1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Chính sách dinh điền của chính quyền việt nam cộng hòa ở bình dương (1957 1963)

68 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 3,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tỉnh Bình Dương mà một địa bàn trọng yếu, có vị trí chiến lược vô cùng quan trọng đối với chính quyền Việt Nam Cộng hòa, vì thế ngay từ khi thực thi các chính sách về vấn đề ruộng đất tr

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số

liệu được sử dụng trong bài báo cáo có nguồn gốc rõ ràng Những đánh giá,

nhận định trong bài báo cáo do cá nhân tôi nghiên cứu dựa trên những tư liệu

xác thực Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về những lời cam đoan này

Tác giả báo cáo

Nguyễn Minh Tân

Trang 3

Em xin chân thành cảm ơn đến quý thầy cô Trường Đại học Thủ Dầu Một, đặc biệt là thầy Phạm Thúc Sơn – người luôn sẽ chia trong những lúc

em mất đi niềm cảm hứng học tập và nhiệt tình hướng dẫn cũng như tạo nhiều điều kiện thuận lợi nhất có thể để em hoàn thành được bài báo cáo tốt nghiệp này

Em xin gữi lời cảm ơn đến quý cán bộ thư viện trường Đại học Thủ Dầu Một, thư viện tỉnh Bình Dương, thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố

Hồ Chí Minh, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II đã giúp đỡ em trong quá trình tìm kiếm tài liệu nhằm giúp cho bài báo cáo tốt nghiệp có thêm nội dung có giá trị

Xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, người thân, bạn bè đã luôn động viên, ủng hộ và hỗ trợ em trong quá trình học tập và viết bài báo cáo tốt nghiệp này

Cuối lời, em xin kính chúc quý thầy cô luôn có được nhiều sức khỏe để

có thể học tập và cống hiến nhiều hơn nữa trong công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học

Đại học Thủ Dầu Một, tháng 11 năm 2020

Sinh viên

Nguyễn Minh Tân

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 2

3 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 3

4 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 6

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 7

6 NGUỒN TÀI LIỆU 7

7 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 7

8 BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI 8

Chương 1 : KHÁI QUÁT VỀ TỈNH BÌNH DƯƠNG (1957-1963) 9

1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ DÂN CƯ 9

1.1.1 Điều kiện tự nhiên 9

1.1.2 Dân cư 11

1.2 VỊ TRÍ CỦA TỈNH BÌNH DƯƠNG TRONG CHÍNH SÁCH CỦA CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HÒA 14

1.2.1 Quân sự – Chính trị 14

1.2.2 Văn hóa – Giáo dục 17

Chương 2: CHÍNH SÁCH DINH ĐIỀN CỦA CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HÒA Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG TRONG GIAI ĐOẠN 1957-1963 21

2.1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ 21

2.2 VIỆT NAM CỘNG HÒA THỰC THI CHÍNH SÁCH DINH ĐIỀN Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG GIAI ĐOẠN 1957-1963 27

2.2.1 Những mục tiêu của chính sách Dinh điền 29

2.2.2 Quá trình thực thi chính sách Dinh điền ở Bình Dương 33

2.3 ĐẤU TRANH CHỐNG CHÍNH SÁCH DINH ĐIỀN Ở BÌNH DƯƠNG 41

Chương 3: TÁC ĐỘNG CHÍNH SÁCH DINH ĐIỀN CỦA CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HÒA Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG (1957-1963) 46

3.1 TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC CỦA CHÍNH SÁCH DINH ĐIỀN 46

3.2 NHỮNG HẠN CHẾ CỦA CHÍNH SÁCH DINH ĐIỀN 47

3.3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ CHÍNH SÁCH DINH ĐIỀN 49

KẾT LUẬN 52

TÀI LIỆU THAM KHẢO 54

PHỤ LỤC 57

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Sau khi hiệp định Genève lập lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết ngày 20-07-1954, chính quyền Mỹ tuyên bố không công nhận hiệp định này nhưng dần thực hiện âm mưu thay thế Pháp tại bán đảo Đông Dương Chính quyền Mỹ đưa Ngô Đình Diệm về Việt Nam và lập nên chính quyền mới – Việt Nam Cộng hòa thân Mỹ nhằm âm mưu chia cắt đất nước Việt Nam lâu dài Từ đây, chính quyền Việt Nam Cộng hòa được thành lập tại miền Nam Việt Nam

Theo sự phân chia của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, tỉnh Bình Dương thuộc khu vực Đông Nam Phần (cách gọi của chính quyền Việt Nam Cộng hòa về khu vực Đông Nam Bộ) và nằm tiếp giáp với đô thành Sài Gòn (thuộc Gia Định) Chính vì lẽ đó, tỉnh Bình Dương là một địa bàn có vị trí chiến lược vô cùng quan trọng: Đối với chính quyền Việt Nam Cộng hòa, là vành đai để bảo vệ Sài Gòn – thành phố trung tâm của chính quyền Việt Nam Cộng hòa; Về phía Cách mạng, Bình Dương là vùng đất anh hùng, là nơi đặt nhiều căn cứ cách mạng quan trọng ở cả khu vực Đông Nam Bộ nói riêng và Nam Bộ nói chung

Nhận thấy các vùng nông thôn miền Nam Việt Nam là nơi hoạt động mạnh mẽ của lực lượng Cộng sản, ngay từ những năm đầu khi thành lập, Mỹ – chính quyền Việt Nam Cộng hòa thực hiện nhiều biện pháp nhằm mục đích kiểm soát các vùng nông thôn ở miền Nam Việt Nam, một trong những biện pháp đó là chính sách “Dinh điền” Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã nhấn mạnh rằng: “an ninh nông thôn là vấn đề sống chết của chế độ cộng hòa”, và

“vấn đề khẩn thiết phải giải quyết gấp đứng đầu các cộng cuộc khác” Do đó, chính sách “Dinh điền” dần được chính quyền Việt Nam Cộng hòa nâng là hàng “quốc sách”

Tỉnh Bình Dương mà một địa bàn trọng yếu, có vị trí chiến lược vô cùng quan trọng đối với chính quyền Việt Nam Cộng hòa, vì thế ngay từ khi thực thi các chính sách về vấn đề ruộng đất trong đó có chính sách Dinh điền, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã cho triển khai chính sách này trên vùng đất Bình Dương Các điểm Dinh điền tại Bình Dương được ví như những

“nhà tù khổng lồ”, chính quyền Việt Nam Cộng hòa muốn thông qua các khu Dinh điền để ngăn chặn lực lượng cách mạng từ các chiến khu thâm nhập vào

Trang 6

những vùng dân cư đông đúc mà đặc biệt là Sài Gòn như nhận định của chính

quyền Việt Nam Cộng hòa “Khu dinh điền là biện pháp xẻ đường đưa dân

vào chiến khu, mật khu Việt Cộng, dùng dân để đẩy cộng sản ra khỏi vùng đó,

và dinh điền là nơi cung cấp tin tình báo, nơi xuất phát để hành quân ngăn chặn xâm nhập” [4,199]

Tại Bình Dương, chính quyền Việt Nam Cộng hòa cho rằng việc thực thi các khu Dinh điền chủ yếu là nhằm mục tiêu về kinh tế, tuy nhiên thực tế chính sách Dinh điền tại Bình Dương thực chất là nhằm vào mục đích an ninh – chính trị và xã hội Vì vậy, ngay khi thực hiện chương trình Dinh điền tại Bình Dương, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã đưa di dân đến cùng với dân địa phương thực hiện mục tiêu trên

Nghiên cứu về chính sách Dinh điền của chính quyền Việt Nam Cộng hòa tại Bình Dương trong giai đoạn 1957-1963 là để làm rõ hơn về diện mạo, thủ đoạn, âm mưu và bản chất cũng như tác động của chính sách Dinh điền đối với đời sống người dân trong khu Dinh điền tại tỉnh Bình Dương

Vì những lí do trên, tôi chọn đề tài “Chính sách dinh điền của chính quyền Việt Nam Cộng hòa ở Bình Dương (1957-1963)” là đề tài báo cáo tốt nghiệp chuyên ngành Sư phạm Lịch sử

Trình bày có hệ thống về quá trình thực hiện chính sách Dinh điền của chính quyền Việt Nam Cộng hòa ở tỉnh Bình Dương

Làm rõ bản chất của các khu Dinh điền ở Bình Dương là vành đai nhằm ngăn chặn lực lượng cách mạng xâm nhập vào những khu đông dân cư do chính quyền Việt Nam Cộng hòa quản lí

Nêu ra những tác động của chính sách Dinh điền dưới thời chế độ Việt Nam Cộng hòa đối với người dân trong khu Dinh điền Ngoài ra, dựa trên những tài liệu mà tác giả tìm hiểu được để đưa ra những nhận xét một cách khách quan nhất đối với chính sách Dinh điền ở tỉnh Bình Dương

Trang 7

3 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Ngay từ khi chính sách Dinh điền của chính quyền Việt Nam Cộng hòa được thực hiện cho đến nay, vấn đề này đã thu hút được khá nhiều tác giả tác giả tìm hiểu và nghiên nghiên cứu:

Trong luận văn tốt nghiệp của tác giả Ngô Đình Quý (1974), “Từ chính

sách dinh điền đến chương trình khẩn hoang lập ấp đặc khảo địa điểm Suối Nghệ” Trong chương 1: Chính sách dinh điền dưới thời Đệ nhất Cộng hòa,

tác giả đã nêu ra một số nguyên nhân dẫn đến sự phát động của chương trình Dinh điền Ngoài ra, tác giả còn mô tả quá trình thực thi chính sách Dinh điền qua đặc khảo địa điểm Suối Nghệ

Tác giả Hoàng Linh Đỗ Mẫu (1995), “Tâm sự tướng lưu vong”, Nhà

xuất bản Công an Nhân dân, Hà Nội Tài liệu đã đưa ra được nhiều tư liệu từ phía chính quyền Việt Nam Cộng hòa như: chính sách mị dân, độc tài của chính quyền Ngô Đình Diệm… Trong tài liệu cũng có đề cập đến chính sách Dinh điền – được nhìn nhận dưới góc nhìn của chính người trong cuộc Tuy nhiên, tài liệu này có phần hạn chế về tư tưởng, lập trường do đây là công trình của tác giả từng phục vụ cho chế độ Việt Nam Cộng hòa

Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Dương (2003) “Lịch sử Đảng bộ tỉnh

Bình Dương (1930-1975), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Tài liệu

gồm bốn phần, Đặc biệt, trong phần 4 là quá trình Đảng lãnh đạo nhân dân trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) Ở phần này, tài liệu đã cung cấp nhiều tư liệu sinh động về các phong trào đấu tranh chống chính quyền Việt Nam Cộng hòa tại Bình Dương

Trong tác phẩm “Kinh tế Miền Nam Việt Nam 1955-1975” của tác giả

Đặng Phong được nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội xuất bản năm 2004 Tác phẩm đã mô tả khá đầy đủ về nền kinh tế tại miền Nam Việt Nam dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa, trong đó tác còn phân tích về chính sách Dinh điền là một hình thức đã từng được tiến hành trong lịch sử Việt Nam Tuy nhiên, dưới cách thực hiện của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, chích sách Dinh điền lại có phần nghiêng về mục tiêu chính trị hơn là mục tiêu về kinh

tế

Công trình “Tổng tập Trần Văn Giàu tổng tập” của nhà xuất bản Quân

đội Nhân dân, Hà Nội, 2006 Cuốn sách với số lượng gần 1900 trang là một kho tàng tri thức về cuộc chiến tranh ở Việt Nam từ những ngày đầu Pháp nổ

