của mọi xã hội, mọi tổ chức tiến lên và cải cách Không có sự ổn định, hài hoà thì mọi sự thay đổi đều mất chỗ dựa Lãnh đạo cổ đại của phương Tây là coi trong vật chất, khinh thường con người, thậm chí chỉ nhìn thấy vật chất mà không nhìn thấy con người, con người phụ thuộc vào vật chất
Tâm lý đạo đức của phương Đông chủ yếu thể hiện thành “khuynh hướng liêm sỉ”, bắt nguồn từ phản ứng của người khác đối với hành vi cá thể Do đó cá nhân coi trọng sự đánh giá của người khác và căn cứ vào khả năng của người khác để thiết kế hành vi của mình Do đó hành vi cá nhân cũng là tự giác
Tư tưởng lãnh đạo của trường phái Pháp gia đại biểu cho lợi ích của giai cấp địa chủ mới lên trong thời Xuân Thu - Chiến Quốc, với chủ trương trị nước bằng luật pháp, đối lập với quan điểm lễ trị, đức trị của Nho gia Hàn Phi Tử đã phát triển tư tưởng pháp trị lên đỉnh cao, coi pháp luật là cơ sở duy nhất để quản lý xã hội, pháp luật phải thay đổi theo thời cuộc, “thời biến, pháp biến” Giá trị hiện thực của tư tưởng pháp trị đã giúp Tần Thuỷ Hoàng thu giang sơn về một mối Nho giáo mà tiêu biểu là Khổng Tử cũng không phủ nhận hoàn toàn vai trò của pháp luật nhưng quan niệm và cách thức vận dụng pháp luật khác nhiều so với Hàn Phi Tử Cùng là dùng hình luật để cai trị nhưng Pháp gia khác với Nho gia Pháp gia thì xem việc dùng hình phạt dù nặng hay nhẹ đều là việc hiển nhiên còn Nho gia khi dùng đến hình phạt thì dù sao cũng còn có sự băn khoăn, day dứt, bởi vì Nho gia cho rằng dùng hình phạt không phải là mục đích mà chỉ
là phương tiện Tóm lại, mỗi một phương thức cai trị mà các nhà tư tưởng nêu trên đề xuất đều có những mặt hạn chế, tiêu cực và cả mặt tích cực, chứa đựng đầy mâu thuẫn và kết quả là đã bị áp dụng cực đoan, làm cản trở, bóp nghẹt tiến trình phát triển của xã hội
Tư tưởng chính trị pháp lý Việt Nam thời kỳ phong kiến Đây là một đề tài mà luật học chúng ta chưa đi sâu nghiên cứu Trong lịch sử tư tưởng và cả
Trang 6trong thực tiễn tổ chức nhà nước ở nước ta trong thời kỳ phong kiến, tuy không đậm nét nhưng vẫn tồn tại những nhân tố về nhà nước pháp quyền Có thể nêu một vài dẫn chứng như trong đường lối chính trị “khoan dân” của Trần Quốc Tuấn - đỉnh cao của tư tưởng dân tộc thời Lý- Trần; trong tư tưởng chính trị
“ nhân nghĩa” của Nguyễn Trãi; trong đường lối trị nước của Lê Thánh Tông với
sự kết hợp lễ trị với pháp trị nhưng trên lập trường dân tộc và yêu nước Sự thịnh trị của triều Lê Thánh Tông có nhiều nguyên nhân khách quan do lịch sử
để lại, do sự kế thừa lịch sử, có nguyên nhân chủ quan bắt nguồn từ ý thức tư tưởng của ông- ý thức mãnh liệt về một xã hội thái bình, dân giàu nước mạnh, tư tưởng về một đường lối trị nước nhân nghĩa Tư tưởng chính trị Lê Thánh Tông: quan tâm đến đời sống dân, “chí lớn ít nhiều đều ở muôn dân”, ông đặc biệt quan tâm đến đời sống vật chất của dân và cho rằng: “ấy thánh hiền những đấng anh hùng, phải cơn khát đoái chi liêm sỉ ”, “no nên bụt, đói nên ma” (Hồng Đức quốc âm thi tập) Tư tưởng của ông đã là những động lực làm cho xã hội nhanh chóng đi vào thế ổn định, thay đổi cục diện triều đại, làm xuất hiện bộ mặt thái bình thịnh trị của triều đại Các vua thời Lê sơ đã dựa vào lý luận của Nho giáo
để xây dựng nên thiết chế và pháp độ của thời đại mình, đồng thời cũng xây dựng nên bộ luật của triều đại để bảo vệ các thiết chế và pháp độ đó Pháp luật, một sản phẩm của xã hội văn minh lần đầu tiên được người Việt biết đến và ý thức đầy đủ về nó nhờ ở tính phổ biến, tính phù hợp và thích ứng cao trong xã hội thời Lê Thánh Tông, mà đỉnh cao là Bộ luật Hồng Đức với sức sống hơn 360 năm
1.2 Năng lực lãnh đạo của người cán bộ, công chức tại tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay
* Cán bộ
Trên cơ sở Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 ngày 13/11/2008 đã quy định cụ thể như sau: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn,
bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - phường hội ở trung ương,
ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện,
