1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Chính sách giáo dục của chính quyền việt nam cộng hòa đối với các dân tộc thiểu số ở miền nam việt nam 1967 1975

129 44 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 3,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở đó, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đề ra chương trình giáo dục dành riêng cho các học sinh dân tộc thiểu số Thượng, xây dựng thiết chế giáo dục phù hợp với người Thượng nhằm xâ

Trang 1

KHOA SƯ PHẠM

***********

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI: CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC CỦA CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HÒA ĐỐI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

Ở MIỀN NAM VIỆT NAM (1967 – 1975)

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Bá Lương

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu được sử dụng trong báo cáo tốt nghiệp có nguồn gốc rõ ràng Tài liệu đã trích dẫn của các tác giả đều được liệt kê đầy đủ, không sao chép bất cứ tài liệu nào

mà không có trích dẫn Những đánh giá, nhận định trong báo cáo tốt nghiệp do

cá nhân nghiên cứu dựa trên những tư liệu xác thực

Tác giả

Nguyễn Bá Lương

Trang 3

Tôi xin chân thành cảm ơn đến quý thầy cô của trường Đại học Thủ Dầu Một, đặc biệt là thầy Phạm Thúc Sơn đã tận tình hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi nhất và luôn động viên tôi có thể hoàn thành báo cáo tốt nghiệp của mình

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các cán bộ thư viện Trường Đại học Thủ Dầu Một, Thư viện Tỉnh Bình Dương, thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh và Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II đã giúp đỡ tôi trong quá trình tìm kiếm tài liệu để bổ sung tư liệu cho bài báo cáo tốt nghiệp của tôi có thêm những nội dung có giá trị

Xin kính chúc quý thầy cô có nhiều sức khỏe để cống hiến sự nghiệp công tác giảng dạy

Bình Dương, tháng 11 năm 2020

Sinh viên Nguyễn Bá Lương

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 2

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 3

4 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 4

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11

6 NGUỒN TÀI LIỆU CỦA ĐỀ TÀI 11

7 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 12

8 BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI 13

CHƯƠNG 1 BỐI CẢNH RA ĐỜI CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG CỦA CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HÒA (1967-1975) ĐỐI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ 14

1.1 CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC CỦA CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HÒA (1955 – 1967) 14

1.1.1 Bối cảnh lịch sử 14

1.1.2 Chính sách dân tộc của chính quyền Việt Nam Cộng hòa (1955-1967) 18

1.2 CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG CỦA VIỆT NAM CỘNG HÒA ĐỐI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ (1955-1967) 22

1.2.1 Tình hình chương trình giáo dục phổ thông 22

1.2.2 Hệ thống các bậc học của giáo dục phổ thông 29

1.3 CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HÒA (1967 – 1975) 32

1.3.1 Bối cảnh ra đời 32

1.3.2 Thực thi chính sách của chính quyền Việt Nam Cộng hòa Đệ Nhị đối với các dân tộc thiểu số 36

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 41

CHƯƠNG 2 CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HÒA THỰC THI CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG ĐỐI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ (1967 – 1975) 43

Trang 5

2.1 CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 43

2.1.1 Hệ thống các bậc học phổ thông 43

2.1.2 Chương trình môn học giáo dục phổ thông 50

2.2 GIÁO DỤC PHỔ THÔNG ĐỐI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ 59

2.2.1.Thực trạng ở giáo dục phổ thông đối với các dân tộc thiểu số 59

2.2.2 Chương trình giáo dục phổ thông đối với các dân tộc thiểu số 67

2.2.3 Những chính sách ưu đãi của chính quyền Việt Nam Cộng hòa ở giáo dục phổ thông đối với các dân tộc thiểu số 75

2.3 VIỆN TRỢ CỦA MỸ VÀ CÁC NƯỚC ĐỒNG MINH CHO GIÁO DỤC PHỔ THÔNG ĐỐI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ CỦA VIỆT NAM CỘNG HÒA 86

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 91

CHƯƠNG 3 TÁC ĐỘNG CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG CỦA CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HÒA ĐỐI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ (1967 – 1975) 92

3.1 KẾT QUẢ CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG CỦA CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HÒA ĐỐI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ 92 3.2.TÁC ĐỘNG CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG CỦA CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HÒA ĐỐI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ 94 3.2.1.Tác động đối với chính quyền Việt Nam Cộng hòa 94

3.2.1.1 Tác động tích cực 94

3.2.1.2 Tác động tiêu cực 95

3.2.2.Tác động đối với các dân tộc thiểu số 96

3.2.2.1 Tác động tích cực 96

3.2.2.2 Tác động tiêu cực 97

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 97

KẾT LUẬN 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

PHỤ LỤC HÌNH ẢNH 112

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ, để thực hiện chiến lược toàn cầu và cũng là leo thang chiến tranh của Mỹ ở miền Nam việt Nam Với âm mưu của Mỹ là chia cắt Việt Nam lâu dài, Mỹ tiến hành chính sách viện trợ về kinh tế, quân sự ồ ạt đẩy mạnh chiến tranh tại Việt Nam với cường độ và quy mô Để giành lại và kiểm soát những địa bàn chiến lược quan trọng trên chiến trường ngoài viện trợ cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa, Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa tiếp tục tiến hành đào tạo nhân lực để phục vụ cho chính sách thực dân mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam Chính vì vậy, chính sách giáo dục của chính quyền Việt Nam cộng hòa có vị trí rất quan trong trong chính sách thực dân mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam Trong hệ thống chính sách giáo dục cuả Việt Nam Cộng hòa để tranh thủ mọi nguồn lực, chính quyền Việt Nam Cộng hòa rất chú trọng đến chính sách giáo dục đối với các dân tộc thiểu sổ, chủ nhân và là cộng động người định cư ở những vùng, địa bàn chiến lược quan trọng Chính sách này của Mỹ và Việt Nam Cộng hòa nhằm tranh thủ lực lượng

là đồng bào các dân tộc thiểu số phục vụ cho chính sách thực dân mới của Mỹ

Để thực hiện một cách thống nhất, chính quyền Việt Nam Cộng hòa coi đây là một vấn đề cốt lõi trong chính sách dân tộc nhằm củng chính quyền Việt Nam Cộng hòa tại miền Nam Để xây dựng và củng cố các vùng rừng núi – địa bàn chiến lược phải có chính sách đào tạo đội ngũ các dân tộc thiểu số ở miền Nam Trên cơ sở đó, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đề ra chương trình giáo dục dành riêng cho các học sinh dân tộc thiểu số Thượng, xây dựng thiết chế giáo dục phù hợp với người Thượng nhằm xây dựng thế hệ các dân tộc thiểu số

có tư tưởng giáo dục theo kiểu thực dân mới Mỹ, vai trò trở thành đội ngũ phục

vụ chính quyền Việt Nam Cộng hòa tại địa phương có đông các dân tộc thiểu số sinh sống

Trang 8

Chính sách giáo dục phổ thông đối với các dân tộc thiểu số của chính quyền Việt Nam Cộng cũng nhằm xoa dịu tình hình mâu thuẫn giữa người Thượng với người Kinh do phân biệt đối sự trong tất cả lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa và giáo dục Ngặn chặn phong trào đấu tranh của các dân tộc thiểu số chống đối lại chính quyền Việt Nam Cộng hòa, làm giảm sự bất ổn nhằm tránh hỗn loạn nghiêm trọng khó kiểm soát tình hình ở miền Nam Tạo ra vành đai chống Cộng sản bảo vệ chính quyền Việt Nam Cộng hòa trước thất bại trên lĩnh vực chính trị và quân sự đều phụ thuộc sự can thiệp của Mỹ Chính sách giáo dục của chính quyền Việt Nam Cộng hòa nói riêng đối với các dân tộc thiểu số là biện pháp nâng đỡ mà chính quyền hay nói, thực chất là công cụ hiệu quả nhằm

mị dân rằng chính quyền luôn có những biện pháp phù hợp tạo sự công bằng trong giáo dục cho những người Thượng

Vì vậy, trên cơ sở nghiên cứu chính sách giáo dục phổ thông đối với các dân tộc thiểu số ở miền Nam là làm sáng tỏ các vấn đề về vị trí, vai trò của các dân tộc thiểu số trong chính sách thực dân mới Mỹ và chính sách dân tộc với chính sách giáo dục của chính quyền Việt Nam Cộng hòa Nhìn thấy được âm mưu, thủ đoạn và bản chất chính sách giáo dục phổ thông mà chính quyền Việt Nam Cộng hòa đối với các dân tộc thiểu số tại miền Nam

Từ những lý do trên chúng tôi chọn đề tài “Chính sách giáo dục của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đối với các dân tộc thiểu số ở miền Nam Việt Nam (1967-1975)” làm đề tài Báo cáo tốt nghiệp chuyên ngành Sư phạm Lịch sử

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Đề tài “Chính sách giáo dục của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đối với các dân tộc thiểu số ở miền Nam Việt Nam (1967-1975)” nhằm mục đích làm rõ những vấn đề sau đây:

Trang 9

- Khái quát về bối cảnh lịch sử ra đời của chính sách giáo dục phổ thông

do chính quyền Việt Nam Cộng hòa đề ra đối với các dân tộc thiểu số ở miền Nam Việt Nam

- Trình bày một cách có hệ thống về quá trình tiến hành, kết quả và tác động của chính sách giáo dục phổ thông của chính quyền Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam

- Làm rõ tính chất âm mưu, thủ đoạn và bản chất của Việt Nam Cộng hòa với Mỹ nhằm thực hiện nô dịch hóa các đồng bào dân tộc thiểu số ở miền Nam

- Đánh giá đúng thực chất chính sách giáo dục phổ thông của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đối với các dân tộc thiểu số ở miền Nam Việt Nam

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Đối tượng nghiên cứu của đề tài: “Chính sách giáo dục phổ thông của Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đối với các dân tộc thiểu số ở miền Nam Việt Nam”, cụ thể là những vấn đề sau:

Hệ thống các bậc học và chương trình học của chính sách dân tộc thông qua nghiên cứu về giáo dục phổ thông ở Tiểu học, Trung học Đệ Nhất, Trung học Đệ Nhị cho thấy được kết quả và những ảnh hưởng xã hội sâu sắc đối với các dân tộc thiểu số; Nghiên cứu chính là Chính sách giáo dục phổ thông của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đối với các dân tộc thiểu số ở miền Nam Việt Nam giai đoạn 1967 đến 1975

Về không gian: Chính sách giáo dục phổ thông đối với các dân tộc thiểu

số ở miền Nam Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu về thời gian của đề tài: mốc thời gian nghiên cứu của

đề tài là giai đoạn nền Đệ Nhị Cộng hòa được thành lập 1967 và chính thức đưa

ra các chính sách dân tộc và giáo dục cho đến khi sụp đổ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 chấm dứt chính thể Việt Nam Cộng hòa

