1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận quản lí nhà nước về tôn giáo trên địa bàn thành phố hồ chí minh

37 19 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 196 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo. Chưa kể vài chục triệu người khác vẫn giữ tín ngưỡng dân gian truyền thống, chỉ tính riêng 6 tôn giáo lớn, ở nước ta đã có gần 13 dân số cả nước sinh hoạt tôn giáo thường xuyên. Tôn giáo trở thành nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Trong tình hình đó, Đảng và Nhà nước xác định phải tăng cường công tác tôn giáo để vừa đảm bảo nhu cầu tín ngưỡng của quần chúng, vừa kịp thời đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo để đi ngược lại lợi ích căn bản của nhân dân. Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với tôn giáo là vấn đề hết sức quan trọng, nó phải được sự quan tâm của các ngành, các cấp và cần được tiến hành trên cơ sở khoa học của chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta từng bước hoàn thiện chính sách tôn giáo, tăng cường quản lý nhà nước đối với tôn giáo bằng pháp luật; hướng cho cán bộ, đảng viên nhận thức đúng vai trò của các tôn giáo trong đời sống nhân dân; kiên quyết uốn nắn nhận thức lệch lạc, những khuyết điểm nhằm thực hiện triệt để tinh thần đại đoàn kết toàn dân vì sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.Thành phố Hồ Chí MInh là một thành phố đông dân số, nhưng có tới 40% dân số theo Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài. Ngoài ra, một bộ phận nhân dân còn theo tín ngưỡng truyền thống. Phần đông tín đồ các tôn giáo có trình độ dân trí thấp, còn mê tín, thậm chí cuồng tín, nên dễ bị các thế lực tiêu cực kích động, lợi dụng vào các mục đích chính trị xấu.

Trang 1

KHOA …



TIỂU LUẬNChủ đề: QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Họ tên học viên:……….

Lớp:……….,

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC

VỀ TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ

HỒ CHÍ MINH

8

1.1 Bản chất, nguồn gốc, vai trò của tôn giáo 8

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI

TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ

Chương 3 MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG

CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI

TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ

3.1 Một số phương hướng cơ bản nâng cao hiệu quả quản lý

nhà nước đối với tôn giáo trên địa bàn thành phố Hồ Chí

3.2 Một số giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả quản lý nhà

nước đối với tôn giáo trên địa bàn thành phố Hồ Chí

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo Chưa kể vài chục triệu người khácvẫn giữ tín ngưỡng dân gian truyền thống, chỉ tính riêng 6 tôn giáo lớn, ở nước

ta đã có gần 1/3 dân số cả nước sinh hoạt tôn giáo thường xuyên Tôn giáo trởthành nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân Trong tình hình đó, Đảng vàNhà nước xác định phải tăng cường công tác tôn giáo để vừa đảm bảo nhu cầutín ngưỡng của quần chúng, vừa kịp thời đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo

để đi ngược lại lợi ích căn bản của nhân dân Vì vậy, việc nâng cao hiệu quảquản lý nhà nước đối với tôn giáo là vấn đề hết sức quan trọng, nó phải được sựquan tâm của các ngành, các cấp và cần được tiến hành trên cơ sở khoa học củachủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta từng bước hoàn thiện chínhsách tôn giáo, tăng cường quản lý nhà nước đối với tôn giáo bằng pháp luật;hướng cho cán bộ, đảng viên nhận thức đúng vai trò của các tôn giáo trong đờisống nhân dân; kiên quyết uốn nắn nhận thức lệch lạc, những khuyết điểm nhằmthực hiện triệt để tinh thần đại đoàn kết toàn dân vì sự nghiệp xây dựng nướcViệt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Thành phố Hồ Chí MInh là một thành phố đông dân số, nhưng có tới40% dân số theo Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài Ngoài ra, một bộ phậnnhân dân còn theo tín ngưỡng truyền thống Phần đông tín đồ các tôn giáo cótrình độ dân trí thấp, còn mê tín, thậm chí cuồng tín, nên dễ bị các thế lực tiêucực kích động, lợi dụng vào các mục đích chính trị xấu

Hiện nay, tuy hoạt động của các tôn giáo có xu hướng đồng hành với dântộc, mang tính thuần túy tôn giáo, nhưng bên cạnh đó vẫn có tình trạng lúc nàyhay lúc khác hoạt động của một số tôn giáo diễn ra không bình thường, có phầnlấn lướt chính quyền, vi phạm một số quy định của Nhà nước về xây dựng, sửachữa cơ sở thờ tự, in ấn, phát tán kinh sách; lợi dụng hoạt động từ thiện, nhânđạo để khuếch trương thanh thế Hiện tượng bói toán, mê tín còn diễn ra trànlan Một số chức sắc các tôn giáo ngấm ngầm chống đối chủ trương, chính sách