Trang 7quận, thị phường, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” (Khoản 1, Điều 4) [2, tr.80]
Cán bộ viên chức được đề cập trong tiểu luận này là cán bộ viên chức nhà nước là những người được nhà nước tuyển dụng, bổ nhiệm vào vị trí chức danh nghề nghiệp nhất định trong đơn vị sự nghiệp công và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật Viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công có viên chức lãnh đạo, quản lý, viên chức chuyên môn nghiệp vụ, viên chức hành chính, kỹ thuật Cán
bộ trong các đơn vị sự nghiệp công có thể hiểu là viên chức lãnh đạo quản lý các đơn vị sự nghiệp công Trong luật Viên chức năm 2010 quy định: “Viên chức quản lý là người được bổ nhiệm giữ chức vụ quản lý có thời hạn, chịu trách nhiệm điều hành, tổ chức thực hiện một hoặc một số công việc trong đơn vị sự nghiệp công lập nhưng không phải là công chức và được hưởng phụ cấp chức vụ quản lý” [2, tr.82]
Năm 1947, trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Cán bộ là những người đem chủ trương, chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng” [4, tr.300] Người đã đặt cán bộ trong mối quan hệ với việc tổ chức thực hiện đường lối của Đảng và xây dựng đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước Đội ngũ cán bộ chính là người tổ chức triển khai đường lối chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, đồng thời cũng là người trực tiếp xây dựng,
bổ sung, hoàn thiện đường lối chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước Vì vậy khái niệm cán bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh là cán bộ của Đảng, Nhà nước, cán
bộ cách mạng
* Công chức
Công chức là “những người được nhà nước tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một chức vụ thường xuyên, làm việc liên tục trong cơ quan nhà nước, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào ngạch hành chính, sự nghiệp, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [8, tr.126]
Trang 8Hoặc được xác định: “là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - phường hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Cụng
an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp cụng lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - phường hội, trong biên chế và hưởng lương
từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [8, tr.84]
* Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Vĩnh Phúc
Tỉnh Vĩnh Phúc chính thức được tái lập vào năm 1997, là tỉnh trung du phía Bắc, thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, nằm trong khu vực châu thổ sông Hồng, phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang, phía Tây giáp Phú Thọ, phía Đông và phía Nam giáp thủ đô Hà Nội Tỉnh lỵ của Tỉnh là thành phố Vĩnh Yên, cách trung tâm Hà Nội 50 km và cách sân bay quốc tế Nội Bài 25
km Vĩnh Phúc nằm trên Quốc lộ số 2, đường sắt Hà Nội - Lào Cai và đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai, là cầu nối giữa vùng miền núi phía Bắc với Thủ đô
Hà Nội; liền kề cảng hàng không quốc tế Nội Bài
Tính đến năm 2012, Vĩnh Phúc có diện tích 1.231,76 km2 với dân số khoảng 1.020.597 người, mật độ dân số khoảng 824 người/km2, trong đó dân số nam khoảng 504.048 người chiếm 49,39%, dân số nữ 516.549 người chiếm 50,61%
Tỉnh Vĩnh Phúc có 09 đơn vị hành chính, gồm thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên, các huyện: Bình Xuyên, Lập Thạch, Sông Lô, Tam Dương, Tam Đảo, Vĩnh Tường, Yên Lạc và có tổng số 137 xã, phường, thị trấn, trong đó có
13 phường; 12 thị trấn và 112 xã 112 xã này đều thuộc diện xây dựng NTM
Những lợi thế về vị trí địa lý kinh tế, đã đưa tỉnh Vĩnh Phúc trở thành một
bộ phận cấu thành của vành đai phát triển công nghiệp, nông nghiệp các tỉnh
Trang 9phía Bắc, đem lại cho Vĩnh Phúc những thuận lợi nhất định trong phát triển KT
-XH, hiện nay Vĩnh Phúc nằm trong quy hoạch Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ
và vùng Thủ đô Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 20/QĐ-TTg, Về phê duyệt quy hoạch chung xây dựng đô thị Vĩnh Phúc, đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 Như vậy, trong tương lai Vĩnh Phúc sẽ trở thành trung tâm
kinh tế lớn của vùng Thủ đô
Từ khi tái lập tỉnh Vĩnh Phúc đã đạt được nhiều thành tựu về phát triển văn hóa, xã hội Cùng sự phát triển không ngừng về kinh tế, chất lượng cuộc sống của người dân Vĩnh Phúc cũng ngày càng được cải thiện Các mặt xã hội
có nhiều chuyển biến tích cực như: Chương trình xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, xoá nhà dột nát…, nhất là giải quyết các vấn đề công bằng xã hội, được Nhân dân đồng tình
* Năng lực lãnh đạo của người cán bộ, công chức tại tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay
- Ưu điểm
Phần lớn cán bộ, công chức tại tỉnh Vĩnh Phúc có phương pháp tác phong công tác đáp ứng yêu cầu chức trách, nhiệm vụ Giữ vững nguyên tắc trong chỉ đạo, tổ chức hướng dẫn công tác, biết kết hợp sự lãnh đạo của tập thể cấp ủy địa phương với đề cao trách nhiệm cá nhân, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ trong lãnh đạo, biết khai thác, phát huy sức mạnh của các tổ chức trong thực hiện các nhiệm vụ công tác Gương mẫu trong chấp hành các chế độ, nguyên tắc, nhạy bén, linh hoạt trong xem xét công việc
Tình hình, khiêm tốn, giản dị, tôn trọng lắng nghe ý kiến của nhân dân.Nhìn chung đội ngũ cán bộ, công chức tại tỉnh Vĩnh Phúc có tính chủ động, sáng tạo, quyết đoán, dám chịu trách nhiệm, không né tránh khuyết điểm, thường xuyên nghiên cứu, quán triệt đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị, của cấp trên, chủ động đề xuất chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo để cấp ủy, thảo luận, quyết định Có tinh thần trách nhiệm trong việc triển khai, phân công nhiệm vụ, kiểm tra, giám sát việc thực
Trang 10hiện nghị quyết, kịp thời đề xuất với cấp ủy, tổ chức đảng bổ sung, hoàn thiện chủ trương, biện pháp lãnh đạo đơn vị thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ
Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ, công chức tại tỉnh Vĩnh Phúc cơ bản đáp ứng yêu cầu chức trách, nhiệm vụ Tuyệt đại đa số cán bộ, công chức tại tỉnh Vĩnh Phúc xác định tốt trách nhiệm chính trị, chức trách, nhiệm
vụ được giao, không dao động trước những khó khăn, thử thách, những thiệt thòi
về vật chất và tinh thần, có bản lĩnh chính trị vững vàng, lập trường tư tưởng kiên định có trình độ nhận thức và niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thực sự
là tấm gương tiêu biểu cho lòng trung thành với Đảng, với Tổ quốc với nhân dân Kiên định với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Năng lực, phong cách làm việc đội ngũ cán bộ, công chức tại tỉnh Vĩnh Phúc về cơ bản đáp ứng yêu cầu chức trách, nhiệm vụ Cán bộ, công chức tại tỉnh Vĩnh Phúc có kiến thức, năng lực tương đối toàn diện cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học kỹ thuật, nắm được đường lối, quan điểm của Đảng Có khả năng vận dụng những quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào thực thi chức trách, nhiệm vụ, có năng lực nắm bắt địa bàn, tuyên truyền vận động thuyết phục quần chúng, có khả năng phổ biến, quán triệt triển khai các nhiệm vụ Có uy tín đối với các ban ngành, đoàn thể và khả năng phối kết hợp với các tổ chức, các lực lượng liên quan để thực hiện tốt các nhiệm
vụ chính trị ở địa phương Am tường và có tư duy khá nhạy bén trong nắm bắt tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội để kịp thời đề xuất với cấp ủy địa phương, đảng ủy những chủ trương, biện pháp lãnh đạo sát đúng góp phần thiết thực vào sự nghiệp xây dựng địa phương vững mạnh toàn diện
Có phong cách dân chủ và đoàn kết thống nhất cao, luôn dựa vào cấp ủy, tổ chức đảng, phát huy vai trò lãnh đạo của tập thể cấp ủy để hoàn thành nhiệm vụ, học hỏi quần chúng, phát huy mọi tài lực, trí tuệ, kinh nghiệm của quần chúng thành sức mạnh tổng hợp để thực hiện nhiệm vụ, không độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, đứng trên tập thể, tổ chức