Trang 10

4 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Các công trình nghiên cứu về giáo dục phổ thông của Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã có những công trình nghiên cứu chỉ tập trung về tình hình giảng dạy, phương pháp giáo dục và tổ chức học tập cho học sinh, mà chưa có tài liệu nghiên cứu đề cập cụ thể về Chính sách giáo dục của Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đối với các dân tộc thiểu số ở miền Nam Việt Nam (1967-1975), nhấn mạnh tập trung về giáo dục phổ thông ở các bậc học Tiểu học, Trung học Đệ Nhất, Trung học Đệ Nhị Bên cạnh đó, có những tài liệu công trình liên quan đến

đề tài:

- Các công trình nghiên cứu trước năm 1975:

Công trình “Chính sách Phát triển Sắc tộc của chính phủ Việt Nam Cộng hòa” của Bộ Phát triển Sắc tộc ấn hành chủ yếu đề xuất những chính sách

Thượng vụ trước đó mà có hướng giải quyết vấn đề các đồng bào Sắc tộc ở miền Nam, các vấn đề giải quyết tình trạng bạo động từ các phong trào đấu tranh của các dân tộc thiểu số Thông qua đó, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đề ra chính sách các biện pháp nâng đỡ đồng bào các Sắc tộc ban hành từ hiến pháp, các sắc luật và những biện pháp thực thi Trên nhiệm vụ đó, Bộ Phát triển Sắc tộc đưa ra biện pháp cụ thể các văn bản, sắc lệnh, nghị định đối với các dân tộc thiểu số, về giáo dục thực thi chính sách khuyến kích dạy chương trình thổ ngữ cho người Thượng, mở rộng xây dựng các ký túc xá chỗ ở và trợ cấp học bổng đối với con

em các học sinh dân tộc thiểu số

Tác giả - Đặc ủy Trưởng Thượng vụ Paul-Nưr VNCH, “Về chính sách Thượng vụ trong Lịch sử Việt Nam”, xuất bản năm 1966 đã đưa ra những chính

sách dân tộc của chính quyền Việt Nam trong lịch sử Việt Nam, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đề ra những chính sách đối với các đồng bào vùng Thượng: Việt Cộng với chính sách “Dân tộc tự trị” và âm mưu “xích hóa” vùng Thượng, chính phủ Ngô Đình Diệm với chính sách “Dân tộc hóa”, chính sách “Dân tộc

Trang 11

Hòa đồng-Đồng tiến” “Trong tinh thần quốc gia thống nhất” của các chính phủ sau Cách mạng 1-11-1963 Trong các chính sách đều đề những biện pháp nâng

đỡ đồng bào các sắc tộc trên nhiều lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa và giáo dục Chú trọng đặc biệt về giáo dục đồng bào các Sắc tộc ở chương trình giáo dục mỗi bậc học, trợ cấp học bổng, mở ký túc xá, nuôi ăn cho con em học sinh các Sắc tộc Trên cơ sở đó, từ chính sách trước của chính quyền đã đưa ra vài ý kiến

về vai trò cán bộ trong việc thực thị chính sách Thượng vụ về sau năm 1966 cũng là cơ sở để chính quyền Việt Nam Cộng hòa Đệ Nhị đề ra chính sách dân tộc mới

Khảo cứu “Vấn đề giáo dục Sinh viên học sinh Các Sắc tộc” của tác giả

Đỗ Văn Tú, xuất bản năm 1973 định hình nghiên cứu trình bày về những sơ lược chính sách giáo dục đồng bào Thượng từ thời Pháp thuộc đến đảo chính 1-11-1963: Dưới thời Pháp thuộc, Hoàng triều cương thổ, chủ trương đồng hóa của Ngô Đình Diệm và sau cuộc đảo chính 1-11-1963; những nguyên tắc căn bản về các biện pháp nâng đỡ sinh viên học sinh của Sắc tộc thông qua các văn bản, thông tư và điều của chính quyền Việt Nam Cộng hòa với Hội đồng các Sắc tộc; diễn tiến tình trạng giáo dục sinh viên học sinh các Sắc tộc trong giai đoạn từ ngày 17-10-1964 đến năm 1973 với sự phát triển Tiểu học, Trung Học và Đại học, về cấp phát học bổng, tình trạng nuôi ăn sinh viên học sinh Sắc tộc tại các

ký túc xá, chương trình thanh toán nạn mù chữ và bình dân giáo dục Bên cạnh

đó, chính quyền Việt Nam Cộng hòa có chương trình dạy thổ ngữ cho đồng bào Sắc tộc và định hướng thông qua đề nghị một đường hướng giáo dục dành cho sinh viên học sinh Sắc tộc

Khảo cứu “Việt Nam chí lược miền Thượng Cao Nguyên” của tác giả Cửu

Long Giang-Toan Ánh, xuất bản năm 1974, công trình đã khái quát tình trạng đời sống văn hóa của các đồng bào dân thiểu số ở Cao Nguyên, sự phân bố các nhóm dân tộc thiểu số trên các tỉnh tại Cao Nguyên và những chính sách dân tộc

Trang 12

của Ngô Đình Diệm đối với người Thượng ở miền Nam Trong đó, thống kê tình hình học tập của con em học sinh các dân tộc thiểu số tại địa bàn Cao Nguyên, số lượng học sinh Sắc tộc theo học ở các trường Tiểu học và Trung học

Luận văn tốt nghiệp đốc sự hành chánh - Học viện Quốc gia hành chánh

Saigon năm 1968 của tác giả Đỗ Hữu Long với đề tài “Vấn đề dân tộc thiểu số tại Việt Nam” đã trình bày tình trạng các dân tộc thiểu số ở miền Nam Việt Nam,

với các chính sách Thượng vụ của các chính quyền Việt Nam Cộng hòa từ thời Ngô Đình Diệm cho đến Nguyễn Văn Thiệu ban hành sắc lệnh, văn bản, nghị định trong đó chính sách giáo dục nằm trong chính sách dân tộc

Luận văn tốt nghiệp - Học viện Quốc gia hành chánh Saigon năm 1969

của tác giả Cao Minh Tâm với đề tài “Vấn đề phân quyền trong tổ chức giáo dục Việt Nam” đã trình bày tổ chức giáo dục ở miền Nam Việt Nam trong giai đoạn

1949 cho đến 1969, những quyền hạn chức năng nhiệm vụ của tổ chức giáo dục

và những quy định trong bộ máy cơ cấu giáo dục Việt Nam Cộng hòa

Luận văn tốt nghiệp đốc sự hành chánh - Học viện Quốc gia hành chánh

Saigon năm 1969 của tác giả Dương Văn Vàng với đề tài “Vấn đề thi cử của nền giáo dục Việt Nam hiện tại” khái quát được hệ thống thi cử ở miền Nam, tổ chức

các kỳ thi tuyển sinh, kỳ thi khảo sát, kỳ thi lên lớp, thi lấy văn bằng Những nguyên tắc trong thi cử ở mỗi bậc học như Tiểu học, Trung học và Đại học có những quy tắc khác nhau

Luận văn tốt nghiệp - Học viện Quốc gia hành chánh Saigon năm 1970

của tác giả Nguyễn Duy Chính với đề tài “Vấn đề địa phương hóa giáo dục tại Việt Nam” trình bày hệ thống giáo dục ở địa phương ở bậc Tiểu học và Trung

học, những chính sách địa phương hóa giáo dục của chính quyền Việt Nam Cộng hòa với đề ra kế hoạch giáo dục và áp dụng một số chương trình giáo dục của các nước Phương Tây

Trang 13

Luận văn tốt nghiệp - Học viện Quốc gia hành chánh Saigon năm 1972

của tác giả Đắc Hữu Thiên với đề tài “Chính sách Thượng vụ của Nền Đệ Nhị Cộng hòa”, tác giả trình bày khái quát tình hình các dân tộc thiểu số ở miền Nam

Việt Nam trong đó tầm quan của Cao Nguyên nơi tập trung các Sắc tộc từ đó chính sách Thượng vụ của chính quyền Đệ Nhị Cộng hòa đáp ứng nguyện vọng của các dân tộc thiểu số trên những phương diện như kinh tế, xã hội, tư pháp, hành chánh, chánh trị và đặc biệt giáo dục

Luận văn tốt nghiệp - Học viện Quốc gia hành chánh Saigon năm 1972

của tác giả Trình Lê Hiệp với đề tài “Ảnh hưởng của chế độ giáo dục tư trong xã hội Việt Nam” đã đánh giá hệ thống các trường tư thục có vị trí quan trọng hệ

thống giáo dục miền Nam khi giải quyết nhiều vấn đề học tập tiếp nhận số lượng học sinh thi trượt các trường công lập, sự phát triển lớn mạnh của giáo dục tư trong xã hội miền Nam Việt Nam

Luận văn tốt nghiệp ban đốc sự - Học viện Quốc gia hành chánh Saigon

năm 1972 của tác giả Quảng Tài với đề tài “Vấn đề huấn nghệ đồng bào Sắc tộc”; luận văn tốt nghiệp - Học viện Quốc gia hành chánh năm 1974 của tác giả Cao Viễn với đề tài “Bộ Phát triển Sắc tộc và Vấn đề huấn luyện viên chức xã

Ấp Thượng” khái quát được vấn đề của chính quyền Việt Nam Cộng hòa tổ chức

chương trình giáo dục đào tạo đội ngũ cán bộ và học viên các dân tộc thiểu số nhằm phục vụ cho nguồn nhân lực tại địa phương của các Sắc tộc

Luận văn tốt nghiệp - Học viện Quốc gia hành chánh Saigon năm 1973

của tác giả Ngô Ngọc Bửu với đề tài “Vấn đề giáo dục kỹ thuật tại Việt Nam Cộng hòa” nghiên cứu những thực trạng Tiểu học và Trung học trong giáo dục

phổ thông đánh giá từ cơ sở nền móng học sinh định hướng học sinh đi theo con đường giáo dục kỹ thuật và những giải pháp kịp thời

- Các công trình nghiên cứu sau năm 1975:

Trang 14

Công trình “Tìm hiểu Chính sách giáo dục Thực dân mới Mỹ ở miền Nam Việt Nam và Những tác hại của nó (Quyển II)” của Viện Khoa học Giáo dục,

xuất bản năm 1980 qua đó thấy được xã hội thực dân mới ở miền Nam Việt Nam

đã ảnh hưởng môi trường tác động mạnh mẽ tới nền giáo dục trong nhà trường phổ thông, những người giáo viên đã được đào tạo để giảng dạy những kiến thức

đã được học trên cơ sở do Mỹ đầu tư cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa Những thông tin truyền tải thông qua những người học sinh là sản phẩm của nhà trường, nạn nhân của chính sách thực dân mới Mỹ trong giáo dục Từ đó, mặt nhận thức của tầng lớp giới trí thức đã phản kháng, cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam chống lại chính sách giáo dục thực dân mới Mỹ

Tác phẩm “Chủ nghĩa Thực dân mới kiểu Mỹ ở miền Nam Việt Nam (Khía cạnh Tư tưởng và Văn hóa) 1954-1975” của tác giả Phong Hiên, xuất bản năm