Trang 8

súng xâm lược Việt Nam cho đến ngày Sài Gòn được giải phóng Tài liệu chứa đựng hầu như tất cả chủ đề về cuộc chiến xâm lược của Pháp, Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam Việt Nam Trong tài liệu này, liên quan đến vấn đề chính sách Dinh điền, ở chương IV phần Miền Nam giữ vừng thành

đồng: Giai đoạn “ổn định” tạm thời, mong manh của chế độ Diệm

(1957-1958), tác giả đã miêu tả chi tiết về một nền kinh tế phụ thuộc và bế tắc của

chính quyền Việt Nam Cộng hòa Từ đó, tác đã miêu tả một cách cụ thể các chính sách kinh tế đối với nông nghiệp mà trong đó tiêu biểu là chính sách Dinh điền Tác giả phân tích mục đích, quá trình xây dựng các địa điểm Dinh điền trên toàn miền Nam Việt Nam Các biện pháp lừa bịp nhằm dụ dỗ và ép buộc di dân đến các địa điểm Dinh điền Dựa trên cuộc sống của người dân trong các khu Dinh Điền, tác giã đã khẳng định chính sách Dinh điền không phải vì mục đích kinh tế mà vì mục tiêu an ninh – chính trị và chiến lược của Việt Nam Cộng hòa

Tác giả Nguyễn Duy Thụy có bài “Mấy nét về chính sách kinh tế, xã

hội của Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở Đắk Lắk trước ngày giải phóng” được

đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số tháng 1-2010 Trong bài, tác giả đi sâu vào nghiên cứu các chính sách của Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa đối với Đắk Lắk, trong đó, tác giả đặc biệt lưu ý đến chính sách Dinh điền của chính quyền Việt Nam Cộng hòa được thực thi ở Đắk Lắk

Tác phẩm “Tìm hiểu chính sách dinh điền ở Đắc Lắc (1957-1963)” của

tác giả Trần Thị Hà được đăng trên Tạp chí Lịch sử Quân sự số tháng 7-2010 cho thấy mục đích, kế hoạch tiến hành cũng như kết quả của chính sách sách Dinh điền của chính quyền Việt Nam Cộng hòa ở Đắk Lắk Ngoài ra, dựa vào nguồn tài liệu khá phong phú, tác giả còn khẳng định việc thực hiện chính sách Dinh điền là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến cuộc khủng hoảng chính trị mới sau chính sách “tố cộng”, “diệt cộng” của chính quyền Ngô Đình Diệm

Luận văn thạc sĩ của Trần Thị Hà tại Đại học Huế, trường Đại học Sư

phạm năm 2010 “Chính sách dinh điền của chính quyền Ngô Đình Diệm ở

Đắk Lắk (1957-1963)” Luận văn đã nghiên cứu sâu về chính sách Dinh điền

của chính quyền Ngô Đình Diệm và quá trình đấu tranh chống lại chính sách Dinh điền của nhân dân tỉnh Đắk Lắk

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Xuân Hoài tại Đại học Quốc gia Thành phố

Hồ Chính Minh, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (2011), “Chế

Trang 9

độ Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam giai đoạn 1955-1963” Tài liệu

đã cung cấp một bức tranh khá toàn diện về chính quyền Việt Nam Cộng hòa trong giai đoạn 1955-1963, từ việc thành lập chính quyền ở miền Nam Việt Nam, các chính sách hoạt động của chính quyền Việt Nam Cộng hòa cho đến

sự sụp đổ của chính quyền Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa

Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân

văn với luận văn thạc sĩ của Nguyễn Đăng Tiến (2015) “Đảng lãnh đạo đấu

tranh chống chính sách dinh điền của chính quyền Ngô Đình Diệm ở Tây Nguyên (1957-1963) Tác giả đã trình bày khái quát về âm mưu và quá trình

thực thi chính sách Dinh điền của chính quyền Việt Nam Cộng hòa tại Tây Nguyên Tác giả đưa ra bức tranh toàn cảnh về quá trình Đảng lãnh đạo phong trào đấu tranh chống di dân của toàn thể nhân dân Tây Nguyên đối với chính sách Dinh điền

Luận văn thạc sĩ của Lê Thị Hà thuộc Đại học Huế, trường Đại học Sư

phạm (2015) “Chính sách dinh điền của chính quyền Ngô Đình Diệm ở Bình

Phước (1957-1963)” Luận văn nghiên cứu sâu về chính sách Dinh điền và

quá trình đấu tranh chống chính sách dinh điền của nhân dân tỉnh Bình Phước Tuy nhiên, luận văn chỉ đưa ra toàn cảnh về chính sách Dinh điền ở Bình Phước nhưng chưa đi sâu vào việc mô tả chính sách cũng như sự tác động của chính sách nói trên đối với vấn đề ruộng đất của nông dân

Tài liệu Lịch sử Việt Nam tập 12: Từ năm 1954 đến năm 1965 do Trần

Đức Cường chủ biên thuộc bộ Lịch sử Việt Nam (2015) Trong Chương 2:

Miền Nam dưới sự thống trị của Mỹ – Diệm, tác giả đã khái quát toàn diện về

nền kinh tế ở miền Nam Việt Nam dưới sự thống trị của chính quyền Việt Nam Cộng hòa Trong đó, từ trang 198 đến trang 200 có khái quát về chính sách Dinh điền và cũng đưa ra nhận định về chính sách này

Cục văn thư và lưu trữ Nhà nước, Trung tâm lưu trữ Quốc gia II (2016)

đã cho ra đời tác phẩm “Tổ chức, hoạt động của Mặt trận Dân tộc giải phóng

Miền Nam và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam qua tài liệu, tư liệu lưu trữ (1960-1975) Trong chương 1: Sự ra đời Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (1954-1960), đặc biệt trong mục 1.2: Phong trào đấu tranh chống Mỹ – Diệm của nhân dân miền Nam Việt Nam năm 1954-1960 đã nêu rõ quá trình thực hiện và mục đích của chính sách

Dinh điền trên toàn miền Nam Việt Nam Ngoài ra, trong tác phẩm còn mô tả

Trang 10

về các hoạt động kiềm kẹp nhân dân của chính quyền Ngô Đình Diệm trong các khu Dinh điền

Tác phẩm của Edward Miller (2016), “Liên minh sai lầm: Ngô Đình

Diệm, Mỹ và số phận Nam Việt Nam”, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà

Nội Đây là một trong số những tác phẩm hiếm hoi của người nước ngoài viết

về chương trình Dinh điền trên “lãnh thổ” Việt Nam Cộng hòa Trong phần 5:

Người định cư và các nhà kiến thiết, tác giả đã mô ta khá chi tiết về chương

trình Dinh điền Ngoài ra, tác giả còn đưa ra những nhận định của chính quyền Việt Nam Cộng hòa và một số người thuộc chính quyền Mỹ tham gia

cố vấn cho chính sách này Với chương trình Dinh điền, chính quyền Ngô Đình Diệm đã đặt ra nhiều mục tiêu nhưng quan trọng nhất vẫn là mục tiêu về

an ninh – chính trị, theo đó chính quyền Ngô Đình Diệm hi vọng đặt các chuỗi Dinh điền tạo thành những “bức tường người” nằm dọc biên giới Nam Việt Nam với Campuchia và Lào Về phía cố vấn Mỹ, họ đã không đồng tình

từ việc lựa chọn địa điểm đặt Dinh điền cho đến nhận xét về chương trình này được thực hiện một cách thiếu hoạch định

Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, luận án tiến sĩ của

Phạm Thúc Sơn (2020), Chính sách ruộng đất của Chính quyền Việt Nam

Cộng hòa đối với các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên từ 1955 đến 1975 Dựa

vào nguồn tài liệu khá phong phú, tác giả đã trình bày quá trình ra đời, tiến hành, kết quả và những tác động của chính sách ruộng đất của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực Tây Nguyên

trong giai đoạn 1955 đến 1975 Đặc biệt, ở Chương 3: Chính sách ruộng đất

của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đối với các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên giai đoạn 1955-1975, tác giả đã trình bày khá chi tiết về chính sách

Dinh điền ở Tây Nguyên, từ mục tiêu, âm mưu, quá trình thực hiện cho đến kết quả của chính sách và những tác động của chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên

4 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

* Đối tượng nghiên cứu: đề tài nghiên cứu về âm mưu, thủ đoạn của

chế độ Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam trong việc thực thi chính sách Dinh điền Trọng tâm nghiên cứu là quá trình thực hiện và tác động của chính sách Dinh điền

* Phạm vi nghiên cứu:

Trang 11

Phạm vi về thời gian: giới hạn thời gian của đề tài là từ tháng 4 năm

1957 khi chính quyền Việt Nam Cộng hòa tuyên bố tiến hành thực hiện chính sách Dinh điền đến khi chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ tháng 11 năm

1963

Phạm vi về không gian: địa điểm dinh điền Văn Hạnh thuộc địa phận

tỉnh Bình Dương theo sự phân chia ranh giới dưới thời chính quyền Việt Nam Cộng hòa trong giai đoạn 1957-1963

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Để thực hiện thành công đề tài này, tác giả dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Marx – Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh cách mạng, vấn đề dân tộc và giai cấp

Kết hợp hai phương pháp cơ bản của sử học Marxits là phương pháp lịch sử và phương pháp logic nhằm giúp cho việc tái hiện lịch sử, trình bày nội dung một cách trung thực, đồng thời có phân tích, đánh giá Đây là phương pháp nghiên cứu chủ đạo của đề tài

Ngoài ra, tác giả còn sử dụng một số phương pháp liên ngành như: phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, thống kê, đối chiếu nhằm cung cấp một cái nhìn toàn diện về quá trình thực hiện chính sách Dinh điền của chính quyền Việt Nam Cộng hòa

6 NGUỒN TÀI LIỆU

Đề tài đã khai thác và sử dụng nguồn tư liệu:

Tư liệu tại các thư viện như: Thư viện tỉnh Bình Dương, thư viện trường Đại học Thủ Dầu Một, thư viện trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh

Tư liệu là các tài liệu luận văn, luận án, báo, tạp chí…

Đặc biệt, đề tài có khai thác các tài liệu gốc tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, đáng chú ý hơn cả là phông Phủ Tổng ủy Dinh điền và Nông vụ, phông

Tư liệu…

7 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

Tác giả mong muốn đề tài đạt được một số những đóng góp như sau:

Trang 12

Trình bày một cách có hệ thống về chính sách Dinh điền của chính

quyền Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam nói chung và tỉnh Bình

Dương nói riêng trong giai đoạn 1957-1963

Khái quát về những âm mưu và thủ đoạn của chính quyền Việt Nam

Cộng hòa trong quá trình thực hiện chính sách Dinh điền tại tỉnh Bình Dương

Phân tích những tác động của chính sách Dinh điền ở tỉnh Bình Dương

Phục dựng lại một phần lịch sử Việt Nam nói chung và tỉnh Bình

Dương nói riêng trong giai đoạn 1957-1963

Từ việc tổng hợp các tư liệu có liên quan đến đề tài “Chính sách Dinh

điền của chính quyền Việt Nam Cộng hòa ở tỉnh Bình Dương (1957-1963)”

như: sách, luận án, luận văn, báo, tạp chí đặc biệt là các tư liệu gốc của

chính quyền Việt Nam Cộng hòa tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, tác giả hi

vọng đề tài sẽ cung cấp thêm những thông tin về khoa học lịch sử có giá trị

Từ đó, góp phần làm phong phú thêm cho kho tàng khoa học lịch sử Việt

Nam nói chung và tỉnh Bình Dương nói riêng, đặc biệt là lịch sử trong giai

đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước

8 BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, đề tài báo

cáo của tôi gồm có 03 chương:

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TỈNH BÌNH DƯƠNG (1957-1963)

