LỜI MỞ ĐẦUTrong thời gian vừa qua, những biến đổi khó lường của kinh tế thế giới đang tác động tiêu cực đến Việt Nam. Cuộc khủng hoảng nợ đang ngày càng trầm trọng ở Châu Âu đang có nguy cơ đẩy thế giới vào một đợt suy thoái mới, trong khi đó nền kinh tế Hoa Kỳ vẫn chưa có dấu hiệu khởi sắc còn Nhật Bản đang khắc phục hậu quả thảm họa động đất sóng thần tháng 3 năm 2011. Châu Âu, Mỹ, Nhật Bản đều là những đối tác thương mại và đầu tư quan trọng của Việt Nam. Vì vậy một đất nước có nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu cũng nh đầu tư nước ngoài nh Việt Nam thì kinh tế thế giới có tác động rất lớn đối với tình hình kinh tế trong nước. Bên cạnh những tác động từ bên ngoài, nền kinh tế Việt Nam đang gặp phải những tác dụng phụ của việc thắt chặt tín dụng để kiềm chế lạm phát. Các doanh nghiệp không thể tiếp cận với vốn vay hoặc phải vay với lãi suất cao. Không những vậy, mà giá xăng dầu tăng, giá điện cũng được dự báo tăng trong năm 2012, đồng tiền VNĐ mất giá, thị trường chứng khoán ảm đạm, giá vàng biến đổi theo từng giờ... Các doanh nghiệp vừa và nhỏ là đối tượng bị chịu nhiều ảnh hưởng nặng nề nhất, không Ýt những doanh nghiệp vừa và nhỏ rơi vào tình trạng phá sản. Đứng trước những khó khăn như vậy, các nhà quản lý phải thật sáng suốt và tỉnh táo đưa ra quyết định hợp lý.Trong bất kỳ doanh nghiệp nào kế toán luôn là công cụ quản lý hữu hiệu nhất, đáp ứng được yêu cầu cung cấp thông tin quản trị cho doanh nghiệp. Phần hành kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là một trong những phần hành quan trọng nhất trong hệ thống kế toán doanh nghiệp. Cũng như các doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp xây lắp cần biết các hao phí vật chất mà doanh nghiệp đã bỏ vào quá trình sản xuất và kết tinh vào công trình là bao nhiêu. Và việc xác định giá thành sản xuất một cách kịp thời, chính xác, đầy đủ có một ý nghĩa vô cùng to lớn trong công tác quản lý hiệu quả, đồng thời đảm bảo chất lượng của công trình xây lắp. Hơn thế nữa, nó còn góp phần tích cực vào việc sử dụng nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Nhất là trong tình hình kinh tế hiện nay, để tồn tại và phát triển cần phải chú trọng đến mục tiêu hàng đầu là lợi nhuận. Để đạt được điều này doanh nghiệp luôn phải tìm biện pháp hạ giá thành sản xuất cho phù hợp với nhu cầu thị trường. Thêm vào đó,để tính giá thành chính xác và kịp thời thì doanh nghiệp cần phải hiểu rõ bản chất chi phí và sử dụng chi phí một cách hợp lý và tiết kiệm.Sau một thời gian thực tập tại Công ty CP ĐT & PT XD Thăng Long, với mong muốn tiếp xúc tìm hiểu tình hình thực tế và làm nền tảng cho công việc của em sau này, em đã mạnh dạn chọn đề tài: “ Hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong Công ty CP ĐT & PTXD Thăng Long” làm chuyên đề luận văn tốt nghiệp của mình.Trong luận văn tốt nghiệp, em xin trình bày thành ba chương như sau:Chương I: Lý luận cơ bản về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp.Chương II: Thực trạng hạch toán kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Công ty CP ĐT & PT XD Thăng Long.Chương III: Giải pháp hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Công ty CP ĐT & PT XD Thăng Long.Trong suốt quá trình thực tập tại đơn vị, em đã được các cô, chú, anh, chị tại phòng kế toán Công ty tạo điều kiện tìm hiểu và tiếp cận thực tế công tác hạch toán kế toán ở Công ty và được sự chỉ bảo tận tình của thầy hướng dẫn. Bài luận văn là thành quả của em trong thời gian qua,và sẽ không tránh khỏi những hạn chế. Em hi vọng nhận được những góp ý,chỉ bảo của thầy cô và bạn bè để em nâng cao hiểu biết và sẵn sàng hành trang cho bước ngoặt mới.Để hoàn thành bài luận văn tốt nghiệp, trước hết em xin chân thành cám ơn quý thầy cô Học Viện Tài Chính đã tận tình giảng dậy trong suốt quá trình học tập tại trường.Em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo GS.TS.NGND Ngô Thế Chi đã truyền đạt cho em những kiến thức và lời khuyên quý báu để em có thể hoàn thành bài luận văn này.Và em chân thành cảm ơn đơn vị Công ty CP ĐT & PT XD Thăng Long đã tạo điều kiện cho em được tiếp cận thực tế. Hà Nội, Ngày Tháng năm 2012 Sinh viên Phan Thị Hương
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời gian vừa qua, những biến đổi khó lường của kinh tế thế giới đang tác động tiêu cực đến Việt Nam Cuộc khủng hoảng nợ đang ngày càng trầm trọng ở Châu Âu đang có nguy cơ đẩy thế giới vào một đợt suy thoái mới, trong khi đó nền kinh tế Hoa Kỳ vẫn chưa có dấu hiệu khởi sắc còn Nhật Bản đang khắc phục hậu quả thảm họa động đất sóng thần tháng 3 năm 2011 Châu Âu, Mỹ, Nhật Bản đều là những đối tác thương mại và đầu tư quan trọng của Việt Nam Vì vậy một đất nước có nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu cũng nh đầu tư nước ngoài nh Việt Nam thì kinh tế thế giới có tác động rất lớn đối với tình hình kinh tế trong nước Bên cạnh những tác động từ bên ngoài, nền kinh tế Việt Nam đang gặp phải những tác dụng phụ của việc thắt chặt tín dụng để kiềm chế lạm phát Các doanh nghiệp không thể tiếp cận với vốn vay hoặc phải vay với lãi suất cao Không những vậy, mà giá xăng dầu tăng, giá điện cũng được dự báo tăng trong năm 2012, đồng tiền VNĐ mất giá, thị trường chứng khoán ảm đạm, giá vàng biến đổi theo từng giờ Các doanh nghiệp vừa và nhỏ là đối tượng bị chịu nhiều ảnh hưởng nặng nề nhất, không Ýt những doanh nghiệp vừa và nhỏ rơi vào tình trạng phá sản Đứng trước những khó khăn như vậy, các nhà quản lý phải thật sáng suốt và tỉnh táo đưa ra quyết định hợp lý
Trong bất kỳ doanh nghiệp nào kế toán luôn là công cụ quản lý hữu hiệu nhất, đáp ứng được yêu cầu cung cấp thông tin quản trị cho doanh nghiệp Phần hành kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là một trong những phần hành quan trọng nhất trong hệ thống kế toán doanh nghiệp Cũng như các doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp xây lắp cần biết các hao phí vật chất mà doanh nghiệp đã bỏ vào quá trình sản xuất và kết tinh vào công trình
là bao nhiêu Và việc xác định giá thành sản xuất một cách kịp thời, chính xác, đầy đủ có một ý nghĩa vô cùng to lớn trong công tác quản lý hiệu quả,
Trang 2đồng thời đảm bảo chất lượng của công trình xây lắp Hơn thế nữa, nó còn góp phần tích cực vào việc sử dụng nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp Nhất là trong tình hình kinh tế hiện nay, để tồn tại và phát triển cần phải chú trọng đến mục tiêu hàng đầu là lợi nhuận Để đạt được điều này doanh nghiệp luôn phải tìm biện pháp hạ giá thành sản xuất cho phù hợp với nhu cầu thị trường Thêm vào đó,để tính giá thành chính xác và kịp thời thì doanh nghiệp cần phải hiểu rõ bản chất chi phí và sử dụng chi phí một cách hợp lý và tiết kiệm.
Sau một thời gian thực tập tại Công ty CP ĐT & PT XD Thăng Long, với mong muốn tiếp xúc tìm hiểu tình hình thực tế và làm nền tảng cho công việc của em sau này, em đã mạnh dạn chọn đề tài: “ Hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong Công ty CP ĐT & PTXD Thăng Long” làm chuyên đề luận văn tốt nghiệp của mình
Trong luận văn tốt nghiệp, em xin trình bày thành ba chương như sau:
Chương I: Lý luận cơ bản về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp
Chương II: Thực trạng hạch toán kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Công ty CP ĐT & PT XD Thăng Long
Chương III: Giải pháp hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Công ty CP ĐT & PT XD Thăng Long
Trong suốt quá trình thực tập tại đơn vị, em đã được các cô, chú, anh, chị tại phòng kế toán Công ty tạo điều kiện tìm hiểu và tiếp cận thực tế công tác hạch toán kế toán ở Công ty và được sự chỉ bảo tận tình của thầy hướng dẫn Bài luận văn là thành quả của em trong thời gian qua,và sẽ không tránh khỏi những hạn chế Em hi vọng nhận được những góp ý,chỉ bảo của thầy cô và bạn bè để em nâng cao hiểu biết và sẵn sàng hành trang cho bước ngoặt mới
Trang 3Để hoàn thành bài luận văn tốt nghiệp, trước hết em xin chân thành cám
ơn quý thầy cô Học Viện Tài Chính đã tận tình giảng dậy trong suốt quá trình học tập tại trường
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo GS.TS.NGND Ngô Thế Chi đã truyền đạt cho em những kiến thức và lời khuyên quý báu để em có thể hoàn thành bài luận văn này
Và em chân thành cảm ơn đơn vị Công ty CP ĐT & PT XD Thăng Long
đã tạo điều kiện cho em được tiếp cận thực tế
Hà Nội, Ngày Tháng năm 2012 Sinh viên
Phan Thị Hương
Trang 4CHƯƠNG I:
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ
THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP.