1984 do Nhà xuất bản Thông tin Lý luận đã đánh giá tình hình miền Nam dưới

sự ảnh hưởng của chế độ thực dân mới Mỹ trên các khía cạnh: tư tưởng chống Cộng sản ở miền Nam Việt Nam, Công giáo được coi là trụ cột tinh thần của chế

độ Việt Nam Cộng hòa, hệ tư tưởng triết lý quốc gia của chế độ Việt Nam Cộng hòa, lối sống văn hóa tác phong của chế độ thực dân mới Mỹ ảnh hưởng đời sống sinh hoạt của người dân miền Nam Việt Nam, những văn học Mỹ truyền bá

tư tưởng chủ nghĩa thực dân mới Trong đó, khía cạnh giáo dục của chế độ thực dân mới Mỹ ảnh hưởng sâu sắc tới tình hình giáo dục ở miền Nam, nền giáo dục Việt Nam Cộng hòa xây dựng được áp dụng theo mô hình nền giáo dục Mỹ hóa

Hệ thống các trường học và các bậc học ở miền Nam: hệ thống các trường phổ thông công lập, các trường Đại học, các trường chuyên nghiệp trung cấp và các trường tư thục Nội dung chương trình học nền giáo dục của Việt Nam Cộng hòa đối với các trường học đều có sự chia phối và sự hiện diện của nền giáo dục Mỹ

Trong Báo cáo tổng kết đề tài KH&CN “Chính sách dân tộc của Chính quyền Việt Nam Cộng hòa và Tác động của nó đối với vấn đề dân tộc và Quan

Trang 15

hệ dân tộc ở Tây Nguyên (1954-1975)” của Nguyễn Văn Tiệp (Chủ nhiệm đề

tài), công bố năm 2013 do Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh: công trình

đã khái quát toàn diện về vùng Tây Nguyên là địa điểm chiến lược quan trọng trong của chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1954 đến 1975; tổng quan về điều kiện

tự nhiên, dân cư, thành phần dân tộc và Kinh tế-Xã hội ở Tây Nguyên Từ đó, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã thi hành chính sách dân tộc toàn diện ở Tây Nguyên là khu vực có nhiều đồng bào Sắc tộc chiếm nhiều nhất người Thượng ở miền Nam Việt Nam và tổ chức hệ thống bộ máy của Bộ Phát triển Sắc tộc và Hội đồng các Sắc tộc nhằm điều hòa mâu thuẫn giữa người Thượng đối với chính quyền Việt Nam Cộng hòa Từ chính sách dân tộc, nó có những tác động đối với các người Thượng ở Tây Nguyên dẫn đến phong trào đấu tranh FULRO của người Thượng Chính sách dân tộc của chính quyền Việt Nam Cộng hòa ảnh hưởng lớn tới các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên về kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục và tôn giáo; có những bài học kinh nghiệm lịch sử đối với chính sách dân tộc hiện nay Trên lĩnh vực giáo dục, khía cạnh đã khai thác chính sách giáo dục của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đối với các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên từ năm 1955 đến 1975, với những hệ quả để lại cho các dân tộc thiểu số

ở Tây Nguyên

Tác phẩm “Liên minh sai lầm: Ngô Đình Diệm, Mỹ và số phận Nam Việt

Nam” của tác giả Edward Miller, xuất bản năm 2016 do Nhà xuất bản Chính trị

Quốc gia ấn hành làm sáng tỏ mối quan hệ hợp tác liên minh giữa Ngô Đình Diệm và Mỹ, thông qua chiến tranh ở Việt Nam thì Mỹ đã dựng được bộ máy chính quyền thân Mỹ ở miền Nam Việt Nam Mỹ chứng tỏ bá quyền của mình tại khu vực Đông Nam Á biến Việt Nam trở thành thuộc địa kiểu mới chống Cộng sản đang lan rộng Ngô Đình Diệm được Mỹ coi là đồng minh thân cận, những quyết sách ở miền Nam Việt Nam của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đều được Mỹ lên kế hoạch và thực hiện bởi các cố vấn Mỹ tại miền Nam Việt

Trang 16

Nam, được tăng cường viện trợ phục vụ những dự án lớn trong biện pháp chiến tranh chống Việt Cộng Những thắng lợi của phe Cộng sản tại chiến trường miền Nam đã làm những nội tại giữa Ngô Đình Diệm với Mỹ ngày càng sâu đi, dẫn đến Mỹ chấp nhận và giật dây cho các tướng lĩnh quân đội đứng lên đảo chính, kết cục Ngô Đình Diệm bị lật đổ và Đệ Nhất Cộng hòa chấm dứt Trên cơ sở, viện trợ của Mỹ đối với chính quyền Việt Nam Cộng hòa nhằm xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng trong đó có sự viện trợ cho giáo dục ở miền Nam Việt Nam

Tác phẩm “Giáo dục Phổ thông miền Nam (1954-1975)” của tác giả Ngô

Minh Oanh (chủ biên), xuất bản năm 2019 do Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành đã phân tích cụ thể về tình hình giáo dục miền Nam bối cảnh ra đời, những triết lý, mục tiêu của giáo dục phổ thông; về cấu hệ thống giáo dục phổ thông và các loại hình trường học, lớp học Các chương trình giáo dục phổ thông miền Nam về Tiểu học, Trung học, Trung học Tổng hợp, Trung học Kỹ thuật, Trung học Kỹ thuật, Trung học Nông Lâm Súc và phương pháp dạy học tích hợp, phân hóa trong chương trình giáo dục phổ thông Hệ thống giáo dục về đội ngũ giáo viên và các hoạt động quản trị giáo dục, những hoạt động khảo thí và thanh tra trường học, liên hệ giáo dục phổ thông của miền Nam đến giáo dục hiện nay

Tác phẩm “Bàn về giáo dục Việt Nam Trước và sau năm 1975” của tác giả

Trần Văn Chánh, xuất bản năm 2019 do Nhà xuất bản Xuất bản Hà Nội ấn hành

đã tổng quan khái quái toàn bộ giáo dục miền Nam Việt Nam trong giai đoạn

1954 đến 1975 trên con đường phát triển và xây dựng, chương trình giáo dục với sách giáo khoa miền Nam, nền tảng giáo dục tư nhân trước năm 1975 và bản quy chế tư thục; đánh giá những bài học thuộc lòng thứ văn chương Tiểu học về miền Nam trước năm 1975 Những nhận định, nhận thức mới đánh giá giáo dục của miền Nam trước đây, liên hệ giáo dục hiện nay về những vấn đề phương

Trang 17

pháp giảng dạy, cải cách giáo dục và định hướng phát triển mới phù hợp với những tư tưởng giáo dục nền tảng triết lý, xu hướng dạy và học

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp nghiên cứu tổng thể là dựa vào phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà Nước Việt Nam về vấn đề chiến tranh và cách mạng, về vấn đề dân tộc và giai cấp Phương pháp nghiên cứu cụ thể là kết hợp hai phương pháp

cơ bản của sử học Mácxit là phương pháp lịch sử và phương pháp logic; đáp ứng việc tái hiện lịch sử, phân tích và đánh giá các vấn đề lịch sử, xem xét các mối

sử, đề tài cũng sử dụng phương pháp thống kế, mô tả và phương pháp tổng hợp

số liệu để làm rõ các nội dung liên quan được đề cập trong báo cáo tốt nghiệp

6 NGUỒN TÀI LIỆU CỦA ĐỀ TÀI

Trong thực hiện báo cáo tốt nghiệp tên đề tài: “Chính sách giáo dục của Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đối với các dân tộc thiểu số ở miền Nam Việt Nam (1967 – 1975)”, sử dụng các nguồn tài liệu rõ ràng nguồn gốc cho đề

tài:

Tham khảo các sách công trình nghiên cứu, các bài báo và tạp chí nghiên cứu khoa học đã được công bố về chủ trương chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước; các luận án tiến sĩ,

Trang 18

luận văn thạc sĩ về lịch sử Việt Nam hiện đại trong thư viện Trường Đại học Thủ Dầu Một, Thư viện Tỉnh Bình Dương và Thư viện Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh

Nguồn tài liệu quan trọng nhất tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II còn nhiều sách và tư liệu quý được bảo quản liên quan đến đề tài là các văn bản Luật, Nghị định, Sắc lệnh, Tờ trình, Kế hoạch, Chương trình hoạt động và các văn bản khác; Các chính sách và chương trình viện trợ của Mỹ liên quan đến chính sách giáo dục phổ thông trong quá trình hoạt động của Chính quyền VNCH đối với các DTTS ở miền Nam Việt Nam giai đoạn 1967 đến 1975

7 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

Đề tài Báo cáo tốt nghiệp đóng góp như sau:

- Trình bày được hệ thống giáo dục của chính quyền Việt Nam Cộng hòa

ở miền Nam Việt Nam trong giai đoạn 1955-1975 và tìm hiểu chính sách giáo dục của chính quyền Đệ Nhị Cộng hòa từ 1967-1975

- Phân tích chính sách giáo dục phổ thông của chính quyền Đệ Nhị Cộng hòa thông qua chính sách dân tộc tác động đối với các dân tộc thiểu số ở miền Nam Việt Nam

- Khái quát tổng thể bức tranh về âm mưu và thủ đoạn của chính sách giáo dục thực dân mới kiểu Mỹ và chính sách giáo dục phổ thông của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đối với các dân tộc thiểu số ở miền Nam

- Phục dựng lại một phần lịch sử Việt Nam hiện đại trong giai đoạn

1967-1975 Đề tài “Chính sách giáo dục của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đối với các dân tộc thiểu số ở miền Nam Việt Nam (1967-1975)” hy vọng sẽ cung cấp thêm những thông tin khoa học lịch sử có giá trị, góp phần làm phong phú thêm kho tàng khoa học lịch sử Việt Nam hiện đại

Trang 19

CHƯƠNG 2 CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HÒA THỰC THI CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG ĐỐI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ (1967 – 1975)

CHƯƠNG 3 TÁC ĐỘNG CHÍNH SÁCH PHỔ THÔNG CỦA CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HÒA ĐỐI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ (1967 – 1975)

Trang 20

CHƯƠNG 1 BỐI CẢNH RA ĐỜI CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG CỦA CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HÒA (1967-1975) ĐỐI VỚI CÁC

DÂN TỘC THIỂU SỐ 1.1 CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC CỦA CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HÒA (1955 – 1967)

1.1.1 Bối cảnh lịch sử

Năm 1954, Hiệp định Genève chia cắt nước Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở ra Bắc do Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tập kết và vĩ tuyến 17 trở vào Nam do quân Pháp tập kết, ký kết năm 1956 sẽ tổ chức cuộc Tổng tuyển cử Hiệp thương thống nhất đất nước ở Việt Nam Sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam từ khi viện trợ Pháp trong các cuộc chiến tranh tại Việt Nam, sau khi Hiệp định Genève năm

1954, Mỹ đã nhanh chóng gạt Pháp và từng bước thực hiện âm mưu độc quyền chi phối ở miền Nam Việt Nam “Mục tiêu của Mỹ là: Chia cắt lâu dài nước Việt Nam, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của

