1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN vai trò của ngành ngân hàng trong thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo ở việt nam hiện nay từ góc độ của cặp phạm trù riêng và cái chung

29 25 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 67,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đói nghèo là vấn đề xã hội mà bất kỳ quốc gia nào trên thế giới đều có thể gặp phải. Thực hiện xóa đói giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người nghèo, thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng, địa bàn và giữa các nhóm dân cư. Trong Báo cáo “Khởi đầu tốt nhưng chưa phải đã hoàn thành: Thành tựu ấn tượng của Việt Nam về giảm nghèo và những thách thức mới” của Ngân hàng thế giới ngày 2412013, cũng ghi nhận: Trong vòng 20 năm (1990 2010), tỷ lệ nghèo ở Việt Nam đã giảm từ gần 60% xuống còn 20,7% với khoảng hơn 30 triệu người thoát nghèo.Tuy nhiên, hiện nay vẫn tồn tại một bộ phận không nhỏ người dân vẫn ở trong tình trạng đói nghèo và các đối tượng chính sách cần được quan tâm giúp đỡ. Một trong những nguyên nhân của những hộ nghèo là thiếu vốn để sản xuất kinh doanh, thiếu điều kiện để học nghề... Để giải quyết vấn đề đó, ngành ngân hàng được thành lập nhằm mục đích cấp tín dụng ưu đãi đối với các hộ nghèo và đối tượng chính sách khác để giải quyết nhu cầu về vốn cho họ. Do đó, nghiên cứu vấn đề “Vai trò của ngành ngân hàng trong thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam hiện nay từ góc độ của cặp phạm trù riêng và cái chung” làm đề tài tiểu luận có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.

Trang 1

ĐỘ CỦA CẶP PHẠM TRÙ RIÊNG VÀ CÁI CHUNG

GVHD:………

HVTH:………

Lớp:………

- 2021

Trang 2

PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ TIỂU LUẬN

Trang 3

1.1 Cặp phạm trù riêng và cái chung 4

1.2

Vai trò của ngành ngân hàng trong thực hiện chính sách xóađói giảm nghèo ở Việt Nam hiện nay từ góc độ của cặpphạm trù riêng và cái chung 12

Chương 2.

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA NGÀNH NGÂN HÀNG TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY TỪ GÓC ĐỘ CỦA CẶP

2.1

Thực trạng vai trò của ngành ngân hàng trong thực hiệnchính sách xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam hiện nay từgóc độ của cặp phạm trù riêng và cái chung 152.2

Giải pháp phát huy vai trò của ngành ngân hàng trongthực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo ở Việt Namhiện nay từ góc độ của cặp phạm trù riêng và cái chung 17

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đói nghèo là vấn đề xã hội mà bất kỳ quốc gia nào trên thế giới đều có thểgặp phải Thực hiện xóa đói giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội là chủ trươnglớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần chongười nghèo, thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng, địa bàn vàgiữa các nhóm dân cư Trong Báo cáo “Khởi đầu tốt nhưng chưa phải đã hoànthành: Thành tựu ấn tượng của Việt Nam về giảm nghèo và những thách thức mới”của Ngân hàng thế giới ngày 24/1/2013, cũng ghi nhận: Trong vòng 20 năm (1990

- 2010), tỷ lệ nghèo ở Việt Nam đã giảm từ gần 60% xuống còn 20,7% với khoảnghơn 30 triệu người thoát nghèo

Tuy nhiên, hiện nay vẫn tồn tại một bộ phận không nhỏ người dân vẫn ởtrong tình trạng đói nghèo và các đối tượng chính sách cần được quan tâm giúp đỡ.Một trong những nguyên nhân của những hộ nghèo là thiếu vốn để sản xuất kinhdoanh, thiếu điều kiện để học nghề Để giải quyết vấn đề đó, ngành ngân hàngđược thành lập nhằm mục đích cấp tín dụng ưu đãi đối với các hộ nghèo và đốitượng chính sách khác để giải quyết nhu cầu về vốn cho họ Do đó, nghiên cứu vấn