Trang 5

của Đảng và Nhà nước Các dòng tu, hội đoàn và Gia đình phật tử thông qua cáchình thức sinh hoạt phong phú đã thu hút khá đông thanh, thiếu niên tham giasinh hoạt tôn giáo Hoạt động truyền đạo trái phép của một số tôn giáo vào vùngđồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa ngày càng gia tăng Việc các thế lực phảnđộng lợi dụng tôn giáo để kích động quần chúng chống đối chính quyền vẫn lẻ

tẻ diễn ra ở một số nơi

Trước tình hình đó, Thành ủy đã tăng cường chỉ đạo quản lý nhà nướcđối với tôn giáo, nên đã đạt được những thành tựu nhất định Tuy nhiên, công tácquản lý nhà nước đối với tôn giáo còn có nhiều hạn chế: sự phối hợp giữa cácngành, các cấp thiếu tập trung và đồng bộ; việc phân định chức năng quản lý củacác cấp chính quyền không rõ ràng, còn đùn đẩy cho nhau Điều đó vô tình đãtạo ra những sơ hở, thiếu chặt chẽ; giải quyết không đúng thẩm quyền Nhậnthức của một bộ phận cán bộ, đảng viên về chủ trương, chính sách của Đảng vàNhà nước về tôn giáo còn hạn chế Do đó, một số cơ quan quản lý nhà nướccũng vi phạm chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước

Trước tình hình đó, việc tìm ra những phương hướng và giải pháp đểnâng cao hiệu quả quản lý của cơ quan Nhà nước trên địa bàn nhằm vừa đảmbảo nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo lành mạnh của quần chúng, vừa đảm bảo chochính sách tôn giáo không bị vi phạm, vừa đấu tranh có hiệu quả chống địch lợidụng tôn giáo là việc làm cần thiết

Do vậy, việc nghiên cứu vấn đề: “Quản lí nhà nước về tôn giáo trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” trở thành vấn đề cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.

2 Tình hình nghiên cứu vấn đề

Quản lý nhà nước nói chung, quản lý nhà nước đối với tôn giáo nói riêng

là một trong những yêu cầu của sự nghiệp đổi mới Cho nên, từ khi có Nghịquyết 24 của Bộ Chính trị, việc đi vào nghiên cứu tôn giáo, đề ra chủ trương,chính sách tôn giáo ngày càng được nhiều nhà lý luận - chính trị quan tâm hơn

Từ đó, nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này đã được công bố Chẳng hạn,

“Mối quan hệ giữa chính trị và tôn giáo trong thời kỳ mở rộng giao lưu quốc tế

và phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta

Trang 6

hiện nay” của Trung tâm Khoa học về Tín ngưỡng và Tôn giáo thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 1998; “Tôn giáo tín ngưỡng hiện nay - Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp thiết” của Trung tâm Thông tin - Tư liệu, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 1995; “Đổi mới quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động của các tôn giáo ở Việt Nam” của Trần Minh

Thư, năm 1999 Song, các công trình nghiên cứu này mới chỉ đề cập công táctôn giáo nói chung, chưa đi sâu vào nghiên cứu quản lý nhà nước đối với tôn giáo

Các công trình nghiên cứu trên mới chỉ đi sâu vào nghiên cứu các tôngiáo trên địa bàn của các thành phố, thành, từ đó, bước đầu đưa ra một số giảipháp chủ yếu để quản lý các tôn giáo đó Các công trình này chưa đánh giá đượcthực trạng quản lý nhà nước đối với tôn giáo và làm rõ vấn đề đặt ra hiện naytrên lĩnh vực quản lý nhà nước đối với tôn giáo ở thành phố Hồ Chí Minh Dovậy, một số giải pháp được đưa ra còn thiếu sát hợp và đồng bộ Đề tài này gópphần hoàn thiện thêm công tác nghiên cứu đó

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ thực trạng quản lý nhà nước đối với tôn giáo ở Thànhphố Hồ Chí Minh với tất cả các mặt mạnh và yếu của nó, tiểu luận góp phần đềxuất một số phương hướng và giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nướcđối với tôn giáo trên địa bàn thành phố trong thời gian trước mắt

* Nhiệm vụ nghiên cứu

Làm rõ những đặc điểm của tôn giáo ở Thành phố Hồ Chí Minh

Làm rõ những thành tựu và hạn chế trong quản lý nhà nước đối với tôngiáo ở Thành phố Hồ Chí Minh trong những năm gần đây, nguyên nhân của chúng

Đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản

lý nhà nước đối với tôn giáo ở Thành phố Hồ Chí Minh trong tình hình mới

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Quản lí nhà nước về tôn giáo trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

* Phạm vi nghiên cứu

Trang 7

Công tác tôn giáo bao gồm nhiều mặt, liên quan đến nhiều lĩnh vực củađời sống xã hội Đề tài này chỉ giới hạn trong việc nghiên cứu quản lý nhà nướcđối với tôn giáo ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay trên một số phương diện.