Mỹ Mỹ muốn lấy miền Nam Việt Nam làm phòng tuyến chặn chủ nghĩa xã hội lan xuống Đông Nam Á” [9;164] Để củng cố quyền lợi tại miền Nam Việt Nam,

Mỹ đã chủ trương tăng cường cố vấn và viện trợ, nhằm xây dựng củng cố chế độ VNCH do Ngô Đình Diệm làm Tổng thống ĐICH (1955-1963) cũng là cơ sở chủ yếu để Mỹ áp đặt chủ nghĩa thực dân mới Mỹ đã cử Côlin đến miền Nam Việt Nam thực hiện kế hoạch thông qua 6 điểm bao gồm:

“1 Ủng hộ chính quyền Ngô Đình Diệm Viện trợ trực tiếp cho chính quyền Sài Gòn, không qua Pháp

2 Xây dựng lại “quân đội quốc gia” cho Ngô Đình Diệm gồm 15 vạn quân do Mỹ huấn luyện và cung cấp vũ khí

3 Tổ chức bầu cử Quốc hội miền Nam, thực hiện “độc lập” giả hiệu

Trang 21

4 Thực hiện việc định cư cho số người Bắc di cư và vạch kế hoạch cải cách điền địa

5 Thay đổi chế độ chế khóa, giành ưu tiên cho hàng hóa Mỹ xâm nhập miền Việt Nam

6 Đào tạo cán bộ hành chính cho Chính quyền Ngô Đình Diệm” [9;166]

Nhu cầu nhất lúc bây giờ đối với chính quyền ĐICH không chỉ với Mỹ là đào tạo đội ngũ “Ở nhiều trường học miền Nam dưới chế độ Sài Gòn đã có các hoạt động gián tiếp và trực tiếp phục vụ cho công tác “bình định” nông thôn, tình báo gián điệp và đào tạo những người lính đánh thuê tương lai cho Mỹ” [9;208], sự hiện diện của nền giáo dục Mỹ ảnh hưởng lớn tới miền Nam Việt Nam

Năm 1955, với cuộc trưng cầu dân ý do Mỹ ủng hộ Ngô Đình Diệm phế truất Bảo Đại, Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống theo chính thể Cộng hòa Tổng thống chế với bản Hiến pháp năm 1956 quy định phân nhiệm ở Điều 3 và 4 giữa các quyền hành pháp, lập pháp và tư pháp “Việt Nam Cộng hòa theo thể chế chính trị đa đảng, kinh tế tư bản chủ nghĩa, được Hoa Kỳ giúp đỡ, bảo vệ chống lại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam” [7;16] Chế độ VNCH đã xây dựng một nền giáo dục thực sự nhằm thiết lập hệ thống trường học ở miền Nam và tiếp thu những thành tựu của nền giáo dục thuộc địa thời Pháp thuộc, vào mô hình giáo dục, đã kế thừa những giá trị giáo dục của ba nền giáo dục: Nho học (Cựu học), Tân học (giáo dục thực dân) và Tây học (giáo dục Pháp) Trong giai đoạn 1955-1963, dưới sự chi phối

và ảnh hưởng của Mỹ về chính trị và quân sự nhưng nền giáo dục ở miền Nam Việt Nam nhưng vẫn hoàn toàn tự chủ giáo dục từ các cấp bậc Tiểu học đến Đại học Vẫn được sự viện trợ vật chất về giáo dục của Mỹ “sau năm 1954, Cơ quan phát triển quốc tế của Mỹ ở Việt Nam đã lập ra một văn phòng riêng, do phân bộ giáo dục phụ trách để giúp chính quyền Ngô Đình Diệm loại bỏ những ảnh hưởng của nền giáo dục Pháp-Việt” [9;207] và các nước đồng minh tương trợ

Trang 22

Chính quyền ĐICH đã ban nghị định tổ chức Bộ Quốc gia Giáo dục theo

số 21-GD/NĐ ngày 3-2-1955, cơ cấu bao gồm:

“- Sở Thanh niên và xã hội Học đường

- Sở Dịch thuật, Tu thư và ẩn loát

- Cơ quan Đại diện Học chính tại Trung nguyên và Cao nguyên Trung phần

- Trung tâm Tu nghiệp Giáo chức

- Một cơ sở nằm trong cơ cấu tổ chức Bộ Giáo dục nhưng hưởng qui chế

tự trị là Nguyên tử Lực Cuộc Trong giai đoạn này Viện Đại học Hỗn hợp Hà Nội được chuyển cho chính phủ Việt Nam và được đổi tên thành Viện địa học Quốc gia Sau đó thành Viện Đại học Sàigon Viện cùng với Hải học Viện Nha Trang bị sáp nhập vào tổ chức Giáo dục Việt Nam và cả hai đều mất quyền tự trị” [47;8-9]

Nền giáo dục ở miền Nam đã củng cố và nỗ lực xây dựng nền tảng quan trọng trong giáo dục của ĐICH, đề ra chính sách giáo dục với những giải pháp

Trang 23

cho những vấn đề cốt lõi “triết lý giáo dục, mục tiêu giáo dục, chương trình học, tài liệu giáo khoa và phương tiện học tập, vai trò của nhà giáo, cơ sở vật chất và trang thiết bị trường học, việc thi cử đánh giá kết quả học tập, và việc tổ chức quản trị” [7;21] Năm 1958, chính quyền ĐICH tổ chức Đại hội Giáo dục Quốc gia lần thứ nhất tại Sài Gòn, với sự tham gia nhiều thành phần từ phụ huynh học sinh, thân hào nhân sĩ, học giả, đại diện của quân đội và các tổ chức quần chúng đại diện cho ngành văn hóa và giáo dục các cấp bậc học từ tiểu học đến đại học,

kỹ thuật Tại đại hội chính thức đã đưa ra những nguyên tắc làm nền tảng cho triết lý giáo dục ở miền Nam: “Ba nguyên tắc nhân bản (humanistic), dân tộc (nationalistic) và khai phóng (liberate)” [31;13] Được ĐICH đã giao cho Bộ Quốc gia Giáo dục ấn hành ghi cụ thể trong tài liệu “Những nguyên tắc căn bản”

và được cụ thể hóa ở chương trình Trung học năm 1959 ghi trong “Nguyên tắc căn bản của nền giáo dục Việt Nam”

Dưới sự ủng hộ rất lớn của Mỹ đứng đằng sau để các tướng lĩnh quân đội VNCH đứng đầu là Trung tướng Dương Văn Minh lật đổ Ngô Đình Diệm vào ngày 1-11-1963, làm chấm dứt chế độ độc tài ĐICH Quân đội VNCH kiểm soát quyền điều hành chính phủ và thời kỳ Quân quản (1963-1967) điều hành chính quyền ở miền Nam Việt Nam “một giai đoạn khủng hoảng lãnh đạo chính trị ở miền Nam do hàng loạt cuộc đảo chánh liên tiếp diễn ra cho đến khi tướng Nguyễn Văn Thiệu thiết lập nền Đệ Nhị Cộng hòa từ sau cuộc tổng tuyển cử Tổng thống diễn ra ngày 3-9-1967” [7;17] Thời gian năm 1964 đến khi ĐIICH được thành lập, cơ cấu tổ chức bộ máy của Bộ Quốc gia Giáo dục ít bị thay đổi

và không có sự xáo trộn

Sau khi lật đổ ĐICH, năm 1964 đã tổ chức Đại hội Giáo dục Quốc gia lần thứ hai nhận định tiếp tục với khẳng định ba nguyên tắc định hướng căn bản và sửa chữa lại thành “nhân bản, dân tộc, khoa học” Chính sách giáo dục của VNCH được ghi rõ ở Điều 11 năm 1967: “Văn hóa giáo dục phải được đặt vào

Trang 24

hàng quốc sách trên căn bản dân tộc, khoa học và nhân bản” [31;14] Từ ngày 7-1964, chính quyền Quân quản thành lập thêm cơ chế Hội đồng Quốc gia Giáo dục bên cạnh Bộ Giáo dục bằng Nghị định 1302-GD có nhiệm vụ chính: “Tham gia công việc xây dựng một nền giáo dục dân tộc, nhân bản và khoa học” với “sẽ phát biểu ý kiến về những dự án do Bộ Giáo dục chuyển đến; đề nghị những cải cách phù hợp với tinh thần và nhu cầu của dân tộc, thích nghi với đà tiến hóa của các phát minh khoa học và văn hóa” [7;21] Trên cơ sở, chính quyền VNCH củng cố cải cách giáo dục và đề ra những chính sách giáo dục phù hợp với những

2-xu hướng nền giáo dục mới

1.1.2 Chính sách dân tộc của chính quyền Việt Nam Cộng hòa (1955-1967)

Sau năm 1954, chính quyền VNCH thời kỳ Đệ Nhất ở miền Nam Việt Nam đã căn cứ vào tình hình những đặc điểm của các vùng dân tộc và các tộc người sinh sống ở miền Nam có nguồn gốc lịch sử, có những nét riêng về kinh tế-xã hội và văn hóa Từ đó, chính quyền ĐICH đã chia các DTTS ở miền Nam Việt Nam thành 4 khối khác nhau và có những chính sách cai trị với quản lý các dân tộc, bao gồm: “1.Khối các dân tộc Cao Nguyên Trung phần và Trung Nguyên Trung phần gọi là các sắc tộc Thượng miền Nam; 2.Khối dân tộc Chàm được gọi là sắc tộc Chàm; 3.Khối dân tộc Khmer được gọi là Người Việt gốc Miên; 4.Khối các dân tộc thiểu số miền Bắc di cư gọi là Sắc dân Thượng miền Bắc” [37;88]

Ngày 12-6-1955 tại Buôn Mê Thuột, Ngô Đình Diệm đã đưa ra chính sách Thượng vụ, nhấn mạnh chính sách Thượng vụ của ĐICH thể hiện những chủ trương “Dân tộc hóa”: “Trên phương diện chính trị, Kinh, Thượng đều là công dân của nước Việt Nam Cộng hòa, đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, tại khắp lãnh thổ Việt Nam đồng bào sơn cước cũng như đồng bào đồng bằng có quyền sinh sống và làm ăn như nhau” [37;89] Thực hiện chính sách Thượng vụ chính quyền ĐICH thực thi các chính sách về kinh tế, văn hóa, xã hội và chính

Trang 25

sách giáo dục của nó đối với các DTTS ở miền Nam Việt Nam “cùng với việc đưa hàng vạn người Kinh di cư lên Tây Nguyên chính quyền đã ban hành điều khoản: hạn chế dạy thổ ngữ Thượng tại bậc sơ học và tiểu học, lấy quốc ngữ căn bản dạy ở trường phổ thông chính quyền Diệm cũng chấm dứt việc nâng đỡ con

em đồng bào dân tộc vào Học Viện Quốc Gia Hành Chính, từ năm 1955-1963 không nhận một thanh niên Thượng nào vào học” [37;93] Trọng tâm trong chính sách “Dân tộc hóa” của Ngô Đình Diệm đã chủ trương coi thường người Thượng trong mảng văn hóa-giáo dục: “Không tôn trọng ngôn ngữ Thượng, hủy

bỏ chương trình dạy tiếng mẹ đẻ” và “không cấp học bổng cho học sinh Thượng

đi du học ở nước ngoài” [69;108]