Chương 2 CHÍNH SÁCH DINH ĐIỀN CỦA CHÍNH QUYỀN VIỆT

NAM CỘNG HÒA Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG TRONG GIAI ĐOẠN

1957-1963

Chương 3 TÁC ĐỘNG CHÍNH SÁCH DINH ĐIỀN CỦA CHÍNH

QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HÒA Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG (1957-1963)

Trang 13

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TỈNH BÌNH DƯƠNG (1957-1963)

1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ DÂN CƯ

1.1.1 Điều kiện tự nhiên

* Vị trí địa lí

Sau khi phế truất Bảo Đại, Ngô Đình Diệm đã cho lập lại một số đơn vị hành chính Đầu năm 1956, cho lập thêm các tỉnh Tam Cần (9-2-1956), Mộc Hóa (17-2-1956), Phong Thành (17-2-1956), Cà Mau (9-3-1956) Theo sắc lệnh số 143-NV ngày 22-10-1956 của chính quyền Việt Nam Cộng hòa thì Nam Phần (cách gọi khác của chính quyền Việt Nam Cộng hòa) bao gồm 22 tỉnh và Đô thành Sài Gòn Trong đó, Ngô Đình Diệm đã tách tỉnh Thủ Dầu Một thành 3 tỉnh là tỉnh Phước Long, tỉnh Bình Long và tỉnh Bình Dương Theo Nghị định số 278-BNV/HC/NĐ ngày 30-8-1957 của Bộ Nội Vụ chính quyền Việt Nam Cộng hòa, tỉnh Bình Dương có các đơn vị hành chính như sau: Quận Châu Thành gồm 03 tổng (tổng Bình Điền, tổng Bình Phú, tổng Bình Thiện); Quận Lái Thiêu có tổng Bình Chánh; Quận Bến Cát gồm 02 tổng (tổng Bình Hưng và tổng Bình An); Quận Dầu Tiếng có tổng Bình Thạnh Thượng; Quận Củ Chi gồm 03 tổng (tổng Long Tuy Hạ, tổng Long Tuy Trung và tổng Long Tuy Thượng)

Đầu năm 1959, tỉnh Bình Dương cắt một phần của tổng Bình Điền (xã Vĩnh Tân, xã Tân Bình) và tổng Bình Hưng (xã Lai An) để thành lập tỉnh Phước Thành

Năm 1963, quận Phú Hòa được thành lập dựa vào địa bàn quận Củ Chi

có tổng Long Tuy Trung (gồm 04 xã: Phú Hòa Đông, Nhuận Đức, An Nhơn Tây, Phú Mỹ Hưng) và 04 xã trích từ tổng Long Tuy Thượng (Tân Thạnh Đông, Bình Mỹ, Tân Hòa, Trung An) Ngoài ra, trong năm này quận Trị Tâm (quận Dầu Tiếng) được nhập thêm xã Bến Củi từ tỉnh Tây Ninh

Tính tới thời điểm năm 1963, diện tích tỉnh Bình Dương rộng 257.637 mẫu 27 sào 65 Tỉnh tiếp giáp với tỉnh Bình Long ở phía Bắc; Giáp tỉnh Gia Định ở phía Nam; Phía Tây giáp với Tây Ninh và Hậu Nghĩa; Phía Đông và Đông Bắc tiếp giáp với tỉnh Biên Hòa, Long Khánh và Phước Long

Bình Dương nằm tiếp giáp với Sài Gòn (thuộc Gia Định) – là trung tâm kinh tế phát triển thuộc diện hàng đầu của lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa, ngoài

ra còn có những con đường nối liền với hệ thống giao thông huyết mạch là

Trang 14

Quốc lộ 13 Vì vậy, với vị trí địa lý đặc biệt đó, tỉnh Bình Dương có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế nói chung cũng như khai thác tài nguyên thiên nhiên nói riêng

* Địa hình

Nhìn tổng thể, địa hình tỉnh Bình Dương có dạng thoải và thấp dần theo hướng từ Bắc xuống Nam với độ cao trung bình từ 60m đến 40m ở phía Bắc

và hạ thấp dần 30m đến 10m ở phía Nam so với mực nước biển

Địa hình tỉnh Bình Dương chủ yếu là đồng bằng và đồi núi thấp, có mức chênh lệch độ cao không quá lớn bao gồm khu vực đồng bằng ở trung tâm và các đồi núi bao quanh Tại vùng Trị Tâm (quận Dầu Tiếng), chạy dọc theo sông Sài Gòn, giữa rừng cấm số 4 có một dãy núi đá “Lấp Vò” với các ngọn núi như: núi Tha La, núi Cậu, núi Ông là ngọn núi cao nhất được hơn 200m Có thể thấy, đây là của địa hình đặc trưng của vùng chuyển tiếp giữa đới nâng bóc mòn Đà Lạt và đới sụt lún tích tụ của đồng bằng sông Cửu Long

Cùng với núi là hệ thống các con sông, suối: Sông Sài Gòn là con sông lớn nhất chạy xuyên qua tỉnh với chiều dài hơn 50 km tính từ Bưng Bàng (tỉnh Tây Ninh) đến Vĩnh Bình (ranh giới tỉnh Gia Định); Rạch Thị Tính có chiều dài hơn 20 km, bắt nguồn từ Căm Xe chạy ngang qua Bến Cát rồi đổ ra sông Sài Gòn Ngoài ra, tỉnh Bình Dương còn có khá nhiều các con suối, kinh, rạch nhỏ khác chủ yếu thông ra sông Sài Gòn như: Suối Bến Trúc, Suối Ông Thiềng…

* Đất đai

Theo chính quyền Việt Nam Cộng hòa, đất đai tại tỉnh Bình Dương được chia thành 03 loại chính là: đất sét pha cát (Argilo-siliceux), đất xám (terre grise) và đất xám (silice)

Tại vùng phía Nam, từ ranh giới tỉnh Gia Định đến thị trấn Phú Cường

có loại đất sét pha cát (Argilo-siliceux) khá phì nhiêu, loại đất này được hình thành do sự bồi tụ của sông Sài Gòn cũng như nhiều con suối, rạch khác Đặc biệt, tại quận Lái Thiêu có loại đất sét trắng được nhân dân địa phương khai thác để làm đồ gốm rất chất lượng

Từ Phú Cường đến Bến Cát là loại đất xám (teer grise) do địa hình chủ yếu là gò đồi thấp, loại đất này kém màu mỡ, không thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp

Trang 15

Từ khu vực Bến Cát trải dài đến điểm cuối cùng về phía Bắc của tỉnh, chủ yếu là loại đất xám (silice) có độ phì nhiêu không cao do không giữ được lớp phân thiên nhiên trên bề mặt đất

* Tài nguyên thiên nhiên

Bình Dương vốn là vùng đất cuối cùng của dãy Trường Sơn vì thế nên xưa kia tại nơi đây có rừng núi bạt ngàn và có khá nhiều loại gỗ quý, tác

phẩm “Địa chí Bình Dương” đã miêu ta khá chi tiết về điều này, “rừng Bình

Dương vốn có nhiều loại gỗ quý như gõ (Pahudia cochinchinensis), nu (bởi dọc theo thân thường có những nu – bướu lớn, có cây rất to, vân gỗ ở đây đẹp, là nguyên liệu quý để sản xuất đồ mộc, chạm trổ, điêu khắc)… Ngoài các loại gỗ quý, ở rừng thứ sinh còn có gõ, dầu, vên, da đá, căm xe…” [13,129]

Từ khi thực dân Pháp đưa cây cao su vào Việt Nam, tỉnh Bình Dương

là vùng đất thích hợp cho giống cây trồng này vì vậy đã được thực dân Pháp đẩy mạnh diện tích trồng loại cây công nghiệp này Đến thời kì Ngô Đình Diệm, cây cao su vẫn là thế mạnh và đóng vai trò khá quan trọng trong nền

kinh tế của tỉnh, “Từ Bến Cát tới Trị Tâm là vùng rừng xanh bao la xen lẫn

với những đồn điền cao su rộng hàng ngày mẫu như: Bầu Bàng, Phú Thương, Bến Súc, Michelin…” [27,10], hoặc như “Đặc biệt nhất là cây cao su chiếm một diện tích quan trọng ở các vùng đất cao thuộc bốn quận Bến Cát, Phú Hòa, Phú Giáo và Trị Tâm Hàng năm sản xuất độ 40.000 tấn mủ” [27,16]

Hệ thống động vật hoang dã ở tỉnh khá phong phú và đa dạng: Một số loại thú rừng như Voi, Cọp, Trăn, Nai…; Các loại chim như Công, Gà rừng,

Đa Đa…; Các loài cá là Cá Lóc, Cá Trê, đặc biệt có loại cá Sơn Đài rất hiếm

1.1.2 Dân cư

Dân cư bản địa ở vùng đất Bình Dương chủ yếu là một số dân tộc ít

người, như tác giả Huỳnh Lứa cho biết “lúc bấy giờ trên vùng đất mênh mông

này mới chỉ có một ít cư dân thuộc các thành phần dân tộc: Stiêng, Châu-ro, Châu-mạ, Mơ-nông, Khơ-me sinh sống Các dân tộc này vừa dân số ít ỏi, vừa

có kỹ thuật sản xuất thấp kém…, đại bộ phận đất đai còn lại đều là rừng rậm chưa hề được khai phá” [10,183]

Cuối thế kỉ XVI, đầu thế kỷ XVII, cư dân người Việt mà chủ yếu là dân vùng Ngũ Quảng (Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức, Quảng Nam, Quảng Ngãi) đã di cư đến vùng đất Nam Bộ trong đó có tỉnh Bình Dương để khai

phá và sinh sống, “Quá trình di cư vào vùng đất Bình Dương nói riêng và

Trang 16

Nam Bộ nói chung của lưu dân Việt ban đầu chỉ diễn ra lẻ tẻ, rời rạc mang tính tự phát Nhưng quá trình đó diễn ra liên tục và dần dần trở nên quy mô hơn vào đầu thế kỷ XVII từ động lực của lớp người đi trước và cả sự “góp phần” của yếu tố chính trị” [7,117]

Ngoài những cư dân bản địa và cư dân người Việt khai phá và sinh sống, đến cuối thế kỷ XVII, trên vùng đất Bình Dương còn có một nhóm

người Hoa di cư đến nơi đây, “Vào những thập niên cuối thế kỷ XVII, tại Bình

Dương, cùng với cư dân bản địa và nhiều lớp cư dân người Việt còn có một lực lượng đông đảo người Hoa cùng tham gia tích cực và quá trình khai dựng làng xã” [13,164]

Tính đến năm 1961, tổng dân số của tỉnh Bình Dương là 273.616 người

được chia ra như sau: “Việt Nam: 273.560; Trung Hoa: 19; Pháp kiều: 34;

Bỉ: 3” [27,18]

* Kinh tế truyền thống

Ở vùng đất Bình Dương xưa, kinh tế chủ yếu phụ thuộc vào nông nghiệp, chăn nuôi chưa tách khỏi trồng trọt, các ngành nghề thủ công xuất hiện nhưng chưa tách khỏi nông nghiệp và còn mang tính chất tự cấp tự túc,

“Ban đầu mang tính tự cung tự cấp hoặc là trao đổi bằng sản vật” [14,85]

Ngành lâm nghiệp vẫn chưa xuất hiện mà chỉ là khai thác mang tính chất

phục vụ cho nhu cầu cá nhân, “ở thời kỳ đầu tiên này, trên địa bàn Bình

Dương chưa xuất hiện ngành lâm nghiệp theo đúng nghĩa, mà chỉ là hoạt động khai thác rừng, săn bắt thú rất tự phát” [14,61-62] Về sau, việc trao đổi

hàng hóa dần phát triển do “Thủ Dầu Một – Bình Dương cách không xa trung

tâm Sài Gòn – Gia Định, là một trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước thời bấy giờ” [14,85]