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

* Cơ sở lý luận

Tiểu luận được thực hiện dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về quản lý nhànước đối với tôn giáo Tiểu luận cũng xuất phát từ thực tiễn quản lý nhà nướcđối với tôn giáo ở Thành phố Hồ Chí Minh thời gian qua

* Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện tiểu luận này, tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp lôgic

và lịch sử, phân tích và tổng hợp, so sánh, đối chiếu cùng phương pháp của xã hộihọc nhằm đạt mục đích và hoàn thành những nhiệm vụ mà tiểu luận đặt ra

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Tiểu luận có thể làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy Chủ nghĩa xã hộikhoa học, Tôn giáo học

7 Kết cấu của tiểu luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, tiểu luậngồm 3 chương, 7 tiết

Trang 8

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

1.1 Bản chất, nguồn gốc, vai trò của tôn giáo

1.1.1 Bản chất, nguồn gốc của tôn giáo

Từ thời cổ đại, các nhà triết học đã đề cập đến khái niệm tôn giáo Cácnhà triết học duy vật cổ đại như Heraclil (540-480 tr CN), Domocril (460-371 trCN), Epiquya (341-270 tr CN) không công nhận có thần thánh, tôn giáo Theo

họ, mọi vật ( kể cả linh hồn con người) đều được cấu tạo từ nguyên tử, thầnthánh chẳng qua chỉ là sự tưởng tượng của con người khi con người sợ hãi, bấtlực trước thiên nhiên Về sau, các nhà khoa học như N Côpécních (1473-1543),

G Galilê (1564-1642), L Phơ bách (1804-1872) , củng cố và tiếp tục phát triểncác quan niệm ấy

Đối lập với phái duy vật, các nhà triết học duy tâm như Platon (427-347

tr CN), Aristot (384-322 tr CN), và về sau là Beccơli (1684-1733), thì thừa nhận

có Chúa và các Đấng thiêng liêng, tức là có tôn giáo Chúa và các Đấng thiêngliêng có sức mạnh vô biên, sáng tạo ra muôn loài, muôn vật và con người

Từ khi bước lên vũ đài chính trị, Mác và các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác

đã đi sâu nghiên cứu tôn giáo, đặt tôn giáo trong mối quan hệ với các hiện tượng

xã hội khác như kinh tế học, đạo đức học, văn hóa, Từ đấy, F Ănghen quanniệm tôn giáo như sau: “Mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vàođầu óc con người của những lực lượng bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngàycủa họ, chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế mang hình thứcsiêu trần thế”

Từ định nghĩa trên đây của F Ănghen về tôn giáo có thể nhận ra đượcbản chất của tôn giáo là:

Trước hết, cần nhận thấy rằng hiện tưọng khách quan tác động vào conngười, con người nhận thức (nắm bắt và hiểu được hiện tượng khách quan ấy) Từ

đó, con người thể hiện sự nhận thức ấy thành những cái mà chủ nghĩa Mác gọi làhình thái ý thức xã hội Hình thái ý thức tồn tại qua nhiều dạng khác nhau như

Trang 9

triết học, chính trị học, nhà nước, luật pháp, đạo đức, văn hóa và tôn giáo Nhưvậy, tôn giáo cũng như triết học, đạo đức chỉ là những hình thái ý thức xã hội.

Tuy nhiên, tôn giáo chỉ sự phản ánh hư ảo Tính hư ảo, hoang đườngtrong sự phản ánh của tôn giáo là ở chỗ chia thế giới thống nhất thành hai thếgiới đối lập nhau: thế giới thứ nhất là thế giới có thật với đặc điểm có tính bảnchất là đầy đau khổ, bất hạnh, thế giới thứ hai là thế giới của thần thánh với đặcđiểm là tốt đẹp, cầu được ước thấy

Thừa nhận tôn giáo phản ánh cách nhận thức con người về hiện thựckhách quan có nghĩa là coi tôn giáo như một hình thức, một công cụ thể hiện tư

tưởng, tình cảm của con người Khi viết “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân Tôn giáo là hạnh phúc hư ảo của nhân dân” thì Mác một phần nhấn mạnh tính

tích cực và tiêu cực của tôn giáo, mặt khác thừa nhận tôn giáo như là sự bù đắp,xoa dịu nỗi đau của con ngươì, tôn giáo là một liều thuốc an thần