đề “Vai trò của ngành ngân hàng trong thực hiện chính sách xóa đói giảm

nghèo ở Việt Nam hiện nay từ góc độ của cặp phạm trù riêng và cái chung” làm

đề tài tiểu luận có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích của đề tài

Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn vai trò của ngành ngân hàng trong thựchiện chính sách xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam hiện nay từ góc độ của cặp phạmtrù riêng và cái chung

2.2 Nhiệm vụ của đề tài

- Làm rõ vai trò của ngành ngân hàng trong thực hiện chính sách xóa đóigiảm nghèo ở Việt Nam hiện nay từ góc độ của cặp phạm trù riêng và cái chung

Trang 5

- Phân tích, đánh giá thực trạng vai trò của ngành ngân hàng trong thực hiệnchính sách xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam hiện nay từ góc độ của cặp phạm trùriêng và cái chung.

- Đề xuất những giải pháp nâng cáo vai trò của ngành ngân hàng trong thựchiện chính sách xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam hiện nay từ góc độ của cặp phạmtrù riêng và cái chung

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Vai trò của ngành ngân hàng trong thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo

ở Việt Nam hiện nay từ góc độ của cặp phạm trù riêng và cái chung

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Ở Việt nam.

- Về thời gian: Từ năm 2015 - 2020.

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Tiểu luận dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng

Hồ Chí Minh mà trực tiếp là kinh tế chính trị Mác - Lênnin, các quan điểm đườnglối của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách pháp luật của Nhà nước về đóinghèo, công cuộc xóa đói giảm nghèo thời gian qua, và các cơ chế hoạt động củangân hàng, chức năng, nhiệm vụ của ngành ngân hàng trong giảm nghèo và cấp tíndụng cho hộ nghèo cùng các đối tượng chính sách

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu và trình bày tiểu luận, tác giả sử dụng phươngpháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; đồng thời vận dụng quan điểmkhách quan, quan điểm toàn diện,quan điểm phát triển, quan điểm lịch sử cụ thể,quan điểm thực tiễn

5 Những đóng góp mới của đề tài

5.1 Về lý luận

Trang 6

Luận giải, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận vai trò của ngành ngân hàngtrong thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam hiện nay từ góc độ củacặp phạm trù riêng và cái chung.

5.2 Về thực tiễn

Tiểu luận văn có thể làm tài liệu tham khảo để nghiên cứu giảng dạy tại cáctrường cao đẳng, đại học; tham khảo cho lãnh đạo các cấp, lãnh đạo các ngân hàngtham khảo nhằm đề ra các biện pháp nâng cao vai trò xóa đói giảm nghèo thời gian tới

6 Kết cấu của đề tài

Đề tài ghiên cứu gồm: 2 chương, 4 tiết

Trang 7

NỘI DUNG Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA NGÀNH NGÂN HÀNG TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY TỪ GÓC ĐỘ CỦA CẶP PHẠM TRÙ RIÊNG VÀ CÁI CHUNG

1.1 Cặp phạm trù riêng và cái chung

* Phạm trù

Cùng với các quy luật cơ bản, các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứngduy vật giúp chúng ta hiểu sâu sắc và toàn diện hơn sự vận động, phát triển của thếgiới thông qua sự đấu tranh, chuyển hoá giữa các mặt đối lập bên trong các sự vật,hiện tượng

Để suy nghĩ và trao đổi tư tưởng cho nhau con người phải sử dụng những kháiniệm nhất định Đó là những hình thức cơ bản của tư duy phản ánh những mặt, nhữngthuộc tính cơ bản của một lớp sự vật, hiện tượng nào đó

Tuỳ theo mức độ bao quát các sự vật, hiện tượng mà có khái niệm rộng, hẹpkhác nhau Những khái niệm rộng nhất, phản ánh những mặt, những thuộc tính,những mối liên hệ chung, cơ bản nhất của các sự vật, hiện tượng thuộc một lĩnhvực nhất định được gọi là phạm trù