Ở vùng đất Bình Dương xưa không có những cánh đồng “cò bay thẳng

cánh” mà “Phổ biến ở đây là những khu đất nhỏ, thích hợp với việc trồng cây

ăn trái và mang tính chất vườn hơn là ruộng” [14,85] Ruộng ở vùng đất Bình

Dương được chia thành hai loại chủ yếu là: Thảo điền (ruộng cỏ), loại ruộng

này “ở vùng trũng thấp bùn lầy ven sông Đồng Nai, sông Sài Gòn, sông Thị

Tính” [7,130], chủ yếu do người Việt canh tác vì vốn dĩ họ thạo việc trồng lúa

nước; Sơn điền (ruộng núi) tập trung chủ yếu ở “vùng Bến Cát, Tân Uyên,

Thuận An, và chỉ làm được một vụ lúa” [7,30] chủ yếu do các dân tộc thiểu số

canh tác vì họ thạo làm rẫy và nghề săn bắn Tuy ít ruộng nhưng nhờ sự ưu

Trang 17

đãi của thiên nhiên nên sản lượng thóc gạo dồi dào, ngoài nhu cầu của người dân tại chỗ, cư dân vùng Đồng Nai – Gia Định trong đó có Bình Dương còn đem bán số lượng dư thừa cho các nơi khác trong cả nước đặc biệt là xứ Thuận Hóa Bên cạnh cây lúa, cư dân Bình Dương xưa còn trồng nhiều loại cây lương thực, hoa màu và cây ăn trái khác như: cây khoai mì, cây khoai lang, cây bắp (ngô), đậu nành, đậu phộng (lạc), mít, chuối,…

Cùng với sự phát triển của nông nghiệp, nhiều ngành nghề tiểu thủ

công nghiệp ra đời như “mộc, chạm trổ, dệt, đúc đá ong, làm đồ gốm, làm

gạch ngói, nung vôi, rèn, đan lát, nấu rượu, ép dầu phộng, làm đường mía, đóng ghe thuyền” [7,137] Ngoài việc phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của con

người, các sản phẩm tiểu thủ công ở vùng Bình Dương lúc bấy giờ cũng vô cùng tinh xảo và được trao đổi buôn bán ở khắp nơi trên cả nước, ca dao xưa còn có câu ca ngợi sự tài hòa của các nghệ nhân vùng đất Bình Dương:

Trại ghe, trại ván sẵn cùng,

Sông sâu nước chảy điệp trùng bán buôn

Nhà khéo cất tốn bạc muôn,

Tiếng đồn thợ Thủ ráp khuôn kỹ càng

Việc mua bán hàng hóa và các sản phẩm thủ công nghiệp ban đầu chỉ diễn ra ở các chợ làng nhằm mục đích phục vụ cho đời sống cư dân ở địa phương Về sau, hàng hóa được dân xiêu tán và thương buôn đưa ra khỏi làng, khỏi huyện, ra tận vùng Thuận Hóa…

* Văn hóa, phong tục tập quán

Khi lưu dân người Việt di cư vào vùng đất Bình Dương thì loại hình tụ

cư truyền thống được hình thành theo kiểu mẫu chung là tiền – trung – hậu (ruộng – nhà – đồi, rừng) Việc ra đời mô–típ này xuất phát từ đặc điểm điều kiện tự nhiên nơi đây như: nguồn nước, giao thông, đất đai sản xuất… Kiểu nhà truyền thống của người dân Bình Dương phổ biến gồm 4 kiểu nhà: Kiểu nhà hình chữ Đinh; Kiểu nhà hình chữ Khẩu; Kiểu nhà hình chữ Nhị; Kiểu nhà hình chữ Công Đây là những kiểu nhà được lưu dân Việt mang đến từ các tỉnh thuộc miền Bắc và miền Trung

Ở Bình Dương, các thôn xóm làng xã của người Việt có yếu tố “đồng

hương”, tâm lý “cố hương” vậy nên “Mỗi khi xóm giềng, gia đình bà con có

việc, mọi người xúm xít bên nhau đỡ đần, chung tay giải quyết…Đó là nét đẹp truyền thống “bán anh em xa, mua láng giềng gần” [7,166] Đây là nét nổi

Trang 18

bật ở vùng đất Bình Dương mà cho đến nay người dân nơi đây vẫn còn lưu giữ được

Ngoài ra, những bản sắc văn hóa riêng của từng tộc người cư dân bản

địa nơi đây vẫn được bảo lưu như: Người Stiêng vẫn “coi trọng vai trò của

thần linh qua các lễ bỏ mã, lễ cúng cơm mới, lễ trỉa lúa” [7,175]; Người

Khơ–me không thể thiếu Tết Chol Chnam Thmay, Dolta Điều này đã làm cho văn hóa vùng đất Bình Dương trở nên phong phú và đặc trưng hơn

Cơ cấu tín ngưỡng, tôn giáo và lễ hội của người Việt ở Bình Dương khá phong phú về dạng thức: lễ hội đình, lễ hội miếu, lễ hội tổ nghề, lễ hội chùa Phật, lễ hội thờ Mẫu… Cùng với đó là các lễ tục, tín ngưỡng mang đậm dấu

ấn của cư dân Nam Bộ: thờ tổ tiên, thờ dòng họ, thờ các thần linh ngoài cộng

đồng… Những tín ngưỡng, lễ hội vừa nêu trên chính là “bệ đỡ tâm linh cho

cư dân vùng đất mới có điểm tựa, niềm tin góp phần tạo dựng sức mạnh tinh thần nơi họ” [7,168]

1.2 VỊ TRÍ CỦA TỈNH BÌNH DƯƠNG TRONG CHÍNH SÁCH CỦA CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HÒA

1.2.1 Quân sự – Chính trị

Từ năm 1955, chính quyền Việt Nam Cộng hòa mà đứng đầu là Ngô Đình Diệm đã cho triển khai chính sách “tố cộng”, “diệt cộng” nhằm mục đích quét sạch các cơ sở cách mạng với các khẩu hiệu như: “tiêu diệt nội tuyến, diệt trừ nội gian”, “đạp lên oán thù để thực thi dân chủ, nhân vị quốc gia”…

Đến tháng 5-1957, Ngô Đình Diệm ban hành sắc lệnh “đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật” nhằm quyết tâm đẩy mạnh chính sách “tố cộng”, “diệt cộng” hòng quét sạch các cơ sở của Cách mạng Để thực hiện điều này, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã mở nhiều cuộc hành quân càn quét với quy mô lớn trên khắp miền Nam Việt Nam như: “chiến dịch Thoại Ngọc Hầu” ở 18 tỉnh miền Tây Nam Bộ; “chiến dịch Trương Tấn Bửu” ở miền Đông Nam Bộ…

Tại Bình Dương, sau khi kết thúc chiến dịch “Trương Tấn Bửu”, Ngô Đình Diệm tiếp tục cho mở cuộc càn quét “Sao Mai” nhằm tập trung đánh phá vào các vùng nông thôn và vùng căn cứ cũ của lực lượng cách mạng Tại đây, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã cho thực hiện việc gom dân để lập một số

“khu trù mật”, bắt thanh niên đi lính hoặc phải tham gia vào một số tổ chức

Trang 19

do chính quyền Việt Nam Cộng hòa thành lập như: “Thanh niên cộng hòa”,

“Phụ nữ liên đới”, “Phòng vệ quốc gia”,… Chính quyền Ngô Đình Diệm còn

“dùng xe ủi mở đường từ Cây Gáo lên Mã Đà để chia cắt đánh phá căn cứ

Chiến khu Đ Ở Bến Cát, chúng ủi phá rừng Long Nguyên, đưa 30.000 đồng bào công giáo di cư vào dọc lộ 7, Thị Tính, Kiến An, Phó Bình Ở Tân Uyên, chúng lập khu trù mật kiểu mẫu Khánh Vân” [1,318] Ngoài ra “Tại xã Trà Kiến An, Diệm đưa 4000 đồng bào công giáo di cư tới lập dinh điền cho đốn sạch 30 ha rừng làm củi, đốt than” [1,318] Nhận thấy quận lỵ Dầu Tiếng có

một vị trí đắc địa (nằm giữa Chiến khu Đ và Chiến khu Dương Minh Châu), cách Sài Gòn khoảng 70km đường chim bay, chính quyền Việt Nam Cộng

hòa đã đặt tại đây một số lượng binh lính khá lớn bao gồm “2 tiểu đoàn Cộng

hòa của sư đoàn 3, một đại đội và một trung đội lính bảo an và một số cảnh sách dân vệ” [1,323-324] Với những hoạt động càn quét của mình, chính

quyền Việt Nam Cộng hòa đã gây tổn thất rất lớn cho lực lượng cách mạng

“năm 1957 chỉ còn 28 chi bộ mật với trên 200 đảng viên,… Nhiều xã trắng

không còn Đảng viên hoạt động” [1,319]

Sau cuộc tấn công bất ngờ của lực lượng cách mạng tại Dầu Tiếng năm

1958, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã cho báo động toàn miền Nam và đồng thời cho tập trung quân thực hiện cuộc càn quét mang tên “chiến dịch Nguyễn Trải” ở khắp các tỉnh miền Đông Tại tỉnh Bình Dương, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã tăng quân từ nơi khác đến và mở nhiều cuộc càn quét khiến cho lực lượng Cách mạng bị tổn thất hết sức nặng nề trong đó đặc biệt

là ở Dầu Tiếng “Lực lượng cơ sở của Dầu Tiếng gần như mất trắng” [1,324]

Bước sang năm 1959, Ngô Đình Diệm đã đưa ra lời tuyên bố “đặt miền

Nam trong tình trạng chiến tranh” [2,257] Tại tỉnh Bình Dương, chính quyền

Việt Nam Cộng hòa tiếp tục đẩy mạnh công tác “tố cộng”, “diệt cộng” bằng cách mở chiến dịch “Đồng tâm diệt cộng” nhằm mục đích tiêu diệt hoàn toàn lực lượng cộng sản trên vùng đất này Ngoài ra, để thực hiện hóa việc loại bỏ cộng sản ra khỏi vùng lãnh thổ của Việt Nam Cộng hòa, chính quyền Ngô

Đình Diệm đã cho ban hành bộ luật 10/59, “Luật 10/59 tạo ra những tào án

quân sự đặc biệt với thành phần nhân sự là các sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hòa Những tòa án này được trao quyền điều tra và thông qua phán quyết đối với bất kỳ ai bị buộc tội giết người, phá hoại hay bất kỳ hình thức nào “gây nguy hại cho an ninh quốc gia” [5,273] Với luật 10/59, những ai bị

kết luận là tình nghi hoặc có tội thì “có thể chịu mức tù giam dài ngày hoặc bị

Trang 20

tuyên án tử hình; trong trường hợp tử hình, việc thi hành án sẽ được tiến hành ngay lập tức, trừ khi có lệnh hoãn thi hành của tổng thống vào phút chót” [5,273].Tại tỉnh Bình Dương, nhờ bộ luật 10/59 mà “Chỉ trong mấy tháng đầu năm 1959 lại có thêm hàng trăm cán bộ, đảng viên, quần chúng yêu nước của tỉnh bị địch bắt… Ở huyện Lái Thiêu khi có hiệp định Giơnevơ

xã nào cũng có từ 4 đến 5 đảng viên trở lên, toàn huyện có khoảng 200 đồng chí, đến cuối năm 1959 chỉ còn lại 2 chi bộ mật xã An Sơn, Anh Thạnh với 9 đảng viên và một số đồng chí cấp ủy huyện” [1,331-332] Điều này cho thấy

rõ việc ra đời của luật 10/59 đã mang lại kết quả vô cùng khả quan đối với

chính quyền Việt Nam Cộng hòa

“Ngày 17-1-1960, xã Định Thủy huyện Mỏ Cày đã châm ngòi mở đầu

cho cuộc đồng khởi của nhân dân tỉnh Bến Tre giành thắng lợi Đồng khởi từ Bến Tre nhanh chóng lan nhanh ra các tỉnh Nam Bộ” [1,334] trong đó có tỉnh

Bình Dương Trước tính hình đó, tại tỉnh Bình Dương, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã tổ chức nhiều cuộc tấn công vào cơ sở cách mạng nhưng liên tiếp gặp thất bại Trước những thất bại đó, ngày 11-11-1960, cuộc đảo chính Ngô Đình Diệm diễn ra tại Sài Gòn càng làm cho tâm lý chính quyền Việt Nam Cộng hòa hoang mang

Đầu năm 1961, chính quyền Việt Nam Cộng hòa được chính quyền Mỹ

hỗ trợ mạnh mẽ bằng cách “Mỹ sẽ tăng cường gấp đôi viện trợ quân sự cấp

tốc cho chính quyền Sài Gòn; Mỹ giúp chính quyền Sài Gòn tăng quân số quân đội chính quy lên 200.000 người và đổi mới toàn bộ trang bị cho lực lượng bảo an” [4,459] Ngô Đình Diệm tổ chức lại chiến trường, chia lãnh thổ

thành các vùng chiến thuật, kiện toàn lại các tiểu khu, chi khu cũng như củng

cố lại hệ thống tình báo Tỉnh Bình Dương là địa bàn chiến thuật 32 thuộc vùng 3 chiến thuật, ngoài lực lượng tại chổ, chính quyền Việt Nam Cộng hòa còn bố trí thêm trung đoàn 7 và 8 thuộc sư đoàn 5 tại khu vực Bến Cát nhằm ngăn chặn cũng như phòng ngừa các cuộc tiến công của lực lượng cách mạng

từ hướng Quốc lộ 13 xuống và yểm trợ cho các cuộc càn quét, bình định, bắt lính…, từng bước chiếm lại những vùng do Cộng sản làm chủ trong cuộc đồng khởi năm 1960 Nhưng đến cuối năm 1961, các chiến lược của chính quyền Việt Nam Cộng hòa lại tiếp tục thất bại trước sự phản kháng quyết liệt của cách mạng

Năm 1962, Ngô Đình Diệm ký sắc lệnh thành lập “Ủy ban liên bộ về ấp chiến lược”, bước đầu tiến hành chương trình gom dân lập ấp chiến lược

Trang 21

“Ngày 17-4-1962, chương trình “ấp chiến lược” được Diệm thông qua và

được nâng lên làm “quốc sách” [2,311] Ở Bình Dương, chính quyền Việt

Nam Cộng hòa mở cuộc hành quân “Mặt trời mọc”, trước hết là đánh phá các căn cứ của cách mạng, hỗ trợ kế hoạch gom dân lập ấp chiến lược tại khu vực huyện Bến Cát Tại đây, Ngô Đình Diệm cho xây dựng ấp chiến lược Bến Tượng làm “kiểu mẫu” cho chương trình dựng ấp chiến lược tại khu vực miền Đông Nam Bộ

Sang năm 1963, với chiến thắng của quân và dân tại Ấp Bắc (Mỹ Tho)

đã mở đầu cho những thất bại liên tiếp trên chiến trường của chính quyền Việt Nam Cộng hòa Tại Bình Dương, lực lượng cách mạng cùng nhân dân địa phương liên tục tấn công vào các đồn bót và giành thắng lợi hầu khắp cả tỉnh Trước sự thất bại đó, ngày 1-11-1963, một cuộc đảo chính do tướng Dương Văn Minh đứng đầu đã giết chết Ngô Đình Diệm và đây cũng là sự kiện để kết thúc thời kì Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa

1.2.2 Văn hóa – Giáo dục

Chính sách văn hóa của chính quyền Việt Nam Cộng hòa gắn liền với chính sách văn hóa chống Cộng Với nhiều phương thức và biện pháp khác nhau, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã truyền bá tư tưởng Nhân Vị cho nhân dân nhằm tiêu diệt hoàn toàn phong trào cách mạng toàn miền Nam Việt

Nam trên “ba mặt trận”: “1) Bằng quân đội với súng đạn để tiêu diệt đối

phương; 2) “xây dựng quốc gia” nhằm tạo dựng cho Ngô Đình Diệm một chính quyền ổn định; 3) “bình định” nhằm chiếm “con tim, khối óc” của nhân dân” [31,139]

Chính quyền Việt Nam Cộng hòa luôn dành sự quan tâm đến lĩnh vực văn hóa – giáo dục đặc việt là báo chí, văn nghệ Ngô Đình Diệm sử dụng báo chí, văn nghệ làm công cụ để tuyên truyền những quan điểm cũng như tư tưởng văn hóa của tư tưởng “Nhân vị” Theo Ngô Đình Nhu thì tư tưởng

“nhân vị” “là những điều đại cương, rất vắn tắt của một cuộc cách mạng

chính trị – kinh tế, nhằm mục đích đặt con người vào trung tâm của triển vọng thế giới” [5,66] Ngày 3-10-1955, trong khi tiếp kiến đoàn đại biểu giáo

dục và thanh niên Ngô Đình Diệm đã đưa ra lập luận rằng “diệt trừ cộng sản

tức là xây dựng dân chủ chân chính cho nhà nước” [24,186] và đưa ra chỉ thị

phải đưa thêm môn học chính trị vào các trường học trên toàn “lãnh thổ” Việt Nam Cộng hòa

Trang 22

Chính quyền Việt Nam Cộng hòa chủ trưởng đẩy mạnh công tác mở rộng hoạt động của báo chí tuy nhiên lại thực hiện việc tăng giá giấy, tăng thuế và kiểm soát hết sức gắt gao đặc biệt là đối với những tờ báo có phương hướng đối lập Đầu năm 1956, Ngô Đình Diệm công bố Luật số 13 về báo

chí, trong luật này có quy định “phạt tiền từ 25.000 đến 1 triệu đồng hoặc

phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm đối với những cá nhân hay tổ chức nào truyền

bá, xuất bản, phổ biến hay lặp lại những tin tức, lời bình luận có lợi cho hoạt động cộng sản” [28,139]

Nhằm cụ thể hóa chính sách văn hóa chống Cộng sản, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã lập nên nhiều tổ chức như: “Tân Việt văn đoàn”, “Câu lạc

bộ Văn hóa”, “Hội Liên hiệp Văn hóa Á châu”…được đặt dưới sự điều khiển của “Sở nghiên cứu Chính trị Xã hội” do Trần Kim Tuyến là người đứng đầu Mục đích chính của việc thành lập nên các tổ chức này là nhằm theo dõi những hoạt động, tư tưởng của giới văn nghệ sĩ cũng như giới ký giả

Ngoài ra, với việc áp đặt tư tưởng chống Cộng sản, chính quyền Việt Nam Cộng hòa còn mở các “Trung tâm huấn luyện Nhân vị” nhằm đào tạo một lực lượng đội ngũ cán bộ, công chức để giúp việc cho chế độ Thuyết Nhân vị được chính quyền bắt buộc đưa vào trong giảng dạy ở các trường cao đẳng, đại học…

Năm 1958, chính quyền Ngô Đình Diệm đã cho tổ chức Đại hội giáo dục quốc gia lần thứ I và đưa ra chủ trương một cách nhất quán dựa trên nền tảng của thuyết Nhân vị Tại Bình Dương, chính quyền Việt Nam Cộng hòa

đã cho mở nhiều lớp học tập, tập huấn để dân chúng hiểu rõ hơn về thuyết Nhân Vị, đơn cử như chỉ trong tháng 2-1959 đã có tổng số người học tập là

8.475 người, trong đó: “Quận Bến Cát tổ chức 56 buổi học tập có 1.412

người dự; Quận Củ Chi tổ chức 42 buổi học tập có 2.660 người dự; quận Dầu Tiếng tổ chức 5 buổi học tập có 1.242 người dự; Quận Lái Thiêu tổ chức

17 buổi họp công cộng có 1.361; Riêng Ty Thông Tin Tỉnh tổ chức 18 buổi học tập có 1.800 người dự” [35,40-41] Chính quyền Việt Nam Cộng hòa bắt

buộc người dân phải tham gia học tập, nếu ai không tham gia thì được xem như là Cộng sản và phải sống ngoài vòng pháp luật

Tỉnh Bình Dương nằm tiếp giáp với đô thành Sài Gòn, vì vậy chính quyền Ngô Đình Diệm luôn lưu ý đến vấn đề giáo dục tại nơi đây, nhờ đó số lượng trường học cũng như học sinh ngày càng tăng cao Ở bậc Trung học có

03 loại hình trường là Trung học công lập, Trung học bán công và Trung học

Trang 23

tư thục Trong đó: Trường Trung học công lập có 5 trường được đặt tại quận

lỵ Phú Cường, Phú Hòa, Châu Thành và Phú Giáo; Trường Trung học bán công có 3 trường là: Lái Thiêu, Bến Cát và Định Thành (quận Dầu Tiếng); Trung học tư thục có 6 trường là: Nguyễn Trãi, Nghĩa Phương, Văn An, Thống Nhất, Bồ Đề và Tài Đức Ở bậc Tiểu học, có nhiều loại hình trường như: công lập, bán công, chuyên nghiệp công lập, chuyên nghiệp tư thục và

bình dân giáo vụ

Tiểu kết chương 1

Vùng đất Bình Dương là nơi có tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng với cư dân bản địa là những dân tộc thiểu số Đến thế kỉ XVI-XVII, những cư dân người Việt đầu tiên mới bắt đầu vào nơi đây định cư và sinh sống Văn hóa, phong tục, tập quán ở vùng đất này khá đặc sắc, có nhiều nét

nổi bật và đấy cũng chính là “bệ đỡ tâm linh cho cư dân vùng đất mới có điểm

tựa, niềm tin góp phần tạo dựng sức mạnh tinh thần nơi họ” [7,168]

Sau khi chính quyền Việt Nam Cộng hòa được thành lập, theo sự phân chia của Ngô Đình Diệm, khu vực Đông Nam Phần bao gồm 10 tỉnh, trong đó

có tỉnh Bình Dương Nhận thấy vùng đất tỉnh Bình Dương có vị trí chiến lược

vô cùng quan trọng, là vùng đất giáp ranh với đô thành Sài Gòn, là nơi lực lượng cách mạng đặt nhiều cơ sở chỉ huy, vì vậy chính quyền Ngô Đình Diệm

đã đẩy mạnh công tác quân sự – chính trị nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng tại nơi đây Với nhiều chiến dịch đã được đề ra trong giai đoạn những năm 1954-1959 như: chiến dịch Trương Tấn Bửu, chiến dịch Sao Mai…Đặc biệt, với việc ban hành bộ luật 10/59, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã gây ra nhiều khó khăn cho lực lượng cách mạng ở tỉnh Bình Dường Từ những năm

1960, nhất là sau cuộc “Đồng Khởi” ở Bến Tre, cùng với sự lãnh đạo của Đảng ủy Tỉnh Bình Dương, quần chúng nhân dân liên tục nỗi dậy đấu tranh

và giành được những thắng lợi nhất định

Về mặt văn hóa ở tỉnh Bình Dương, chính quyền Việt Nam Cộng hòa xây dựng một nền văn hóa chống Cộng xuyên suốt giai đoạn 1954-1963 Để thực hiện điều này, chính quyền Việt Nam Cộng hòa cho thành lập nhiều tổ chức chủ trương theo thuyết duy tâm Nhân Vị như: “Tân Việt văn đoàn”,

“Câu lạc bộ Văn hóa”, “Hội Liên hiệp Văn hóa Á châu”… Tất cả những tổ chức này đều được đặt dưới sự kiểm soát của chính quyền Việt Nam Cộng hòa nhằm mục đích kiểm soát các hoạt động của báo giới

Trang 24

Giáo dục ở tỉnh Bình Dương trong giai đoạn 1954-1963 cũng đã có những bước phát triển nhất định, số lượng học sinh cũng như trường lớp ngày càng tăng Chính quyền Việt Nam Cộng hòa còn bắt buộc đưa thuyết Nhân Vị vào học tập, ngoài ra còn bắt buộc nhân dân phải tham gia các lớp học tập về thuyết Nhân Vị, nếu không tham gia thì xem là Việt Cộng Nhìn chung, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã tạo được bước tiến trong giáo dục bằng cách

mở mang thêm trường lớp, các cơ sở giáo dục, tuy nhiên vẫn giữ nguyên giáo dục nhưng chính quyền Việt Nam Cộng hòa lại tạo ra một nền giáo dục thiếu triết lý cũng như thiếu định hướng

Sau những thất bại liên tiếp về mặt chính trị – quân sự cũng như về văn hóa – giáo dục, đến ngày 1-11-1963, chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đỗ,

kết thúc thời kỳ Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa

Trang 25

Chương 2 CHÍNH SÁCH DINH ĐIỀN CỦA CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HÒA Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG TRONG GIAI ĐOẠN 1957-1963 2.1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, chính quyền Mỹ nhảy vào miền Nam Việt Nam và từng bước gạt bỏ Pháp ra khỏi bán đảo Đông Dương mà đặc biệt là miền Nam Việt Nam Trong giai đoạn này, chủ trương của chính quyền Mỹ là tăng cường số lượng “cố vấn” và đẩy mạnh viện trợ cho chính quyền Sài Gòn nhằm xây dựng và củng cố chế độ mới ở miền Nam Việt Nam từ đó làm chỗ dựa để áp đặt chủ nghĩa thực dân mới của chính quyền Mỹ

Để thực hiện chủ trương trên, Tổng thống Mỹ đương thời là Aixenhao

đã cử tướng J.L.Collins (Côlin) sang Sài Gòn để làm cố vấn nhưng thực chất

là thay mặt chính quyền Mỹ để điều hành việc triển khai chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam Tướng Collins đã đưa ra một bản kế hoạch 6 điểm mang nội dung và ý nghĩa hết sức rõ ràng cho việc thực hiện chủ nghĩa

thực dân mới ở miền Nam Việt Nam của chính quyền Mỹ: “1) Ủng hộ chính

quyền Ngô Đình Diệm Viện trợ trực tiếp cho chính quyền Sài Gòn, không qua Pháp; 2) Xây dựng lại “quân đội quốc gia” cho Ngô Đình Diệm gồm 15 vạn quân do Mỹ huấn luyện và cung cấp vũ khí; 3) Tổ chức bầu Quốc hội miền Nam, thực hiện “độc lập” giả hiệu; 4) Thực hiện việc định cư cho số người Bắc di cư và vạch kế hoạch cải cách điền địa; 5) Thay đổi chế độ thuế khóa, giành ưu tiên cho hàng hóa Mỹ xâm nhập miền Nam Việt Nam; 6) Đào tạo cán bộ hành chính cho chính quyền Ngô Đình Diệm” [4,165-166]

Sau thất bại ở trận Điện Biên Phủ của Pháp tại Việt Nam, chính quyền

Mỹ đã lập ra kế hoạch nhằm cải tổ lực lượng quân đội tay sai Pháp điều hành thành một “quân đội quốc gia” do Mỹ huấn luyện và trang bị với hai nhiệm

vụ quan trọng là: “trước mắt làm chỗ dựa cho chính quyền Ngô Đình Diệm,

về lâu dài nhằm đáp ứng yêu cầu “chiến lược vành đai” của Mỹ ở Đông Nam Á” [4,186] Nhằm thực hiện kế hoạch, đầu tiên Mỹ đã cho chấm dứt vai trò

chỉ huy quân đội tay sai người Việt của Pháp và dần dần gạt bỏ các sĩ quan chỉ huy thân Pháp, đào tạo một lớp đội ngũ sĩ quan thân Mỹ, do Mỹ huấn luyện, trả lương và phải làm theo lệnh Mỹ Cuối năm 1954, Mỹ đã ép Ely (Tổng Tư lệnh quân viễn chinh Pháp) ký kết với Collins (đại diện của chính

quyền Mỹ) một Hiệp định về việc “Pháp trao trả lại quyền tự trị hoàn toàn

Trang 26

cho “quân đội quốc gia Việt Nam” và Mỹ có “trách nhiệm” giúp đỡ chính quyền Sài Gòn trong việc tổ chức và huấn luyện lực lượng vũ trang” [4,186]

Để thực hiện được việc thao túng quân đội Sài Gòn, biến quân đội Sài Gòn thành đội quân tay sai của mình, Mỹ đã chi một khoản ngân sách khổng lồ cho việc xây dậy quân đội Sài Gòn dưới hình thức là “viện trợ”:

Bảng viện trợ của Mỹ cho miền Nam Việt Nam trong giai đoạn 1955-1961

Năm Tổng viện trợ Mỹ cho miền

quyền chỉ huy của Mỹ với người đứng đầu ở miền Nam Việt Nam là “Trưởng

phái đoàn quân sự Mỹ MAAG sẽ giữ hoàn toàn trách nhiệm về tổ chức và huấn luyện quân đội miền Nam” [4,188] Với danh nghĩa là “Phái bộ viện trợ

quân sự Mỹ” (Military assistance Advisory group) nhưng đây thực chất là một Bộ tư lệnh quân sự Mỹ ở miền Nam Việt Nam do tướng J Ôdanien là người đứng đầu “Phái bộ viện trợ quân sự Mỹ” chuyên lo việc huấn luyện cũng như tác chiến và trang bị cho quân đội Sài Gòn đã phát triển tương đối nhanh chóng với chỉ 35 người vào năm 1950 và đến năm 1961 đã tăng lên đến 3.500 người Đồng thời một hệ thống cố vấn về quân sự được chính quyền

Trang 27

Mỹ thiết lập và đưa vào công tác từ Bộ Quốc phòng, Bộ Tham mưu… cho đến các sư đoàn, trung đoàn hay tiểu đoàn quân đội Sài Gòn

Dựa vào viện trợ mà chủ yếu là viện trợ quân sự và hệ thống cố vấn

Mỹ, chính quyền Ngô Đình Diệm biến quân đội tay sai do Pháp để lại thành

“Quân đội Việt Nam Cộng hòa” với tổng số 179.997 quân chính quy và 37.000 quân phụ thuộc Hệ thống lực lượng “quân đội Việt Nam Cộng hòa”

tính đến cuối năm 1955 đã có “10 sư đoàn, 1 liên đoàn nhảy dù, 4 trung đoàn

kỵ binh kết hợp thiết giáp, 11 tiểu đoàn pháo, 13 trung đoàn địa phương, 6 trung đoàn bộ binh giáo phái và một số đơn vị thuộc quân chủng hải quân và không quân” [4,189] Nhằm xây dựng lực lượng quân đội hiện đại và trung

thành, Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm luôn xem trọng việc đào tạo tầng lớp sĩ quan thông thạo chiến thuật, kỹ thuật quân sự Mỹ vì vậy đã thành lập nên một số trường sĩ quan mới như: Trường Võ bị Đà Lạt; Trung tâm huấn luyện Quang Trung… Ngoài ra, chính quyền Ngô Đình Diệm còn cho nhiều

sĩ quan đi học ở các trường quân sự nước ngoài để học tập các kỹ thuật quân

sự cũng như võ bị nhằm tiến hành các hoạt động chống lại lực lượng Cộng sản Trường quân sự Fort Benning ở Philippin là nơi đầu tiên được chính quyền Sài Gòn đưa sĩ quan sang học tập Chỉ tính từ năm 1954 đến năm 1959,

có khoảng 3.500 sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng hòa được đưa sang Mỹ huấn luyện và học tập

Như vậy, chính quyền Mỹ đã dựa vào việc “viện trợ” để xâm lược và thống trị miền Nam Việt Nam, biến miền Nam Việt Nam thành một căn cứ quân sự với lực lượng quân đội tay sai hùng hậu và được mang danh là “mạnh nhất Đông Nam Á” dưới sự chỉ huy của mình và mục đích chính là chống lại phong trào yêu nước của người dân Việt Nam mà đặc biệt là người dân miền Nam Việt Nam

Tại Bình Dương, dưới sự viện trợ mạnh mẽ về quân sư của chính phủ

Mỹ, chính quyền Việt Nam Cộng hòa bố trí một lượng lớn binh sĩ ở Bình Dương như sư đoàn 5, sư đoàn 13 tại các khu vực trọng yếu thuộc Tân Uyên, Bến Cát, Dầu Tiếng để có thể cơ động tấn công vào các khu căn cứ của lực lượng cách mạng Ngoài ra, chính quyền Việt Nam Cộng hòa còn tăng cường xây dựng hệ thống đồn bót trên toàn tỉnh một cách có hệ thống, đồng thời cho giải tán các Ban đại diện và thành lập Hội đồng hương chính nhằm nắm bắt tình hình địa bàn trên toàn tỉnh Bình Dương và để dễ bề đối phó với lực lượng Cộng sản

Trang 28

Với vị trí chiến lược vô cùng quan trọng, tỉnh Bình Dương luôn được chính quyền Việt Nam Cộng hòa hết sức quan tâm, Ngô Đình Diệm liên tục cho thay đổi vị trí Tỉnh trường nhằm tìm ra người phù hợp cho việc cai quản

vùng đất nóng bỏng này: “1) Nguyễn Văn Sung (28-9-1954 đến 25-8-1956);

tư trực tiếp vào miền Nam Việt Nam

Hình thức viện trợ thương mại hóa là cách thức giúp cho hàng hóa của

Mỹ xâm nhập một cách tràn lan sang thị trường miền Nam Việt Nam, cạnh tranh bất bình đẳng với hàng nội địa cũng như hàng hóa của các nước khác trên thị trường miền Nam Việt Nam Trong thời gian này, Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm đã ký kết với nhau một số văn kiện có lợi cho Mỹ về thuế quan, ngân hàng, tiền tệ như: Hiệp định ngày 20 và 26-8-1954 cho phép hàng viện trợ và trang bị của Mỹ được phép đưa vào miền Nam Việt Nam tự do và miễn mọi loại thuế nội địa; Tuyên bố chung vào ngày 31-11-1954 và ngày 25-

10-1954 là phải “đảm bảo việc bảo vệ các nhãn hàng tư nhân Mỹ ở Việt Nam

và của tư nhân Việt Nam ở Mỹ” [4,191] Như vậy, với hình thức “viện trợ”,

hàng hóa của Mỹ và một số nước đồng minh đã đổ vào miền Nam Việt Nam ngày càng nhiều Tuy nhiên, việc “viện trợ” hàng hóa đã không tạo điều kiện cũng như thúc đẩy nền sản xuất ở miền Nam Việt Nam phát triển mà ngược lại còn làm cho nền kinh tế nơi đây mất đi sự cân đối nghiêm trọng Mưu đồ của Mỹ thông qua viện trợ hàng hóa có ý nghĩa rất sâu xa: Về mặt xã hội, tạo nên ở miền Nam Việt Nam một cảnh phồn vinh giả tạo, kích thích sự đua đòi tiêu dùng; Về mặt kinh tế, biến miền Nam Việt Nam phải phụ thuộc gần như hoàn toàn vào viện trợ của Mỹ Bên cạnh đó, Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm còn ra sức tạo mọi điều kiện thuận lợi cho những nhà tư bản Mỹ đầu tư vào miền Nam Việt Nam Mỹ cùng với chính quyền Ngô Đình Diệm đã ký kết nhiều Hiệp định nhằm tạo ra các đặc quyền, đặc lợi cho việc xuất khẩu tư

Trang 29

bản Mỹ vào khai thác tài nguyên cũng như nhân công miền Nam Việt Nam:

“Chính sách đầu tư” ký ngày 3-1957; “Bảo đảm đầu tư tư nhân” ký ngày 11-1957; “Thân hữu và liên lạc kinh tế” ký ngày 3-3-1961…

5-Ngay khi Mỹ vừa bắt đầu xâm nhập vào miền Nam Việt Nam, chính quyền Mỹ đã hết sức chú ý đến tầng lớp giai cấp nông dân và khu vực nông thôn, vì vậy chính quyền Mỹ đã thúc ép Ngô Đình Diệm thực hiện chương trình “Cải cách điền đia” nhằm mục đích tạo ra ở vùng nông thông một tầng lớp tư sản mới để làm chỗ dựa cho chính quyền Ngô Đình Diệm Chương trình cải cách điền địa được thực hiện với nội dung chủ yếu trong các cáo Dụ

số 2 (8-1-1955) và Dụ số 7 (3-2-1955) Tuy nhiên, chương trình cải cách điền địa lại không nhằm tạo ra một tầng lớp tư sản mới ở vùng nông thôn mà nhằm chiếm đoạt lại ruộng đất của những người nông dân được chính quyền Cách mạng chia lại trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp

Song song với việc thực hiện chính sách “cải cách điền địa”, chính quyền Việt Nam Cộng hòa vào tháng 4-1957 đã đề ra chính sách “tái định cư

và cứu tế dân di cư” vào các khu “Dinh điền” Mục tiêu của chính sách Dinh điền không phải vì lợi ích kinh tế mà vì lợi ích an ninh – chính trị, muốn thông qua các khu Dinh điền để ngăn chặn sự xâm nhập của Cộng sản vào những vùng dân cư đông đúc do chính quyền Việt Nam Cộng hòa kiểm soát đặc biệt là Sài Gòn Để thực hiện âm mưu này, chính quyền Mỹ đã đồng ý cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa chi khoảng 50% số tiền viện trợ của Mỹ dành cho nông nghiệp vào chính sách Dinh điền, vì vậy chính quyền Ngô Đình Diệm đã dần nâng chính sách Dinh điền lên hàng “quốc sách” Chỉ trong bốn năm (1957-1960), chính quyền Việt Nam cộng hòa đã đưa khoảng 200.000 đồng bào đa phần theo Thiên Chúa giáo và một phần đồng bào ở khu vực duyên hải miền Trung vào các khu Dinh điền

Tỉnh Bình Dương nằm tiếp giáp với đô thành Sài Gòn (thuộc Gia Định)

là khu vực trọng yếu, có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với chính quyền Việt Nam Cộng hòa, vì thế ngay khi triển khai chính sách Dinh điền, khu vực tỉnh Bình Dương cũng đã được chính quyền Việt Nam Cộng hòa nghiên cứu và triển khai tại nơi đây với Dinh điền tiêu biểu mang tên Văn Hạnh

Bên cạnh các mục tiêu về chính trị, quân sự và kinh tế, chính quyền Mỹ còn xem khối óc và trái tim của con người miền Nam Việt Nam là một đối tượng để xâm lăng và chinh phục như trong bản tuyên bố của Mỹ trong năm

1952 có nói rằng “Đối với các nước Đông Nam Á, nước Mỹ phải tăng cường

Trang 30

các hoạt động tuyên truyền về văn hóa cho thích hợp với khu vực đó để thúc đẩy nhân dân ngày càng đi với thế giới tự do” [4.203]

Đầu tiên, Mỹ đã cho thành lập nhiều cơ quan điều hành văn hóa và mang nhiệm vụ điều tra, nghiên cứu nhằm giúp chính quyền Việt Nam Cộng hòa đưa ra các hoạch định chính sách và biện pháp cụ thể cho lĩnh vực văn hóa, có thể kể đến một số tổ chức như: Sở thông tin Hoa Kỳ (U.S.I,S); Cơ quan phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (U.S.A.I.D); Phù luân hội (Rotary Clup); Hiệp hội văn hóa Á Đông (Asia Culture Association)… Tất cả các tổ chức trên khi thực hiện các hoạt động về văn hóa đều phải chịu sự chi phối của Mỹ thông qua các ngân hàng tài trợ hoặc các “hợp đồng nghiên cứu” Ngoài ra, Ngô Đình Diệm cùng với người anh em của mình là Ngô Đình Nhu còn cho thành lập “Sở nghiên cứu chính trị, văn hóa, xã hội” (là cơ quan mật vụ) có nhiệm vụ tham mưu cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa về sự chỉ đạo cho lĩnh vực văn hóa Đồng thời chính quyền Việt Nam Cộng hòa còn thành lập một số Hội, Đoàn văn hóa như: “Mặt trận bảo vệ tự do văn hóa”, “Hội văn hóa Việt Nam”, “Hội văn hóa duy linh”, Việt Nam Khổng học hội”… Với việc hình thành cả một hệ thống tổ chức như trên, Mỹ đã giật dây cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa cố gắng tạo lập một nét “văn hóa” mới không ngoài mục đích chống lại cách mạng, chống lại Cộng sản, tiêu diệt tình cảm yêu Tổ quốc của nhân dân, hạn chế sự đoàn kết dân tộc

Về mặt giáo dục, chính quyền Mỹ muốn biến giáo dục thành công cụ

nô dịch lâu dài bằng cách tạo ra một lớp người giúp việc có đủ khả năng chuyên môn nhưng phải luôn gắn bó với quyền lợi của chủ nghĩa thực dân Với bộ máy chính quyền tay sai đồ sộ, Mỹ cần phải đào tạo nhiều cán bộ cho chế độ phụ thuộc vì vậy đã đẩy mạnh việc mở rộng quy mô và mạng lưới giáo dục ở miền Nam Việt Nam Nền giáo dục ở miền Nam Việt Nam được Mỹ hỗ

trợ là một nền giáo dục “chống cộng”, có nhiệm vụ “Vũ trang cho thanh niên

một tinh thần vũ trang mãnh liệt, một ý chí bền bỉ đấu tranh cho tự do dân chủ” [4,207], từ đó trở thành công cụ cho Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng

hòa chia cắt đất nước lâu dài Mặt khác, lĩnh vực giáo dục còn gián tiếp và trực tiếp phục vụ cho công tác bình định ở các vùng nông thôn, đào tạo những người tình báo gián điệp và lính đánh thuê trong tương tai cho chính quyền

Mỹ

Chính quyền Ngô Đình Diệm luôn lưu ý đến vấn đề giáo dục ở tỉnh Bình Dương, vì vậy giáo dục ở đây lúc bấy giờ khá phát triển Ở bậc Trung

Trang 31

học có 03 loại hình trường là Trung học công lập, Trung học bán công và Trung học tư thục Trong đó: Trường Trung học công lập có 5 trường được đặt tại quận lỵ Phú Cường, Phú Hòa, Châu Thành và Phú Giáo; Trường Trung học bán công có 3 trường là: Lái Thiêu, Bến Cát và Định Thành (quận Dầu Tiếng); Trung học tư thục có 6 trường là: Nguyễn Trãi, Nghĩa Phương, Văn

An, Thống Nhất, Bồ Đề và Tài Đức Ở bậc Tiểu học, có nhiều loại hình trường như: công lập, bán công, chuyên nghiệp công lập, chuyên nghiệp tư thục và bình dân giáo vụ

Chính quyền Việt Nam Cộng hòa luôn xem Thiên Chúa giáo là một trong những trụ cột của đời sống tinh thần trong xã hội ở miền Nam Việt Nam Vì vậy, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã đưa ra nhiều chính sách ưu đãi đối với những tín đồ của Thiên Chúa giáo như được chú ý sử dụng và cất nhắc, đề bạt vào các vị trí chủ chốt từ cấp trung ương đến cấp địa phương… Tuy có sự ưu ái với Thiên Chúa giáo nhưng chính quyền Việt Nam Cộng hòa vẫn chủ trương cho việc bành trướng các tôn giáo khác như: Phật giáo, Cao Đài, Hòa Hảo… Việc chủ trương bành trướng tôn giáo của chính quyền Việt Nam Cộng hòa là nhằm mục đích lôi kéo các tôn giáo vào vùng ảnh hưởng của mình đồng thời muốn nhân dân miền Nam Việt Nam chú trọng vào các hoạt động tôn giáo mà quên đi việc đấu tranh thống nhất nước nhà Ngoài ra, thông qua các tổ chức tôn giáo để thu hút mọi thành phần xã hội, tránh việc người dân tham gia vào các tổ chức của lực lượng cách mạng nhằm dễ bề kiểm tra, kiểm soát quần chúng nhân dân

2.2 VIỆT NAM CỘNG HÒA THỰC THI CHÍNH SÁCH DINH ĐIỀN Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG GIAI ĐOẠN 1957-1963

Chính sách Dinh điền là một trong những chính sách quan trọng do chính quyền Việt Nam Cộng hòa mà đứng đầu là Ngô Đình Diệm đưa ra chủ trương, vì vậy chính sách Dinh điền được chính quyền đặc biệt chú trọng và dồn mọi nỗ lực trong việc thi hành Để cụ thể hóa chính sách, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã cho thành lập một cơ quan riêng biệt, từ đây Phủ Tổng

ủy Dinh điền “được thiết lập do sắc lệnh số 103-TTP/VP ngày 23-4-1957”

[37,11] nhằm mục đích thực hiện chính sách Dinh điền – một chính sách có nhiều ảnh hưởng và mang tính chất “quan trọng” đến nền kinh tế Việt Nam Cộng Hòa Phủ Tổng ủy Dinh điền được điều hành như một Bộ và được đặt trực thuộc Phủ Tổng thống bao gồm: Cơ quan trung ương và Cơ quan địa phương Trong đó:

Trang 32

Cơ quan trung ương gồm có:

6 Nha Nông cơ

7 Hai Ban Công chính và Y tế thuộc Văn phòng” [26,24]

Cơ quan địa phương gồm có:

“các cơ quan địa phương chấp hành chương trình dinh điền tại các

vùng, khu, địa điểm Hai vùng Dinh điền là Vùng Cao Nguyên… ; Vùng An Xuyên, Ba Xuyên Các khu Dinh điền riêng biệt khác gồm Phước Long, Bình Tuy, Bình Ninh, Dương Hòa, Kiến Phong, Kiến Tường” [26,24]

Ngoài ra, còn một số địa điểm khác có vị trí chiến lược đặc biệt nên sẽ trực thuộc tỉnh hoặc Phủ Tổng ủy tùy mỗi Dinh điền

“Bên cạnh Phủ Tổng ủy Dinh điền là Quốc gia Nông cụ cơ giới cuộc

Đây là một cơ quan có tư cách pháp nhân và ngân sách tự trị có nhiệm vụ yểm trợ các chương trình công tác do Phủ Tổng ủy Dinh điền thực hiện Quốc gia Nông cụ Cơ giới cuộc do một Quản đốc điều khiển và một hội đồng quản trị” [37,11]

Mỗi địa điểm Dinh điền đều mang yếu tố hết sức quan trọng, vì vậy chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã cho mở các lớp học để đào tạo những

người đứng đầu ở mỗi địa điểm nhằm tăng sự hiệu quả của chính sách “người

chỉ huy cần phải đủ năng lực để thi hành đúng đắn dự án Cũng vì vậy, nên từ năm 1957, hai khóa học được tổ chức để đào tạo chừng 50 địa điểm Trưởng Ngoài ra,… Phủ còn mở nhiều khóa huấn luyện cán bộ Nông cơ và cán bộ Canh nông” [26,24]

Phủ Tổng ủy Dinh điền được thành lập với bốn nhiệm vụ chính: “Sưu

tầm và áp dụng các phương pháp kỹ thuật để khai khẩn các vùng đất đai hiện còn bỏ hoang nhằm mục đích tăng diện tích canh tác; Di chuyển và phân cấp đất đai cho các phần tử nông nghiệp muốn khai thác các vùng đó và giúp đỡ

họ với mọi phương tiện sẵn có; Tăng cường sức sản xuất và tổ chức hoặc cải thiện các cơ cấu nông thôn về mọi phương diện tại các địa điểm Dinh điền;

Trang 33

Lập các dự án khai khẩn, thực hiện dự án và trang bị những dụng cụ cần thiết cho việc khuếch nông” [37,12-13]

2.2.1 Những mục tiêu của chính sách Dinh điền

Trong bản hiệu triệu nhân dịp kỷ niệm đệ tứ chu niên chấp chánh ngày

7-7-1958 của Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Diệm đã đưa ra lời tuyên bố “Chúng

ta đã tranh đấu thu hồi về Quốc Gia toàn vẹn chủ quyền về chính trị và kinh

tế, đối nội cũng như đối ngoại, mục tiêu duy nhất và bất di bất dịch vẫn là giải phóng toàn diện con người Việt Nam, mục tiêu này đòi hỏi ta phải giải phóng con người về tinh thần cũng như vật chất” [23,8] Vì vậy cho nên

“Chính phủ chủ trương theo đúng Hiến pháp, chủ trương đường lối Nhân vị

trong cộng đồng xã hội và vũ trang vật chất theo đúng chính sách thăng tiến cần lao, đồng tiến xã hội: Chính phủ chủ trương hữu sản hóa dân vô sản”

[23,9] Dựa trên cơ sở đó, Ngô Đình Diệm đã nêu ra mục đích của việc thực

hiện chính sách Dinh điền là “Trái với chủ trương Cộng sản là vô sản hóa

nhân dân: Chính phủ chủ trương mỗi người dân phải được làm chủ một tư sản cơ bản bảo đảm cụ thể tự do cho mình và gia đình, đồng thời là cái vốn

để tiến tới một đời sống mới ngày một thêm sung túc” [23,9] Ngoài ra, Ngô

Đình Diệm cũng nhấn mạnh thêm về chính sách Dinh điền để người dân dưới

chế độ Việt Nam Cộng hòa hiểu rõ hơn về chính sách này: “Về phương diện

tiêu cực, luật Cải cách điền địa đã giúp cho tá điền có thể trở nên tiểu điền chủ, thì về phương diện tích cực, kế hoạch Dinh điền giúp cho nông dân cũng như dân vô sản khác cơ hội có thêm ruộng đất để cày” [23,9]

Sau những lời tuyên bố của mình, Ngô Đình Diệm ngay lập tức tiến

hành thị sát nhiều vùng và nhận thấy “1 Tình trạng hoang phế của phần lớn

ruộng đất sau chiến tranh…; 2 Dân cư toàn quốc không được phân phối điều hòa; 3 Nhiều vùng bỏ trống khó kiểm soát” [23,10] Dựa trên cơ sở đó, chính

quyền Việt Nam Cộng hòa cho rằng công cuộc Dinh điền phát động trong lúc này lại rất hợp thời và thuận lợi vì một số lí do như:

“1 Chính phủ Cộng hòa đã vãn hồi an ninh quốc nội, vì vậy công tác

Dinh điền có thể xúc tiến tại mọi nơi, không e ngại gì về phương diện này; 2 Công cuộc định cư các đồng bào tị nạn Bắc Việt thành công sẽ khuyến khích các đồng bào đi Dinh điền Những kinh nghiệm về công cuộc này cũng sẽ có giá trị đối với các công cuộc định cư mới; 3 Tinh thần của đồng bào, nhờ lòng ganh đua với đồng bào tị nạn, với sự thức tỉnh của lòng yêu nước, sau cuộc cách mạng toàn quốc, sẽ gây một luồng gió tốt đẹp cho phong trào di

Trang 34

dân do chính quyền đề xướng; 4 Nhờ có sẵn một số lớn dụng cụ cơ giới, chính quyền có thể áp dụng việc cơ giới hóa các công tác khai phá và cày bừa” [26,7-8]

* Mục tiêu về kinh tế

Chính quyền Việt Nam Cộng hòa nhấn mạnh về mục tiêu kinh tế của

chính sách Dinh điền rằng: “đồng ruộng phì nhiêu, khu rừng bao la phong

phú bị hoang phế vì chiến tranh Chương trình Dinh điền đã chú trọng đến việc tăng gia diện tích sản xuất, khai thác để tận dụng bằng nông cụ cơ giới

và nhân lực mỗi khoảng đất để không và nhân dịp cải tiến kỹ thuật canh nông, khuyến khích việc trồng cây kỹ nghệ” [23,11-12]

Chính phủ Việt Nam Cộng hòa cho rằng, ở Bình Dương, người dân cần phải mở rộng thêm diện tích canh tác, đẩy mạnh trồng cây công nghiệp đặc biệt là cây sao su, ki-náp tại các vùng có đủ điều kiện thuận lợi, như vậy người dân sẽ giảm bớt sự phụ thuộc vào vấn đề chuyển biến của giá cả thị trường thế giới đặc biệt là về lúa gạo

Chính quyền Việt Nam Cộng hòa còn khuyến cáo người dân, ngoài mở rộng diện tích, nhân dân còn cần phải tăng gia sản xuất để có thể tăng sản lượng của sản phẩm nông nghiệp lên mức tối đa nhằm cải thiện đời sống của chính mình Lúc bấy giờ, đã có nhiêu phương tiện thích nghi cho việc tăng gia sản xuất như: Áp dụng cơ giới hóa trong việc khai khẩn rừng hoang; Áp dụng các phương pháp kỹ thuật canh tác mới, việc dùng phân bón, chọn giống tốt, thiết lập các trung tâm canh nông kiễu mẫu, áp dụng các biện pháp chống nạn xói mòn… Dinh điền Văn Hạnh tại Bình Dương luôn được chính quyền chú trọng thực hiện các phương pháp trên

Tuy nhiên, trái với luận điệu mà chính quyền Việt Nam Cộng hòa nhấn mạnh khi thực hiện chính sách Dinh điền là mục tiêu về kinh tế, thực chất mục tiêu của chính sách Dinh điền là lợi ích về mặt an ninh – chính trị Chính quyền Việt Nam Cộng hòa muốn thông qua Dinh điền Văn Hạnh để có thể ngăn chặn Cộng sản xâm nhập vào những vùng dân cư đông đúc do chính quyền kiểm soát đặc biệt là Sài Gòn Chính quyền Ngô Đình Diệm nêu nói rõ mục tiêu của chính sách Dinh điền nói chung và Dinh điền Văn Hạnh nói

riêng: “Khu Dinh điền là biện pháp xẻ đường đưa dân vào chiến khu, mật khu

Việt cộng, dùng dân để đẩy Cộng sản ra khỏi vùng đó và Dinh điền là nơi

Ngày đăng: 13/09/2021, 19:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Dương (2003), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Dương (1930-1975), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Dương (1930-1975)
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Dương
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
2. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Dương (2014), Lịch sử chiến tranh nhân dân tỉnh Bình Dương (1945-1975), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử chiến tranh nhân dân tỉnh Bình Dương (1945-1975)
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Dương
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2014
4. Trần Đức Cường (CB, 2014), Lịch sử Việt Nam, Tập 12: Từ năm 1954 đến năm 1965, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam, Tập 12: Từ năm 1954 đến năm 1965
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
5. Edward Miller (2016), Liên minh sai lầm: Ngô Đình Diệm, Mỹ và số phận Nam Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên minh sai lầm: Ngô Đình Diệm, Mỹ và số phận Nam Việt Nam
Tác giả: Edward Miller
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2016
6. Trần Văn Giàu (2006), Trần Văn Giàu tổng tập, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Văn Giàu tổng tập
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb Quân đội Nhân dân
Năm: 2006
7. Nguyễn Văn Hiệp (CB, 2019), Lịch sử tỉnh Bình Dương, Tập 1: Từ khởi thủy đến giữa thế kỷ XIX, Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử tỉnh Bình Dương, Tập 1: Từ khởi thủy đến giữa thế kỷ XIX
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
8. Lâm Quang Huyên (1997), Cách mạng ruộng đất ở miền Nam Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách mạng ruộng đất ở miền Nam Việt Nam
Tác giả: Lâm Quang Huyên
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1997
9. Lâm Quang Huyên (2007), Vấn đề ruộng đất ở Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề ruộng đất ở Việt Nam
Tác giả: Lâm Quang Huyên
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2007
10. Huỳnh Lứa (2000), Góp phần tìm hiểu vùng đất Nam Bộ các thế kỷ XVII, XVIII, XIX, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần tìm hiểu vùng đất Nam Bộ các thế kỷ XVII, XVIII, XIX
Tác giả: Huỳnh Lứa
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2000
11. Hoàng Linh Đỗ Mậu (1995), Tâm sự tướng lưu vong, Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm sự tướng lưu vong
Tác giả: Hoàng Linh Đỗ Mậu
Nhà XB: Nxb Công an Nhân dân
Năm: 1995
12. Đặng Phong (2004), Kinh tế Miền Nam Việt Nam 1955-1975, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Miền Nam Việt Nam 1955-1975
Tác giả: Đặng Phong
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2004
13. Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Dương (2010), Địa chí Bình Dương, Tập 1: Tự nhiên – nhân văn, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí Bình Dương, Tập 1: "Tự nhiên – nhân văn
Tác giả: Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Dương
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia
Năm: 2010
14. Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Dương (2010), Địa chí Bình Dương, Tập 3: Kinh tế, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí Bình Dương, Tập 3: "Kinh tế
Tác giả: Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Dương
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia
Năm: 2010
15. Báo cáo tình hình tháng 12-1959, hồ sơ số 188, phông Phủ TUDĐVNV, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình tháng 12-1959
16. Báo cáo tình hình tháng 8,9,10-1960, hồ sơ số 188, phông Phủ TUDĐVNV, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình tháng 8,9,10-1960
17. Báo cáo tình hình khu Trưởng khu Dinh điền Bình Ninh thăm các địa điểm thuộc khu Dinh điền Bình Ninh năm 1957, hồ sơ số 5458, phông Phủ TUDĐVNV, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình khu Trưởng khu Dinh điền Bình Ninh thăm các địa điểm thuộc khu Dinh điền Bình Ninh năm 1957
18. Báo cáo tình hình nông nghiệp tại khu Dinh điền Bình Ninh, hồ sơ số 5458, phông Phủ TUDĐVNV, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình nông nghiệp tại khu Dinh điền Bình Ninh
19. Báo cáo tình hình tài chính Dinh điền tại tỉnh Bình Dương, hồ sơ số 5458, phông Phủ TUDĐVNV, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình tài chính Dinh điền tại tỉnh Bình Dương
20. Báo cáo tình hình đi thanh tra khu Bình Ninh, hồ sơ số 5458, phông Phủ TUDĐVNV, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình đi thanh tra khu Bình Ninh
21. Biên bản họp ngày 20-10-1960 về tình hình các địa điểm tại khu Dinh điền Bình Ninh, hồ sơ số 207, phông Phủ TUDĐVNV, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biên bản họp ngày 20-10-1960 về tình hình các địa điểm tại khu Dinh điền Bình Ninh

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w