Ngày 3-7-1957, chính quyền Ngô Đình Diệm đã ký Sắc lệnh số 302/NV thành lập Nha Công tác Xã hội miền Thượng đặt trực thuộc Phủ Tổng thống có nhiệm vụ nghiên cứu, soạn thảo và đề nghị những chương trình, kế hoạch liên quan đến vấn đề cải tiến dân sinh Thượng; Cơ cấu tổ chức của Nha Công tác Xã hội miền Thượng: “Tổng thống -> Bộ trưởng Bộ Phủ Tổng thống -> Nha Công tác xã hội miền Thượng -> Phòng hành chính-Phòng Nghiên cứu kế hoạch-Phòng Tổ chức hướng dẫn-Phòng kiểm tra liên lạc-Phòng Trung tâm huấn luyện-Nha Đại diện Cao Nguyên-Nha Đại diện Nam Phần” [37;95] Năm 1958, nhân

có những cuộc đòi hỏi của một số trí thức người Thượng ở miền Nam Việt Nam, chính quyền ĐICH đã đưa ra đường lối cụ thể cho 4 điểm trên:

“a)- Xây dựng tinh thần Kinh Thượng bình đẳng: Kinh-Thượng đều bình đẳng về quyền lợi và nhiệm vụ tại khắp lãnh thổ Việt Nam Việc gì, chức vụ gì người Kinh làm được thì người Thượng có đủ năng lực cũng có quyền làm Hiệu năng như nhau thì Kinh hay Thượng đều được tiền lương, tiền công như nhau

b)- Xây dựng tinh thần Kinh Thượng đoàn kết: làm cho miền Thượng không còn là rừng thiêng đối với đồng bào Kinh và ngược lại cho thành thị, đồng bằng cũng không phải là chốn xa lạ đối với đồng bào Thượng

Trang 26

c)- Xây dựng tinh thần yêu tổ quốc Việt Nam: làm cho đồng bào Thượng yêu tổ quốc Việt Nam, hãnh diện về Quốc gia Việt Nam mà họ đã đóng góp xây dựng

d)- Nâng cao trình độ sinh hoạt: Khuyến khích giúp đỡ đồng bào Thượng cải thiện cách sống (nhà cửa, áo quần, vệ sinh, phòng bệnh) cách canh tác (cày cấy, dùng phân bón, dùng nông cụ), cách nuôi súc vật” [46;19]

Chính quyền Ngô Đình Diệm đã đề ra chính sách Thượng vụ được gọi là chính sách “Dân tộc hóa” nhưng vấp phải những sai lầm khi thực hiện đối với các DTTS ở miền Nam dẫn tới phong trào đấu tranh chống lại ĐICH như sau: Không tôn trọng Phong tục, tập quán, ngôn ngữ Thượng Chủ trương tiêu diệt giai cấp lãnh đạo Thượng Thực hiện nhiều cải cách quá mạnh mà không cho đồng bào Thượng được học tập trước khiến đồng bào không theo kịp chủ trương của chính phủ Không giáo dục cán bộ và đồng bào Kinh cách đối xử khi tiếp xúc với đồng bào Thượng nên khi thực hiện Chính sách Dinh Điền, đồng bào Kinh ồ ạt thiên cư lên lập nghiệp trên vùng Thượng đã có những thái độ kinh miệt kỳ thị khiến cho đồng bào Thượng bất mãn Phủ nhận quyền sở hữu đất đai của đồng bào Thượng Không có một chương trình cải tiến dân sinh cho đồng bào Thượng Chính phủ Diệm đảm đương chương trình thực hiện cho đồng bào Kinh, áp dụng cho đồng bào Thượng nên đồng bào Thượng chẳng những không hưởng ứng mà lại thêm bất mãn

Trên cơ sở đó, ĐICH làm cho các DTTS bất mãn với chế độ Ngô Đình Diệm trở nên nghiêm trọng hơn khi can thiệp quá sâu vào những tục lệ lâu đời của các DTTS ở miền Nam Việt Nam Thời kỳ Quân quản, sau khi lật đổ ĐICH, chính phủ Quân quản đã đề ra chính sách dân tộc thay cho chính sách “Dân tộc hóa” của Ngô Đình Diệm bằng chính sách “Dân tộc hòa đồng-Đồng tiến” của các chính phủ quân sự Ngày 5-5-1964, chính phủ VNCH ký Nghị định số 911/QP cải biến Nha Công tác Xã hội miền Thượng thành Nha Đặc trách

Trang 27

Thượng vụ đặt thuộc Bộ Quốc Phòng Ngày 17-10-1964, chính phủ của Thủ tướng Nguyễn Khánh cho tổ chức Đại hội các Sắc tộc Thượng tại Pleiku, về văn hóa-giáo dục đã đưa ra chính sách: “Mở thêm trường Tiểu học, Trung học, Kỹ thuật và chuyên môn Xây dựng thêm các ký túc xá cho học sinh Tiểu học và Trung học Cho học tiếng mẹ đẻ kèm theo chương trình Quốc ngữ đến bậc Tiểu học Nâng đỡ học sinh Thượng trong các kỳ thi và đặc ân cho học sinh Thượng vào các trường chuyên môn Đại học Cho học sinh Thượng du học Mở thêm các lớp Đệ Nhất đặc biệt Xúc tiến thêm chương trình Bình dân giáo dục Tiếp tục cấp học bổng cho học sinh Thượng Thành lập Hội đồng Bảo trợ sinh viên, học sinh Thượng” [69;129-130] Trên cơ sở đó, ngày 6-3-1966 với Sắc lệnh số 121SL.HP.VP của chính quyền VNCH thành lập cơ quan giải quyết vấn đề đồng bào các DTTS ở miền Nam:

“- Thành lập Phủ Đặc Uỷ Thượng vụ với các cơ cấu tổ chức chặt chẽ từ Trung ương xuống cấp Tỉnh, Quận

- Ban hành Qui chế cán bộ Thượng vụ

- Tái lập các Tòa án Phong tục Thượng

- Trong các tổ chức liên quan đến đồng bào Thượng từ Trung ương xuống địa phương đều có đại đồng bào Thượng tham dự như Hội đồng hàng Tỉnh, Hội đồng xây dựng nông thôn và mới đây Hội đồng soạn thảo luật bầu cử Quốc hội Lập hiến

- Đề cử 95 viên chức Thượng có khả năng vào cấp chỉ huy từ Thứ Uỷ trở xuống

- Bổ nhiệm 1307 chức việc địa phương vào các Ban Trị sự ấp và Hội đồng

- Kiện toàn 928 Ấp Tân sinh, 342 địa điểm định cư và lập 80 địa điểm tỵ nạn Cộng sản” [69;143-146] Chính sách dân tộc của chính quyền thời kỳ Quân

Trang 28

quản đã đề ra những chính sách về kinh tế, xã hội, văn hóa và chính sách giáo dục cho các DTTS ở miền Nam Việt Nam Đưa thêm các cơ quan khác như Phủ Đặc Uỷ Thượng vụ nhằm giải quyết các vấn đề phát sinh trong cộng đồng các DTTS ở miền Nam Việt Nam trong có vấn đề giáo dục cho các đồng bào DTTS trong giai đoạn từ năm 1964 đến 1967

1.2 CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG CỦA VIỆT NAM CỘNG HÒA ĐỐI VỚI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ (1955-1967)

1.2.1 Tình hình chương trình giáo dục phổ thông

Sau năm 1955, chương trình giáo dục phổ thông ở miền Nam Việt Nam mới áp dụng để thay thế chương trình giáo dục của thực dân Pháp, những nhà trí thức ở miền Nam đã cố xây dựng được nền móng quan trọng cho nền giáo dục cốt lõi những vấn đề: triết lý giáo dục, mục tiêu giáo dục, chương trình học, tài liệu giáo dục và phương tiện học tập, vai trò của nhà giáo, cơ sở vật chất bị trường học, đánh giá kết quả học tập và tổ chức quản trị trường học

Nguyên tắc căn bản của nền giáo dục Việt Nam đặt nền tảng tư tưởng Triết lý giáo dục ở phần chương trình Tiểu học và chương trình Trung học, được ghi ở văn bản:

“1 Nền giáo dục Việt Nam phải là nền giáo dục “Nhân bản”, tôn trọng giá trị thiêng liêng của con người, lấy chính con người làm cứu cánh, và như vậy, nhằm mục đích phát triển toàn diện con người

2 Nền giáo dục Việt Nam phải là một nền giáo dục “Dân tộc”, tôn trọng giá trị truyền thống mật thiết liên quan với những cảnh huống sinh hoạt như: gia đình, nghề nghiệp, đất nước và đảm bảo hữu hiệu cho sự sinh tồn, phát triển của quốc gia dân tộc

3 Nền giáo dục Việt Nam phải có tính cách “Khai phóng”, tôn trọng tinh thần khoa học, phát huy tinh thần dân chủ và xã hội, thâu thái tinh hoa của nền

Trang 29

văn hóa thế giới” [31;14] Dựa trên chính sách “Dân tộc hóa” của chính quyền Ngô Đình Diệm đề ra được áp đặt vào chính sách giáo dục đối với các DTTS ở miền Nam Việt Nam với điều khoản cụ thể: “Cấm dạy thổ ngữ Thượng tại bậc

Sơ học và Tiểu học nhằm đồng hóa đồng bào Thượng Nền giáo dục được nghiên cứu tỉ mỉ cho phù hợp với dân tộc tính, trình độ và hoàn cảnh lịch sử Lấy Quốc ngữ làm căn bản giảng dạy từ Tiểu học đến Trung học thay thế chương trình Pháp” [83;12] Cho thấy sự vi phạm của Ngô Đình Diệm khi tuyên bố chính sách “Dân tộc hóa” được triển khai chương trình giáo dục được áp đặt cho các DTTS ở miền Nam Việt Nam

Mục tiêu nền giáo dục phổ thông ở miền Nam Việt Nam, nhằm đưa ra những câu hỏi để trả lời đã được đề ra: Sau khi nhận được sự giáo dục phổ thông, những người học sẽ trở thành những người như thế nào đối với cá nhân mình, đối với gia đình, quốc gia, xã hội và nhân loại Mục tiêu của nền giáo dục phổ thông ở miền Nam Việt Nam được chính quyền VNCH đặt trọng tâm ở 3 mục tiêu chính là: “Phát triển toàn diện mỗi cá nhân”, “Phát triển tinh thần quốc gia ở mỗi học sinh” và “Phát triển tinh thần dân chủ và tinh thần khoa học”