Mỗi môn khoa học cụ thể đều có một hệ thống các phạm trù riêng của mìnhphản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ cơ bản và phổ biếnthuộc phạm vi khoa học đó nghiên cứu

Khác với các phạm trù của khoa học cụ thể, phạm trù của phép biện chứngduy vật là những khái niệm chung nhất phản ánh những mặt, những thuộc tính,những mối liên hệ cơ bản và phổ biến của toàn bộ thế giới hiện thực, bao gồm cả

tự nhiên, xã hội và tư duy

Giữa phạm trù của triết học và phạm trù của các khoa học cụ thể có mối quan

hệ biện chứng với nhau Đó là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng

Phạm trù triết học trang bị tri thức khoa học chung nhất có ý nghĩa phươngpháp luận, dùng để nghiên cứu và giải quyết những vấn đề cụ thể của các khoa học

Trang 8

chuyên ngành Do đó, thực chất phạm trù triết học là phạm trù của phương phápnghiên cứu, phương pháp nhận thức thế giới khách quan.

Các phạm trù của phép biện chứng duy vật có sự liên hệ và quan hệ với nhau

tạo thành tính chất cặp đôi Tính cặp đôi là một trong những phương thức phản ánh

phép biện chứng khách quan của thế giới bằng phép phép biện chứng của kháiniệm Tính cặp đôi của các phạm trù chính là sự phản ánh biện chứng tính thốngnhất và đấu tranh của các mặt đối lập của thế giới hiện thực khách quan Sự thốngnhất và đối lập của các phạm trù, tính cặp đôi của chúng chính là nguồn gốc bêntrong sự chuyển hoá giữa các phạm trù Nhờ đó khi xem xét các khái niệm, phạmtrù, ta sẽ tránh được quan niệm coi chúng như là những tổng số của các hình thứcphản ánh, như là những quan hệ nối tiếp máy móc, mà là những quan hệ phụ thuộc,rút từ cái này ra cái kia V I Lênin viết: “Những khái niệm của con người khôngđứng im, mà luôn vận động, chuyển hoá từ cái nọ sang cái kia Không như vậy,chúng không phải là phản ánh của đời sống sinh động” [5, tr.190]

Sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các phạm trù trong từng cặp của phép biệnchứng duy vật là sự tác động biện chứng, có tính quy luật Vì thế các cặp phạm trù còn đ-ược gọi là các quy luật không cơ bản của phép biện chứng duy vật

Trong lịch sử triết học, các trường phái triết học đã đưa ra những cách giảiquyết khác nhau về vấn đề bản chất của phạm trù Những người thuộc phái duythực cho phạm trù là những thực thể ý niệm, tồn tại ở ngoài và độc lập với ý thứccủa con người Trái lại, những người theo phái duy danh lại cho rằng, phạm trù chỉ

là những từ trống rỗng, do con người tưởng tượng ra, không biểu hiện một cái gìtrong hiện thực E Cantơ và những người thuộc phái của ông lại coi phạm trù chỉ

là những hình thức tư duy có sẵn của con người một cách bẩm sinh, có trước kinhnghiệm, không phụ thuộc vào kinh nghiệm, được lý trí của con người đưa vào giới

tự nhiên

Khác với các quan điểm trên đây, chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng,các phạm trù được hình thành trong quá trình hoạt động nhận thức và thực tiễn củacon người Mỗi phạm trù xuất hiện là kết quả của quá trình nhận thức trước đó,

Trang 9

đồng thời lại là bậc thang của quá trình nhận thức tiếp theo của con người để tiếngần đến nhận thức đầy đủ hơn bản chất của sự vật V I Lênin viết: “Trước con

người có màng lưới những hiện tượng tự nhiên Con ngươì bản năng, người man

rợ, không tự tách khỏi giới tự nhiên Người có ý thức tự tách khỏi giới tự nhiên,những phạm trù là những giai đoạn của sự tách khỏi đó, tức là của sự nhận thức thếgiới, chúng là những điểm nút của màng lưới, giúp ta nhận thức và nắm vững đượcmàng lưới” [6, tr.278]