* Một khi nhận thức được những khía cạnh trên đây trong bản chất củatôn giáo, thì chúng ta cũng hiểu rõ nét đặc trưng của tôn giáo gồm:

a) Niềm tin: Khi người ta nói đến tôn giáo là nói đến niềm tin, bởi không

có niềm tin thì không thể có tôn giáo Nhưng đó là “niềm tin hư ảo, ảo tưởng” ở

sự tồn tại và sức mạnh của lực lượng siêu nhiên Niềm tin đó xuất phát từ ý

thức, tình cảm, tâm lý của con người và nó không thể chứng minh được, nó hoàntoàn khác với niềm tin khoa học là niềm tin được chứng minh bằng thực tiễn

b) Xuất phát từ niềm tin cho rằng sự tồn tại và sức mạnh của lực lượng

siêu nhiên là có thật nên từ đó đã dẫn đến quan hệ tình cảm đối với lực lượngnày Người tín ngưỡng không những tưởng tượng ra cái siêu nhiên là có thật vớisức mạnh thần bí của nó, mà còn biểu hiện những mối quan hệ tình cảm, tâm lýđối với lực lượng siêu nhiên, đó là: thành kính, yêu mến, hy vọng, mừng vui phấnkhởi hay sợ hãi, tuyệt vọng, bực tức không có mối quan hệ tình cảm này thìkhông thể hình thành tín ngưỡng tôn giáo được

c) Từ mối quan hệ tình cảm đó đã dẫn đến những mối quan hệ thực tiễn

ảo tưởng đặc biệt Đó là những hành vi của người có tín ngưỡng, nhưng mang

Trang 10

tính ảo tưởng, hoang tưởng thể hiện qua các hành thức nghi lễ, cầu cúng như:cầu kinh, niệm Phật, rước lễ, mong sự ban ơn, ban phước của đấng siêu nhiên.

Cả ba yếu tố trên gắn bó chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau trong ýthức tôn giáo - niềm tin hư ảo là cái xuyên suốt, bản chất nhất Yếu tố tổ chứchành động tôn giáo giữa vai trò quan trọng trong sự tồn tại và phát triển tôngiáo Vì vậy, về bản chất tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội Nhưng xem xéttoàn diện cả ba yếu tố đó, tôn giáo không chỉ là một hình thái ý thức xã hội màcòn là một hiện tượng xã hội và là một tổ chức, một lực lượng xã hội - văn hóa -tâm linh khá đông đảo và rộng rãi

* Cơ sở hình thành tôn giáo:

Khi xã hội loài người còn ở buổi sơ khai, trước những hiện tượng tựnhiên xảy ra trong vũ trụ như sấm chớp, mưa gió, bão tố, lụt lội, hạn hán vàsinh hoạt của con người như đau ốm, bệnh tật, chết chóc, trạng thái xuất thần,hôn mê, giấc mơ, hình ảnh con người in trên mặt nước đã phản ánh vào đầu óccon người vốn hiểu biết kém cỏi, trí tuệ sơ khai đã không thể lý giải được nhữnghiện tượng đó Trong điều kiện của cuộc sống sơ khai, con người hoàn toàn bấtlực trước những thảm họa của thiên nhiên ập đến Về mặt hành vi thì con ngườitìm cách trốn chạy, về mặt nhận thức thì cho rằng các hiện tượng đó là do cónhững đấng siêu hình tạo ra, chi phối, điều khiển bằng sức mạnh siêu nhiên Từ

đó, con người cho rằng, ngoài những hình ảnh mà họ nhận thấy được thì trong

vũ trụ còn có một lực lượng siêu nhiên đó là các thần, thánh và khi có thần thánhnổi giận thì con người sẽ phải gánh lấy thảm họa Để mưu cầu cho cuộc sốngđược ấm no, hạnh phúc tránh được những thảm họa do thiên tai ập đến conngười đã tìm cách xoa diụ sự giận dữ của các thần linh bằng các nghi thức cúngbái, từ đây hình thành nên lòng tín ngưỡng của con người Bước đầu tín ngưỡngcủa con người chỉ là thứ tín ngưỡng dân gian, qua thời gian lòng tín ngưỡng củacon người được củng cố bởi những sự việc xảy ra một cách trùng hợp hết sứcngẫu nhiên không thể lý giải được cộng thêm sự thêu dệt của con người đã làmcho con người có niềm tin chắc chắn rằng có một lực lượng siêu nhiên với

Trang 11

những sức mạnh khác thưòng có đủ khả năng chi phối cuộc sống của con người,

có thể mang đến cho con người cái hạnh phúc, và cả sự bất hạnh, khổ đau - tínngưỡng tôn giáo ra đời Những hình thức, biểu tượng như “Trời”, “Phật”,

“Thánh”, “Thần”, tác động đến đời sống tâm linh của con người, được conngười tin là có thật và hết lòng tôn thờ

Tín ngưỡng tôn giáo đã thật sự trở thành là tôn giáo, có hình thức tôngiáo khi xã hội loài người bắt đầu có phân chia giai cấp, khi nhận thức của conngười phát triển đến trình độ khái quát biến lực lượng siêu nhiên thành các biểutượng như “Đấng Tối cao”, “Đấng Cứu thế”, “Chúa Trời”, “Phật tổ”, … khi xãhội có điều kiện về vật chất để xuất hiện một lớp người thoát ly ra khỏi môitrường sản xuất, để chuyên làm công việc tôn giáo như xây dựng giáo lý, giáoluật, tổ chức giáo hội,

Bên cạnh những hiện tượng tự nhiên xảy ra trong vũ trụ, con người còngặp phải những hiện tượng tự phát trong đời sống xã hội như xung đột vũ trangcủa các bộ lạc, tranh giành lãnh thổ, phân công xã hội, sự đàn áp, bóc lột củagiai cấp thống trị xã hội, đối với con người ở thời kỳ hoang sơ cũng là nhữngcái áp lực nặng nề về mặt xã hội mà con người cần phải tìm ra một lối thoát Tuynhiên, trong điều kiện vật chất hạn hẹp, nhận thức thấp kém, con người đã trởnên bất lực trước sức mạnh của xã hội, họ tự tìm cho mình một lối thoát mà ở đóchỉ có ảo tưởng, hoang đường để tự an ủi, hy vọng vào một cuộc sống tốt đẹp,một cuộc sống ở thiên đàng ngay trên thế gian, họ gởi gắm niềm tin vào tôngiáo, vào lực lượng siêu nhiên Là một trong những yếu tố quyết định sự ra đời

và tồn tại của tôn giáo

Ănghen đã từng viết: “Chẳng bao lâu, bên cạnh những sức mạnh tựnhiên, lại xuất hiện những sức mạnh xã hội, những sức mạnh đối lập với người

ta và đối với người ta thì sức mạnh xã hội này cũng lạ y như những sức mạnh tựnhiên vậy, lúc đầu cũng không thể hiểu được và cũng chi phối người ta với mộtcái vẽ tất yếu, bề ngoài hệt như sức mạnh tự nhiên vậy” (Mác, Ănghen tuyểntập II)

Trang 12

Tình cảm, cảm xúc, tâm trạng của con người trước sức mạnh tự nhiên,trước những biến động xã hội, trước những thử thách trong cuộc sống của cánhân và cộng đồng cũng là một trong những yếu tố đóng vai trò quan trọngtrong việc ra đời, tồn tại và phát triển của tôn giáo.

Như vậy, có thể nói tôn giáo đã được ra đời từ ba nguồn gốc sau đây:

- Do nhận thức thấp kém của con người khi phải đối mặt với thiên nhiênhùng vĩ và bí ẩn

- Do xã hội loài người đầy bí ẩn mà con người thì bất lực, không lý giảiđược

- Do tâm lý sợ hãi, khuất phục hay ca ngợi của con người đối với tựnhiên và con người

Nếu như cơ sở thứ nhất và thứ hai, một phần của cơ sở thứ ba cho thấytôn giáo chỉ là lối thoát của con người khi con người bất lực, sợ hãi, âu lo, trước thiên nhiên, xã hội và con người, thì một phần cơ sở thứ ba cho thấy tôngiáo là một hình thức phản ánh tâm tư nguyện vọng của con người

Từ những cơ sở này chúng ta có thể rút ra một kết luận quan trọng là:Tôn giáo dần dần sẽ mất đi khi những cơ sở ra đời của nó không còn nữa, và vìthế không được và không thể dùng bạo lực để triệt tiêu tôn giáo

Khi lý giải bản chất của tôn giáo và cơ sở cho sự ra đời của tôn giáo, triếthọc Mác thừa nhận tôn giáo có cả mặt tích cực lẫn mặt tiêu cực của nó

1.1.2 Vai trò của tôn giáo

Tôn giáo là sản phẩm của con người, được khai sinh từ đời sống “tâmlinh”của con ngưòi nhưng sau đó tôn giáo trở lại chi phối chính cái đời sống

“tâm linh” đó, nghĩa là chi phối đến đời sống tinh thần của con người, hay ít ra

là trong cộng đồng dân cư có tín ngưỡng

Khi đề cập vai trò của tôn giáo thì cần thấy rõ chức năng và hai mặt tíchcực, tiêu cực của tôn giáo để thấy được rõ hơn vị trí của tôn giáo trong đời sốngtinh thần của con người, của xã hội

Tôn giáo có chức năng thế giới quan, là chức năng làm cho con người

Trang 13

nhận biết, giải thích thế giới quan tôn giáo, theo những quan niệm về sự phụthuộc vào cái siêu nhiên, chức năng liên kết thì củng cố cộng đồng, củng cốcác quan hệ xã hội trong giải quyết các mối quan hệ xã hội đặt ra Tôn giáo còn

có chức năng điều chỉnh Tôn giáo đã tạo ra một hệ thống chuẩn mực và gía trị.Các chuẩn mực tôn giáo không chỉ thể hiện trong lĩnh vực tiến hành nghi lễ màcòn bao hàm trong các thuyết về luân lý, đạo đức xã hội do các tổ chức tôn giáosoạn thảo và truyền bá, trong đó chứa đựng những quy định về khuyến khích vàngăn cấm một cách chi tiết để điều chỉnh cả hành vi đạo đức - xã hội của conngười, điều chỉnh thái độ đối với bản thân và gia đình, với những người kháctrong cộng đồng Nói chung, giáo lý của tôn giáo có mặt tích cực là luôn luônhướng các suy nghĩ và hành vi của con người vào việc thiện, chống lại nhữngviệc ác Đạo đức của tôn giáo có mặt tốt là hướng con người đến sự yêu thương,đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống Đạo đức tôn giáo có những điềuphù hợp với sự nghiệp xây dựng xã hội mới của chúng ta ngày nay