Về phần chương trình Tiểu học lần đầu tiên được ban hành theo Nghị định

số 4-NĐ/GD của Bộ Quốc gia Giáo dục về ấn định chương trình bậc Tiểu học Ngày 16-7-1959, chương trình giáo dục Tiểu học được sửa đổi theo các nghị định, công văn hướng dẫn sửa đổi và bổ sung chương trình Tiểu học; để thích ứng với hoàn cảnh và nhu cầu hiện tại Bộ Quốc gia Giáo dục ban hành Nghị định số 1005-GD/NĐ Dựa trên đặc điểm của giáo dục Tiểu học căn cứ vào ba nguyên tắc căn bản của nền giáo dục là “Nhân bản, dân tộc và khai phóng” đã xác định những đặc điểm trên: “Tôn trọng nhân cách trẻ em”, “Phát triển tinh thần quốc gia dân tộc” và “Rèn luyện tinh thần dân chủ và khoa học”

Từ sau năm 1954, chương trình giáo dục bậc Tiểu học được tiếp nối theo chương trình ban hành năm 1949, bao gồm các môn học: “Việt ngữ (Ngữ vựng,

Trang 30

Tập đọc, Học thuộc lòng, Chính tả, Văn phạm, Tập viết, Tập làm văn); Đức dục, công dân Giáo dục; Quốc sử; Địa lý; Khoa học thường thức (Khoa học thường thức và Quan sát vệ sinh); Toán; Vẽ; Thủ công; Hoạt động Thanh niên (vui chơi,

đi cắm trại); Thể dục; Nữ công gia chánh; Ngoại ngữ (chủ yếu là tiếng Pháp)” [31;65] Phương pháp dạy học ở chương trình giáo dục Tiểu học đã quy định rõ:

“Phương pháp dạy học cần phải tuân thủ: học đi học lại kỹ lưỡng theo phương pháp tiệm tiến, đi từ chỗ biết đến chỗ chưa biết, từ chỗ gần đến chỗ xa, từ chỗ dễ đến chỗ khó, từ chỗ cụ thể đến chỗ trừu tượng” [31;74]

Sách giáo khoa ở Tiểu học do Bộ Quốc gia Giáo dục và các nhà xuất bản

tư nhân ấn hành nhưng đều tuân thủ những nguyên tắc căn bản của nền giáo dục

“Nhân bản, dân tộc, khai phóng”, được biên soạn theo chủ đề với mỗi chủ đề có những nội dung bài học cụ thể và được giáo viên hướng dẫn cho học sinh từ kiến thức đến thực tế trong sách giáo khoa Ngoài sách giáo khoa ra thì tài liệu tham khảo đối với chương trình giáo dục bậc Tiểu học ở miền Nam có một số tạp chí phục vụ cho việc giảng dạy như: “Tiểu học Nguyệt san”, “Hiếu học” và “Chăm học” là cung cấp tài liệu cho giáo viên giảng dạy trong các môn học ở chương trình Tiểu học

Sau cuộc đảo chính ngày 01-11-1963, ĐICH bị lật đổ, chương trình giáo dục bậc Tiểu học lại được sửa đổi ở các môn Đức dục, Công dân giáo dục và Quốc sử Theo đó, chính quyền Quân quản bắt đầu áp dụng chương trình cho niên khóa 1963-1964 với ban hành Thông cáo số 86-SVL/GD/TTH/TC của Nha Tổng giám đốc Trung Tiểu học Trên cơ sở tình hình chương trình giáo dục phổ thông ở miền Nam đối với các DTTS được cụ thể ở các văn kiện quy định chương trình dạy thổ ngữ:

“A- Thông điệp của Thủ tướng Chánh phủ ngày 17-10-1964 tại Đại hội các Sắc tộc tại Pleiku này 15, 16 và ngày 17-10-1964 về văn hóa giáo dục có

Trang 31

khoản quy định: “…tại bậc Tiểu học, các Thổ ngữ sẽ được đặc biệt dạy kèm với chương trình Việt ngữ”

B- Thông tư số 474-GD/KH-1 ngày 28-10-1964 của Bộ Quốc gia Giáo dục ấn định biện pháp nâng đỡ học sinh sinh viên Thượng, khoản 7 ấn định: Cho phép học sinh Thượng học tiếng mẹ đẻ đến hết bậc Tiểu học kèm theo với chương trình quốc ngữ” [83;98]

Về phần chương trình Trung học, ngày 28-5-1959 ban hành theo Nghị định số 774-GD/NĐ và được bổ sung vào ngày 12-8-1959 theo Nghị định số 1286-GD/NĐ ấn định cho toàn bộ chương trình giáo dục bậc Trung học ở miền Nam Dựa trên ba nguyên tắc căn bản của nền giáo dục “Nhân bản, dân tộc, khai phóng” nhằm xác định được việc xây dựng chương trình, phương pháp dạy học, cách thức tổ chức triển khai chương trình tuân thủ theo triết lý giáo dục và giáo dục Trung học có những nguyên tắc căn và mục đích bao gồm: Hun đúc tâm hồn

và tinh khí; Mở mang kiến thức phổ thông; Rèn luyện phương pháp suy tưởng và hành động để chuẩn bị học sinh có đủ khả năng ra đời hay chuyển sang các ngành kỹ thuật chuyên nghiệp hoặc tiến lên bậc đại học Chương trình giáo dục bậc Trung học gồm 2 chương trình là: Chương trình Trung học đối với các môn văn hóa và Chương trình huấn luyện thanh niên thể dục thể thao học đường

Chương trình Trung học đối với các môn văn hóa phương pháp dạy học chung thì có những biện pháp đổi mới một số phương pháp mới: “Dạy học nâng cao tính tích cực của học sinh, dạy học có sự liên hệ môn (tích hợp), dạy học theo nhóm, dạy học tăng cường đàm thoại/đối thoại, dạy học kết hợp giữa lý thuyết với thực hành, tăng cường sử dụng thiết bị, tranh ảnh…” [31;88] Bên cạnh đó, còn sử dụng các phương pháp cho từng bộ môn riêng biệt như phương pháp dạy học Văn, phương pháp dạy học các môn khoa học thực nghiệm và phương dạy học Công dân giáo dục Chương trình huấn luyện thanh niên thể dục thể thao học đường được xuyên suốt từ lớp 6 đến lớp 12 được cụ thể: “Các môn

Trang 32

thể dục, thể thao” bao gồm thể dục, thể thao và thanh niên; “Các thời kỳ huấn luyện” bao gồm thời kỳ thứ nhất, thứ hai, thứ ba và thứ tư

Các môn học ở chương trình giáo dục bậc Trung học bao gồm: “Quốc văn, Hán tự, Sử địa, Công dân giáo dục, Sinh ngữ, Vạn vật, Lý hóa, Toán, Triết học (chỉ có ở lớp Đệ Nhất), Vẽ, Âm nhạc, Thể dục, Thủ công (dành cho nam sinh),

Nữ công gia chánh Dưỡng nhi (dành cho nữ sinh)” [7;159]

Chương trình giáo dục bậc Trung học, sách giáo khoa và tài liệu tham khảo đối với giáo dục thì không do Bộ Quốc gia Giáo dục độc quyền phát hành

và có sự tham gia của các nhà xuất bản tư nhân Những người viết sách giáo khoa và tài liệu tham khảo thường là một nhóm giáo viên (giáo sư Trung học) của các trường hay giảng viên các trường đại học soạn thảo Về tài liệu tham khảo có một số tạp chí phục vụ cho việc giảng dạy ở Trung học và luyện thi như:

“Tập sách hồng, luyện thi Trung học Đệ Nhất cấp, tập sách xanh, luyện thi Trung học Đệ Nhị cấp; Hiếu học, Stiêng học, Chăm học, Khuyến học, Học báo Anh ngữ v.v…”[31;101] đều được do các nhà xuất bản tư nhân xuất bản phục vụ cho việc tham khảo và luyện thi ở Trung học đối với các giáo viên và học sinh ở miền Nam Việt Nam

Cuộc đảo chính lật đổ ĐICH do chế độ đứng đầu Ngô Đình Diệm và chuyển sang thời kỳ Quân quản với nhiều bất ổn về chính trị dẫn tới các cuộc đảo chính xảy ra liên tục do các tướng lĩnh VNCH Cũng dẫn đến ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động ở các trường học, làm cho các chương trình liên tục thay đổi ở bậc Trung học theo hướng xu thế bắt đầu hướng bỏ bớt phần chương

lý thuyết nặng nề Tình trạng giáo dục cho học sinh Thượng dưới ĐICH có nhiều tiến triển nhưng “Mặc dầu có những cố gắng để nâng cao trình độ giáo dục miền Thượng, nhưng với chế độ đàn áp, độc tài đối đồng bào Thượng Chính sách Thượng vụ của Chánh phủ Ngô Đình Diệm đã sai lầm từ căn bản nên không được sự ủng hộ của quần chúng Thượng” [83;16] Sau khi lật đổ Ngô Đình

Trang 33

Diệm, Thủ tướng chính phủ công bố và ban hành thông tư số 474-GD/KH-1 vào ngày 28-10-1964 của Bộ Quốc gia Giáo dục nhằm có biện pháp nâng đỡ học sinh, sinh viên Thượng bao gồm 14 điểm:

“1) Miễn phí cho học sinh, sinh viên Thượng khỏi phải đóng góp bất cứ khoản tiền nào tại học đường (xã hội học đường, phụ huynh học sinh, kể cả học phí tại Đại học…) Tuy nhiên vẫn được hưởng tiền trợ giúp của quỹ xã hội học đường

2) Thiết lập thêm ký túc xá tại những nơi đông học sinh Thượng, ưu tiên cho những học sinh lớp lớn (nhì, nhất…) và ở xa trường

3) Tổ chức tại các ký túc xá 3 bữa ăn: sáng, trưa và chiều

4) Hằng năm, cấp học bổng cho các học sinh, sinh viên Thượng không được hưởng chế độ Ký túc xá

5) Vận động các cơ quan Từ thiện giúp mền, mùng, quần áo, bút giấy v.v…cho học sinh Thượng

6) Dành một số học bổng cho học sinh, sinh viên Thượng thuộc các Bộ lạc xin xuất ngoại du học (ngoài trừ học bổng đi Pháp)

7) Cho phép học sinh Thượng học tiếng mẻ đẻ đến bậc Tiểu học, kèm theo với chương trình Quốc ngữ

8) Tăng giới hạn tuổi của học sinh Thượng xin nhập học các Trường Trung học phổ thông lên 3 năm so với học sinh người Kinh

9) Thêm điểm cho các thí sinh Thượng nhập học các lớp Đệ Thất công lập 10% tổng số điểm để được chấm trúng tuyển

10) Thêm điểm cho các thí sinh Thượng không quá 1/3 về: Tổng số điểm được chấm đậu Trung học Đệ Nhất cấp Tổng số điểm để được chấm đậu loại I

Tú tài I Các Hội đồng giám khảo liên hệ linh động thi hành trong giới hạn nói trên tùy theo số học sinh Thượng được chấm đậu

Trang 34

11) Cho học sinh Thượng được nhập học miễn thi các trường sau đây: Mỗi năm các trường Trung học Nông lâm súc thân nhận học sinh Thượng có đủ điều kiện quy định (tuổi và văn bằng) Số này bằng 10% số học sinh dự tuyển Các trường Kỹ thuật, Mỹ thuật, Sư phạm Cộng đồng sẽ tùy trình độ, ấn định trong các kỳ thi nhập học, một tỷ lệ dành cho các học sinh Thượng đủ điều kiện (về tuổi, học vấn, văn bằng)