Các phạm trù được hình thành bằng con đường khái quát hoá, trừu tượnghoá những thuộc tính, những mối liên hệ vốn có bên trong của bản thân sự vật Vìvậy nội dung của nó mang tính khách quan, do thế giới khách quan quy định, mặc

dù hình thức thể hiện của nó là chủ quan V I Lênin viết: “Những khái niệm củacon người là chủ quan trong tính trừu tượng của chúng, trong sự tách rời củachúng, nhưng là khách quan trong chỉnh thể, trong quá trình, trong kết cuộc, trongkhuynh hướng, trong nguồn gốc” [7, tr.287]

Các phạm trù là kết quả của quá trình nhận thức của con người, là hình ảnhchủ quan của thế giới khách quan Thế giới khách quan không chỉ tồn tại độc lậpvới ý thức của con người, mà còn luôn vận động, phát triển và chuyển hoá lẫnnhau Mặt khác, khả năng nhận thức của con người về thế giới cũng phát triển,ngày càng trở nên sâu sắc và toàn diện hơn, do vậy các phạm trù cũng phải vậnđộng và phát triển theo Không như vậy, các phạm trù không thể phản ánh đúngđắn hiện thực khách quan được Vì vậy, hệ thống phạm trù của phép biện chứngduy vật không phải là một hệ thống đóng kín, bất biến, mà có thể và cần phải được

bổ sung bằng những phạm trù mới cùng với sự phát triển của thực tiễn và nhậnthức khoa học

* Khái niệm cái riêng và cái chung

Cái riêng là phạm trù dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình

cụ thể, hay một hệ thống các sự vật mang tính độc lập tương đối so với các hệ thống khác.

Trang 10

Cái riêng được xem như một chỉnh thể mang tính độc lập tương đối với mộtchỉnh thể khác, có những đặc điểm không lặp lại ở các chỉnh thể (sự vật, hiệntượng, quá trình) khác Song chỉnh thể (cái riêng) ấy luôn được xác định bởi tổnghoà các mặt, các thuộc tính hợp thành những tính quy định riêng về chất lượng và

số lượng của mỗi sự vật, hiện tượng, quá trình

Cái chung là phạm trù dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính giống nhau được lặp lại trong nhiều (nhóm, loại) sự vật, hiện tượng, hay nhiều quá trình riêng.

Như vậy, cái chung chỉ là cái bộ phận, được tách ra một cách trừu tượng khỏi tất cảcác cái riêng (sự vật, hiện tượng, quá trình) khác Nó là cái đồng nhất trừu tượngcủa tất cả hay rất nhiều sự vật, hiện tượng trong một quan hệ xác định, không phải

cái toàn bộ trong chỉnh thể cái riêng Song cái bộ phận (cái chung) ấy được lặp lại

trong nhiều cái riêng khác (nhiều sự vật, hiện tượng, quá trình khác)

“Cái riêng” khác với “cái đơn nhất” Cái đơn nhất là phạm trù dùng để chỉnhững nét, những mặt, những thuộc tính,… chỉ có ở một sự vật, một hiện tượng,một kết cấu vật chất mà không lặp lại ở bất cứ sự vật, hiện tượng, kết cấu vật chấtkhác Chẳng hạn, “ý thức”, “lao động”, “ngôn ngữ” là những cái đơn nhất (nhữngthuộc tính đơn nhất) chỉ có ở loài người “Cái chung” khác “cái đặc thù” và “cáiphổ biến” “Cái đặc thù” là phạm trù dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính…

có ở một số sự vật, hiện tượng, quá trình hay một số kết cấu vật chất nhất định Ví dụ:

“dẫn nhiệt”, “dẫn điện” là cácá thuộc tính đặc thù của kim loại “Cái phổ biến” làphạm trù dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ và quan hệgiống nhau của nhiều nhóm, loại sự vật, hiện tượng, quá trình hay nhiều kết cấu vậtchất khác nhau Sự phân biệt giữa cái đặc thù và cái phổ biến chỉ có ý nghĩa tương