Có thể thấy tôn giáo có ba khía cạnh tích cực sau đây:

Một là: Tôn giáo xoa dịu nỗi đau, an ủi tinh thần của con người Chúng

ta xem tôn giáo là liều thuốc an thần nghĩa là thừa nhận khía cạnh tích cực này.Tôn giáo cũng có chức năng là “bù đắp sự thiếu hụt” của hiện thực, xoa diụ nỗiđau của con người

Ngày nay, khi xã hội phát triển cao về mặt vật chất, con người có cuộcsống dư dả hơn thì đời sống tinh thần của con người hình như trở nên khô khan,lạnh nhạt hơn, xã hội có nhiều biến động hơn, tình trạng phân hóa giàu nghèo rõrệt hơn, trật tự trị an có phần xấu đi Số người bị rũi ro, tại nạn, bất hạnh, làm ănthua lỗ, tăng lên, tâm lý của con người bị hụt hẫng, cảm thấy cô đơn, thấtvọng, buồn chán và họ đã tìm đến tôn giáo như một nơi nương tựa, gởi gắmniềm tin vào tôn giáo, họ cầu nguyện và trông chờ vào sự cứu giúp của Trời, củaPhật, của Chúa, của Thánh, của Thần, và tôn giáo đối với họ như là liều thuốc

an thần xoa dịu đi những nỗi bất hạnh của cuộc đời

Hai là: Đạo đức tôn giáo có mặt tốt Điều này một phần do xuất phát từ

Trang 14

mục đích ban đầu khi người ta sáng lập ra tôn giáo: đánh vào tình yêu thươngcon người, khơi dậy tình người (giúp đỡ, cưu mang nhau), tôn giáo mới đi vàolòng người, mới có chỗ trú trong xã hội Tôn giáo đã tạo một hệ thống chuẩnmực và giá trị Các chuẩn mực tôn giáo không chỉ thể hiện trong lĩnh vực tiếnhành nghi lễ mà còn bao hàm trong các thuyết về luân lý, đạo đức - xã hội docác tổ chức tôn giáo soạn thảo và truyền bá, trong đó chứa đựng những quy định

về khuyến khích và ngăn cấm một cách chi tiết để điều chỉnh cả về hành vi đạođức - xã hội con người, điều chỉnh thái độ với bản thân, và gia đình, vơi nhữngngười khác trong cộng đồng Nói chung, giáo lý của tôn giáo có mặt tích cực làluôn luôn hướng các suy nghĩ và hành vi của con người vào việc thiện, chống lạinhững việc ác Đạo đức của tôn giáo có mặt tốt là hướng con người đến sự yêuthương, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống Đạo đức tôn giáo có nhữngđiều phù hợp với sự nghiệp xây dựng xã hội mới của chúng ta ngày nay

Ba là: sản phẩm tôn giáo (nhà thờ, chùa chiền, tượng Phật, tượng

Chúa, ) là sự sáng tạo của con người, là sản phẩm của văn hóa nhân loại và làvăn hóa của dân tộc cần phải được giữ gìn và bảo vệ

Bên cạnh mặt tích cực, tôn giáo cũng có những mặt hạn chế, tiêu cực ítnhiều làm ảnh hưởng đến vai trò, vị trí của tôn giáo trong đời sống xã hội

Mặt hạn chế của tôn giáo là làm mờ nhạt ý thức đấu tranh, ý chí tự chủvươn lên, ý thức trách nhiệm của con người, làm cho con người trở nên lệ thuộcvào thế giới bên ngoài, con người trở nên bị gò bó và nghèo đi Tôn giáo là đốitượng dễ bị lợi dụng, vì mục đích đen tối, tôn giáo với đặc tính bảo thủ đã trởthành như là một lực cản trước sự tiến bộ của khoa học - kỹ thuật, của xã hội

Song song với hoạt động của tôn giáo thì bao giờ cũng có bóng dáng của

tệ mê tín dị đoan thông qua các biểu hiện như đồng bóng, bói toán, xin xăm, bốcthẻ, tin vào số mệnh, giải hạn, xem giờ, cúng sao, ăn kiêng, chọn số đẹp, chọnngày, đặt bát hương trong cơ quan, trên tàu xe, góc cây, bên cạnh đó còn làviệc đốt vàng mã, đồ vật đắt tiền cho người quá cố Các hoạt động mê tín đó đãlàm cho con người mất đi một lượng thời gian hết sức quý báu, tốn kém tiền bạc,

Trang 15

sao lãng công việc làm ăn, làm đổ vỡ hạnh phúc gia đình, gây chia rẽ tình làngnghĩa xóm, đúng là mê tín dị đoan - là sự suy luận một cách khác thường, lạ kỳ,phi lý trên cơ sở của niềm tin mê muội

Có thể nhìn thấy rõ những khía cạnh tiêu cực sau đây:

Một là: Tôn giáo tạo niềm tin mù quáng Con người phải có niềm tin, vì

niềm tin là cơ sở cho sự tồn tại và tạo nên sức mạnh cho con người Song nếugởi gắm niềm tin vào lực lượng không có thật thì đó là niềm tin mù quáng

Hai là: Tôn giáo bảo thủ, có sức ỳ lớn Xã hội loài người và thế giới tự

nhiên luôn biến đổi không ngừng, thậm chí sự biến đổi ấy nhanh đến chóng mặt.Trong khi đó, tôn giáo vẫn hướng con người ta vào những chuyện đã nói cáchđây hàng ngàn năm

Ba là: Tôn giáo liên kết với chính trị Lịch sử xã hội loài người đã xác

nhận: lúc đầu, các tôn giáo đều đề cao lòng tin của con người, thương yêu chămsóc con người, là thế giới riêng tư của con người Song về sau, một bộ phậnchức sắc các tôn giáo đã biến tôn giáo thành công cụ phục vụ quyền lợi cho mộtnhóm nhỏ người Các cuộc chiến tranh tôn giáo sắc tộc từ xưa đến nay (xemphần mở đầu) đã nói lên điều này

Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, là một hiện tượng xã hội, là sảnphẩm của con người nên tôn giáo không thể tách rời ra khỏi xã hội, chịu sự chiphối của xã hội và ít nhiều xã hội cũng phải chiụ sự chi phối của tôn giáo

Do vậy, tôn giáo là một bộ phận cấu thành quan trọng của đời sống tinhthần của xã hội Trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, tôn giáo đã ảnhhưởng khá sâu sắc đến đời sống văn hóa, xã hội, đến tâm lý, đạo đức, lối sống,phong tục tập quán của dân tộc, ảnh hưởng đến đời sống chính trị ở mức độ, cấp

độ có khác nhau trong những hoàn cảnh của mỗi quốc gia

Ở Việt Nam, do điều kiện lịch sử, xã hội, tâm lý, tôn giáo có vị trí kháđặc biệt trong đời sống tinh thần, tín ngưỡng, nhân cách, đến quá trình phát triểncủa xã hội, ảnh hưởng đến sự phát triển của văn hóa dân tộc Thông qua nhữngtác động của các sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo, đến các sinh hoạt văn hóa (hội

Trang 16

làng, tế lễ, ) đã góp phần tạo nên những nét riêng về văn hóa Việt Nam

Vai trò của tôn giáo vừa gợi cho Nhà nước trong việc quản lý đối vớihoạt động của tôn giáo trong giai đoạn mới của cách mạng

1.2 Quản lý nhà nước về tôn giáo

1.2.1 Quản lý Nhà nước

Trong tổng thể quản lý Nhà nước, phương thức “Đảng lãnh đạo, nhân dânlàm chủ, Nhà nước quản lý” Hệ thống chủ thể quản lý xã hội ở nước ta gồm có:Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặttrận tổ quốc và các thành viên của Mặt trận

Trong hệ thống chủ thể này, chỉ có Nhà nước là chủ thể duy nhất quản lýtoàn dân, toàn diện và quản lý bằng pháp luật để thực hiện quyền làm chủ củanhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

Nhà nước quản lý toàn dân, là quản lý tất cả mọi người đang làm ăn, sinhsống trên lãnh thổ Việt Nam bao gồm: công dân Việt nam, những công dân làngười nước ngoài, kể cả những người Việt Nam bị mất một số quyền công dân

Nhà nước quản lý toàn diện, là quản lý toàn bộ các lĩnh vực của đời sống

xã hội dựa theo nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ.Nhà nước quản lý toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội như không có nghĩa làcác cơ quan hành chính nhà nước sẽ điểu chỉnh tất cả các khía cạnh phát sinhtrong đời sống xã hội mà chỉ điều chỉnh những vấn đề do pháp luật quy định

Nhà nước quản lý bằng luật pháp là quản lý và điều hành xã hội bằngpháp luật, lấy pháp luật làm công cụ để xử lý mọi hành vi vi phạm pháp luật mộtcách nghiêm minh qua các hình thức như khiển trách, phạt hành chính, cải tạolao động, phạt tù treo, tù ngắn ngày, tù chung thân và kể cả việc loại bỏ một conngười ra khỏi đời sống xã hội khi họ có những hành vi gây phương hại nghiêmtrọng đến lợi ích quốc gia, lợi ích của dân tộc, quyền và nghĩa vụ chính đáng củanhân dân

Như vậy, các chủ thể khác chỉ có thể lấy điều lệ của tổ chức mình, cácnghị quyết của Đại hội, của các cấp uỷ để làm công cụ quản lý và chỉ có quyền

Trang 17

xử lý các hành vi vi phạm bằng các hình thức như phê bình, cảnh cáo và khai trừ

ra khỏi tổ chức của mình mà thôi

Quản lý Nhà nước: là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực Nhànước, được sử dụng quyền lực Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội vàhành vi hoạt động của con người, quản lý Nhà nước với dạng quản lý của cácchủ thể khác như Công đoàn, thanh niên, Phụ nữ, ở chỗ các chủ thể này khôngdùng quyền lực luật pháp của Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ quản lý màchỉ dùng phương thức giáo dục vận động quần chúng Còn quản lý Nhà nước là

sử dụng pháp luật, sử dụng quyền lực công – là quyền lực đơn phương, mộtchiều là mệnh lệnh buộc khách thể phải chấp hành và có tính tổ chức cao, nó tổchức và điều hành các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người bằngquyền lực (pháp luật) của Nhà nước

Tôn giáo là một lĩnh vực mà Nhà nước phải quản lý Song quản lý Nhànước đối với tôn giáo là loại quản lý đặc thù, phải quan tâm đúng mức đến đặcđiểm của khách thể quản lý

1.2.2 Quản lý Nhà nước về hoạt động tôn giáo

Là một dạng quản lý xã hội mang tính chất nhà nước, nó tổ chức và điềuhành quá trình hoạt động tôn giáo của các pháp nhân tôn giáo và của các thểnhân tôn giáo bằng quyền lực Nhà nước Nói cách khác, quản lý Nhà nước vềhoạt động tôn giáo là quản lý hoạt động của các tín đồ, chức sắc, nơi thờ tự, đồdùng việc đạo, cơ sở vật chất xã hội của các tôn giáo và sinh hoạt tôn giáo

Sinh hoạt tôn giáo là một hoạt động đặc thù, là một nhu cầu sinh hoạttinh thần chính đáng của nhân dân Quản lý của Nhà nước là một sự tác độngsao cho công dân có đạo sinh hoạt trong giáo giới vẫn hoàn thành bổn phận đốivới xã hội, vẫn được Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích, về sự bình đẳng trênmọi phương diện mà Hiến pháp đã quy định

Một là, đặc trưng của quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo:

Quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo có hai đặc trưng riêng sau đây:

Thứ nhất: Tôn giáo cũng như các tổ chức chính trị xã hội khác, muốn tổ

Trang 18

chức và hoạt động phải được Nhà nước cho phép Theo Hiến pháp và luật pháphiện hành, chủ thể có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động đối với các tổ chức

xã hội là Thủ tướng Chính phủ Thủ tưóng có thể uỷ quyền cho Bộ trưởng, Chủtịch UBND tỉnh, thành phố đối với một số tổ chức có phạm vi hoạt động trongphạm vi từng địa phương

Thứ hai: Hoạt động tôn giáo chịu sự quản lý của Nhà nước là để bảo

đảm tự do tín ngưỡng và tôn trọng pháp luật Nhà nước Thực hiện các sinh hoạttôn giáo theo theo giáo luật, lề luật, lễ nghi là việc riêng tư của tín đồ, là thểhiện quyền và nghĩa vụ về mặt tín đồ đối với giáo hội Bên cạnh đó người tín đồcòn phải thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân của mình theo luật định Nhànước bảo đảm tự do tín ngưỡng theo quy định của Hiến pháp Công dân có đạo,sinh hoạt tôn giáo trên cơ sở phải phù hợp với pháp luật của Nhà nước

Hai là, một số nguyên tắc cơ bản trong quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo:

Đối với hoạt động tôn giáo, có một số nguyên tắc chính sau đây:

1- Nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật Đây là

nguyên tắc của thể chế dân chủ, có tính phổ quát đã được ghi tại Điều 52 củaHiến pháp 1992 Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của côg dân,nghiêm cấm sự phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo hoặc tín ngưỡng, công dântheo tôn giáo và không theo tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, được hưởngnhững quyền lợi, đồng thời có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ công dân

2- Nguyên tắc tự do tín ngưỡng: là tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn

giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân Mọi công dân đều bình đẳng

về nghĩa vụ và quyền lợi trước pháp luật, không phân biệt tín ngưỡng tôn giáo

tự do tín ngưỡng có nghĩa là con người tự nguyện trong tinh thần hướng tới mộtđấng tối cao, không ai có thể áp đặt hoặc tước bỏ Tự do tín ngưỡng nhưngkhông chấp nhận sự thôn tính, sự độc tôn của tôn giáo này với tôn giáo khác.Cũng không thể áp đặt hoặc gạt bỏ thông qua chính trị Điều 70 của Hiến pháp

1992 đã ghi “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không

Ngày đăng: 13/09/2021, 19:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 1991
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ XIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2021
3. Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
4. Nguyễn Văn Tài (2018), Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáođối với con người Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Văn Tài
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2018
5. Trần Minh Tùng (2019), Đổi mới quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động của các tôn giáo ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động của các tôn giáo ở Việt Nam
Tác giả: Trần Minh Tùng
Năm: 2019

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w