1.1 Đặc điểm của ngành xây dựng cơ bản.
Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất vật chất quan trọng mang tính chất công nghiệp nhằm tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân Một bộ phận lớn của thu nhập quốc dân, của quỹ tích lũy cùng với vốn đầu tư của nước ngoài được sử dụng trong lĩnh vực xây dựng cơ bản So với các ngành sản xuất khác, ngành XDCB có những đặc điểm về kinh tế kỹ thuật riêng biệt, thể hiện rất rõ nét ở sản phẩm xây lắp và quá trình tạo ra sản phẩm của ngành Điều này đã chi phối đến công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp
Sản phẩm xây lắp là những công trình xây dựng, vật kiến trúc…có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, mang tính đơn chiếc, thời gian sản xuất sản phẩm xây lắp lâu dài…Do đó, việc tổ chức quản lý và hạch toán sản phẩm xây lắp phải lập dự toán (dự toán thiết kế, dự toán thi công) Quá trình sản xuất xây lắp phải so sánh với dự toán, lấy dự toán làm thước đo, đồng thời để giảm bớt rủi
ro phải mua bảo hiểm cho công trình xây lắp
Sản phẩm xây lắp được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá thỏa thuận với chủ đầu tư (giá đấu thầu), do đó tính chất hàng hóa của sản phẩm xây lắp không thể hiện rõ
Sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất còn các điều kiện sản xuất (xe máy, thiết bị thi công, người lao động…) phải di chuyển theo địa điểm đặt sản phẩm Đặc điểm này làm cho công tác quản lý, sử dụng, hạch toán tài sản, vật
tư rất phức tạp do ảnh hưởng của điều kiện thiên nhiên, thời tiết và dễ mất mát hư hỏng…
Trang 5Sản phẩm xây lắp từ khi khởi công cho đến khi hoàn thành công trình bàn giao đưa vào sử dụng thường kéo dài Nó phụ thuộc vào quy mô, tính phức tạp về kỹ thuật của từng công trình Quá trình thi công được chia thành nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn lại chia thành nhiều công việc khác nhau, các công việc thường diễn ra ngoài trời chịu tác động rất lớn của các nhân tố môi trường như nắng, mưa, lũ lụt…Đặc điểm này đòi hỏi việc tổ chức quản lý, giám sát chặt chẽ sao cho bảo đảm chất lượng công trình đúng như thiết kế,
dự toán
Những đặc điểm trên đã ảnh hưởng rất lớn đến kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp Công tác kế toán vừa phải đáp ứng yêu cầu chung về chức năng, nhiệm vụ kế toán của một doanh nghiệp sản xuất vừa phải đảm bảo phù hợp với đặc thù của loại hình doanh nghiệp xây lắp
1.2 Vai trò và nhiệm vụ của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm xây lắp.
Sù ra đời và phát triển của kế toán gắn liền với sự ra đời và phát triển sản xuất của cải vật chất của xã hội Nền sản xuất càng phát triển thì kế toán càng trở nên quan trọng Với chức năng thu thập, xử lý và cung cấp thông tin về tình hình tài sản, tình hình hoạt động kinh tế tài chính của doanh nghiệp, kế toán đã trở thành công cụ quản lý kinh tế hữu hiệu Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là những chỉ tiêu kinh tế quan trọng luôn được các nhà quản
lý quan tâm vì chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là những chỉ tiêu phản ánh chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Do vậy kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm có vị trí quan trọng, đóng vai trò trung gian trong toàn bộ công tác kế toán doanh nghiệp và có ý nghĩa quyết định trong việc quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Vai trò của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp
Trang 6Tổ chức kế toán chi phí sản xuất chính xác, hợp lý và tính đúng, tính đủ giá thành công trình xây lắp có ý nghĩa rất lớn trong công tác quản lý chi phí, giá thành xây dựng, trong việc kiểm tra tính hợp pháp hợp lệ của chi phí phát sinh ở doanh nghiệp nói chung và các tổ đội xây dựng nói riêng Kế toán sử dụng thước đo hiện vật và thước đo giá trị để quản lý chi phí Thông qua số liệu do kế toán tập hợp chi phí, tính giá thành, người quản lý doanh nghiệp biết được chi phí và giá thành thực tế của từng công trình, hạng mục công trình của quá trình sản xuất kinh doanh Qua đó, nhà quản trị có thể phân tích tình hình thực hiện kế hoạch sản phẩm, tình hình sử dụng lao động, vật tư, vốn là tiết kiệm hay lãng phí để từ đó có biện pháp hạ giá thành, đưa ra quyết định phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Hạ giá thành sản phẩm mà vẫn đảm bảo chất lượng là điều kiện qua trọng để doanh nghiệp kinh doanh trên thị trường.
Việc phân tích đúng đắn kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh chỉ có thể dựa trên giá thành sản phẩm chính xác Về phần giá thành, giá thành chịu ảnh hưởng của kết quả tổng hợp chi phí sản xuất xây lắp Do vậy, tổ chức tốt công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp để xác định nội dung, phạm vi chi phí cấu thành trong giá thành cũng như lượng giá trị các yếu tố chi phí đã dịch chuyển vào sản phẩm hoàn thành là yêu cầu rất cần thiết đối với các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp xây lắp nói riêng.Tính đúng, tính đủ giá thành sản phẩm là tiền đề để xác định kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Để có thể cạnh tranh được trên thị trường, công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp còn phải thực hiện đúng theo những quy luật khách quan Như vậy, kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp là phần không thể thiếu đối với các doanh nghiệp xây lắp khi thực hiện chế độ kế toán, hơn nữa, nó có ý nghĩa to lớn chi phối chất lượng công tác kế toán trong toàn doanh nghiệp
Trang 7 Nhiệm vô của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp.
Do đặc thù của ngành xây dựng cơ bản và của sản phẩm xây dựng nên việc quản lý về đầu tư xây dựng rất khó khăn phức tạp, trong đó tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm là một trong những mối quan tâm hàng đầu, là nhiệm vụ hết sức quan trọng của doanh nghiệp Hiện nay, trong lĩnh vực xây dựng cơ bản chủ yếu áp dụng cơ chế đấu thầu, giao nhận thầu xây dựng Vì vậy, để trúng thầu, được nhận thầu thi công thì doanh nghiệp phải xây dựng được giá thầu hợp lý, dựa trên cơ sở đã định mức đơn giá xây dựng
cơ bản do Nhà nước ban hành, trên cơ sở giá thị trường và khả năng của bản thân doanh nghiệp, mặt khác phải đảm bảo doanh nghiệp kinh doanh có lãi
Để thực hiện các yêu cầu trên thì phải tăng cường công tác quản lý kinh tế nói chung, quản lý chi phí giá thành nói riêng
Trước yêu cầu đó, nhiệm vụ chủ yếu đặt ra cho kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp là:
Phản ánh đầy đủ, kịp thời toàn bộ chi phí sản xuất thực tế phát sinh
Kiểm tra tình hình thực hiện các định mức chi phí vật tư, chi phí nhân công, chi phí sử dụng máy thi công và các chi phí dự toán khác, phát hiện kịp thời các khoản chênh lệch so với định mức, các chi phí khác ngoài kế hoạch, các khoản thiệt hại, mất mát hư hỏng…trong sản xuất để đề xuất những biện pháp ngăn chặn kịp thời
Tính toán hợp lý giá thành công tác xây lắp, các sản phẩm lao vụ hoàn thành của doanh nghiệp
Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch giá thành của doanh nghiệp theo từng công trình, hạng mục công trình từng loại sản phẩm lao vụ, vạch ra khả năng và các biện pháp hạ giá thành một cách hợp lý và
có hiệu quả
Trang 8 Xác định đúng đắn và bàn giao thanh toán kịp thời khối lượng công tác xây dựng đã hoàn thành Định kỳ kiểm kê và đánh giá khối lượng thi công dở dang theo nguyên tắc quy định.Đánh giá đúng đắn kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh ở từng công trình hạng mục công trình, từng bộ phận thi công tổ đội sản xuất…trong từng thời
kỳ nhất định, kịp thời lập báo cáo về chi phí sản xuất, tính giá thành công trình xây lắp, cung cấp chính xác kịp thời các thông tin hữu dụng về chi phí sản xuất và giá thành phục vụ cho yêu cầu quản lý của lãnh đạo doanh nghiệp
Nh vậy, xuất phát từ đặc điểm của ngành, và vai trò, nhiệm vụ của kế toán chi phí giá thành mà ta khẳng định rằng, trong doanh nghiệp xây lắp, việc tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là hết sức cần thiết
1.3 Chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp
xây lắp.
1.3.1 Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp.
a Khái niệm, bản chất kinh tế của chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp.
Hoạt động của doanh nghiệp bao gồm : hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác Trong hoạt động sản xuất kinh doanh có hoạt động sản xuất kinh doanh sản phẩm và hoạt động tài chính
Tương ứng với các hoạt động của doanh nghiệp sẽ có các chi phí khác nhau
(Xem sơ đồ 1)
Trang 9Sơ đồ 1: Cỏc chi phớ của doanh nghiệp
Trờn gúc độ quản lý khỏc nhau sẽ cú cỏch thể hiện, cỏch hiểu khỏc nhau về chi phớ sản xuất kinh doanh
• Đối với nhà quản trị doanh nghiệp: chi phớ sản xuất kinh doanh là tổng
số tiền phải bỏ ra để mua cỏc yếu tố cần thiết tạo ra sản phẩm, mang lại lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp
• Đối với kế toỏn: chi phớ sản xuất kinh doanh luụn gắn liền với một kỳ sản xuất kinh doanh nhất định, và cỏc chi phớ đú phải là chi phớ thực.Khi nghiờn cứu về chi phớ chỳng ta cũng cần phải xem xột và phõn biệt được sự khỏc nhau giữa chi phớ và chi tiờu của doanh nghiệp
Chi phí hoạt động của doanh nghiệp
Trang 10Chi tiêu là sự hao phí vật chất tại một thời điểm tiêu dùng Hay nói cách khác, chi tiêu là các khoản làm tăng (giảm) tài sản này nhưng lại làm giảm (tăng) tài sản khác, do đó không làm thay đổi nguồn vốn chủ sở hữu.
Còn chi phí là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ lao động sống và lao động vật hóa cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh tính cho một kỳ kinh doanh
Ta thấy rằng chi tiêu và chi phí là hai khái niệm khác nhau nhưng có quan
hệ mật thiết với nhau, trong đó chi tiêu là cơ sở của chi phí Giữa chi tiêu và chi phí có sự khác nhau về lượng và thời điểm phát sinh Chẳng hạn nh, có những khoản mục chi tiêu kỳ này nhưng được tính chi phí cho nhiều kỳ sau (TK 142 “chi phí trả trước”), hay có những khoản được tính vào chi phí của
kỳ này nhưng chưa được chi tiêu (TK335 “chi phí phải trả”) Việc phân biệt chi phí và chi tiêu không chỉ có ý nghĩa trong việc hiểu rõ bản chất của chi phí
mà còn để xác định đúng nội dung, phạm vi và phương pháp hạch toán chi phí sản xuất trong doanh nghiệp
Nh vậy, chi phí sản xuất là toàn bộ các hao phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác mà doanh nhiệp đã bỏ ra trong kỳ dùng vào sản xuất sản phẩm được biểu hiện bằng tiền
Khi xem xét bản chất của chi phí sản xuất, cần phải xác định rõ:
• Chi phí của doanh nghiệp phải được đo lường và tính toán bằng tiền trong một khoảng thời gian nhất định
• Độ lớn chi phí phụ thuộc vào hai nhân tố chủ yếu: khối lượng các yếu
tố sản xuất đã tiêu hao trong kỳ và giá cả của một đơn vị yếu tố sản xuất đã hao phí
b Phân loại chi phí sản xuất.
Chi phí sản xuất kinh doanh có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau tùy thuộc vào yêu cầu và mục đích công tác quản lý Việc hạch
Trang 11toán chi phí sản xuất kinh doanh theo từng tiêu thức sẽ nâng cao tính chi tiết của thông tin, là cơ sở cho việc phấn đấu giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sử dụng và tăng cường hạch toán kinh tế trong các đơn vị xây lắp.
Chi phí sản xuất kinh doanh thường được phân loại theo những tiêu thức sau:
Theo công dụng kinh tế
Theo nội dung kinh tế
Theo mối quan hệ của chi phí với các khoản mục trên BCTC
Theo khả năng quy nạp CP với các đối tượng kế toán CP
Theo mối quan hệ với quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm và quá trình kinh doanh
Theo mối quan hệ với mức độ hoạt động
Các nhận diện khác về chi phí
Đối với chi phí sản xuất, ta phân loại theo:
Phân loại CPSX theo công dụng kinh tế (theo khoản mục)
• Nội dung: căn cứ vào mục đích, công dụng của CP để sắp xếp những CP có cùng một mục đích và công dụng vào cùng một khoản mục CP Không xem xét nội dung kinh tế ban đầu của chi phí
- Là cơ sở để tập hợp chi phí, tính giá thành theo khoản mục
- Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành
- Là cơ sở xây dựng kế hoạch giá thành
Phân loại CPSX theo nội dung kinh tế (theo yếu tố CP)
• Nội dung: căc cứ vào nội dung ban đầu để sắp xếp những CP có cùng một nội dung kinh tế ban đầu vào cùng một yếu tố CP Không xem xét công dụng, địa điểm phát sinh CP
• Các yếu tố:
1 Yếu tè CP NVL
2 Yếu tè CPNC
Trang 123 Yếu tè CP khấu hao.
4 Yếu tè CP dịch vụ mua ngoài
5 Yếu tè CP khác bằng tiền
• Tác dông:
- Xác định kết cấu, tỉ trọng của từng loại CP
- Để lập phần “Báo cáo CPSXKD theo yếu tố”
- Để phân tích tình hình thực hiện dự toán CP
1.3.2 Giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp.
a Khái niệm giá thành sản phẩm:
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ những hao phí về lao động sống và lao động vật hóa được tính trên một khối lượng kết quả sản phẩm lao vụ, dịch vụ hoàn thành nhất định
b Phân loại giá thành sản phẩm:
Căn cứ vào thời gian và cơ sở số liệu để tính giá thành sản phẩm, giá thành sản phẩm được chia thành: giá thành kế hoạch, giá thành định
mức và giá thành thực tế (xem sơ đồ 2)
Trang 13Sơ đồ 2: Bảng phõn loại giỏ thành sản phẩm căn cứ vào thời gian
và cơ sở số liệu
Giỏ thành kế hoạch: là giỏ thành được tớnh toỏn trờn cơ sở sản lượng kế hoạch
và chi phớ sản xuất kế hoạch
- Thời điểm: thực hiện trước khi sản xuất sản phẩm
- Tỏc dụng: giỏ thành kế hoạch là mục tiờu phấn đấu của doanh nghiệp để tiết kiệm chi phớ sản xuất và hạ giỏ thành sản phẩm
Giỏ thành định mức: được tớnh toỏn căn cứ vào định mức kinh tế kỹ thuật hiện
hành và chỉ tớnh cho một đơn vị sản phẩm
- Thời điểm: thực hiện trước khi sản xuất sản phẩm
- Tỏc dụng: Giỏ thành định mức là thước đo việc sử dụng hợp lý,tiết kiệm mọi nguồn lực của doanh nghiệp trong từng thời
kỳ nhất định Giỏ thành định mức thay đổi theo thời gian, do
sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật mà cần thiết phải xõy dựng lại giỏ thành định mức
Giỏ thành thực tế: được tớnh trờn cơ sở sản lượng sản phẩm thực tế đó hoàn
thành và chi phớ sản xuất thực tế đó phỏt sinh và tập hợp trong kỳ
- Thời điểm: thực hiện sau khi sản xuất sản phẩm
- Tỏc dụng: Giỏ thành thực tế là chỉ tiờu tụng hợp phản ỏnh kết quả phấn đấu của doanh nghiệp trong việc tiết kiệm cỏc loại
Giá thành sản phẩm
Giá thành kế
hoạch
Giá thành định mức
Giá thành thực
tế
Trang 14chi phí Giá thành thực tế còn là cơ sở để xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Căn cứ vào phạm vi các chi phí cấu thành, giá thành sản phẩm chia thành: giá thành sản xuất và giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ
(xem sơ đồ 3)
Sơ đồ 3: Bảng phân loại giá thành sản phẩm căn cứ vào phạm vi
các chi phí cấu thành, giá thành sản phẩm.
- Để ghi sổ kế toán nhập-xuất kho thành phẩm
- Để tính giá vốn của hàng bán và lãi gộp trong kỳ
Giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ (Ztoàn bộ)
Trang 15Ztoàn bộ chỉ được tính khi sản phẩm đã tiêu thụ.
Tác dụng: giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ là căn cứ để xác định lợi nhuận trước thuế của hoạt động sản xuất kinh doanh
1.3.3 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
Giống nhau: CPSX và GTSP là hai mặt biểu hiện của quá trình sản xuất kinh doanh, cùng biểu hiện bằng tiền những hao phí về lao động sống
và lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã bỏ ra
1.4 Phương pháp kế toán CPSX và tính giá thành sản phẩm.
1.4.1 Đối tượng kế toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản
phẩm tại doanh nghiệp xây lắp.
a Đối tượng kế toán chi phí sản xuất tại doanh nghiệp xây lắp.
Đối tượng kế toán chi phí sản xuất là phạm vi và giới hạn để kế toán tập hợp chi phí sản xuất theo các phạm vi và giới hạn đó
Thực chất của việc xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất là xác định nơi phát sinh chi phí (phân xưởng, bộ phận xây dựng, giai đoạn công trình…) hoặc nơi chịu chi phí (công trình hoàn thành…)
Căn cứ để xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất:
- Căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, quản lý sản xuất kinh doanh: xác định đối tượng kế toán CPSX là tổ, đội, trại…
- Căn cứ vào quy trình công nghệ sản xuất: xác định đối tượng kế toán là toàn bé quy trình xây lắp, từng giai đoạn xây dựng
- Căn cứ vào loại hình sản xuất sản phẩm: xác định đối tượng kế toán CPSX là từng công trình hoàn thành
b Đối tượng tính giá thành tại doanh nghiệp xây lắp.
Trang 16Đối tượng tính giá thành là các loại sản phẩm, công việc, lao vô doanh nghiệp đã sản xuất hoàn thành cần phải tính tổng giá thành và giá thành đơn vị.
Trong doanh nghiệp xây lắp, do tính chất sản phẩm là đơn chiếc, mỗi sản phẩm có lập dự toán riêng, đối tượng tính giá thành thường là: hạng mục công trình, công trình hoàn thành hay khối lượng công tác xây lắp hoàn thành
Kỳ tính giá thành sản phẩm xây lắp thường được chọn là thời điểm mà công trình, hạng mục công trình hoàn thành bàn giao Hàng tháng, kế toán tiến hành tập hợp chi phí sản xuất theo đối tượng tính giá thành Khi nhận được biên bản nghiệm thu bàn giao công trình hoàn thành, kế toán mới sử dụng chi phí sản xuất đã tập hợp theo từng đối tượng từ khi bắt đầu cho đến khi hoàn thành để tính giá thành và giá thành đơn vị nếu có Nh vậy, kỳ tính giá thành có thể không phù hợp với kỳ báo cáo kế toán mà phù hợp với chu
kỳ sản xuất sản phẩm Do đó, việc phản ánh và giám sát kiểm tra của kế toán đối với tình hình thực hiện kế hoạch chỉ thực sự phát huy đầy đủ tác dụng khi chu kỳ sản xuất sản phẩm đã kết thúc
Xác định đối tượng là cơ sở để kế toán lập phiếu tính giá thành sản phẩm,
tổ chức tính giá thành theo từng đối tượng, phục vụ cho việc kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, hiệu quả sản xuất kinh doanh để có kế hoạch biện pháp giảm giá thành
Việc xác định đối tượng tính giá thành sản phẩm có ý nghĩa rất quan trọng,
nó đánh giá tập hợp chi phí có chính xác và phù hợp không và nó là nền tảng cho việc kiểm tra, đánh giá hiệu quả tổ chức kinh doanh của doanh nghiệp đối với từng công trình, hạng mục công trình hay khối lượng công tác xây lắp
c Phân biệt giữa đối tượng kế toán tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành.
Giống nhau: đều là những giới hạn, phạm vi để tập hợp chi phí
Trang 17 Khác nhau: Đối tượng tập hợp chi phí có phạm vi rộng hơn đối tượng tính giá thành (vì đối tượng tập hợp chi phí là nơi phát sinh chi phí và nơi chịu chi phí còn đối tượng tính giá thành chỉ là nơi chịu chi phí)
1.4.2 Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp.
Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất kinh doanh là phương pháp thể hiện cách thức tập hợp, phân loại chi phí sản xuất kinh doanh trong một kỳ kinh doanh theo các đối tượng đã được xác định trước
Thông thường kế toán tập hợp chi phí theo hai cách:
a Phương pháp tập hợp chi phí trực tiếp:
Phương pháp này được sử dụng để tập hợp các loại chi phí có liên quan trực tiếp đến các đối tượng tập hợp chi phí đã xác định, tức là đối với các loại chi phí phát sinh liên quan đến đối tượng nào có thể xác định được trực tiếp cho đối tượng đó, chi phí phát sinh liên quan đến đối tượng nào có thể xác định trực tiếp cho đối tượng đó, chi phí phát sinh liên quan đến từng đối tượng tập hợp chi phí cụ thể đã xác định sẽ được tập hợp và quy nạp trực tiếp cho đối tượng đó
Phương pháp này yêu cầu kế toán phải tổ chức công tác hạch toán một cách tỉ mỉ từng khâu lập chứng từ ban đầu, tổ chức hệ thống tài khoản, hệ thống sổ kế toán…theo đúng các đối tượng tập hợp chi phí đã xác định, chỉ có
Trang 18như vậy mới đảm bảo các chi phí phát sinh tập hợp đúng theo các đối tượng một cách chính xác, kịp thời và đầy đủ.
b Phương pháp tập hợp và phân bổ gián tiếp:
Phương pháp này được sử dụng để tập hợp các loại chi phí gián tiếp, đó là các chi phí phát sinh liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí đã xác định mà kế toán không thể tập hợp trực tiếp các chi phí này cho từng đối tượng đó
Căn cứ vào các chi phí phát sinh kế toán tiến hành tập hợp chung các chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng theo địa điểm phát sinh hoặc nội dung chi phí Để xác định chi phí cho từng đối tượng cụ thể phải lựa chọn các tiêu chuẩn hợp lý và tiến hành phân bổ các chi phí đó cho từng đối tượng liên quan
Việc phân bổ chi phí cho từng đối tượng thường được tiến hành theo hai bước:
Bước 1: xác định hệ số phân bổ theo công thức sau:
Trong đó:
H: hệ số phân bổ chi phí
C: tổng chi phí cần phân bổ cho các đối tượng
T: tổng đại lượng tiêu chuẩn phânbổ của các đối tượng cần phân bổ chi phí
Bước 2: xác định chi phí cần phân bổ cho từng tập hợp cụ thể:
H = C
T
Trang 19Trong đó:
: phần chi phí phân bổ cho đối tượng i
: đại lượng tiêu chuẩn phân bổ dùng để phân bổ chi phí của đối tượng iTính chính xác, độ tin cậy của thông tin về chi phí phụ thuộc rất nhiều vào tính hợp lý của tiêu chuẩn phân bổ được lựa chọn Việc xác định tiêu chuẩn phân bổ chi phí có thể được xác định riêng rẽ theo từng nội dung chi phí cần phân bổ, khi đó cũng phải xác định hệ số phân bổ theo từng nội dung chi phí này hoặc cũng có thể xác định chung cho tất cả các chi phí cần phân bổ Việc xác định tiêu chuẩn phân bổ tùy thuộc vào đặc thù cụ thể của từng doanh nghiệp
1.4.3 Kế toán chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp.
Việc kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên cho phép kiểm soát các nghiệp vụ phát sinh, tại bất kỳ thời điểm nào các hoạt động nhập, xuất, tồn vật tư, hàng hóa, thành phẩm
a Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
Nội dung và quy định hạch toán:
Chi phí vật liệu trực tiếp xây lắp là những chi phí vật liệu chính , vật liệu phụ, các cấu kiện, các bộ phận kết cấu công trình, vật liệu luân chuyển tham gia cấu thành thực thể công trình xây lắp hoặc giúp cho việc thực hiện và hoàn thành khối lượng xây lắp như: sắt thép, xi măng, gạch, gỗ, cát, đá, sỏi, tấm xi măng đúc sẵn…Nó không bao gồm vật liệu, nhiên liệu sử dụng cho máy thi công và sử dụng cho đội quản lý công trình Chi phí vật liệu thường chiếm tỉ trọng lớn trong giá thành sản phẩm xây lắp
Trong hạch toán chi phí vật liệu trực tiếp ,kế toán phải tôn trọng những quy định có tính nguyên tắc sau:
Trang 20- Vật liệu sử dụng cho việc xây dựng hạng mục công trình nào thì tính trực tiếp cho hạng mục công trình đó trên cơ sở các chứng từ gốc có liên quan ,theo số lượng thực tế đã sử dụng và theo giá thực tế xuất kho.
- Cuối kỳ hoạch toán hoặc khi công trình hoàn thành phải tiến hành kiểm kê
số liệu chưa sử dụng hết ở các công trường, bộ phận sản xuất để tính số liệu thực tế đÓ sử dụng cho công trình , đồng thời phải hạch toán đúng đắn
số phế liệu thu hồi (nếu có) theo từng đối tượng công trình
- Kế toán phải sử dụng triệt để hệ thống định mức tiêu hao vật liệu áp dụng trong xây dựng cơ bản và phải tác động tích cực để không ngừng hoàn thiện hệ thống định mức đó
Tài khoản sử dụng:
KÕ toán sử dụng TK 621 “chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp” Tài khoản này được mở chi tiết cho từng công trình, hạng mục công trình, từng khối lượng xây lắp, các giai đoạn quy ước đạt điểm dừng kỹ thuật có dự toán riêng Đối với công trình lắp máy, các thiết bị do chủ đầu tư bàn giao đưa vào lắp đặt không phản ánh ở tài khoản này
Trình tự hạch toán: (xem sơ đồ 4)
b Kế toán chi phí nhân công trực tiếp.
Nội dung và quy định hạch toán:
Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm tiền lương, tiền công phải trả cho số ngày công lao động của công nhân trực tiếp thực hiện khối lượng công tác xây lắp, công nhân phục vụ xây lắp kể cả công nhân vận chuyển, bốc dỡ vật liệu trong phạm vi mặt bằng thi công và công nhân chuẩn bị, kết thúc thu dọn hiện trường thi công, không phân biệt công nhân trong danh sách hay thuê ngoài
Kế toán CPNCTT của hoạt động xây lắp, phải tôn trọng những quy định:
- Tiền lương, tiền công phải trả cho công nhân liên quan đến công trình, hạng mục công trình nào thì phải hạch toán trực tiếp cho công trình, hạng mục công trình đó trên cơ sở các chứng từ gốc về lao động và tiền lương
Trang 21Trong điều kiện sản xuất xây lắp không cho phép tính trực tiếp chi phí nhân công cho từng công trình, hạng mục công trình thì kế toán phải phân
bổ chi phí nhân công trực tiếp cho các đối tượng theo tiền lương định mức hay gia công định mức
- Các khoản trích theo lương của công nhân trực tiếp xây lắp (BHXH, BHYT, KPCĐ) được tính vào chi phí sản xuất chung của hoạt động xây lắp
Tài khoản sử dụng:
KÕ toán sử dụng TK 622 “chi phí nhân công trực tiếp” Chi phí lao động trực tiếp bao gồm cả các khoản phải trả cho lao động trực tiếp thuộc doanh nghiệp quản lý và lao động thuê ngoài theo từng loại công việc
Trình tự hạch toán: (xem sơ đồ 4)
c Kế toán chi phí sử dụng máy thi công
Nội dung và quy định hạch toán:
Máy thi công là các loại máy chạy bằng động lực (điện, xăng dầu, khí nén…) được sử dụng trực tiếp để thi công xây lắp các công trình như: máy trộn bê tông, cần cẩu, máy đào xúc đất, máy ủi, máy đóng cọc, ô tô vận chuyển đất đá ở công trường…Các loại phương tiện thi công này doanh nghiệp có thể tự trang bị hoặc thuê ngoài
Chi phí sử dụng máy thi công là toàn bộ các chi phí về vật liệu, nhân công
và các chi phí khác có liên quan đến sử dụng máy thi công và được chia thành
2 loại: chi phí thường xuyên và chi phí tạm thời
Chi phí thường xuyên: là những chi phí phát sinh trong quy trình sử dụng máy
thi công, được tính thẳng vào giá thành của ca máy như: tiền lương của công nhân trực tiếp điều khiển hay phục vụ xe (máy), chi phí về nhiên liệu, động lực, vật liệu dùng cho xe (máy) thi công, khấu hao và sửa chữa thường xuyên
xe (máy) thi công, tiền thuê xe máy thi công…
Chi phí tạm thời: là những chi phí phải phân bổ dần theo thời gian sử dụng
máy thi công như: chi phí tháo lắp, vận chuyển, chạy thử máy thi công khi di
Trang 22chuyển từ công trình này tới công trình khác, chi phí về xây dựng, tháo dỡ những công trình tạm thời loại nhỏ như lều lán…phục vụ cho sử dụng máy thi công Những chi phí này có thể phân bổ dần hoặc trích trước theo kế hoạch cho nhiều kỳ.
Kế toán chi phí sử dụng máy thi công cần phải tôn trọng những quy định:
- Hạch toán chi phí sử dụng máy thi công phù hợp với hình thức quản lý, sử dụng máy thi công của doanh nghiệp Có 2 hình thức quản lý sử dụng máy thi công: Tổ chức đội máy thi công riêng biệt chuyên thực hiện các khối lượng thi công bằng máy hoặc giao máy thi công cho các đội, xí nghiệp xây lắp
Nếu doanh nghiệp giao máy thi công cho các đội, xí nghiệp xây lắp sử dụng thì chi phí sử dụng máy phát sinh được hạch toán vào TK 623 “chi phí sử dụng máy thi công”
Nếu doanh nghiệp xây lắp tổ chức đội máy thi công riêng biệt thì tùy thuộc vào đội máy có tổ chức kế toán riêng hay không mà chi phí sử dụng máy thi công được hạch toán phù hợp
- Tính toán phân bổ chi phí sử dụng máy thi công cho các đối tượng sử dụng (công trình, hạng mục công trình) phải dựa trên cơ sở giá thành 1giờ/máy hoặc giá thành 1ca/máy hoặc 1 đơn vị khối lượng công việc thi công bằng máy hoàn thành
Tài khoản kế toán sử dụng:
Kế toán sử dụng TK 623 “chi phí sử dụng máy thi công” để hạch toán chi phí sử dụng máy thi công đối với trường hợp doanh nghiệp thực hiện xây lắp công trình theo phương thức thi công hỗn hợp vừa thi công thủ công vừa thi công bằng máy Không hạch toán vào tài khoản này các khoản trích nộp theo lương (BHXH, BHYT, KPCĐ) của công nhân sử dụng máy thi công
TK 623 có 6 TK cấp 2:
- TK 6231- chi phí nhân công
- TK 6232- chi phí vật liệu
Trang 23- TK 6233- chi phí dụng cụ
- TK 6234- chi phí khấu hao máy thi công
- TK 6237- chi phí dịch vụ mua ngoài
- TK 6238- chi phí bằng tiền khác
Trình tự hạch toán: (xem sơ đồ 4)
d Kế toán chi phí sản xuất chung của hoạt động xây lắp.
Nội dung và quy định hạch toán:
Chi phí sản xuất chung của hoạt động xây lắp là những chi phí có liên quan đến việc tổ chức, phục vụ và quản lý thi công của các đội xây lắp ở các công trường xây dựng Chi phí sản xuất chung là chi phí tổng hợp bao gồm nhiều khoản chi phí khác nhau thường có mối quan hệ gián tiếp với các đối tượng xây lắp như: tiền lương nhân viên quản lý đội xây dựng, khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ được tính theo tỷ lệ quy định trên tiền lương của công nhân trực tiếp xây lắp, công nhân sử dụng máy thi công và nhân viên quản lý đội( thuộc biên chế quản lý của doanh nghiệp), khấu hao TCSĐ dùng cho hoạt động của đội và những chi phí khác liên quan đến hoạt động chung của đội xây lắp
Kế toán CPSXC cần tôn trọng những quy định sau:
- Phải tổ chức hạch toán chi phí sản xuất chung theo từng công trình, hạng mục công trình đồng thời phải chi tiết theo các điều khoản quy định
- Thường xuyên kiểm tra tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất chung
- Khi thực hiện khoán chi phí sản xuất chung cho các đội xây dựng thì phải quản lý tốt chi phí đã giao khoán, từ chối không thanh toán cho các đội nhận khoán số chi phí sản xuất chung ngoài dự toán, bất hợp lý
- Trường hợp chi phí sản xuất chung có liên quan đến nhiều đối tượng xây lắp khác nhau, kế toán phải tiến hành phân bổ chi phí sản xuất chung cho các đối tượng có liên quan theo tiêu thức hợp lý như : chi phí nhân công trực tiếp hoặc chi phí sản xuất chung theo dự toán
Tài khoản sử dụng:
Kế toán sử dụng TK 627 “chi phí sản xuất chung”
Tài khoản này không có số dư và có 6 tài khoản cấp 2:
TK 6271- chi phí nhân viên đội sản xuất
TK 6272- chi phí vật liệu
Trang 24TK 6273- chi phí dụng cụ sản xuất
TK 6274- chi phí khấu hao TSCĐ
TK 6277- chi phí dịch vụ mua ngoài
TK 6278- chi phí bằng tiền khác
Trình tự hạch toán (xem sơ đồ 4)
e Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất toàn doanh nghiệp
Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất để tính giá thành sản phẩm xây lắp thường được tiến hành vào cuối kỳ kế toán hoặc khi công trình hoàn thành toàn bộ, trên cơ sở các bảng tính toán phân bổ chi phí vật liệu, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công và chi phí sản xuất chung cho các đối tượng tập hợp chi phí đã được xác định Việc tổng hợp chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm xây lắp phải thực hiện theo từng công trình, hạng mục công trình và theo các khoản mục chi phí đã quy định
Tài khoản kế toán sử dụng: TK 154 “chi phí sản xuất kinh doanh dở dang”
để tổng hợp chi phí sản xuất phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm xây lắp, lao vô trong các doanh nghiệp xây lắp Tài khoản này mở cho từng công trình, hạng mục công trình xây lắp, các giai đoạn công việc của hạng mục công trình và theo từng nơi phát sinh chi phí Tài khoản 154 có 4 tài khoản cấp hai:
TK 1541: xây lắp
TK 1542: sản phẩm khác
TK 1543: dịch vụ
TK 1544: chi phí bảo hành xây lắp
Để có cái nhìn khái quát về toàn bộ công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp hạch toán hàng
tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên xem sơ đồ 4:
Trang 261.4.4 Phương pháp tính giá thành sản phẩm
a Đánh giá sản phẩm xây lắp dở dang trong doanh nghiệp xây lắp.
Các sản phẩm xây lắp thường có thời gian thi công lâu có công trình từ 5 năm đến 10 năm nên nắm được giá thành của sản phẩm xây lắp tại các kỳ hạch toán, định kỳ doanh nghiệp phải tiến hành kiểm kê khối lượng công việc đang làm dở hay cả đối với công trình đã hoàn thành Chất lượng của công tác kiểm kê khối lượng của công tác xây lắp dở dang có ảnh hưởng lớn đến tính chính xác của việc đánh giá sản phẩm làm dở dang và tính giá thành
Việc đánh giá sản phẩm xây lắp dở dang cuối kỳ phụ thuộc vào phương thức thanh toán giữa bên giao thầu với bên nhận thầu và tùy thuộc vào đối tượng tính giá thành mà DNXL đã xác định, kế toán có thể xác định giá trị sản phẩm xây lắp dở dang cuối kỳ như sau:
- Nếu quy định thanh toán khi công trình, hạng mục công trình hoàn thành toàn bộ và DNXL xác định đối tượng tính giá thành là công trình, hạng mục công trình hoàn thành, thì chi phí sản xuất tính cho sản phẩm xây lắp dở dang cuối kỳ là tổng chi phí sản xuất xây lắp phát sinh lũy
kế từ khi khởi công đến cuối kỳ báo cáo mà công trình, hạng mục công trình chưa hoàn thành
- Nếu quy định thanh toán khi có khối lượng công việc hay giai đoạn xây lắp đạt đến điểm dừng kỹ thuật hợp lý có giá trị dự toán riêng hoàn thành, đồng thời DNXL xác định đối tượng tính giá thành là khối lượng công việc hay giai đoạn xây lắp đạt đến điểm dừng kỹ thuật hợp lý và
có giá trị dự toán riêng hoàn thành Trong trường hợp này sản phẩm xây lắp dở dang là khối lượng công việc hay giai đoạn xây lắp chưa hoàn thành Do vậy, chi phí sản xuất tính cho sản phẩm xây lắp dở dang cuối kỳ được tính toán trên cơ sở phân bổ chi phí xây lắp thực tế
đã phát sinh cho các khối lượng hay giai đoạn xây lắp đã hoàn thành và chưa hoàn thành trên cở sở tiêu thức phân bổ là giá trị dự toán hay chi
Trang 27phí dự toán Trong đó, các khối lượng hay giai đoạn xây lắp dở dang có thể được tính theo mức độ hoàn thành.
Chi phí thực tế của khối lượng hay giai đoạn xây lắp dở dang cuối kỳ được xác định nh sau:
Trong đó:
Cdck: chi phí thực tế của khối lượng hay giai đoạn xây lắp dở dang cuối kỳ.Cdđk: chi phí thực tế của khối lượng hay giai đoạn xây lắp dở dang đầu kỳ.Ctk: chi phí xây lắp thực tế phát sinh trong kỳ
Chtdt: chi phí (hay giấ trị) của khối lượng hay giai đoạn xây lắp hoàn thành trong kỳ theo dự toán
C’ckdt: chi phí (hay giá trị) của khối lượng xây lắp dở dang cuối kỳ theo dự toán tính theo mức độ hoàn thành
b Phương pháp tính giá thành sản phẩm
Phương pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp là phương pháp sử dụng số liệu về chi phí sản xuất để tính toán ra tổng giá thành thực tế của sản phẩm, công trình hạng mục công trình hoàn thành theo yếu tố hoặc khoản mục giá thành trong kỳ tính giá thành đã xác định Trong các doanh nghiệp xây lắp thường áp dụng các phương pháp tính giá thành sau:
Phương pháp giá thành giản đơn(hay phương pháp trực tiếp)
Phương pháp này được áp dụng trong các doanh nghiệp xây lắp có công trình, giai đoạn công việc Ýt nhưng có khối lượng lớn, chu kỳ sản xuất tương đối ngắn, không có hoặc chỉ có Ýt sản phẩm dở dang
Z = Dđk + C – Dck
Trong đó:
Z: tổng giá thành sản phẩm xây lắp hoàn thành bàn giao
Trang 28Dđk: giỏ trị thực tế sản phẩm xõy lắp dở dang đầu kỳ
C: chi phớ thực tế phỏt sinh trong kỳ
Dck: giỏ trị thực tế sản phẩm xõy lắp dở dang cuối kỳ
Phương phỏp tớnh giỏ thành theo đơn đặt hàng
Phương phỏp này thớch hợp khi thực hiện cỏc cụng trỡnh, giai đoạn cụng việc phức tạp, và được ỏp dụng với cỏc doanh nghiệp nhận thầu xõy lắp theo đơn đặt hàng Khi bắt đầu khởi cụng một cụng trỡnh theo đơn đặt hàng, bộ phận kế toỏn mở ra một bảng chi tiết tớnh riờng cỏc chi phớ sản xuất theo từng khoản mục giỏ thành
Trong hạch toỏn hàng ngày, cỏc chi phớ sản xuất cơ bản được căn cứ trực tiếp từ cỏc chứng từ gốc ghi trực tiếp vào từng đơn đặt hàng Cỏc chi phớ giỏn tiếp, chi phớ chung thường được tập hợp theo từng nơi phỏt sinh ra chi phớ đú, sau đú định kỳ sẽ phõn bổ vào giỏ thành của đơn đặt hàng cú liờn quan theo một tiờu chuẩn nhất định Tổng giỏ thành của mỗi đơn đặt hàng được xỏc định sau khi mỗi đơn đặt hàng này được hoàn thành xong Việc định giỏ thành nh vậykhụng định kỳ, kỳ tớnh giỏ thành nhất trớ với chu kỳ sản xuất nhưng khụng nhất trớ với kỳ bỏo cỏo
Sau khi đơn đặt hàng đó hoàn thành, cỏc đối tượng kế toỏn làm giấy bỏo hoàn thành, lập biờn bản nghiệm thu cụng trỡnh hoặc biờn bản đỏnh giỏ cụng trỡnh dở dang, bộ phận kế toỏn tiến hành tớnh giỏ thành của đơn đặt hàng đó hoàn thành
Phương phỏp tớnh giỏ thành theo định mức
Giỏ thành được xỏc định theo cụng thức:
+
Chênh lệch thoát ly định mức
Chênh lệch thay đổi
định mức
Trang 29Để vận dụng phương phỏp này một cỏch cú hiệu quả đũi hỏi quy trỡnh sản xuất của doanh nghiệp đó định hỡnh và sản phẩm đó đi vào sản xuất ổn định, cỏc loại định mức về vật tư, lao động, cú căn cứ kỹ thuật hợp lý, chế độ quản
lý theo định mức đó kiện toàn ở tất cả cỏc khõu, đội xõy dựng, cỏc bộ phận chức năng quản lý đó đi vào nề nếp, trỡnh độ tổ chức và nghiệp vụ kế toỏn chi phớ sản xuất và tớnh giỏ thành sản phẩm tương đối vững vàng Đặc biệt cụng tỏc hạch toỏn ban đầu cú sự chỉ đạo chặt chẽ từ giỏm đốc đến phũng ban, tổ đội sản xuất, cỏc cỏn bộ cụng nhõn viờn
Phương phỏp tiến hành nh sau:
- Căn cứ vào cỏc định mức kinh tế kỹ thuật hiện hành để tớnh giỏ thành định mức của sản phẩm
- Xỏc định số chờnh lệch do thay đổi định mức, khi cú sự thay đổi về định mức cần cú sự tớnh toỏn lại giỏ thành định mức Việc tớnh toỏn thay đổi định mức thường được tiến hành vào đầu thỏng nờn việc tớnh toỏn số chờnh lệch do thay đổi định mức chỉ cần thực hiện đối với`sản phẩm dở đầu kỳ, về chi phớ tớnh cho sản phẩm làm dở đầu kỳ là theo định mức cũ Số chờnh lệch do thay đổi định mức bằng định mức cũ trừ
đi (-) định mức mới
- Xỏc định số chờnh lệch do thoỏt ly định mức: chờnh lệch do thoỏt ly định mức là chờnh lệch tiết kiệm hoặc vượt chi Việc xỏc định chờnh lệch do thoỏt ly định mức được xỏc định nh sau:
Sau cựng khi đó tớnh toỏn được giỏ thành định mức, chờnh lệch do thay đổi định mức và thoỏt ly định mức, sẽ tớnh được giỏ thành thực tế của sản phẩm
Chênh lệch do
thoát ly định mức =
Chi phí thực tế (theo từng KM) +
Chi phí định mức (theo từng KM)
Trang 30 Ngoài những phương pháp tính giá thành kể trên còn có phương pháp tính giá thành theo phân bước, tuy nhiên phương pháp này không áp dụng để tính giá thành trong doanh nghiệp xây lắp.
Điều kiện áp dụng: phương pháp này được áp dụng đối với doanh nghiệp
có đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất phức tạp kiểu liên tục, sản phẩm phải trải qua nhiều giai đoạn chế biến kế tiếp nhau, NTP đã hoàn thành ở giai đoạn trước lại là đối tượng tiếp tục chế biến ở bước sau
Các phương pháp tính giá theo phân bước:
- Phương pháp tính giá thành phân bước có tính nửa thành phẩm
- Phương pháp tính giá thành phân bước không tính giá thành nửa thành phẩm (phương pháp kết chuyển song song)
Trang 31CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM Ở CÔNG TY CP ĐT & PT
XD THĂNG LONG.
2.1 Khái quát chung về Công ty CPĐT & PTXD Thăng Long.
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty.
Công ty CPĐT & PTXD THĂNG LONG thuộc cơ sở kế hoạch đầu tư Hà Nội Công ty được thành lập năm 2000 theo số đăng ký kinh doanh
0110300143 ngày 9/11/2000 của UBND Thành Phố Hà Nội được mang tên là Công ty CPĐT & PTXD THĂNG LONG
Tên giao dịch: “ THANG LONG CONSTRUE DEVELOPMENTAND INVESTMENT JOIN STOCK COMPANY “
Trụ sở chính tại: Số 74 - Khu cầu lớn – Nam Hồng - Đông Anh – Hà Nội.Công ty dưới sự góp vốn của 3 cổ đông:
- Ông : Lê Văn Tuấn
- Sản xuất và lắp dựng các lọai cấu kiện thép xây dựng và giao thông
- Trang trí nội – ngoại thất công trình
- Xây đường dây và trạm điện đến 35KW
- Kinh doanh nội địa, sản xuất và buôn bán vật liệu xây dựng
- Buôn bán tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng ( chủ yếu là máy móc thi công xây dựng,phương tiện vận tải ô tô, xe máy, điện, điện tử, điện lạnh, tin học )
- dịch vụ ăn uống giải khát, vui chơi giải trí
- Vận tải hàng hóa, vận chuyển khách hàng
Trang 32Hiện nay toàn Công ty có tổng đội ngũ cán bộ công nhân viên là 280 người Trong đó lao động trực tiếp là 250 người chiếm 90%, lao động gián tiếp là 30 người chiếm 10%.
Trình độ văn hóa:
- Đại học: 20 người
- Cao đẳng : 7 người
- Trung cấp: 3 người
- Công nhân kỹ thuật : 30 người
- Công nhân lao động: 220 người
Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của đội ngũ cán bộ quản lý, cùng đội ngũ kỹ thuật giỏi, nhiều kinh nghiệm và công nhân lành nghề dùng trang thiết bị máy thi công hiện đại và đạt hiệu quả cao trong quá trình thi công
- Địa điểm thuận lợi cho sản xuất kinh doanh
- Văn phòng mới, được đầu tư rộng rãi, đảm bảo điều kiện cho sản xuất
và phát triển
- Trang thiết bị, máy móc mới, đầy đủ và đáp ứng được yêu cầu sản xuất
- Đội ngũ lãnh đạo và nhân viên, công nhân viên đã có kinh nghiệm tạo được uy tín trong lĩnh vực xây dựng
Trước đây, Công ty chỉ chủ yếu nhận những công trình dân dụng ( xây dựng nhà dân ) Nhưng trong những năm gần đây, Công ty còn nhận những công trình phức tạp hơn, yêu cầu kỹ thuậ cao hơn như: làm đường, các tòa nhà cao tầng…
Hiện nay, tổng số vốn của công ty là 9.900.000.000 đồng
Trang 33Công ty CPĐT & PTXD THĂNG LONG là một công ty cổ phần kinh doanh độc lập thuộc sở kế hoạch và đầu tư Hà Nội Công ty chuyên xây dựng những công trình : nhà máy công nghiệp, giao thông thủy lợi, xây lắp mặt bằng sản xuất, lắp dựng cấu kiện thép để phục vụ xây dựng, trang trí nội thất công trình, xây dựng đường dây và trạm điện 35KW
- Tuân thủ các chính sách, chế độ và pháp luật kinh tế về quản lí kinh tế
và tài chính và các chính sách khác
- Thực hiện đúng trách nhiệm vật chất với những cam kết trong hợp đồng giao nhận thầu xây lắp với chủ đầu tư
- Tổ chức đảm bảo xây dựng, đảm bảo kho tàng bến bãi đúng tiêu chuẩn
để tiếp nhận bảo quản NVL, tránh lưu kho giảm chi phí lưu thông
- Thực hiện tốt chính sách chế độ quản lý kinh tế bảo vệ NVL và tài chính lao động, tiền lương….do Công ty quản lý Phải làm tốt công tác phân phối lao động đảm bảo công bằng xã hội, đào tạo và bồi dưỡng không ngừng nâng cao cán bộ, chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần cho cán bộ trong công ty
- Làm tốt công tác bảo hộ lao động và an toàn lao động, trật tự xã hội, bảo vệ môi trường, tài sản và an ninh chung
2.1.3 Đặc điểm hoạt động sản xuất – kinh doanh của công ty:
Trang 34- Hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty được thực hiện trên cơ sở các hợp đồng đã ký với đơn vị chủ đầu tư sau khi trúng thầu hoặc được chỉ định nhận thầu.
- Trong hợp đồng hai bên đã thống nhất với nhau về giá trị thanh toán của công trình cùng với các điều kiện khác, do vậy tính chất hàng hóa của sản phẩm xây lắp không được thể hiện rõ, nghiệp vụ bàn giao công trình, hạng mục công trình hoặc khối lượng xây lắp hoàn thành đạt điểm dừng kỹ thuật cho bên giao thầu chính là quy trình tiêu thụ sản phẩm xây lắp
- Công ty đang trong giai đoạn đầu tư mở rộng và đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh nên cơ cấu vốn góp và số vốn đăng ký lại sẽ thay đổi theo số thực góp
2.1.4 Tổ chức bộ máy quản lí hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.
Là mét doanh nghiệp tư nhân Công ty CPĐT & PTXD Thăng Long đã tổ chức quản lý một cấp Công ty CPĐT & PTXD Thăng Long đứng đầu là ban
giám đốc chỉ đạo trực tiếp doanh nghiệp (xem sơ đồ 5)
Sơ đồ 5 : Tổ chức bộ máy quản lý ở Công Ty CPĐT & PTXD Thăng
Long.
Phßng kü thuËtPhßng kÕ ho¹ch
Trang 35Công ty CPĐT & PTXD Thăng Long tổ chức công tác quản lý các công trình khá hợp lý Để phát huy vai trò cao nhất của bộ máy quản lý oanh nghiệp đã tích giải một bộ phận dư thừa ở các phòng ban, tổ chức lại lao động phù hợp với đặc điểm yêu cầu quản lý của công ty.
Toàn bộ hồ sơ dự thầu điều chỉnh sự chỉ đạo thống nhất của Ban giám đốc chịu trách nhiệm về mọi mặt sản xuất kinh doanh và đời sống của cán bộ công nhân viên trong toàn công ty
Phòng tổ chức hành chính: có nhiệm vụ thực hiện chính sách của Đảng và
Nhà nước đối với từng cán bộ công nhân viên Tổ chức bộ máy quản lý bồi dưỡng nâng cao tay nghề cho công nhân, tổ chức sử dụng vật tư, nguồn vốn, lao động tiền lương một cách hợp lý, thúc đẩy tăng cường năng suất lao động nhằm hoàn thiện các yêu cầu đề ra Nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân viên ở công ty
Phòng tổ chức thi công: thực hiện các hợp đồng kinh tế và kiểm tra tình hình
thực hiện các hợp đồng kinh tế lập kế hoạch thi công công trình, kế hoạch cung ứng vật tư, kế hoạch lao động, thiết bị phục vụ thi công Hàng tháng, quý, năm báo cáo lãnh đạo về tình hình thi công công trình của công ty Tình hình thực hiện kế hoạch tháng, quý, năm cùng với phòng kỹ thuật, phòng tài chính kế toán theo dõi tiến độ thi công công trình
Phòng tài chính kế toán: Quản lý toàn bộ nguồn vốn của công ty Thực hiện
tốt việc ghi chép, tính toán, báo cáo sổ sách sao cho có hiệu quả kinh tế cao
Trang 36trong sản xuất Đề xuất ý kiến giúp ban giám đốc có biện pháp kịp thời chỉ đạo các công trình thi công và cung cấp thông tin tài chính, kinh tế một cách thường xuyên Thực hiện tốt với mọi nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước thông qua chính sách thuế và thực hiện tốt nhu cầu của bộ công nhân viên trong công ty.
Phòng kỹ thuật: Tiến hành nhận hồ sơ thiết kế của các chủ đầu tư, kiểm tra
một số thiết kế trước khi thi công công trình cùng chủ đầu tư thiết kế, giao nhận mặt bằng thống nhất khối lượng phát sinh (nếu có) giám sát thiết kế tại công trường cùng với phòng kế hoạch tổ chức thi công, lập biện pháp thi công công trình Lãnh đạo Công ty xem xét, ký duyệt phối hợp với các phòng ban chức năng, các bộ phận thi công hòan chỉnh hồ sơ thi công, hồ sơ nghiệm thu với các phòng ban chức năng, các bộ phận thi công hoàn chỉnh hồ sơ thi công,
hồ sơ nghiệm thu với các phòng ban chức năng, các bộ phận thi công hoàn chỉnh hồ sơ thi công, hồ sơ nghiệm thu công trình hoàn thành Thường xuyên báo cáo với lãnh đạo về khối lượng chất lượng công trình đang thi công công trình đã hoàn thành trước khi quyết đoán
2.1.5 Tổ chức sản xuất tại công ty:
Công ty CPĐT & PTXD Thăng Long sản phẩm xây lắp mang những đặc điểm riêng nh tính đơn chiếc Kết cấu sản phẩm đa dạng, phức tạp, giá trị sản phẩm lớn, thời gian xây dựng dài Do vậy mà quá trình tổ chức xây lắp được tiến hành ngoài trời, phụ thuộc nhiều vào địa chất, thuỷ văn, khí hậu nơi xây
dựng công trình (xem sơ đồ 6).
Trang 37Sơ đồ tổ chức sản xuất tại hiện trường được tổ chức theo cơ cấu chỉ đạo trực tiếp tham mưu Ban Chỉ huy công trường chỉ đạo trực tiếp các đội thi công
Ban chỉ huy công trường được sự tham mưu của một nhóm các cán bộ trợ
lý về kỹ thuật, tài chính, vật tư
- Ban chỉ huy công trường quan hệ trực tiếp với giám sát kỹ thuật A cùng với nhóm giám sát kỹ thuật nội bộ chỉ đạo các đội thi công đảm bảo cho công trình đạt chất lượng cao
- Ban chỉ huy công trường chỉ đạo quản lý tài chính công trường cùng quan hệ với phòng tài vụ lo đủ vốn cho cung cấp vật tư công trình
- Bộ phận vật tư quan hệ với lực lượng xe máy ngoài hiện trường để đảm bảo cung cấp vật tư kịp thời theo tiến độ thi công của công trường
2.1.6 Tình hình tài chính của Công ty.
a Tình hình nguồn vốn của Công ty:
Thực trạng cơ cấu vốn trong các doanh nghiệp nói chung và của Công
ty CPĐT & PTXD Thăng Long nói riêng là đi vay từ các tổ chức tài chính chiếm tỉ trọng lớn trong cơ cấu vốn Nguồn vốn ngân sách và nguồn vốn tự bổ sung còn rất khiêm tốn, chưa tận dụng được số vốn nhàn rỗi Hiện nay Công
ty CPĐT & PTXD Thăng Long chủ yếu bổ sung vốn lưu động để kinh doanh, việc mua sắm tài sản cố định, máy móc chưa đáng kể, chỉ chăm lo nhu cầu trước mắt mà chưa có kế hoạch lâu dài
Trang 38trong sản xuất, lớn mạnh cả số lượng lẫn chất lượng tạo tiền đề cho việc nâng cao chất lượng sản phẩm.
Hiện tại mức thu nhập bình quân của người lao động là khoảng 3.500.000đ/ tháng Ngoài tiền lương người lao động còn có thêm một số khoản phụ nh thưởng, và một số khoản phụ cấp khác Do vậy người lao động cũng tạm ổn định được cuộc sống
c Tình hình máy móc thiết bị, công nghệ.
Trong quá trình sản xuất Công ty CPĐT & PTXD Thăng Long luôn coi trọng công tác nghiên cứu, đổi mới và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quá trình thi công Trong những năm qua, Công ty đã đầu tư hàng chục tỷ đồng để mua sắm máy móc thiết bị phục vụ thi công Nhờ đó Công ty có điều kiện tăng năng xuất lao động và tăng sức cạnh tranh Nhằm không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu cấp thiết của cơ chế thị trường Tuy nhiên trong điều kiện thiếu vốn, nên việc đầu tư chưa được đồng
bộ ngay một lúc Hiện nay Công ty chỉ mua sắm được một số máy móc chính phục vụ cho quá trình thi công
d Tình hình thu mua nguyên vật liệu.
Công ty CPĐT & PTXD Thăng Long, sản phẩm nhiều chủng loại vì vậy NVL chủ yếu là Gạch, cát, đá, sỏi, xi măng, sắt thép … ngoài ra còn có một số chất vật liệu phụ khác
Về khâu bảo quản: Do NVL của dễ bị hao hụt vì vậy muốn khỏi hao hụt chủ yếu là phải kiểm kê số lượng thường xuyên liên tục.Kiểm tra kỹ càng trước khi nhập kho và phải được trông coi thường xuyên, liên tục
Về việc xuất dùng NVL Công ty có kế hoạch cho từng tháng một, thường xuất dùng vào đầu kỳ và theo định mức có sẵn, hàng ngày theo rõi sát sao tiến độ và kỹ thuật để cuối kỳ sản phẩm không bị kém chất lượng
Trang 392.2 Cơ cấu Tổ chức bộ máy kế toán và hình thức ghi sổ.
2.2.1 Hình thức tổ chức bộ máy kế toán:
Hình thức tổ chức bộ máy kế toán: Do đặc điểm tình hình tổ chức sả xuất kinh doanh của Công ty là DN có quy mô vừa công tác kế toán được tập trung tại Phòng kế toán tài vụ Vì vậy hình thức tổ chức kế toán mà Công ty
áp dụng là hình thức tập trung Hình thức này tạo sự thống nhất đối với công tác kế toán Kiểm tra sử lý và cung cấp thông tin một cách kịp thời, đảm bảo
sự lãnh đạo tập trung thống nhất của kế toán trưởng cũng như sự chỉ đạo kịp thời của lãnh đạo Công ty Ngoài ra hình thức nàycòn thuận tiện cho việc phân công công việc và nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, công nhân viên kế toán thực hiện dễ dàng cũng như việc ứng dụng trang thiết
- Kế toán thanh toán công nợ, thuế;
- Kế toán tài sản cố định, tiền lương và kiêm thủ quỹ;
- Kế toán tiền mặt, tiền gửi Ngân hàng
Chức năng, nhiệm vụ của cán bé kế toán:
- Kế toán trưởng: là người phụ trách chung có nhiệm vụ tổng hợp mọi vấn
đề liên quan đến tài chính kế toán của Công ty, ghi chép phản ánh lập báo cáo tài chính Cung cấo các thông tin tài chính kế toán một cách thường xuyên cho giám đốc Công ty Là người chịu trách nhiệm chính trong toàn bộ tài chính kế toán của công ty
Trang 40- Kế toán vật tư: Có nhiệm vụ mở sổ chi tiết theo dõi và tập hợp tình hình Nhập – xuất – tồn kho từng loại vật tư như: NVL chính, NVL phụ… và tình hình thanh toán đối với từng đối tượng cung cấp vật tư
- Kế toán thanh toán công nợ, thuế: Chịu trách nhiệm cùng kế toán trưởng lo huy động vốn từ Ngân hàng và căn cứ nguồn khác phục vụ sản xuất công ty
- Kế toán tài sản cố định, tiền lương và kiêm thủ quỹ: Có nhiệm vụ trích khấu hao TSCĐ hàng tháng , quý, năm Tính lương cho cán bộ công nhân viên làm việc ở các bộ phận gián tiếp tại công ty, lập bảng tổng hợp tiền lương làm cơ sở tính lương và giá thành Trích lập các khoản tính theo lương của toàn công nhân Kiêm thủ quỹ có nhiệm vụ thu – chi bảo quản tiền mặt tại quỹ Thường xuyên đối chiếu kiểm tra tiền mặt của công ty nhằm phát hiện kịp thời các hiện tượng chênh lệch sổ sách để có biện pháp sửa chữa một cách hợp lý và chính xác Việc thu chi tiền mặt do thủ quỹ thanh toán khi có chứng
từ hoá đơn của kế toán trưởng và bộ phận khác yêu cầu có sự ký duyệt của giám đốc công ty và kế toán trưởng
- Kế toán tiền mặt, tiền gửi Ngân hàng: có chức năng lập các phiếu thu – phiếu chi bằng tiền mặt hay séc phát sinh trong ngày của công ty Theo dõi tình hình lưu chuyển tiền số tiền hiện có và ngoài ra còn theo dõi hạch toán tiền lương, nộp bảo hiểm xã hội
Tổ chức bộ máy kế toán thực hiện hợp lý và hiệu quả (xem sơ đồ 7)