12) Đặc biệt nhận học sinh Thượng có Tú tài II vào các trường Đại học Chuyên khoa khỏi qua một cuộc thi như học sinh Kinh Hằng năm, trước kỳ thi tuyển, hồ sơ của các học sinh và sinh viên Thượng xin nhập học miễn thi các trường nói ở điểm 11 và 12 phải nộp tại Nha Đặc trách Thượng vụ Bộ Quốc phòng để Nha này xét nghị và chuyển hồ sơ đến Bộ Quốc gia Giáo dục

13) Đề cử một số cán bộ Thượng có khả năng giữ những chức vụ như Ty Trưởng, Thanh tra Tiểu học, Hiệu trưởng tại các Tỉnh miền Thượng

14) Nghiên cứu dự án thiết lập một viện Bảo tàng Nhân chủng” 30]

[83;28-Sau thông tư chính phủ VNCH, đã đề ra chính sách giáo dục phổ thông cho học sinh ở miền Nam Việt Nam đối với các DTTS, cụ thể tình hình đó nhằm đáp ứng nhu cầu cho các học sinh đồng bào Thượng và đào tạo nguồn nhân lực cán bộ Thượng Biện pháp nâng đỡ đặc biệt này tương đối thuận lợi cho các học sinh Sắc tộc phát triển về văn hóa-giáo dục từ niên khóa 1964-1965 Tới ngày 17-5-1965, “trong văn thư số 2180/VHGD/NCKH của Bộ Văn hóa Giáo dục, đã chấp nhận thêm cho các sinh viên, học sinh Thượng miền Bắc di cư (Thổ, Thái, Nùng v.v…) và Chàm cũng được hưởng các biện pháp nâng đỡ đặc biệt dành cho sinh viên học sinh Thượng do Thông tư số 474/GD/KH-1 ngày 28-10-1964” [83;30]

Trang 35

1.2.2 Hệ thống các bậc học của giáo dục phổ thông

Cơ cấu hệ thống giáo dục phổ thông của chính quyền Việt Nam Cộng hòa được tổ chức: “Giáo dục phổ thông miền Nam chia làm 2 bậc: bậc Tiểu học và bậc Trung học Trong bậc Trung học có 2 cấp, Trung học Đệ Nhất cấp (như Trung học cơ sở hiện nay) và Trung học Đệ Nhị cấp (như Trung học Phổ thông hiện nay)” [31;17]

Về giáo dục phổ thông ở miền Nam Việt Nam ở bậc Tiểu học có 5 lớp học bao gồm: lớp 1, lớp 2, lớp 3, lớp 4, lớp 5 Theo quy định của Hiến pháp, giáo dục phổ thông ở bậc Tiểu học là giáo dục cưỡng bách (bắt buộc), đến năm 1955 có luật quy định trẻ em đi học ít nhất ba năm Tiểu học Tất cả các trẻ từ 6 tuổi đều được nhận vào lớp 1 để bắt đầu bậc Tiểu học Cuối năm học, học sinh phải thi lên lớp nếu ai thi trượt thì phải ở lại lớp Tình hình gia đình mà phụ huynh có thể chọn lựa cho con em vào học miễn phí cho đến hết bậc Tiểu học trong các trường công lập hay tốn học phí tại các trường Tiểu học tư thục: “Các trường công lập đều hoàn toàn miễn phí, không thu học phí và cá khoản lệ phí khác” [31;18] Ở các địa phương hay vùng nông thôn, học sinh bắt đầu đi học lớp 1 chậm hơn từ 7 đến 8 tuổi ở bậc Tiểu học

Về giáo dục phổ thông bậc Tiểu học ở miền Nam Việt Nam, trong niên khóa 1957-1958, “các con số đã lên tới 3.417 trường, gồm 14.538 lớp và 738.299 học sinh” [82;5]; “trong niên khóa 1960-1961, sĩ số học sinh ghi danh học bậc Tiểu học là 1.277.802 em” [5;39] Bên cạnh đó, giáo dục ở miền Nam thì bậc Tiểu học còn áp dụng Giáo dục Cộng đồng chủ yếu Từ năm 1961, trường Tiểu học Cộng đồng do Tổng nha Trung Tiểu học và Bình dân giáo dục quản lý nhưng đến năm 1962 thì Ban Giáo dục Cộng đồng được thành lập do Nha Tiểu học trực tiếp quản lý Thời kỳ từ năm 1955-1958 là thời kỳ đầu của trường Tiểu học Cộng đồng ở miền Nam Việt Nam, với một số trường được xây dựng chủ yếu ở vùng nông thôn và được trang bị nhiều thiết bị thực hành cần

Trang 36

thiết như máy khâu, máy may, máy dệt vải, và nhiều dụng cụ khác; được do Qũy viện trợ Hoa Kỳ đài thọ Chương trình học học chủ yếu là các môn học giống với chương trình bậc Tiểu học phổ thông nhưng được bổ sung các môn gắn liền với thực tế ở địa phương Từ năm 1958-1962, Bộ Quốc gia Giáo dục đưa ra chính sách cải tiến trường Tiểu học phổ thông thành các trường Tiểu học Cộng đồng Ngày 06-12-1965, theo Nghị định số 1692-GD/PC/NĐ thì Nha Tiểu học đổi thành Nha Tiểu học và Giáo dục Cộng đồng, đường lối giáo dục Cộng đồng được triển khai rộng mở ở các trường Tiểu học miền Nam Việt Nam

Về phần giáo dục phổ thông ở miền Nam bậc Trung học bao gồm: “lớp 6, lớp 7, lớp 8, lớp 9, lớp 10, lớp 11 và lớp 12 (trước năm 1970 gọi là lớp Đệ Thất,

Đệ Lục, Đệ Ngũ, Đệ Tứ, Đệ Tam, Đệ Nhị và Đệ Nhất)” [31;22-23] Bậc Trung học ở miền Nam được chia làm 2 bậc: Trung học Đệ Nhất cấp và Trung học Đệ Nhị cấp “Đệ Nhất cấp: 4 năm; Đệ Nhị cấp: 3 năm” [7;161] Ở Trung học Đệ Nhất cấp bao gồm từ lớp 6 đến lớp 9, các học sinh ở bậc Tiểu học muốn lên Trung học Đệ Nhất cấp để học phải thi với các môn thi Toán, Văn, Khoa học thường thức Tình hình cụ thể, các trường Trung học công lập hằng năm đều tổ chức các kỳ thi tuyển sinh lớp 6 có tỷ lệ chọn lọc khá cao chung toàn quốc khoảng 62% và một trường danh tiếng tỷ lệ tuyển sinh thấp hơn 10% Bên cạnh học sinh không thi trúng tuyển còn quyền lựa chọn vào các trường tư thục và phải trả học phí, ở miền Nam các trường tư thục đều có các tôn giáo như Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Cao Đài và Hào Hảo được bảo trợ nên có mức học phí khá thấp đáp ứng nguyện vọng con em lao động nghèo vẫn có thể học tiếp Một năm học được chia làm 2 học kỳ được gọi là lục cá nguyệt, đến lớp 6 thì học sinh phải bắt đầu học các môn ngoại ngữ (Tiếng Anh hay Tiếng Pháp) nhưng đến lớp

10 thì học sinh phải học 2 ngoại ngữ (Ngoại ngữ 1 và ngoại ngữ 2) Và năm

1966 trở về sau thì môn Võ Việt Nam (Vovinam) được đưa vào chương trình dạy

ở một số trường Trung học Khi học xong đến lớp 9 thì học sinh phải thi bằng

Trang 37

“Trung học Đệ Nhất cấp” Kỳ thi có 2 phần: viết và vấn đáp, nhưng đến năm

1959 bỏ phần vấn đáp Tới năm học 1966-1967 thì bỏ hẳn kỳ thi Trung học Đệ Nhất cấp

Trung học Đệ Nhị cấp bao gồm lớp 10, lớp 11 và lớp 12, đỗ Trung học Đệ Nhất cấp thì vào học Trung học Đệ Nhị cấp; ở Trung học Đệ Nhị cấp, học sinh phải chọn học trong 4 ban để chuẩn bị định hướng học lên bậc đại học, hoặc trường Kỹ thuật nhưng một số học sinh đủ 18 tuổi bị bắt đi lính Ngoài ra học sinh cũng phải học thêm một ngoại ngữ thứ hai (Tiếng Anh hay Tiếng Pháp) Ở Trung học Đệ Nhị cấp từ lớp Đệ tam lên đến tới lớp Đệ Nhất bao gồm 4 ban: Văn chương sinh ngữ; Văn chương cổ ngữ; Khoa học toán và Khoa học thực nghiệm

Về giáo dục phổ thông bậc Trung học ở miền Nam, các trường công lập đã phát triển rất mạnh với số lượng học sinh đã tăng nhanh lên 41.272 em của niên khóa 1957-1958, “trên toàn quốc đã có 60 trường Trung học với 977 lớp và thâu nhận trên 50.000 học sinh, chia ra 754 lớp Đệ Nhất cấp và 223 lớp Đệ Nhị cấp” [82;5]; bên cạnh đó, các trường Trung học Bán công được thiết lập theo Sắc lệnh

số 230-GD vào ngày 27-6-1955, với số lượng học sinh trong niên khóa

1957-1958 là 38 trường và 10.200 học sinh Ở miền Nam Việt Nam lập các trường Công lập và Bán công ngoài ra còn các trường tư thục, ngày 23-10-1956 các trường Trung học tư thục được ban hành Dụ số 57/4, số lượng học sinh tăng trong niên khóa 1957-1958 với 68.631 học sinh: “Riêng ở Nam phần, còn có 14 trường Trung học tư thục Việt Nam dành cho học sinh Việt gốc Trung Hoa, gồm

77 lớp và 3.721 học sinh” [82;6] Giai đoạn sau bậc Trung học, “sĩ số học sinh cũng đã tăng từ 203.760 em lên đến 636.921 em đồng thời với số giáo viên tăng

từ 16.607 lên 17.249 vị Số trường Trung học đã từ 418 trường vào năm 1961” [5;40], thấy nhu cầu lượng học sinh ngày càng tăng cao Chính sách “Dân tộc hóa” của chính quyền Ngô Đình Diệm đã mở thêm trường học, tổ chức các lớp

Trang 38

Bình dân giáo dục, duy trì ký túc xã cho học sinh các DTTS ở miền Nam Việt Nam Theo tài liệu của Nha Công tác Xã hội miền Thượng được ấn hành năm