đối, tuỳ thuộc vào quan hệ khi xem xét Chẳng hạn, “đấu tranh giai cấp” là quy luật

phổ biến của mọi xã hội có giai cấp, song cũng có thể coi đây là quy luật đặc thùcủa những xã hội có sự phân chia thành giai cấp [1, tr.80]

* Mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng

Trong lịch sử triết học, mối liên hệ giữa cái riêng và cái chung được quan niệmkhác nhau Phái duy thực đồng nhất thượng đế với cái chung và cho rằng chỉ có cái

Trang 11

chung mới tồn tại độc lập khách quan và là nguônhiều sản sinh ra cái riêng Đốilập lại chủ nghĩa duy thực, các nhà triết học duy danh như P Abơla (1079- 1142),Đumxcot (1265- 1308) cho rằng chỉ những sự vật, hiện tượng tồn tại riêng biệt vớinhững chất lượng riêng của chúng mới là có thực còn khái niệm cái chung chỉ làsản phẩm của tư duy của con người Thấy được và khắc phục hạn chế của hai quanniệm trên, triết học duy vật biện chứng cho rằng cái chung và cái riêng có mối liên

hệ biện chứng mật thiết với nhau, và cả hai đều tồn tại một cách khách quan

Quan niệm của phái “duy danh” cho rằng, chỉ cái riêng là tồn tại thực sự, cótrước cái chung, còn cái chung (khái niệm chung) là những tên gọi trống rỗng docon người nghĩ ra, không liên quan với sự vật riêng (cái riêng) Mặt tích cực củaquan niệm này ở chỗ, nó có khuynh hướng duy vật, chống chủ nghĩa duy tâm, tôngiáo khi thừa nhận sự vật có trước, khái niệm có sau Mặt hạn chế của nó là phủnhận nội dung khách quan của các khái niệm; không thấy mối liên hệ giữa cáiriêng (sự vật) với cái chung (khái niệm)

Trái với quan niệm của phái “duy danh”, phái “duy thực” cho rằng, chỉ cáichung (khái niệm chung) là tồn tại thực sự, vĩnh viễn, độc lập với ý thức của conngười và sinh ra cái riêng; còn cái riêng (sự vật) chỉ tồn tại trong một thời gian rồibiến đi (Platôn) Hạn chế của quan niệm này là có khuynh hướng duy tâm khi chorằng khái niệm có trước sự vật; tách rời cái riêng và cái chung [2, tr.102]

Tóm lại, quan niệm của cả hai phái trên đều sai lầm ở chỗ họ đã tách cáiriêng khỏi cái chung, tuyệt đối hoá cái riêng, phủ nhận cái chung, hoặc ngược lại

Họ không thấy sự tồn tại khách quan và mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung

Trái với cách giải quyết của cả hai phái trên, triết học Mác - Lênin cho rằng,cái riêng và cái chung đều tồn tại khách quan, giữa chúng có mối quan hệ biệnchứng với nhau

Thứ nhất, cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng Nghĩa là,

không có cái chung thuần tuý, trừu tượng tồn tại tách rời cái riêng Chẳng hạn, cácthuộc tính: “tồn tại khách quan”, “phản ánh”, “vận động” là những thuộc tínhchung của thế giới vật chất, song những thuộc tính chung này không tồn tại trừu

Trang 12

tượng, chúng biểu hiện sự tồn tại của mình thông qua các sự vật, hiện tượng cụ thểcủa thế giới vật chất Như vậy, những cái chung này tồn tại thực sự, nhưng chỉ tồntại thông qua những dạng vật chất cụ thể, chứ không tồn tại ngoài những dạng vậtchất cụ thể

Thứ hai, cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa đến cái chung Nghĩa là,

không có cái riêng nào tồn tại tuyệt đối độc lập, không có liên hệ với cái chung Bởi vì,

một mặt, bất cứ cái riêng (sự vật, hiện tượng) nào cũng tồn tại trong một môi trường,

hoàn cảnh nhất định, có liên hệ với các sự vật, hiện tượng xung quanh Các mối liên hệ

cứ trải rộng dần và trong số chúng sẽ có những mối liên hệ đưa đến một cái cái chung

nào đấy Mặt khác, bất cứ cái riêng nào trong quá trình tồn tại và phát triển của nó cũng

chịu sự chi phối của cái chung, quy luật chung Ví dụ: Mọi cuộc chiến tranh đều chịu sựquy định của quy luật phổ biến của nó là “mạnh được, yếu thua” [3, tr.27]

Thứ ba, cái riêng là cái toàn bộ, phong phú hơn cái chung; cái chung là cái

bộ phận, nhưng sâu sắc hơn, bản chất hơn cái riêng Nghĩa là, cái riêng là cái chỉnhthể, nó không gia nhập hết vào cái chung; còn cái chung chỉ là một mặt, một khíacạnh hay một bản chất của cái riêng Cái riêng phong phú hơn cái chung: vì ngoàinhững thuộc tính gia nhập cái chung, cái riêng còn có những “cái đơn nhất”, riêng có,không lặp lại ở bất cứ sự vật, hiện tượng nào Ví dụ: ngoài những cái chung của giaicấp tư sản quốc tế, giai cấp tư sản Việt Nam trước năm 1945 còn có đặc điểm là rađời sau giai cấp vô sản Việt Nam Chính điều này đã tạo nên sự đa dạng, phongphú của cái riêng Cái chung sâu sắc hơn cái riêng: vì nó phản ánh những thuộc tính,những mối liên hệ ổn định, tất nhiên lặp lại ở nhiều cái riêng cùng loại Do vậy, nó gắn liềnvới cái bản chất, quy định phương hướng tồn tại và phát triển của cái riêng Chẳng hạn,quy luật bóc lột giá trị thặng dư của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa là cáichung, sâu sắc vì nó vạch trần quan hệ bóc lột của tư bản với lao động, của tư sảnvới vô sản

Thứ tư, trong quá trình phát triển khách quan của sự vật (cái riêng), trong

những điều kiện nhất định, cái đơn nhất có thể biến thành cái chung, và ngược lại.Đây là sự chuyển hoá của hai mặt đối lập: giữa cái vốn có chỉ của một cái riêng,

Trang 13

không lặp lại ở nhiều cái riêng cùng loại Sự chuyển hoá ở đây là sự chuyển hoácủa những thuộc tính: những thuộc tính chung biến thành những thuộc tính đơnnhất, và ngược lại Ví dụ: năm 1981, “khoán sản phẩm tới người lao động” là cáiđơn nhất chỉ có ở ngành sản xuất nông nghiệp của Hải Phòng Sau khoán 10 vàkhoán 100, nó được nhân rộng và trở thành cái chung của cả nước và của mọingành kinh tế

Cái chung là bộ phận,nhưng sâu sắc hơn cái riêng, còn cái riêng là toàn bộ nhưng phong phú hơn cái chung Cái riêng phong phú hơn cái chung vì ngoài đặc

điểm chung ,cái riêng còn có cái đơn nhất Cái chung sâu sắc hơn cái riêng vì cáiriêng phản ánh những thuộc tính ,những mối liên hệ ổn định,tất nhiên, lặp lại ởnhiều cái riêng cùng loại Do vậy cái chung là cái gắn liền với bản chất,quy địnhphương hướng tồn tại và phát triển của cái chung

Có thể khái quát một công thức như sau:

Cái riêng = cái chung + cái đơn nhất

Công thức trên có thể là không hoàn toàn đúng một cách tuyệt đối, nhưngtrong một chừng mực nào đó thì nó có thể nói được một cách chính xác quan hệbao trùm giữa cái chung và cái riêng Cái chung chỉ giữ phần bản chất, hình thànhnên chiều sâu của sự vật, còn cái riêng là cái toàn bộ vì nó là một thực thể sốngđộng Trong mỗi cái riêng luôn tồn tại đồng thời cả cái chung và cái đơn nhất Nhờthế, giữa những cái riêng vừa có sự tách biệt, vừa có thể tác động qua lại với nhau,chuyển hóa lẫn nhau Sự “ va chạm” giữa những cái riêng vừa làm cho các sự vậtxích lại gần nhau bởi cái chung, vừa làm cho sự vật tách xa nhau bởi cái đơn nhất.Cũng nhờ sự tương tác này giữa những cái riêng mà cái chung có thể được pháthiện Về điểm này, Lênin nói: “ Cái riêng chỉ có thể tồn tại trong mối liên hệ dẫntới cái chung” Ví dụ, nguyên tử của mọi nguyên tố đều khác nhau, đều là cái “riêng”, chúng có trọng lượng nguyên tử của mình, có hoá trị của mình, có điện tíchhạt nhân của mình, có cấu tạo vỏ nguyên tử của mình Nhưng tất cả nhữngnguyên tử đều có cái chung: trong mọi nguyên tử đều có hạt nhân, vỏ điện tử, đều

có những hạt nguyên tố; hạt nhân của mọi nguyên tử đều có thể bị phá vỡ Chính

Trang 14

nhờ có những đặc tính chung cho mọi nguyên tử mà khoa học mới có khả năngbiến nguyên tử của một nguyên tố này thành nguyên tử của một nguyên tố khác.Nguyên tử, cũng như bất cứ hiện tượng nào khác trong thế giới khách quan, là sựthống nhất của cái khác nhau và cái giống nhau, cái đơn nhất và cái phổ biến.

Trong những hoàn cảnh khác nhau, cái chung có thể chuyển hoá thành cáiđơn nhất và ngược lại Ví dụ: trước Đại hội Đảng VI thì kinh tế thị trường, khoánsản phẩm chỉ là cái đơn nhất, còn cái chung là cơ chế bao cấp; nhưng từ sau Đạihội Đảng VI thì kinh tế thị trường lại dần trở thành cái chung, còn kinh tế tập trungbao cấp thành cái đơn nhất, chỉ còn tồn tại trong một số ngành như an ninh quốcphòng

Sự phân biệt giữa cái chung và cái đơn nhất nhiều khi chỉ mang tính tươngđối Có những đặc điểm xét ở trong nhóm sự vật này là cái đơn nhất, nhưng nếuxét ở trong nhóm sự vật khác lại là cái chung Ví dụ như cây cối là một đặc điểmchung khi xét tập hợp các cây như bạch đàn, phượng vĩ, bàng… nhưng nếu xéttrong phạm vi thực vật thì cây cối chỉ là một đặc điểm đơn nhất chỉ các loại cây,

mà ngoài ra thực vật còn có cỏ, bụi rậm, nấm Xét một ví dụ khác, qui luật cầu là cái chung trong nền kinh tế thị trường, nhưng trong toàn bộ các hình thứckinh tế trong lịch sử thì nó lại chỉ là cái đơn nhất, đặc trưng cho kinh tế thị trường

cung-mà không thể là đặc điểm chung cho mọi hình thức khác như kinh tế tự cung tựcấp chẳng hạn

Trong một số trường hợp ta đồng nhất cái riêng với cái chung, khẳng địnhcái riêng là cái chung Ví dụ như những câu sau: “hoa hồng là hoa”, “kinh tế thịtrường theo định hướng XHCN là kinh tế thị trường” Những trường hợp đó thểhiện mâu thuẫn giữa cái riêng và cái chung Quan hệ bao trùm của cái riêng đối vớicái chung đã trở thành quan hệ ngang bằng Tuy nhiên những định nghĩa như trênchỉ nhằm mục đích tách sự vật ra khỏi những phạm vi không thuộc sự vật ấy, chứkhông dùng để chỉ toàn bộ những đặc tính của sự vật

Trong quá trình phát triển của sự vật hiện tượng,trong những điều kiện nhấtđịnh “cái đơn nhất” có thể biến thành “cái chung” và ngược lại “cái chung” có thể

Ngày đăng: 13/09/2021, 19:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w