1962, cho thấy niên khóa 1961-1962, số trường lớp và học sinh Thượng: Trung học có 480 học sinh; ở Tiểu học 28 trường, 160 lớp và 4.172 học sinh Trên cơ

sở đó, thực hiện được các chỉ tiêu chính quyền ĐICH đề ra chương trình Bình dân giáo dục với khẩu hiệu: “Trình độ học thức tối thiểu và trình độ học thức cần thiết hữu ích” [84;5] và “đã mở được: 2.006 khóa Bình dân giáo dục, thanh toán nạn mù chữ cho 105.464 người Lập 57 ký túc xá học sinh Thượng và 3 cư xá giáo viên Cấp học bổng cho những học sinh nghèo hiếu học” [83;12]

Chính sách “Dân tộc hòa đồng-Đồng tiến” của chính quyền Quân quản, thi hành chính sách giáo dục phổ thông ở miền Nam Việt Nam chứng tỏ số lượng học sinh các DTTS ngày càng gia tăng “kể từ niên khóa 1965-1966 học sinh các dân tộc thiểu số được tiếng mẹ ở bậc sơ học, kèm theo chương trình quốc ngữ Viện chuyên khảo ngữ học, Bộ Giáo dục và ngành Thượng vụ đã phân phối 30.000 cuốn sách Thượng vụ” [37;355] Trong niên khóa 1965-1966, số lượng học sinh Thượng “tăng 936 học sinh Trung học; 21.470 học sinh Tiểu học; Cấp

264 học bổng cho sinh viên và học sinh Trung học Thượng” [69;148-149]

1.3 CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HÒA (1967 – 1975)

1.3.1 Bối cảnh ra đời

Tình hình ở miền Nam trong giai đoạn chiến lược “Chiến tranh Cục Bộ” của Mỹ can thiệp sau vào miền Nam Việt Nam đưa quân đội Mỹ và đồng minh của Mỹ thực hiện chiến lược trên nhằm tiêu diệt lực lượng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ở các vùng nông thôn và rừng núi địa bàn chiến lược Chính quyền VNCH cũng sợ sự ảnh hưởng lan rộng khắp miền Nam làm cho những chính sách của chính quyền khó thực hiện và mất ảnh hưởng của các vùng chiến lược quan trọng đặc biệt là khu vực có các DTTS ở miền Nam Việt

Trang 39

Nam Chính quyền Quân quản cũng phối hợp với Mỹ tổ chức các cuộc càn quét vào những vùng do lực lượng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam kiểm soát

“Vào mùa khô 1965-1966, Mỹ mở cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất với

450 cuộc hành quân lớn nhỏ, trong đó có 5 cuộc hành quân “tìm diệt” then chốt, nhắm vào đồng bằng Khu 5 và miền Đông Nam Bộ với mục tiêu bẻ gãy xương sống Việt Cộng, giành lại thế chủ động của Việt Cộng trên chiến trường Trong khi tình hình miền Nam, tướng Westmoreland là Chỉ huy trưởng Bộ Tư lệnh viện trợ Quân sự Hoa Kỳ đã có kế hoạch đề trình với chính phủ Mỹ: Chương trình hợp tác bao gồm ba nội dung là tảo thanh, đảm bảo an ninh, tìm và diệt; được chia làm ba giai đoạn ở miền Nam Việt Nam:

“Giai đoạn 1: Từ tháng 7-1965 đến hết tháng 12-1965, đưa nhanh quân chiến đấu Mỹ và một số nước phụ thuộc Mỹ vào miền Nam để ngăn chặn chiều hướng sụp đổ của chế độ Sài Gòn, bảo đảm an toàn cho những khu vực đông dân

cư, gấp rút triển khai lực lượng chuẩn cho cuộc phản công giành lại chủ động chiến trường

Giai đoạn 2: Từ đầu năm 1966 đến tháng 6-1966, quân Mỹ và lực lượng

“Đồng minh” mở các cuộc hành quân tìm diệt ở những khu vực ưu tiên đã được xác định, tiêu diệt lực lượng chủ lực Quân giải phóng, phá các căn cứ du kích, hỗ trợ cho chương trình bình định

Giai đoạn 3: Từ tháng 7-1966 đến giữa hoặc cuối năm 1967, quân Mỹ và quân các nước phụ thuộc phối hợp với quân của chính quyền Sài Gòn mở các cuộc hành quân tiến công tiêu diệt các lực lượng còn lại của Quân giải phóng và các khu căn cứ du kích, hoàn thành về cơ bản chương trình bình định” [10;137-138] Mục tiêu của Mỹ nhằm cứu vớt tình thế thảm bại chiến lược “Chiến tranh Đặc biệt” và duy trì chế độ VNCH đã lung lay, khó kiểm soát được ở miền Nam Việt Nam

Trang 40

Sau lật đổ ĐICH chuyển sang thời kỳ Quân quản, chính quyền VNCH xảy

ra bất ổn khi các chính phủ quân sự lập nên bị đảo chính liên tục, làm cho các chính sách thực hiện có những vấn đề khó thực hiện, không liên tục và thiếu sự thống nhất Nội bộ quân đội của chính quyền Quân quản lục đục đấu đá nội bộ điển hình là cuộc tranh chấp của Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ giữa các phe phái về vấn đề bầu cử tranh chức vị Tổng thống VNCH: “Đi vào thời kỳ vận động bầu cử tổng thống thì cuộc xung đột giữa phái quân sự và dân sự càng gay gắt Thiệu-Kỳ cố làm tổng thống Phe dân sự cố ngăn cản không cho Thiệu-Kỳ đạt tham vọng này” [27;1790] Với sự can thiệp của Mỹ vào tình hình chính trị ở miền Nam Việt Nam làm chấm dứt thời kỳ Quân quản nhằm thực hiện “trong kế hoạch Mỹ nhằm hợp hóa ngụy quyền Sài Gòn: mà “hợp pháp hóa” ngụy quyền Thiệu-Kỳ chính là “hợp pháp hóa” sự xâm lược, sự thống trị của Mỹ” [27;1790] Với cuộc bầu cử gian lận và bàn tay của Mỹ đã chính thức hóa chính quyền mới của chế độ VNCH “cho nên cuối cùng thì Mỹ lựa Thiệu Một cuộc hội nghị đầy sóng gió của “hội đồng quân lực” kéo dài 3 ngày đã quyết định đưa Thiệu ra ứng

cử tổng thống và Kỳ ra ứng cử phó tổng thống cùng liên danh với Thiệu” [27;1791]

Từ khi chính sách dân tộc của chính quyền Ngô Đình Diệm đã vấp phải nhiều phản đối của các DTTS, thực hiện “Dân tộc hóa” đặt ra những chính sách bắt buộc các DTTS phải tuân thủ và chịu sự kỳ thị, bất quyền lợi, bất bình đẳng trên nhiều phương diện đã dẫn tới mâu thuẫn giữa chính quyền VNCH với các DTTS ở miền Nam Việt Nam “Năm 1957, các trí thức Thượng gồm đủ các thành phần công chức, quân nhân đã âm thầm đứng ra thành lập phong trào Bajaraka (hợp nhất bởi tên của 4 dân tộc Thượng lớn là Bana, Jarai, Rhadé và Kaho) do ông Y Bham Enuôl làm chủ tịch” [35;36] đưa ra những điều kiện nhằm chính quyền tổ chức Đại hội đồng bào Thượng để giải quyết vấn đề nhưng bị chính quyền Ngô Đình Diệm đã mạnh tay bắt những người đứng đầu phong trào

Ngày đăng: 13/09/2021, 19:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Trần Đức Cường (cb) (2014), “Lịch sử Việt Nam, tập 13 (từ năm 1965 đến năm 1975)”, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam, tập 13 (từ năm 1965 đến năm 1975)
Tác giả: Trần Đức Cường (cb)
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2014
11. Nguyễn Tuấn Cường (2014), “Giáo dục Hán học trong biến động văn hóa xã hội: Viện Hán học Huế (1959-1965)”, Tạp chí Ngiên cứu và Phát triển, số 7-8, tr.135-164 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Hán học trong biến động văn hóa xã hội: Viện Hán học Huế (1959-1965)
Tác giả: Nguyễn Tuấn Cường
Năm: 2014
12. Trần Trọng Đăng Đàn (2000), “Văn hóa, văn nghệ…Nam Việt Nam 1954- 1975”, Nxb Văn hóa-Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa, văn nghệ…Nam Việt Nam 1954-1975
Tác giả: Trần Trọng Đăng Đàn
Nhà XB: Nxb Văn hóa-Thông tin
Năm: 2000
13. Phan Hữu Dật – Lâm Bá Nam (2019), “Cội nguồn Chính sách dân tộc Việt Nam”, Nxb Đại học Quốc gia TP HCM, TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cội nguồn Chính sách dân tộc Việt Nam
Tác giả: Phan Hữu Dật – Lâm Bá Nam
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia TP HCM
Năm: 2019
14. Phạm Tiến Dũng (2014), “Quan hệ giữa Đài Loan với Việt Nam Cộng hòa (1955 – 1975)”, Luận án Thạc sĩ Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm TP HCM, TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ giữa Đài Loan với Việt Nam Cộng hòa (1955 – 1975)
Tác giả: Phạm Tiến Dũng
Năm: 2014
15. Edward Miller (2016), “Liên minh sai lầm: Ngô Đình Diệm, Mỹ và số phận Nam Việt Nam”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên minh sai lầm: Ngô Đình Diệm, Mỹ và số phận Nam Việt Nam
Tác giả: Edward Miller
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2016
16. Etienne Francois Aymonier Emile Roucoules (Lại Như Bằng dịch) (2018), “Chính sách giáo dục tại Nam Kỳ cuối thế kỷ 19”, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách giáo dục tại Nam Kỳ cuối thế kỷ 19
Tác giả: Etienne Francois Aymonier Emile Roucoules (Lại Như Bằng dịch)
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2018
17. Chu Phạm Minh Hằng (2013), “Vai trò phụ nữ Xtiêng: Truyền thống và biến đổi (Nghiên cứu trường hợp: Xã Thiện Hưng, Huyện Bù Đốp, Tỉnh Bình Phước)”, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học KHXH&NV, TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò phụ nữ Xtiêng: Truyền thống và biến đổi (Nghiên cứu trường hợp: Xã Thiện Hưng, Huyện Bù Đốp, Tỉnh Bình Phước)
Tác giả: Chu Phạm Minh Hằng
Năm: 2013
18. Phong Hiên (1984), “Chủ nghĩa Thực dân mới kiểu Mỹ ở miền Nam Việt Nam (Khía cạnh tư tưởng và Văn hóa) 1954 – 1975”, Nxb Thông tin Lý luận, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa Thực dân mới kiểu Mỹ ở miền Nam Việt Nam (Khía cạnh tư tưởng và Văn hóa) 1954 – 1975
Tác giả: Phong Hiên
Nhà XB: Nxb Thông tin Lý luận
Năm: 1984
19. Nguyễn Thị Như Hiền (2012), “Giao lưu văn hóa giữa người Stiêng với các dân tộc khác ở Bình Phước Từ năm 1945 đến nay”, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm TP HCM, TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao lưu văn hóa giữa người Stiêng với các dân tộc khác ở Bình Phước Từ năm 1945 đến nay
Tác giả: Nguyễn Thị Như Hiền
Năm: 2012

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm