1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thị trường tác phẩm hội họa việt nam từ năm 1986 đến nay (the painting market in vietnam from 1986 to present)

240 23 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 240
Dung lượng 8,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỮNG KẾT LUẬN MỚI CỦA LUẬN ÁN Khẳng định hội họa và hoạt động thị trường hội họa sớm xuất hiện tại Việt Nam và nhu cầu thụ hưởng họa phẩm trong công chúng ở Việt Nam là không hề nhỏ. Làm rõ mối quan hệ của nghệ thuật tiền bạc và những tác động của bản quyền tác giả đối với thị trường tác phẩm hội họa, đến đời sống của chủ thể sáng tạo và các chủ thể khác có liên quan trong hoạt động thị trường. Những bất cập trong quan hệ của đào tạo nguồn nhân lực; của khâu trung gian tham gia vào hoạt động thị trường và tác động đến sự phát triển thị trường tác phẩm hội họa dưới góc nhìn theo quy luật cung cầu của kinh tế học. Tác động của internet, toàn cầu hóa, công nghiệp 4.0 đến hoạt động sáng tác, thị trường tác phẩm hội họa và Chiến lược phát triển các ngành CNVH Việt Nam. Vai trò của cơ quan quản lý, thiết chế mỹ thuật đối với sự phát triển của thị trường tác phẩm hội họa ở Việt Nam. Luận án là công trình nghiên cứu khoa học tổng thể, chuyên sâu, có giá trị lý luận cũng như thực tiễn về thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam. Trên cơ sở trải nghiệm thực tế, nghiên cứu phát hiện mới của cá nhân và sử dụng những mảnh ghép từ những công trình của người tiền nhiệm, kết nối tạo thành một tổng thể nghiên cứu liền mạch về thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam.

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận án Tiến sĩ Quản lý văn hóa Thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam từ năm 1986 đến nay là công trình nghiên cứu khoa học của riêng

tôi Các tài liệu được trích dẫn trong luận án là trung thực, có nguồn gốc và xuất

xứ rõ ràng Các kết quả nghiên cứu của luận án chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Hà Nội, ngày tháng năm 2021

Nghiên cứu sinh

Đỗ Quốc Việt

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN …… ……….……… i

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN ……….……… iii

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG ……….………… iv

MỞ ĐẦU ……… 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN ……….……… ……… 9

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu ……… ………… 9

1.2 Tổng quan về đối tượng nghiên cứu ……… 23

1.3 Cơ sở lý luận ……….… ……….……… 35

Tiểu kết ……… 57

Chương 2 THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TÁC PHẨM HỘI HỌA ……… 60

2.1 Người họa sĩ trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường ….… 60 2.2 Thị trường tác phẩm hội họa ……… 74

2.3 Người tiêu thụ tác phẩm hội họa ……… 89

2.4 Thành tố tác động thị trường tác phẩm hội họa: bản quyền ……… …… 106

Tiểu kết ……… … 119

Chương 3 PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TÁC PHẨM HỘI HỌA, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP 121

3.1 Định hướng ……… 121

3.2 Giải pháp ……….……….……… ………… 128

Tiểu kết 171

KẾT LUẬN ……… ………….……… 173

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ ……… 177

TÀI LIỆU THAM KHẢO ……….… ……… 178

PHỤ LỤC ……… ……… ……… 189

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

Brasil, Nga (Russia), Ấn độ (Indian)

và Trung quốc (China) Công nghiệp văn hóa Chủ nghĩa xã hội Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương

Hà Nội

MTĐD

MTNATL

Mỹ thuật Đông Dương

Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm

NCPBMT Nghiên cứu phê bình mỹ thuật

Sở hữu trí tuệ Tp.HCM

VHTTDL Văn hóa, Thể thao và Du lịch

WIPO Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới

Trang 6

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG

Sơ đồ 1.1 Mô hình diễn biến thị trường tác phẩm hội họa trước năm 1986 tại

Việt Nam

Sơ đồ 1.2 Mô hình diễn biến thị trường tác phẩm hội họa từ sau năm 1986 đến

nay tại Việt Nam

Bảng 2.1 Đồ thị phân bố hội viên Hội MTVN ở Việt Nam

Bảng 2.2 Đồ thị diễn biến thay đổi về số lượng gallery/phòng tranh tại Hà

Nội, Tp.HCM, phố cổ Hội An - Quảng Nam và các tỉnh thành phố khác trong phạm vi cả nước (các năm 1986, 1996, 2006, 2016 và 2020)

Bảng 2.3 Đồ thị chỉ số thống kê việc đăng ký bản quyền tác phẩm mỹ thuật và

mỹ thuật ứng dụng ở Việt Nam (3 năm từ 2006 - 2008 và 5 năm từ

2015 - 2019)

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thị trường tác phẩm hội họa là một hiện tượng xã hội văn hóa nhưng một

khái niệm chung nhất có thể hiểu là nơi chuyển giao quyền sở hữu tác phẩm hội họa

và các hoạt động dịch vụ có liên quan nhằm thỏa mãn nhu cầu của hai bên cung và cầu về tác phẩm hội họa theo các quy định pháp luật Phát triển thị trường văn hóa nghệ thuật, trong đó có hội họa, là nhu cầu cấp thiết, đồng thời cũng là xu hướng tất yếu để góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

và hội nhập quốc tế Hiện nay, Việt Nam xếp hạng 42 trên tổng số 131 nền kinh tế được đánh giá trong Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII - Global Innovation Index) nhưng Việt Nam vẫn chưa có một thị trường tác phẩm hội họa phát triển một cách lành mạnh, đúng với tiềm năng khi yếu tố bản quyền tác phẩm được đề cao và vai trò quản lý của cơ quan QLNN trong hoạch định cơ chế, chính sách được phát huy

Mùa thu 1925, Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (École des Beaux Arts de l’Indochine) khai giảng khóa đầu tiên với ba chuyên ngành: Hội họa, Điêu khắc và Kiến trúc, chuyên ngành Hội họa có nhiều người theo học nhất và từ đó đã xuất hiện những hoạt động sáng tác, trưng bày giới thiệu, bán, mua những tác phẩm tạo hình hiện đại (chủ yếu là hội họa) Tuy chưa thực sự đầy đủ nhưng vẫn có thể coi đó là tiền đề của thị trường tác phẩm mỹ thuật nói chung hay thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam nói riêng Kể từ khi khai mở và kết thúc sau 20 năm tồn tại, cái tên “Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương” hay gọi tắt là “Mỹ thuật Đông Dương” mà sau này trở thành thương hiệu hoặc gắn với sự chuẩn mực khi nói đến những nghệ danh, nghệ phẩm tạo hình Việt Nam hiện đại Kể từ sự kết thúc đó, cùng với những năm tháng khốc liệt của các cuộc chiến tranh ở Việt Nam, hoạt động công khai của thị trường này gần như đứt mạch Phải đợi tới nửa thế kỷ sau, đến những năm 90, khi Đổi Mới đi vào đời sống xã hội, “hoạt động triển lãm trong nước cũng như giao lưu quốc tế ngày một sôi động Các gallery tự do phát triển, hình thành nên thị trường nghệ thuật ngay tại Việt Nam” [121, tr.9] Một thị trường hội họa non trẻ diễn triển trong sự tự phát, đã có lúc tưng bừng, nhộn nhịp nhưng sau lại mờ nhạt, trì trệ rồi suy thoái cho đến ngày nay Nhiều yếu tố được xác định

-là nguyên nhân, nhưng đa phần đều cho rằng đó -là vấn đề quan trọng về bản quyền, họa sĩ, công chúng và những nhà sưu tầm ngoại, nội địa

Trang 8

Theo Fracis Gurry (2008) Thông điệp của Tổng giám đốc WIPO năm 2008,

“Các quyền sở hữu trí tuệ đã giúp nuôi dưỡng và mở đường cho sức sáng tạo, làm cho nó trở thành động lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội”

Vũ Ngọc Hoan (2009) Một số ý kiến về bảo hộ quyền tác phẩm mỹ thuật tại Việt Nam cho rằng, “sở hữu trí tuệ là một trong những yếu tố tiên quyết cho phát triển

sáng tạo, góp phần thúc đẩy sự phát triển mọi mặt của đời sống văn hóa, xã hội, đồng thời là động lực phát triển kinh tế tại mỗi quốc gia” Tuy nhiên, những điều đó còn khá xa rời với thực tế ở nước ta, đặc biệt là bản quyền tác giả tác phẩm hội họa

35 năm đã qua kể từ khi đất nước Đổi Mới, 15 năm Luật SHTT có hiệu lực, Việt

Nam từ một nước nghèo nàn lạc hậu nay vào nhóm 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới nhưng chưa có được đột phá đáng kể về diện cũng như về chất để mang lại hiệu quả tích cực cho thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam Thị trường này tiếp tục duy trì tình trạng bất ổn, không ít bán tín bán nghi bởi một diện mạo méo mó xuất hiện từ nhiều thập kỷ về trước khi tình trạng thật - giả lẫn lộn do dữ liệu thông tin về tác giả, tác phẩm khó kiểm chứng và còn nhiều những lý do khác nên việc bán - mua vẫn sơ khai, chưa chuyên nghiệp, phần nhiều dựa vào niềm tin, những thỏa thuận cá nhân với nhau, chấp nhận may rủi, thuế thu nộp ngân sách nhà nước chưa đúng với thực tế trong khi vai trò của cơ quan quản lý mờ nhạt Mặc dù, thị trường này ở khu vực và trên thế giới đã phát triển đạt tới đỉnh cao Chợ mỹ thuật, nhà đấu giá mỹ thuật ở một số thành phố lớn đã biến nơi đó thành trung tâm mỹ thuật uy tín, trở thành thương hiệu là nơi cung cấp những sản phẩm mỹ thuật, tác phẩm hội họa đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng trên toàn thế giới và đồng thời tạo cũng tạo thành chuỗi cung ứng dịch vụ phụ trợ đem lại nhiều việc làm, những giá trị lợi ích khổng

lồ trong sự phát triển kinh tế xanh từ hoạt động giao thương nghệ thuật như thế Tác phẩm hội họa Việt Nam đã đóng góp vào chuỗi giá trị đó

NCS nghiên cứu thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1986 đến nay vì giai đoạn này nền mỹ thuật và thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam có rất nhiều biến đổi Ở mỗi thị trường mỹ thuật không chỉ Việt Nam, tác phẩm hội họa luôn là thành phần chính yếu, mang tính kiến tạo, dẫn dắt tạo nên thị trường Thị trường tác phẩm hội họa ở Hà Nội là phần quan trọng nhất của thị trường tác phẩm hội họa tại Việt Nam Hà Nội là nơi đầu tiên ở Việt Nam xuất hiện các tác phẩm hội họa do những họa sĩ người Việt có danh sáng tác, được trưng bày

Trang 9

giới thiệu cùng với hoạt động bán - mua, tiền đề hình thành thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam hiện đại Từ dữ liệu trong những lần trao đổi phỏng vấn họa sĩ, người bán, v.v những chuyến công tác, khảo sát, điền dã ở một số trung tâm mỹ thuật khác ngoài Hà Nội như Tp.HCM, Hội An, thành phố Huế, Singapore, Hồng Kông, v.v của NCS được sử dụng để cập nhật, bổ sung một cách đầy đủ hơn những vấn đề lớn để có thể làm rõ thêm những nghiên cứu về diện mạo của thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam Thị trường tác phẩm hội họa được hoàn thiện sẽ trở thành thị trường đúng nghĩa, có uy tín, thương hiệu khi yếu tố tiên quyết như bản quyền được

đề cao, cơ sở dữ liệu thông tin được kiểm chứng minh bạch, truyền thông hoạt động tích cực, quyền và nghĩa vụ thuế được thực hiện đầy đủ, v.v thì thị trường này sẽ là một trong yếu tố quan trọng góp phần hiệu quả cho thành công của Chiến lược phát triển các ngành CNVH, quảng bá hình ảnh Việt Nam ra quốc tế

Với vị trí công tác và hoạt động nghề nghiệp của NCS trong thời gian qua ở các lĩnh vực: giáo dục đào tạo mỹ thuật, báo chí và công tác QLNN lĩnh vực mỹ thuật, nghệ thuật, đồng thời là hoạ sĩ sáng tác, người tư vấn giới thiệu mua bán tác phẩm mỹ thuật Từ trải nghiệm thực tế của mình, NCS nhận thấy cần có những nghiên cứu mang tính chất tổng hợp, nhân học thực địa, điều tra, thu thập dữ liệu chi tiết, chính xác trên cơ sở tiếp cận khách quan từ nhiều nguồn, nhiều giác độ khác nhau để có những đánh giá, đề xuất những giải pháp nhằm mục đích phát triển

thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam Do đó, tác giả lựa chọn đề tài: Thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam từ năm 1986 đến nay làm luận án Tiến sĩ Quản lý Văn

hóa

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích tổng quát: Luận án đề xuất một số quan điểm, giải pháp góp phần

hoàn thiện nội dung QLNN, thúc đẩy phát triển thị trường một cách bền vững, để thay đổi tạo ra cấu trúc vận hành mới tác động tích cực đến thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam

Mục đích cụ thể: Để thực hiện được mục tiêu tổng quát trên cần thực hiện

các mục tiêu cụ thể sau:

- Luận án phân tích các công trình đã nghiên cứu liên quan đến luận án; đánh giá khách quan những vấn đề đã nghiên cứu, vấn đề tiếp tục nghiên cứu

Trang 10

- Hệ thống hóa những vấn đề về cơ sở thị trường tác phẩm hội họa tại Việt Nam

- Phân tích thực trạng vấn đề thị trường tác phẩm hội họa tại Việt Nam

- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện cơ chế chính sách QLNN có liên quan tới hoạt động thị trường tác phẩm hội họa tại Việt Nam trong thời gian tới

- Các giải pháp phát triển thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam trong Chiến lược phát triển các ngành CNVH và Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận án có các nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, khảo sát các công trình nghiên cứu trong nước và nước ngoài liên

quan đến thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam

Thứ hai, làm rõ cơ sở lý luận về thị trường tác phẩm hội họa tại Việt Nam;

phân tích kinh nghiệm của các nước trên thế giới, từ đó rút ra giá trị tham khảo cho Việt Nam trong lĩnh vực thị trường tác phẩm hội họa tại Việt Nam

Thứ ba, phân tích thực tiễn thị trường tác phẩm hội họa tại Việt Nam từ năm

1986 đến nay

Thứ tư, đề xuất quan điểm và giải pháp hoàn thiện chính sách QLNN về thị

trường tác phẩm hội họa tại Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Tìm hiểu thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam qua một số tác giả, tác phẩm có tham gia vào hoạt động thị trường và so sánh, đối chiếu với một số thông tin từ những nghiên cứu, hoạt động gallery, đấu giá, v.v

- Đối tượng nghiên cứu của Luận án là vấn đề của thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam, tác phẩm hội họa của các họa sĩ MTĐD và một số tác động có ảnh hưởng nhiều nhất tới thị trường tác phẩm hội họa của các họa sĩ hiện đại sau thế hệ

các họa sĩ MTĐD trong thời gian từ năm 1986 đến nay dưới góc nhìn đa diện trong

công tác quản lý văn hóa

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: Luận án nghiên cứu thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam,

sự thay đổi từ giá trị, giá cả một số tác phẩm hội họa của họa sĩ MTĐD khi tham gia vào thị trường, trên sàn đấu giá công khai ở các cuộc đấu giá của những nhà đấu giá

Trang 11

lớn trên thế giới, tác động của vấn đề về tác quyền đối với thị trường, kinh nghiệm một số nước khác trên thế giới trong việc phát triển thị trường mỹ thuật, hội họa

Luận án không nghiên cứu thị trường cổ vật, tranh tượng dân gian, sản phẩm thủ công mỹ nghệ; tác phẩm đồ họa, điêu khắc, tượng đài, tranh hoành tráng; sản phẩm mỹ thuật ứng dụng và những hình thức nghệ thuật thị giác khác có liên quan tới hoạt động mỹ thuật mà tập trung nghiên cứu về thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam

Về thời gian: Luận án nghiên cứu trọng tâm về Thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam từ năm 1986 đến nay

Về nội dung: Luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận về thị trường tác phẩm

hội họa, tác động của tác quyền tác phẩm đối với thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam Vai trò QLNN trong việc hoạch định chính sách, định hướng, điều tiết mang ý nghĩa quyết định sự phát triển bền vững, lành mạnh và thịnh vượng các hoạt động thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam

Luận án nghiên cứu quan điểm, giải pháp nâng cao hiệu quả và tăng cường công tác quản lý nhà nước để phát triển thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam

4 Câu hỏi nghiên cứu

Từ “khoảng trống” của các công trình nghiên cứu liên quan, NCS xác định các câu hỏi nghiên cứu của luận án bao gồm:

1) Thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam có từ bao giờ?

2) Từ sau Đổi Mới thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam đã vận hành như thế nào và để phát triển thị trường một cách lành mạnh, bền vững, CNVH trong tương lai sẽ phải khắc phục và giải quyết được những khó khăn gì? 3) Giải pháp nào để nâng cao vai trò của cơ quan QLNN trong việc phát triển thị trường tác phẩm hội họa một cách bền vững và lành mạnh ở Việt Nam?

5 Giả thuyết nghiên cứu

Trên cơ sở nhận thức về lý luận và các khảo sát, luận án sẽ thu thập, xử lý thông tin nhằm kiểm chứng giả thuyết sau:

Thị trường tác phẩm hội họa ở Việt Nam được điều chỉnh phát triển một cách lành mạnh, các quy định, chính sách được hoàn thiện, hội nhập quốc tế góp phần thực hiện hiệu quả trong việc quảng bá văn hóa, xây dựng hình ảnh quốc gia, đóng góp ngày càng lớn vào phát triển kinh tế, đạt và vượt mục tiêu đề ra trong Chiến lược CNVH

Trang 12

6 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

6.1 Cách tiếp cận

- Cách tiếp cận tổng hợp về mối quan hệ dân sự và pháp lý giữa người họa sĩ, người tiếp nhận, người tiêu dùng - khách hàng, người thực thi bản quyền và bảo hộ bản quyền tác phẩm hội họa Việt Nam

- Cách tiếp cận khoa học quản lý văn hóa - nghệ thuật

- Cách tiếp cận nghiên cứu tài liệu (các công trình nghiên cứu về mỹ thuật, tác phẩm hội họa Việt Nam, về thị trường và bản quyền tác giả, v.v.)

6.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích - tổng hợp nhằm làm rõ vai trò của người sáng tạo tác phẩm hội họa Việt Nam, nhà đầu tư môi giới tác phẩm hội họa, người tiêu dùng - khách hàng, việc hình thành thị trường và thực thi bản quyền, bảo hộ bản quyền tác phẩm hội họa trong thực tiễn ở Việt Nam

- Phương pháp định tính và định lượng, điều tra, khảo sát, phỏng vấn chuyên gia thực tế trên địa bàn về thị trường và thực thi bản quyền tác giả tác phẩm hội họa

- Phương pháp phỏng vấn sâu, trực tiếp phỏng vấn các nhà quản lý, họa sĩ vẽ sáng tác tranh hội họa, nhà nghiên cứu phê bình mỹ thuật và khách hàng mua tác phẩm hội họa, cũng như là việc thực thi quyền SHTT tác phẩm hội họa

- Các phương pháp liên ngành, khảo sát thực tế, quan sát, tham dự, thống kê, phân tích so sánh

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

Đáp ứng những quan tâm, trăn trở và nhu cầu thực tiễn, NCS chọn thị trường tác phẩm hội họa, một thị trường nhiều tiềm năng và đầy rẫy những thách thức như hiện nay, một phần tiêu biểu của thị trường mỹ thuật hiện đại để nghiên cứu nhằm mục đích góp phần xây dựng và phát triển thị trường văn hóa Việt Nam

Trang 13

Kết quả nghiên cứu của Luận án là những bổ sung quan trọng vào sự phát

triển của lý luận về thị trường tác phẩm hội họa tại Việt Nam

Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong công tác QLNN, giám định, thẩm định, đầu tư, đấu giá tác phẩm hội họa, nghiên cứu lịch sử hội họa Việt Nam, giảng dạy và học tập chuyên ngành, v.v trong hệ thống các viện, học viện, làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy các lớp đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa nghệ thuật, mỹ thuật

Một là, Luận án làm sáng tỏ và sâu sắc thêm những vấn đề lý luận về thị

trường tác phẩm hội họa tại Việt Nam Luận án đưa ra một số khái niệm và kết luận mang tính khoa học, góp phần hoàn thiện lý luận về thị trường tác phẩm hội họa tại Việt Nam, chuyên ngành Quản lý Văn hóa

Hai là, Luận án tập trung nghiên cứu thị trường và một số tác động của việc

thực thi bản quyền tác phẩm hội họa ở trách nhiệm, vai trò của người sáng tạo - họa

sĩ, nhà nghiên cứu phê bình mỹ thuật, nhà đầu tư môi giới, nhà sưu tập, khách hàng

ở góc độ là các bên tham gia thị trường

Ba là, Luận án làm rõ nội dung liên quan đến thị trường tác phẩm hội họa tại

Việt Nam; Nghiên cứu kinh nghiệm trong việc phát triển thị trường tác phẩm hội họa của một số nước đã thành công trên thế giới làm giá trị tham khảo cho việc hoạch định cơ chế, chính sách về thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam

7.2 Ý nghĩa thực tiễn

Một là, Luận án góp phần thay đổi nhận thức và hành vi trong quá trình sáng

tác, sở hữu và buôn bán, trao đổi các tác phẩm hội họa

Hai là, Luận án đề xuất các giải pháp hoàn thiện nâng cao hiệu quả trong

công tác quản lý, thực thi hiệu quả vấn đề bản quyền tác phẩm hội để tạo ra thói quen tiêu dùng trong công chúng không tiếp nhận những tác phẩm hội họa không rõ nguồn gốc xuất xứ, nộp thuế cho nhà nước Từ đó ngăn ngừa, hạn chế được nạn làm giả, làm nhái xâm hại bản quyền tác phẩm hội họa Khôi phục niềm tin của công chúng đồng thời xây dựng, quảng bá thương hiệu tạo lập lại niềm tin đầu tư đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam

Ba là, Luận án đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện thị trường tác

phẩm hội họa tại Việt Nam phù hợp với thông lệ quốc tế trên cơ sở pháp lý đồng bộ,

Trang 14

đầy đủ, đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn; làm cơ sở cho việc hoàn thiện hơn các quy định về hoạt động thị trường tác phẩm hội họa tại Việt Nam

Bốn là, Luận án là công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu, có giá trị về

lý luận cũng như thực tiễn, là cơ sở để phát triển các nghiên cứu tiếp theo

Chương 2 Thực trạng thị trường tác phẩm hội họa (60 trang)

Chương 3 Phát triển thị trường tác phẩm hội họa, định hướng và giải pháp

(50 trang)

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Các công trình nghiên cứu

1.1.1.1 Các công trình nghiên cứu trong nước

Thị trường tác phẩm mỹ thuật nói chung và thị trường tác phẩm hội họa nói riêng cũng như bất kỳ một lĩnh vực hoạt động kinh tế nào, để có sự phát triển bền vững thì không thể tách rời với những nghiên cứu khoa học Thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam phát triển bền vững, lành mạnh, đúng nghĩa, phát huy hết tiềm năng sẽ tạo ra một vị thế xứng đáng trong nền CNVH nước nhà, khi những nghiên cứu là liên kết và thể hiện được vai trò của nền tảng cơ sở, chỗ dựa vững chắc cho thị trường này

Những công trình nghiên cứu về mỹ thuật trong đó có đề cập một cách trực diện hay gián tiếp hoặc liên quan tới hội họa Việt Nam có số lượng không nhỏ và tồn tại ở nhiều nguồn lưu trữ với những định dạng khác nhau Tài liệu NCS đã tiếp cận tại các nguồn lưu trữ như Thư viện quốc gia Việt Nam, Nhà xuất bản Mỹ thuật, thư viện của Bảo tàng mỹ thuật, v.v và thư viện ấn phẩm định dạng số trên môi trường intenet để sử dụng cho việc nghiên cứu thực hiện Luận án Sẽ không thể tuyệt đối chính xác về số lượng và phân loại những công trình nghiên cứu MTVN

đã được công bố, xuất bản bởi một số nguyên nhân khách quan, chủ quan khác nhau nhưng những công trình NCS tổng hợp và đề cập sau đây sẽ là những nghiên cứu cơ bản đại diện trong số đó Tuy nhiều công trình không đề cập trực diện, tập trung tới thị trường tác phẩm hội họa, khi phân loại theo nội dung sẽ không hoàn toàn thuộc trọng tâm nghiên cứu nhưng những dữ liệu đó giúp NCS làm nên tổng quan chung

để tìm ra những bất cập làm sáng tỏ những diện nghiên cứu của luận án Những công trình NCS đã sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo và trình bày theo phân loại nội dung gồm:

- Lịch sử mỹ thuật cổ Việt Nam là những công trình nghiên cứu về tiến trình phát triển của mỹ thuật dưới thời nhà nước quân chủ qua những công trình kiến

trúc, điêu khắc, v.v có 78 công trình của các tác giả như: Nguyễn Phi Hoanh (1970) Lược sử Mỹ thuật Việt Nam [45]; Nguyễn Đức Nùng (chủ biên) (1978) Mỹ thuật

Trang 16

thời Lê Sơ [68]; Nguyễn Quân, Phan Cẩm Thượng (1989) Mỹ thuật của người Việt [75]; Chu Quang Trứ (2001) Mỹ thuật Lý - Trần mỹ thuật Phật giáo [103]; Trịnh Quang Vũ (2002) Lược sử Mỹ thuật Việt Nam [119], v.v Những công trình này có

không nhiều nội dung liên quan trực tiếp tới hội họa và thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam hiện đại ngoài những liên quan khi phân tích về thuộc tính dân tộc học, v.v., của một số họa sĩ sử dụng những mô típ truyền thống trong sáng tạo để chạm tới những miền cảm xúc riêng của người tiếp nhận và trở thành những tác phẩm hội họa hiện đại Việt Nam có giá bán cao trên thị trường

- Mỹ thuật dân gian trong dạng thức tranh có 21 công trình khá phổ biến, phần lớn nghiên cứu theo chuyên đề về tranh dân gian Việt Nam Đó là những dòng

tranh khắc gỗ tô màu của một số tác giả như: Phan Ngọc Khuê (1995) Tranh thờ đạo giáo Việt Nam [55]; Maurice Durand (1960, dịch và giới thiệu: Nguyễn Thị Hiệp, Olivier Tessier, tái bản 2017) Tranh dân gian Việt Nam [59]; Nguyễn Thị Thu Hòa và cộng sự (2018) Dòng tranh dân gian Kim Hoàng [47], v.v Cũng như

những công trình nghiên cứu về mỹ thuật cổ, những công trình nghiên cứu về mỹ thuật dân gian có nội dung chủ yếu đề cập tới những bức tranh mang tính tôn giáo xuất hiện nhiều địa phương của nước ta, đặc biệt ở vùng cao Việt Nam, của tác giả Phan Ngọc Khuê, hay những tranh dân gian khắc gỗ tô màu, tranh Tết, v.v đã trở nên quen thuộc và thường được nhắc đến như những chợ tranh đầu tiên có trong tiềm thức của nhiều người dân Việt Nam của tác giả Chu Quang Trứ, v.v Phần lớn những công trình của chuyên đề này ít đề cập thẳng tới những vấn đề về hội họa, thị trường tác phẩm hội họa một cách cụ thể trùng khớp với nội dung nghiên cứu của NCS nhưng đây đều là những công trình đã được nhiều họa sĩ thành danh nghiên cứu vận dụng một cách sáng tạo trong những tác phẩm hội họa, góp phần làm giàu thêm bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc và tạo nên thành công của họ

- Lịch sử MTVN hiện đại có số lượng chưa nhiều so với những tác động tới

xã hội kể từ khi mỹ thuật hiện đại Việt Nam xuất hiện Những công trình nghiên cứu về tiến trình phát triển của MTVN hiện đại chủ yếu được xuất bản và công bố qua hình thức xuất bản phẩm chủ yếu là sách in Hội họa hiện đại được quan tâm và

đề cập nhiều hơn điêu khắc và đồ họa, ngược lại với những công trình nghiên cứu

mỹ thuật cổ nhưng những vấn đề về thị trường vẫn không dễ bắt gặp trong những

công trình này 34 công trình của các tác giả như: Trần Khánh Chương (2012) Mỹ

Trang 17

thuật Hà Nội thế kỷ XX [14]; Nguyễn Hải Yến (2013) Hội hoạ Hà Nội những ký ức còn lại [121]; Quang Phòng, Quang Việt (2015) Trường Mỹ thuật Đông Dương lịch

sử và nghệ thuật [71], v.v cung cấp khá bao quát dữ liệu lịch sử với những ghi chép

về đời sống, hoạt động mỹ thuật của họa sĩ và một số sáng tác tiêu biểu của họ nhưng cũng ít đề cập tới vấn đề về thị trường Lịch sử mỹ thuật nhìn từ góc độ thị trường chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt của các nhà nghiên cứu trong nước nên chưa có được những dữ liệu liền mạch, sâu sắc về thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam mà chỉ là những mảnh ghép mỏng và rời rạc do việc bán, giá bán tranh của người họa sĩ luôn là những vấn đề riêng tư ít được cởi mở

- Kỹ năng, kỹ thuật chuyên môn về sáng tác, thực hành nghệ thuật hội họa có nhiều công trình nghiên cứu đã được công bố, xuất bản nhiều hơn đồ họa và điêu khắc nhưng nhìn chung số lượng còn chưa nhiều Một số tác giả tiêu biểu có công trình đã được phổ biến đến công chúng trong thời gian qua như: Đặng Ngọc Trân

(2000) Cấu trúc hội họa [101]; Phạm Đức Cường (2003) Kỹ thuật sơn mài [27]; Nguyễn Quân (2006) Ngôn ngữ của hình và màu sắc [77]; Nguyễn Đình Đăng (2018) Kỹ thuật vẽ sơn dầu [35], v.v Đây là những công trình nghiên cứu có nội

dung đề cập tới vấn đề chuyên môn sâu, gắn với hoạt động đào tạo, giảng dạy hội họa, kỹ năng nghề nghiệp, thực hành sáng tạo, v.v., nhưng lại ánh xạ ở góc nhìn khác của sản phẩm sáng tạo của người họa sĩ khi tham gia hoạt động thị trường nên rất cần thiết cho việc nâng cao kiến thức hỗ trợ cho những đối tượng liên quan ở lĩnh vực khác như người quản lý, truyền thông, thụ hưởng, v.v trong việc xây dựng chính sách, quảng bá giới thiệu, nhận định đánh giá về tranh thật, giả, v.v có trong phần phân tích ở chương sau của Luận án Ngoài ra còn có những nghiên cứu, giáo trình phục vụ cho công tác đào tạo, giảng, dạy mỹ thuật chuyên môn ở các bậc học phổ thông và các trường nghề có số lượng khá lớn được nhiều tác giả biên soạn thành sách xuất bản trong thời gian qua lại không thuộc phạm vi NCS nghiên cứu

- Vựng tập tranh theo chuyên đề được in theo dạng thức tổng hợp, thống kê

để giới thiệu những tác phẩm hội họa tiêu biểu thuộc các bộ sưu tập hoặc là tác phẩm đã được chọn tham dự các kỳ triển lãm mỹ thuật được tổ chức tại Việt Nam,

ra nước ngoài, v.v được biên tập, chọn lọc để xuất bản và phổ biến bởi các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ VHTTDL, Hội MTVN, v.v có số

lượng 84 cuốn như: Tuyển tập Mỹ thuật Việt Nam thế kỷ XX [9]; Mỹ thuật Việt Nam

Trang 18

hiện đại [105]; 70 năm Mỹ thuật Việt Nam (1945-2015) [48], Tuyển tập mỹ thuật Việt Nam thế kỷ 20; 20 năm Mỹ thuật Việt Nam thời kỳ đổi mới 1986-2006 [115], v.v Nhìn chung, những ấn phẩm này (trừ một số ấn phẩm của Bảo tàng MTVN)

thường không dành nhiều không gian cho phần lý luận, nghiên cứu phê bình cũng như phân tích, đánh giá, v.v mà thường sau lời mở hay giới thiệu chủ yếu là phần ảnh chụp tranh có kèm theo thông tin trích lược ngắn gọn về tác giả, tác phẩm Tương tự như vậy, nhiều tổ chức, cá nhân tự thực hiện việc biên tập xuất bản và phổ biến vựng tập tranh theo nhu cầu của mình, số lượng đến nay trên thực tế là rất

nhiều (NCS có 38 cuốn sách in) như: Lưu Công Nhân (1995) Lưu Công Nhân [64]; Uyên Huy (2011) Một thoáng cái tôi [51]; Phạm Luận (2014) Phạm Luận [58]; Tạ Quang Bạo (2014) Điêu khắc Tạ Quang Bạo [6], v.v Mặc dù phần nghiên cứu, lý

luận hay phê bình hay miêu tả chi tiết, quá trình sáng tạo tác phẩm trong những công trình này không nhiều nhưng những cuốn sách tranh này lại đáp ứng được một

số những yếu tố quan trọng khi ở môi trường khác mà những người thực hiện chúng ban đầu cũng không hoàn toàn tính đến khi xuất bản Ví dụ, yếu tố lịch sử, yếu tố bản quyền, v.v Những công trình này đã không chỉ có chức năng phổ biến như đem tác phẩm hội họa đến gần với công chúng hơn, v.v mà còn là chỗ dựa đáng tin cậy, được xem như là thành phần hồ sơ quan trọng khi cần so sánh, đối chiếu, xem xét như yếu tố cơ sở làm căn cứ xác định tính chân bản của tác phẩm hội họa trong nhiều lĩnh vực hoạt động, đặc biệt là hoạt động giao thương Vì những lý do như vậy, sách của một tác giả, nhóm tác giả đã nổi tiếng hoặc bộ sưu tập có tranh đạt giá trị cao trên thị trường được tổ chức, cá nhân nhà sưu tập hay người mua đầu tư tranh, v.v đặt hàng, thuê biên tập để thực hiện cho nhiều mục đích của người sở hữu gần đây xuất hiện nhiều hơn (25 cuốn) Phần lớn trong số sách đó được thực hiện theo cách làm chuyên nghiệp, có hình thức đẹp, lý lịch tranh do người sở hữu cung cấp, gắn với môi trường lịch sử cùng một vài câu chuyện, có cả những chuyện chưa được kiểm chứng In sách, hồ sơ hóa qua những xuất bản phẩm sẽ gây dựng niềm tin, một phần nhờ uy tín của người viết hay biên tập và áp dụng “đi mãi thì cũng thành đường” là phương thức hữu hiệu làm cho quen, dẫn đến thừa nhận từng bước các tranh, tượng mà họ đang sở hữu hoặc có được từ những chuyển nhượng sang tay từ người này sang người kia Những tập hợp tranh từ nhiều năm trước đây, cũng như từ nhiều nguồn khác nhau nay bỗng nhiên lại có lý lịch rõ ràng bằng cách

Trang 19

nêu trên và để củng cố niềm tin cho người mua khi người bán dẫn chứng ảnh, bài viết về tranh đã được in ở sách này, sách kia Những tranh, tượng đó trước đây do hoàn cảnh lịch sử chiến tranh, đời sống khó khăn, do không có thói quen tư liệu, v.v nên chủ yếu không có lý lịch nghệ thuật, cũng có rất ít căn cứ pháp lý liên quan, những giấy tờ để minh xác khi cần tới cũng khó mà có được nên một chút thông tin rời rạc hay uy tín của người viết, biên tập cũng trở nên quý giá cho những mục đích giao dịch, chuyển nhượng sau này Cách làm này dần trở nên bài bản hơn và cũng

có đem lại hiệu quả Vì thế mà những cuốn sách thực hiện theo cách thức này đã

dần xuất hiện nhiều hơn trên tủ sách mỹ thuật Việt Nam ngày nay như: Sưu tập Trần Hậu Tuấn [109]; Hội họa Việt Nam một diện mạo khác [93]; Tạ Tỵ dấu ấn sáng tạo [36], v.v Những nghiên cứu khoa học phụ thuộc rất nhiều việc nghiên cứu tài liệu

lưu trữ, trong đó có tài liệu in ấn dưới dạng xuất bản phẩm, coi đó như một điểm tựa

để làm căn cứ trích dẫn thì nay sẽ điều chỉnh khi ngày càng có nhiều ấn phẩm có những mục đích khác như vậy Đặc biệt khi nhiều vấn đề dữ liệu, thông tin cá nhân

về họa sĩ, tác phẩm của họ chưa thực sự thuyết phục và được làm sáng tỏ tạo nên những quan ngại về tình minh bạch của hội họa Việt Nam hiện đại trên thị trường sẽ được phân tích ở rõ hơn ở phần sau của luận án Một số cuốn sách sau khi xuất bản

đã gây nên tranh cãi, bị thân nhân họa sĩ yêu cầu cải chính hay đình chỉ phát hành vì thiếu tính chính xác hay có nội dung được cho là chưa hoặc không đúng sự thật

như: Tạ Tỵ dấu ấn sáng tạo [36], Họa sĩ khóa kháng chiến [99], v.v

- Nghiên cứu, phê bình luôn là vấn đề khó nên những công trình mang tính chất nghiên cứu chuyên sâu về học thuật hội họa không chỉ cần thiết cho việc đào tạo, học tập, sáng tác, v.v có số lượng ít (ước khoảng 3%), chưa nói đến nội dung, chất lượng nên ngoài những kỷ yếu có nội dung được tập hợp từ những tham luận tại hội thảo, những tạp chí chuyên ngành xuất bản theo định kỳ thì loại sách này ít phổ biến trên thị trường Vì vậy, Phạm Quang Trung, một người làm NCPBMT cũng đặt ra câu hỏi: “Tại sao hoạt động Mỹ thuật phê bình yếu kém, phải chăng là

sự bất cập của hệ thống nghiên cứu, giảng dạy trước những biến đổi phong phú của đời sống Mỹ thuật hiện nay?” [102, tr.14] Nguyên nhân đã được nhiều ý kiến nêu

ra tại các hội nghị, hội thảo tổ chức công khai trong đó có số lượng, chất lượng của các phê bình còn quá nhiều bất cập nhưng nhận định chung là chưa sớm cải thiện được để tương xứng với sự phát triển của mỹ thuật Mặc dù, khóa đầu tiên của

Trang 20

trường Đại học MTVN đào tạo chuyên khoa về lĩnh vực này đã cách đây gần nửa

thế kỷ (1978) nhưng những cuốn sách như: Nguyễn Đỗ Cung (1993) Bàn về mỹ thuật Việt Nam [22]; Thái Bá Vân (1998) Tiếp xúc với nghệ thuật [113]; Nguyễn Quân (2010) Mỹ thuật Việt Nam thế kỷ 20 [78]; Bùi Như Hương và Phạm Trung (2013) Nghệ thuật đương đại Việt Nam 1990 - 2010 [52], v.v vẫn chưa trải đủ diện

rộng cho nhu cầu nghiên cứu hiện tại Ngoài ra, sách biên dịch lại của các tác giả

nước ngoài là ít ỏi với một số tác giả như: Nguyễn Phi Hoanh biên dịch (1978) Một

số nền mỹ thuật thế giới [46]; Sam Hunter (Năng An dịch, 1998) Những trào lưu lớn của Nghệ thuật tạo hình hiện đại [81]; Cynthia Freeland (Nguyễn Như Huy dịch, 2009) Thế mà là nghệ thuật ư? [28]; Sarah Thornton (Nguyễn Như Huy dịch, 2016) Bảy ngày trong thế giới nghệ thuật [84], v.v Vì vậy, theo NCS thị trường tác phẩm

hội họa Việt Nam phát triển như hiện nay cũng có một phần nguyên nhân từ hoạt động NCPBMT như đã nêu trên

- Tạp chí đăng công trình dễ dàng hơn việc xuất bản công trình dưới dạng sách nghiên cứu có cùng một nội dung khó với nhiều góc nhìn chuyên môn, kiến thức tổng hợp về nghệ thuật và kinh tế như thị trường tranh Việt Nam nên phần lớn những nhà nghiên cứu là họa sĩ, các nhà NCPBMT, v.v đã chọn phương cách này

để thực hiện Trước năm 1975, một số tạp chí về văn hóa, văn nghệ ở cả hai miền Bắc - Nam Việt Nam đều có những công trình nghiên cứu, giới thiệu về mỹ thuật,

hội họa Việt Nam hiện đại Ở miền Nam, Tạp chí Sáng tạo, Giai phẩm Bách khoa Văn nghệ, Hiện đại, v.v tiêu biểu là Tạp chí Sáng tạo (1956-1961) xuất bản khá

đều đặn hằng tháng, thường xuyên đăng tải các công trình nghiên cứu, phê bình và giới thiệu hoạt động mỹ thuật, chủ yếu là hội họa của các họa sĩ khu vực phía Nam với một số tác giả như: Thái Tuấn (1956), “Một vài nhận xét về nghệ thuật hội họa” [110]; Trường Giang (1957), “Qua các cuộc triển lãm ở Sài Gòn” [40]; Tô Thùy Yên (1958), “Để phục hồi hội họa” [120]; Thạch Chương (1960), “Giới thiệu một

nhận thức siêu thực về nghệ thuật” [16], v.v Ở miền Bắc, Tạp chí Văn nghệ, Văn nghệ quân đội, v.v thường xuyên in tranh của một số họa sĩ nhưng không có nhiều

công trình nghiên cứu về mỹ thuật như Trong khoảng 20 năm trở lại đây, trên một

số tạp chí, đặc san chuyên ngành về mỹ thuật bao gồm cả hai hình thức in và điện tử

đã đăng tải hàng trăm công trình nghiên cứu về thị trường tác phẩm hội họa cùng với những vấn đề có liên quan đề cập trực diện, thông qua một số góc nhìn khác

Trang 21

nhau, v.v Tuy nhiên, rất nhiều trong số những công trình nghiên cứu đã được đăng tải đó chỉ dừng lại ở mức độ như đưa tin như trên báo do thiếu tính nghiên cứu chuyên sâu, nhận định đánh giá về mặt học thuật, v.v., ngoại trừ một số lượng nhỏ

là các công trình của những nhà NCPBMT chuyên nghiệp Nhìn chung những công trình nghiên cứu đó ít phát hiện mới, giá trị nghiên cứu khoa học cũng chưa nhiều, chưa đề xuất những giải pháp để có thể áp dụng một cách hiệu quả cho công tác quản lý cũng như xây dựng chính sách phù hợp cho sự phát triển thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam

- Báo in và điện tử là môi trường của một hình thái truyền thông đang hoạt động khá hiệu quả cùng song song tồn tại Do có số lượng bài viết nhiều nhất, cập nhật tin tức nhanh nhất về thị trường tranh hội họa trong thời gian qua Trước năm

1975 ở miền Nam, hoạt động mỹ thuật nói chung cũng như thị trường mỹ thuật diễn

ra khá sôi động có một số báo, tập san in phổ biến như: Sáng dội miền Nam, Thế giới tự do, Ánh đèn dầu, v.v Ở miền Bắc cũng có nhiều hoạt động mỹ thuật nhưng

mang những sắc thái riêng khác với xu hướng thị trường hóa ở miền Nam nên trên báo giai đoạn đó không có nhiều bài viết mang tính truyền thông như vậy và điều này sẽ được làm rõ hơn ở phần sau của nghiên cứu Ngày nay, khá nhiều xuất bản phẩm dưới dạng báo in, điện tử nhưng tiêu biểu có một số tờ báo như: Văn hoá, Thanh niên, Tuổi trẻ, v.v đã lập chuyên trang, chuyên mục để đăng bài tuần kỳ, nhiều kỳ, v.v của các tác giả như: Hà Phương (2014), “Mỹ thuật buồn tẻ vì thiếu thị trường” [73]; Vũ Viết Tuân (2015), “Thị trường mỹ thuật: “Giấc mơ hão huyền”?” [107]; Thùy Ân (2016), “Với vấn nạn tranh giả - pháp luật của chúng ta hết sức lỏng lẻo”[5]; Lucy Nguyễn (2017), “Nghi vấn tranh Việt giả đấu giá tại nước ngoài”[63], v.v thì trên môi trường internet, một số báo điện tử như VnExpress, Nhân dân, Thể thao văn hóa, v.v., cũng có các chuyên trang, chuyên mục và bài viết, v.v., của các tác giả như: Lưu Hà (2006), “Gallery tư nhân thời thương mại hóa” [145]; Minh Tâm (2011), “Mỹ thuật Việt Nam đang lao dốc” [148]; Văn Bảy (2013), “Thị trường mỹ thuật Việt Nam: gậy ông ‘đập lưng’ cháu ông” [137], v.v Phần lớn các bài viết như thế chỉ dừng ở mức độ đưa tin về sự việc, hiện tượng như đã nêu trên, rất hiếm bài viết có nhận định, đánh giá về phần học thuật Điều này khác với

giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX ở nước ta, trong cuốn Mỹ thuật Hà Nội thế kỷ XX, tác

giả Trần Khánh Chương cho rằng: “qua các bài viết, các tác giả đã đánh giá các tác

Trang 22

phẩm về mặt chất liệu, bút pháp, diện mạo của từng triển lãm, quan niệm nghệ thuật, quan niệm về kế thừa truyền thống dân tộc và xu hướng cách tân trong hội họa… với những đánh giá khen chê rõ ràng, mạnh dạn phê bình từng tác phẩm, từng tác giả, gây một phong trào hoạt động mỹ thuật trong đời sống văn hóa nghệ thuật thời kỳ đó” như các bài viết của Tô Ngọc Vân với bút danh Ái Mỹ, Tô Tử (1930), “Nguyễn Gia Trí và sơn ta”; (1936), “Cái đẹp trong hội họa”; (1942), “Cái đẹp trong tranh”, v.v Nguyễn Đỗ Cung (1938), “Tranh vẽ bằng sơn ta”; (1942),

“Sống và vẽ”, ngoài ra còn có Nguyễn Văn Tỵ, Trần Bình Lộc, Thạch Lam, v.v cũng viết bài đăng trên báo, tạp chí Phong Hóa, Nam Phong, Ngày Nay, Thanh Nghị, Xuân Thu nhã tập, v.v [13, tr.18] Tuy nhiên, theo NCS khá nhiều bài viết đăng trên báo đã làm tốt một số chức năng cơ bản của nó khi đưa tin, tuyên truyền, giám sát, v.v những diễn biến trong thời gian qua các hoạt động về thị trường mỹ thuật phần nhiều là thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam ở cả trong và ngoài nước tới công chúng, tác động khá tích cực tới các bên tham gia vào thị trường

- Trang mạng xã hội, các trang thông tin điện tử cá nhân như facebook, v.v ở

Kỷ nguyên số đã làm xuất bản phẩm truyền thống không còn giữ vị trí độc tôn, những công trình ở nhiều mức độ chất lượng khác nhau cũng mang lại những giá trị khác nhau, từ tham khảo đến nghiên cứu với những nội dung trao đổi về học thuật hội họa, thị trường hội họa, về bản quyền tác giả tác phẩm hội họa, v.v Tuy nhiên,

số lượng ở mức độ ổn định cũng chưa nhiều (8 trang), đây là môi trường mới, dễ dàng tiếp cận, hữu ích để bổ sung thêm thông tin, kiến thức khoa học cho mọi đối tượng quan tâm tới Ví dụ, facebook của Nguyễn Đình Đăng, Nguyễn Đình Thành hay Nguyễn Như Huy, v.v đã đăng tải khá nhiều bài viết về học thuật, nghiên cứu, phê bình mỹ thuật, hoạt động thị trường tác phẩm hội họa, v.v tương đối có chất lượng, khách quan trong việc phân tích, đánh giá nên có được số lượng tới hàng nghìn người quan tâm theo dõi (follow) và truy cập thường xuyên Trong số các công trình đăng tải trên trang cá nhân đó, có công trình là tham luận đã từng tham

dự tại các hội thảo mỹ thuật hay là một phần trong công trình nghiên cứu đã được

xuất bản dưới dạng sách in, tạp chí in, v.v của tác giả nêu trên như: Màu rởm trong tranh giả; Làm thế nào để xác định tuổi của bức tranh; Thị trường tranh: Thương hiệu và lừa đảo [141]; Mua tranh tượng cho đúng luật đã khó, thế còn mua video, mua tác phẩm trình diễn thì làm thế nào? [143], v.v

Trang 23

Tóm lại, thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam là đề tài khó để nghiên cứu nên cho tới nay (thời điểm thực hiện Luận án) chưa có một công trình nghiên cứu chuyên biệt nào xuất hiện dưới dạng ấn phẩm độc lập được in và xuất bản Tài liệu

là ấn phẩm đã xuất bản thực hiện cho nghiên cứu của Luận án ngoài những công trình là sách xuất bản, đăng trên tạp chí chuyên ngành, kỷ yếu hội thảo, v.v NCS sử dụng nguồn từ những xuất bản phẩm ở những lĩnh vực khác như văn hóa học, văn học, v.v Vấn đề quan hệ của văn hóa và kinh tế, nghệ thuật và tiền bạc trong xã hội hiện đại luôn song hành nhưng lại ít đối diện, nên những yếu tố liên quan thị trường trong những xuất bản phẩm như vậy thường chỉ đề cập thoáng qua trong một số cuốn sách viết về những nội dung, chủ đề khác của các tác giả như Phan Cẩm

Thượng (2008), Nghệ thuật ngày thường [94]; Ngô Đức Thịnh (chủ biên) (2010), Những giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam [89]; Dương Tường (2010), Chỉ tại con chích chòe [112]; Phạm Công Luận (2016), Sài gòn chuyện đời của phố I-V

[57], v.v Thị trường tác phẩm hội họa trong thời gian qua là vấn đề được bàn thảo khá nhiều không chỉ trong công chúng mà còn diễn ra tại một số hội nghị, hội thảo hay tọa đàm của các cơ quan nhà nước có chức năng liên quan như Cục MTNATL và Triển lãm, Hội MTVN, Trường Đại học MTVN, v.v tổ chức và có không ít các tham luận đề cập tới nội dung này Tuy nhiên, ngoài hai công trình

Vi Kiến Thành (chủ nhiệm đề tài) (2016) Quản lý nhà nước về thị trường mỹ thuật trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế [86] và Hoan Quan Vuong

và các cộng sự (2018) Paintings can be forged, but not feeling (Tranh có thể làm giả nhưng cảm xúc thì không) [127] thì chưa có sự xuất hiện nào khác những

nghiên cứu có tính tổng thể, chuyên sâu về thị trường tác phẩm hội họa từ những chuyên gia về hội họa, nhà quản lý, chuyên gia về kinh tế thị trường hay về bản quyền tác giả

Chính vì vậy, khi nói về các công trình nghiên cứu mỹ thuật, Chu Quang Trứ

(2013) Văn hóa Việt Nam nhìn từ mỹ thuật cho rằng: “sách về mỹ thuật không ít

…sách của các nhà phê bình và nghiên cứu chuyên nghiệp, của các cơ quan có chức năng nghiên cứu thì lại quá ít” [104, tr.253] chưa kể tới chất lượng của những công trình Những công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu về thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam cho tới ngày hôm nay vẫn thiếu vắng gần như hoàn toàn trong các danh mục xuất bản cả về in ấn truyền thống cũng như ở định dạng số trên môi

Trang 24

trường internet Điều đó cũng là một trong những khiếm khuyết, một mắt xích yếu nhưng lại ở vị trí quan trọng trong cỗ máy phát triển của thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam

1.1.1.2 Các công trình nghiên cứu nước ngoài

Những công trình nghiên cứu về tác phẩm hội họa Việt Nam của những nhà nghiên cứu nước ngoài là ấn phẩm xuất bản phẩm có số lượng không nhiều và chất lượng cũng không đồng đều Theo NCS, những công trình nghiên cứu về mỹ thuật Việt Nam của các nhà nghiên cứu nước ngoài có hình thức ở dạng ấn phẩm xuất bản khi xem xét dựa trên những tiêu chí về không gian, thời gian cũng như nội dung nghiên cứu có thể chia làm hai giai đoạn khá rõ ràng và tách biệt như sau:

- Giai đoạn thứ nhất gồm một số công trình nghiên cứu của học giả nước ngoài đến Việt Nam từ thời còn là thuộc địa, nghiên cứu mỹ thuật Việt Nam thông qua lăng kính của nhà khoa học về nhân học, sử học, khảo cổ học, v.v và được phổ biến dưới dạng xuất bản phẩm từ khá sớm Nội dung của những công trình này từ nghiên cứu thực địa về nền văn minh vật chất của người Việt Nam hay những nghiên cứu về phân kỳ giai đoạn của nghệ thuật cổ ở Việt Nam, v.v từ cuộc sống đời thường hay từ những di sản kiến trúc hay những hiện vật tôn giáo như tượng Phật, đồ thờ, v.v những công trình đó đã có ảnh hưởng không nhỏ tới nhiều sáng tác của hội họa hiện đại Việt Nam Mặc dù, phần nhiều những công trình như vậy không đề cập trực diện mà chỉ có những mối liên hệ đến tác phẩm hội họa và họa sĩ Việt Nam hiện đại như những hình vẽ được khái quát hóa nhưng chính xác và đầy tình cảm được nhấn hoặc buông bởi những nét thanh, nét đậm, v.v hay những hình

vẽ khảo tả, đạc họa một cách công phu, chi tiết và chính xác trong những công trình

của các tác giả: Henri Orge (1909), Technique du peuple Annamite (Kỹ thuật của người An Nam) [126]; Louis Bezacier (1954), L’Art Viêtnamien (Nghệ thuật Việt Nam) [130]; (1959), Relevés de monuments anciens du Nord Việt-Nam (Các di tích

cổ ở miền Bắc Việt Nam) [131], v.v Cuối thế kỷ XIX cho đến đầu thế kỷ XX, tác

phẩm hội họa Việt Nam đã xuất hiện nhưng chưa đủ bề dày để những nhà nghiên cứu khoa học như đã nêu trên nghiên cứu, tập hợp thành công trình Tạp chí, sách in

ở giai đoạn sớm gần như chưa có những công trình nghiên cứu xuất bản bằng tiếng Pháp hay tiếng Anh về hội họa hiện đại Việt Nam Lý giải về điều này, nhiều ý kiến cho rằng, do hội họa hiện đại Việt Nam còn non trẻ, trong khi đó hoạt động truyền

Trang 25

thông, xuất bản sách, tạp chí còn chưa phổ biến như ngày nay Tuy nhiên, cũng có một số khảo sát, công trình nghiên cứu, phê bình của không nhiều tác giả nước ngoài như Paul Munier, Claude Mahoudot, G Condominas, M Barrès, v.v bàn luận và giới thiệu về tranh của các họa sĩ MTĐD đăng trên một số tờ báo, tuần báo như Le Monome, Volonté Indochinoise, Indochine Hebdomadaire Illustré, v.v

- Giai đoạn thứ hai gồm các công trình nghiên cứu của những nhà nghiên cứu đến Việt Nam từ khi đất nước bước sang giai đoạn của thời kỳ mở cửa Đổi Mới Những công trình nghiên cứu của họ đã được xuất bản và phổ biến với nội dung chủ yếu đề cập về tác phẩm hội họa, hoạt động sáng tạo nghệ thuật của họa sĩ hòa nhập vào nền kinh tế thị trường Trong những công trình nghiên cứu đó, các tác giả như: Lisa Bixenstine Safford, Nora Annesley Taylor, Phoebe Scott, v.v đề cập tới khá nhiều khía cạnh, với những góc nhìn mới và đa dạng hơn khi so sánh với những công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trong nước có cùng thời điểm Xã hội thay đổi, những tác động của kinh tế thị trường đối với họa sĩ và sáng tạo của họ, vấn đề về bản quyền tác giả, tranh giả tranh thật, giá cả của những tác phẩm hội họa Việt Nam v.v trở thành nội dung được nêu ra để luận bàn trong những công trình của các nhà nghiên cứu nước ngoài ở giai đoạn này Một số công trình trở nên khá

phổ biến ở Việt Nam của các tác giả như: Natalia Kraevskaia (1999 - 2000), From Nostalgia Towards Exploration (Từ hoài cổ hướng sang miền đất mới) [61]; Corinne de Ménonville (2003), Vietnamese Painting: From Tradition to Modernity (Hội họa Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại) [123]; Nora Annesley Taylor (2009), Painters in Hanoi An Ethnography of Vietnamese Art (Họa sĩ Hà Nội một dân tộc học của mỹ thuật Việt Nam) [134]; Lisa Bixenstine Safford (2015), Art at the crossroads: Lacquer Painting in French Vietnam (Nghệ thuật ở ngã tư đường: Sơn mài ở Việt Nam thời thuộc Pháp) [129]; Phoebe Scott (2019), Colonial or Cosmopolitan? Vietnamese Art in Paris in the 1930s-40s (Tính thế giới hay Thuộc địa? Mỹ thuật của người Việt Nam tại Paris những năm 1930 - 1940) [135], v.v

Ngoài những tác giả và những công trình như đã nêu trên còn có một số công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài khác nghiên cứu về tác giả tác phẩm cụ thể,

về tổng quan hội họa hiện đại Việt Nam, v.v nhưng ít được phổ biến tại Việt Nam

của tác giả Sherry Buchanan (2002), Tran Trung Tin - Paintings and Poems from

Vietnam (Trần Trung Tín - Những bức tranh và các bài thơ đến từ Việt Nam) [136];

Trang 26

Katherin Noppe, Jean-François Hubert (2018), Die Kunst Vietnams (Mỹ thuật Việt Nam) [128], v.v Mặc dù không phải là những công trình của tác giả nước ngoài,

nhưng có một số công trình nghiên cứu nội dung đề cập nhiều về hội họa Việt Nam

đã xuất bản và phát hành ở ngoài nước của các tác giả Trịnh Cung (2010), Mỹ thuật Việt Nam - Những vấn đề xoay quanh [23], Đinh Cường (2015), Đi vào cõi tạo hình

[26], v.v Ngoại trừ khoảng cách địa lý, những khác biệt về nhận thức chính trị và một vài lý do dị biệt khác, những yếu tố như tính mới, yếu tố trao đổi học thuật chưa nhiều nên cũng ít phổ biến ở Việt Nam

- Tạp chí in, điện tử khá quen thuộc với giới mỹ thuật ở trong nước có một số

ấn phẩm như Asia Art New, Art of Asia, ArtAsiaPacific, asia-art.net, v.v và trang

thông tin trực tuyến của các bảo tàng, nhà đấu giá, gallery, nhà xuất bản, v.v trong thời gian qua cũng đã tải những công trình nghiên cứu, giới thiệu về hội họa Việt Nam hiện đại của tác giả nước ngoài với một số công trình như: Bradford Edwards

(2003), A Muscular Art (Một nền nghệ thuật khỏe mạnh) [122]; Nguyen Bao Ha - Ian Findlay (2005), Vietnam - The view from above (Tổng quan về nghệ thuật Việt Nam) [133], v.v Nhiều bài viết về hội họa Việt Nam cũng được đăng lên một số tờ

báo có lượng độc giả khá lớn như của tác giả Martha Ann Overland (2009), “Copied

paintings plague Vietnam’s Museum of Fine Arts” (Những bức tranh chép gây tai họa cho Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam) [153]; Seth Mydans (2009), “A Legacy of War: Fake Art in Vietnam” (Một di chứng của chiến tranh: Mỹ thuật giả ở Việt Nam) [157]; Richard C Paddock (2017), “Vietnamese Art Has Never Been More Popular But the Market Is Full of Fakes” (Mỹ thuật Việt Nam chưa bao giờ được yêu thích hơn thế - Nhưng thị trường đầy tranh giả) [156]; v.v

Tuy còn nhiều hạn chế trong những tiếp cận, tổng hợp, phân tích, đánh giá, nhận định, đôi khi áp đặt cách nhìn chủ quan từ phía người nghiên cứu viết đối với một số vấn đề chưa thực sự chắc chắn, khách quan về mỹ thuật Việt Nam nên nhiều lúc bộc lộ rõ những khoảng trống từ thực tế của người nghiên cứu bên “ngoài cuộc” nhưng những công trình nghiên cứu nêu trên cũng vẫn thật sự cần thiết để góp phần cho sự phát triển thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập xu hướng phát triển toàn cầu như ngày nay

1.1.2 Đánh giá tình hình nghiên cứu

Tổng quan các công trình nghiên cứu phân theo hai nhóm ở mục 1.1 cho thấy:

Trang 27

Thứ nhất, đa số các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài

nước tiếp cận giới thiệu theo hướng nghiên cứu lịch sử về mỹ thuật trong đó có nghệ thuật điêu khắc là đồ án trong các công trình kiến trúc, tranh khắc gỗ dân gian, tranh thờ mang yếu tố tôn giáo của mỹ thuật cổ và phần mỹ thuật Việt Nam hiện đại

kể từ thế hệ các họa sĩ MTĐD đến nay Nhiều công trình nghiên cứu MTVN hiện đại đã đề cập đến tiến trình phát triển của mỹ thuật thông qua các hoạt động mỹ thuật qua từng thời kỳ, giai đoạn lịch sử thể hiện ở những sáng tác của các họa sĩ, nhà điêu khắc và được biên tập trình bày, minh họa trong những cuốn sách, vựng tập, kỷ yếu chuyên đề, v.v do các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc hệ thống thiết chế mỹ thuật cũng như của các cá nhân, tổ chức ngoài công lập thực hiện, v.v

Thứ hai, sau những cuốn sách của một số học giả người Pháp trong thời kỳ

Đông Dương nghiên cứu về nhân học, khảo cổ học, v.v có những khảo sát, khám phá, phân tích và đánh giá trên cơ sở những ghi chép, phát hiện khoa học quan trọng liên quan tới mỹ thuật cổ là những công trình nghiên cứu trong các dự án của các tác giả nước ngoài Phần nhiều trong số những công trình đó là những nghiên cứu

về nghệ thuật tạo hình hiện đại và trào lưu nghệ thuật thị giác đương đại mới được

du nhập vào Việt Nam kể từ sau thời kỳ Đổi Mới

Thứ ba, ngoài những sự thay đổi, phát triển của hội họa Việt Nam hiện đại đã

được một số tác giả trong các công trình nghiên cứu của mình đề cập cả gián tiếp và trực diện tới nhiều vấn đề được đánh giá là khá mới, nhiều gai góc của nghệ thuật tạo hình Việt Nam trong thời kỳ kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế như vấn đề về hoạt động mua bán, bản sắc, tính dân tộc và bản quyền tác giả

Thứ nhất, có thể nói, các công trình nghiên cứu nước ngoài là những tài liệu

tham khảo góp phần quan trọng trong việc hoàn thiện thị trường mỹ thuật nói chung, tác phẩm hội họa nói riêng của các nước đang xây dựng nền CNVH, trong đó có Việt Nam Mặc dù, những nghiên cứu quốc tế về lĩnh vực này tương đối đầy đủ và đồ sộ nhưng vẫn chưa thể đáp ứng hoàn toàn các yêu cầu của từng quốc gia, bởi mỗi nước

có truyền thống văn hóa, điều kiện kinh tế và thể chế chính trị khác nhau nên có những nhận thức, quan điểm và cách vận hành khác nhau

Trang 28

Thứ hai, tại Việt Nam, các nghiên cứu đã chỉ ra một bức tranh khá tổng quan

về thị trường, bản quyền tác giả tác phẩm mỹ thuật trong đó có tác phẩm hội họa Việt Nam Nếu đánh giá thật khách quan, vấn đề thị trường và bản quyền tác giả tác phẩm hội họa tại Việt Nam cho thấy còn rất nhiều hạn chế và bất cập Điều này đặt ra tính cấp thiết cho các công trình nghiên cứu trong thời gian tới, để đưa ra những giải pháp giải quyết các bất cập hiện nay, nhằm hoàn thiện thị trường và bản quyền tác giả tác phẩm hội họa tại Việt Nam; thực hiện tốt đường lối xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước như Nghị quyết

số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đề ra

Thứ ba, từ các kết quả nghiên cứu trên cho thấy ở Việt Nam vấn đề thị trường

và bản quyền tác giả, tác phẩm mỹ thuật đặc biệt là tác phẩm hội họa đã và đang được quan tâm hơn trong nghiên cứu cũng như trong thực tiễn

Tuy nhiên, mỗi công trình có phương pháp nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu khác nhau Các phương pháp nghiên cứu của một số công trình mới chỉ dừng lại ở phương pháp phân tích, tổng hợp, điều tra thống kê, phương pháp chuyên gia, còn thiếu các mô hình phân tích mang tính định lượng

Do vậy, việc tiếp tục nghiên cứu để làm rõ lý luận về thị trường và bản quyền tác giả tác phẩm hội họa; đánh giá thực trạng về thị trường và bản quyền tác giả tác phẩm hội họa tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp hoàn thiện thị trường và bản quyền tác giả tác phẩm mỹ thuật ở Việt Nam hiện nay là rất cần thiết về mặt lý luận

và thực tiễn

Thứ tư, qua các công trình nghiên cứu trên, cho thấy những hạn chế nhất định

về đối tượng, nội dung, nghiên cứu; việc đề cập đến thị trường và bản quyền tác giả tác phẩm mỹ thuật nói chung, tác phẩm hội họa nói riêng vẫn chưa được các nhà khoa học nghiên cứu, giải quyết một cách đầy đủ, toàn diện Do vậy, cần tiếp tục nghiên cứu

để đưa ra những giải pháp phù hợp là cần thiết hiện nay Cụ thể như sau:

Một là, luận án tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện lý luận có liên quan: khái

niệm văn hóa và kinh tế, quan hệ văn hóa và kinh tế; Khái niệm về các thành phần chính tạo nên thị trường; khái niệm về tác phẩm hội họa và thị trường; các khái niệm

về kinh tế văn hóa

Hai là, luận án tiếp tục nghiên cứu thực trạng thị trường tác phẩm hội họa như: Họa sĩ - Người sáng tạo và cung cấp hàng hóa; Thực trạng thị trường tác phẩm hội họa

Trang 29

Ba là, luận án nghiên cứu các nhân tố tác động thị trường - bản quyền, như:

Các văn bản về bản quyền tác phẩm hội họa; Tác động của bản quyền tác động đến

sự phát triển của trong thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam như thế nào

Bốn là, tác giả đánh giá một cách khách quan thực tiễn thị trường tác phẩm hội họa

ở Việt Nam (những quả đã đạt được, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân tồn tại, hạn chế)

Năm là, trên cơ sở nghiên cứu thực trạng thị trường tác phẩm hội họa tại Việt

Nam, đề xuất các giải pháp hoàn thiện thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam hiện nay

1.2 Tổng quan về đối tượng nghiên cứu

1.2.1 Tổng quan về tác phẩm hội họa Việt Nam

Nhiều nhà nghiên cứu về lịch sử, xã hội học và mỹ thuật cho rằng, hội họa ở Việt Nam xuất hiện khá muộn Do đặc điểm lịch sử, hoàn cảnh xã hội nên gần như không có thị trường tranh hội họa Việt Nam trước thế kỷ XX và thậm chí là trước thời kỳ Đổi Mới Trong khi thị trường mỹ thuật đan xen với hàng thủ công được xác định xuất hiện ở Trung Quốc từ thời nhà Tống (thế kỷ thứ X – XIII) với những giao dịch ít khi xác định được danh tính giữa người bán, người mua Khi phiên bản của

“Bức thư họa Trúc Lâm Đại sĩ xuất sơn đồ lưu lạc hơn 600 năm ở Trung Quốc;

được nhà Thanh biên mục trong bộ Bí điện châu lâm - Thạch cừ bảo cấp tục cách đây hơn 200 năm (1793)” [60, tr.10] xuất hiện và được bán “trong phiên giá đấu năm 2014 tại Bắc Kinh với giá trị 1,8 triệu USD” [1, tr.16] [Xem thêm: Phụ lục 1, tr.191] thì phần nhiều công chúng, các nhà nghiên cứu ở Việt Nam mới được biết hay quan tâm chú ý hơn tới bức tranh này Theo Nguyễn Nam biên khảo (2012)

“Trúc Lâm Đại Sĩ xuất sơn đồ, Bóng hình để lại” bức tranh cổ có kích thước lớn này “do người nước Nam tổ chức vẽ nên, khắc họa một sự kiện lịch sử với niềm tự hào quốc tộc, quốc thổ” Theo NCS, bởi những tiếp nhận và tiếp biến với nhiều nền văn hóa, đặc biệt là văn hóa Trung Hoa nên tác phẩm hội họa đã sớm xuất hiện ở Việt Nam từ nhiều thế kỷ trước, muộn nhất cũng từ cuối thế kỷ thứ XIV mà bức họa

Trúc Lâm Đại Sĩ xuất sơn đồ là một minh chứng Mặc dù, để có thể khẳng định

được đâu là tác giả của những họa phẩm cổ, niên đại sáng tạo và hoàn cảnh sáng tạo như thế nào, điều đó phụ thuộc vào những công trình nghiên cứu dày công, tâm huyết và có thể phải có cả một chút may mắn Tác phẩm hội họa đã xuất hiện trong những tài liệu ghi chép, biên soạn lịch sử từ thời nhà nước quân chủ Việt Nam Khi

đó, một bộ phận tinh hoa của xã hội bao gồm những quý tộc người Việt đã sử dụng

Trang 30

tranh hội họa cho nhiều mục đích khác nhau, từ việc trưng bày, trang trí cho tới việc thờ cúng theo tín ngưỡng, tôn giáo, v.v nhưng vì nhiều lý do mà phần nhiều không còn lưu lại được đến ngày nay Nghi vấn tồn tại về xuất xứ, lịch sử cũng như các giá trị thương phẩm khác của những họa phẩm cổ đa số đều trong tình trạng chưa có cứ

liệu minh định một cách khoa học Đại Việt Sử ký toàn thư có ghi lại việc Minh

Tông Hoàng Đế “ban cho Trần Bang Cẩn bức tranh và bài thơ rằng: Cốt cách dáng hình chịu rét đông, Hiên ngang tướng mạo thực nên trông Phong lưu mọi vẻ đều

nên cả, Vẽ sao canh cánh tấm lòng trung” [66, tr.234] Trong cuốn Những giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam tác giả Ngô Đức Thịnh chủ biên (2012) cho biết:

“trong cung đình, vương phủ thời Lê - Trịnh cũng có những họa sĩ cung đình chuyên vẽ chân dung cho các hoàng thân quốc thích, nhưng chất liệu mà họ sử dụng chủ yếu là giấy dó, lụa Tầu, mực nho, và một số chất liệu màu nước, hoặc màu bột nhập từ phương Tây về Họ cũng kết hợp vào đó một số chất liệu dân gian như vàng, bạc, v.v.” [89, tr.479] Treo bày và chơi tranh đã từ lâu xuất hiện ở Việt Nam,

nên khi nói về chủ đề này, trong cuốn sách Mỹ thuật Huế tác giả Nguyễn Tiến Cảnh

chủ biên (1992) viết: “Theo truyền thống trang trí nội thất, các cung điện ở Thăng Long thường có treo tranh hoặc vẽ lên tường, lên cột Kinh đô nhà Tây Sơn cũng thế …có lần Nguyễn Thế Lịch vào triều kiến Quang Trung, ông đã vâng lệnh làm 8 bài thơ nôm đề vào 8 bình phong vẽ liên hoàn 100 em bé, để trang trí cung điện Phú Xuân” [10, tr.103] Những ghi chép đó là minh chứng điển hình để khẳng định, tác phẩm hội họa đã xuất hiện từ gần một thiên niên kỷ trước ở Việt Nam nhưng có thể công chúng khi đó chưa được tiếp cận một cách phổ biến Tồn tại và được biết đến rộng rãi cho tới ngày nay, trước khi những tác phẩm hội họa theo phong cách tạo hình phương Tây xuất hiện ở Việt Nam phần nhiều là những bức tranh bình dân, phổ thông dùng nhiều cho mục đích thương mại như tranh khắc gỗ, tô màu có tính

đồ họa cao nhưng đậm chất nghệ nhân dân gian, phường thợ thủ công, thường được

bán, mua để trang trí trong các dịp lễ Tết (thường gọi là tranh Tết) với nội dung là

các sinh hoạt tín ngưỡng, chúc tụng, thể hiện ước vọng phúc lộc - an khang, cầu lộc, cầu tài, v.v có xuất xứ từ các làng chuyên làm tranh dân gian Đông Hồ, Kim Hoàng, Sình, phố Hàng Trống Tương tự như như những chợ buôn bán tranh in, thư pháp gồm những người bán rong ven đường, các nhà Đạo giáo trong triều đại nhà Minh (thế kỷ XIV-XVII) ở Trung Hoa Do khí hậu khắc nghiệt, chiến tranh liên

Trang 31

miên cùng với những chính sách cai trị tàn bạo, âm mưu thâm độc của những kẻ xâm lược nhằm mục đích đồng hóa, hủy diệt một quốc gia độc lập, nên di sản văn hóa trong đó có mỹ thuật của cha ông để lại cho chúng ta được biết hôm nay chỉ là một phần rất mỏng trong thực tế xã hội trước kia Đặc biệt là những họa phẩm thể hiện trên các chất liệu có vật liệu nền ít bền vững như giấy, lụa thậm chí là gỗ, nhưng những gì còn tồn tại đó đã cho ta thấy được sự phong phú, đa dạng của hoạt động mỹ thuật Việt cổ trước khi bước sang mỹ thuật hiện đại

Chất liệu sơn dầu hay còn gọi là mầu dầu ngày càng trở nên phổ biến khi chúng được sử dụng cho việc vẽ, sáng tác trong số phần lớn các tác phẩm hội họa Ban đầu “được du nhập vào Việt Nam mà nó đã được biết đến thông qua các tác phẩm của các giáo sĩ phương Tây đem vào từ thế kỷ XVII” [89, tr.478] Cuối thế kỷ XIX đã có khá nhiều người biết tới ba họa sĩ Việt “tinh về nghề vẽ”, dùng thuật vẽ phương Tây để họa chân dung bằng màu dầu là Lê Huy Miến, Thang Trần Phềnh,

Nam Sơn; một số tác phẩm của họ còn lưu lại cho tới ngày nay như: Chân dung cụ

Tú Mền (1898 – Lê Huy Miến), Phạm Ngũ Lão (1923 - Thang Trần Phềnh), Ông già Kim Liên (1926 - Nam Sơn), v.v Tuy nhiên, đến khi tác phẩm hội họa trở nên

phổ biến, những người làm nghề vẽ, vẽ tranh không còn phải khuyết danh hay mang danh “phó” này, “thợ” kia, họ ký tên hay nghệ danh của mình trên tranh để công trình ấy kết thúc sáng tạo trở thành tác phẩm được xác định đã hoàn thiện thì phải tới thời kỳ của các họa sĩ Trường CĐMTĐD như đã đề cập ở phần mở đầu Tác phẩm hội họa của các họa sĩ Việt Nam hiện đại giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX chủ yếu là những sáng tác theo lối trường quy, sử dụng chất liệu chính là sơn dầu, lụa, sơn mài, giấy dó với phong cách, bút pháp của trường phái Hậu Ấn tượng trên cơ sở quan sát hiện thực, thấu thị viễn cận của phương Tây mang ảnh hưởng từ những người thầy nhiều tài năng của họ Sau đó là thời kỳ chiến tranh, MTVN hiện đại có

sự phân chia khuynh hướng và thái độ sáng tác tương đối rõ ràng của các họa sĩ cùng với những tác phẩm của họ ở hai miền Bắc - Nam Phong cách tạo hình theo lối hiện thực nhận diện được trong phần lớn những tác phẩm hội họa của các họa sĩ ở miền Bắc Trong khi đó ở phần nhiều tác phẩm của các họa sĩ miền Nam làm cho chúng ta thấy có sự ngắt mạch một cách chủ động với quá khứ, điều đó được nhận thấy khá dễ dàng trong đề tài, nội dung và bút pháp thể hiện có phần đa dạng hơn so với tác phẩm của các hoạ sĩ miền Bắc Vai trò của người họa sĩ trong họ khá độc lập nhưng có ảnh

Trang 32

hưởng khá rõ nét của hoàn cảnh xã hội thị trường thực dụng và đầy sôi động, phóng khoáng ở miền Nam khi văn hóa đã nhiều phần Mỹ hoá nên phần lớn tác phẩm của

họ không mấy tạo được dấu ấn trong lịch sử nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại

Hơn một thập kỷ sau khi đất nước thống nhất và khi những ngày cuối cùng của thời kỳ bao cấp qua đi, thay vào đó là những chính sách Đổi Mới đã tạo nên những luồng gió mới trong mọi mặt của đời sống xã hội cũng như nghệ thuật Các họa sĩ, nghệ sĩ như được cởi trói, họ dồn hết sức vào sáng tác, trưng bày và bán ở trong nước, rồi đem ra nước ngoài, hòa chung với dòng chảy của thị trường mỹ thuật thế giới Họ hồ hởi, thoải mái như cởi được những tấm áo cũ chặt chội đã mặc lâu ngày “Mỹ thuật Việt Nam chứng kiến sự phát triển bùng nổ không chỉ hội họa hiện đại, mà bên cạnh đó còn có cả những thử nghiệm nghệ thuật mới như sắp đặt, trình diễn, pop-art, video-art, digital art, v.v.” [52, tr.8] Sự bùng nổ ấy tạo ra muôn vàn sắc thái mới trong những tác phẩm sáng tác ở giai đoạn này, điều đó đến từ những sự hưng phấn của các họa sĩ sáng tạo “Đây là một thời kỳ thay đổi Các họa sĩ Việt Nam

đã trở nên năng nổ, khám phá hơn, cố gắng hòa nhịp với các trào lưu quốc tế trong khi tận hưởng những lợi ích của tự do nghệ thuật trong khí hậu tốt lành của đổi mới” [111, tr.5] Trên những mảng tường của các nhà trưng bày, phòng triển lãm không chỉ

có những tác phẩm hội họa theo lối hiện thực chủ nghĩa hay chìm đắm miên man trong ký ức của chiến tranh hoặc là những bố cục đường ngang, nét thẳng và trời xanh, mây trắng nắng vàng trong những tác phẩm có chủ đề về xây dựng đất nước nữa mà thêm vào đó những chất liệu thể hiện mới đa dạng phong cách, khác biệt đề tài, khác biệt cả tên tuổi họa sĩ Tất cả, vừa quen mà cũng rất lạ tạo thành một không gian nghệ thuật hiện đại mới trong nền MTVN hiện đại Từ hơn 100 họa sĩ tốt nghiệp Trường CĐMTĐD sau 20 năm đào tạo, đến nay mỗi năm có hơn 1.000 người học về

mỹ thuật ra trường Vì vậy, số lượng tác phẩm hội họa sáng tác mới của các họa sĩ từ

đó cũng tăng lên theo cấp số nhân, tương ứng với số lượng các họa sĩ ra trường hàng năm Ngoài những cái tên quen thuộc của ba bộ tứ họa sĩ MTĐD theo cách nói quen thuộc của giới mỹ thuật gồm: Phổ - Thứ - Lựu - Đàm ở ngoài nước; Trí - Lân - Vân - Cẩn; Sáng - Nghiêm - Liên - Phái ở trong nước còn rất nhiều tên tuổi của các họa sĩ khác đã làm thay đổi diện mạo thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam qua những tác phẩm sáng tạo của họ ở giai đoạn tiền thị trường tác phẩm hội họa hiện đại (NCS tạm gọi) như: Phạm Hậu, Lê Văn Đệ, Nguyễn Khang, Lương Xuân Nhị, Nguyễn Tiến

Trang 33

Chung, Lê Quốc Lộc v.v thì ở thế hệ tiếp nối ngày càng có nhiều cái tên quen thuộc khác bổ sung vào danh sách các họa sĩ tham gia thị trường tranh ở miền Nam như: Trịnh Cung, Nguyễn Trung, Đỗ Quang Em, Hồ Hữu Thủ, v.v và sau thời mở cửa ở miền Bắc khi bộ tứ đã trở nên quá quen thuộc với Nhân - Hòa - Kiệm Hậu (Lưu Công Nhân, Lê Huy Hòa, Nguyễn Trọng Kiệm, Trần Lưu Hậu), bên cạnh những cái tên Linh Chi, Trần Đông Lương, Mai Long, v.v và sau đó là Thành Chương, Đặng Xuân Hòa, Phạm Luận, Quách Đông Phương, Lê Thiết Cương, Bùi Hữu Hùng, Trần Văn Thảo, Nguyễn Thanh Bình, v.v rồi Đinh Quân, Vũ Thăng, Đinh Ý Nhi, Lê Kinh Tài v.v và gần đây hơn là Lim Khim Katy, Vũ Đình Tuấn, Lê Quý Tông, Hà Mạnh Thắng, v.v Tháng 8 năm 2020, “Triển lãm tranh của 19 họa sĩ hàng đầu trên thị trường mỹ thuật Việt Nam” do Cục MTNATL - Bộ VHTTDL tổ chức thực hiện cũng đã phần nào xác định một cách khái quát về số lượng các chủ thể sáng tạo đã thành danh từ việc bán tác phẩm hội họa của mình trong quãng thời gian kể từ sau Đổi Mới Tuy nhiên, theo NCS số lượng các họa sĩ đã thành danh hàng đầu trên thị trường mỹ thuật Việt Nam hiện đại từ năm 1986 đến nay còn sống và tiếp tục sáng tác nên được mở rộng hơn và ít nhất số lượng cũng có tới hơn 30 họa sĩ

Cùng với sự gia tăng về số lượng đó là sự đa dạng trong sáng tạo với các trường phái, bút pháp mới mẻ, khác lạ mà cũng không kém phần cuốn hút người tiêu dùng như: biểu tượng, nhận thức, tối giản, giải cấu trúc, v.v làm cho thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam sau đổi mới vốn đã phong phú thì nay càng trở lên đa dạng hơn qua các hoạt động triển lãm, giới thiệu quảng bá trên truyền thông, v.v Tuy nhiên, từ việc “trăm hoa đua nở” đó mà công chúng tiếp nhận, tiêu dùng có nhiều sự chọn lựa cho nhu cầu của họ hơn và từ đó cũng tạo ra những loại hình nghề nghiệp mới có liên quan tới họa sĩ và hoạt động thị trường như: nhà quản lý nghệ thuật (art manager), người tổ chức và tư vấn nghệ thuật hay giám tuyển (curator), v.v thay vì chỉ có những thành phần cơ bản như: họa sĩ - gallery, nhà phê bình, người môi giới - người tiêu dùng trong hoạt động thị trường trong giai đoạn thời mới mở cửa ở thập kỷ 90 của thế kỷ XX

Tự do sáng tạo, tự do trưng bày triển lãm, thu nhập nhiều hơn và ổn định, quan hệ giao lưu được mở rộng, thông tin tiếp cận một cách dễ dàng từ việc giới thiệu, bán tác phẩm của mình nên nhiều họa sĩ đã rời bỏ vị trí công việc ở công sở

để trở thành người nghệ sĩ sáng tác độc lập Điều đó ngày càng trở nên quen thuộc

Trang 34

đối với nhiều họa sĩ Việt Nam đương đại, thế hệ trẻ sinh ra và trưởng thành trong thời kỳ đất nước hòa bình khi họ xác định lấy sáng tác chuyên nghiệp làm nghề nghiệp để tự phục vụ cho nhu cầu cuộc sống, phát triển sự nghiệp và hội nhập với thế giới theo cách riêng của mình Sự hỗ trợ của kinh tế, tài chính, truyền thông, internet, v.v trong thời gian vừa qua đã tạo ra một môi trường hoạt động đa dạng hơn, tác phẩm hội họa cũng trở nên “toàn cầu hơn” nhờ vào sự thay đổi và trở nên tích cực hơn ở một số “mắt xích” trong quy trình từ sáng tác, lưu thông sản phẩm, đến với khách hàng, v.v Thị trường văn hóa đặc thù như thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam phát triển bền vững, lành mạnh, hòa nhập một cách bình đẳng thực sự với khu vực và thế giới

1.2.2 Tổng quan về thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam

1.2.2.1 Thị trường tác phẩm hội họa ở Việt Nam

Thị trường mỹ thuật nói chung và thị trường tác phẩm hội họa nói riêng đã được hình thành và phát triển cùng những biến động không ngừng trong dòng chảy lịch sử của dân tộc Thị trường tác phẩm hội họa nếu được hiểu và cắt nghĩa theo cấu trúc lược giản gồm 3 thành tố: người bán, người mua và trung gian thì cũng có thể được tính từ trong quá khứ sơ khai của nhà nước quân chủ Việt Nam Khi đó những bức tranh mang tính hội họa, hàn lâm đã được vẽ theo yêu cầu, mệnh lệnh hay đặt hàng từ các quý tộc người Việt Tuy nhiên, thị trường tác phẩm hội họa Việt

cổ này thực sự chưa có được những nghiên cứu chuyên sâu trong thời gian qua để giải mã làm cho sáng tỏ Nghề vẽ khi đó là nghề còn lại không xếp vào đâu trong “tứ dân” cũng như “lục nghệ” theo quan niệm về nghề nghiệp và nghệ thuật của hệ tư tưởng Nho Giáo Những khái niệm nghệ thuật là sáng tạo, nghệ thuật có thị trường, v.v trong thời gian đó cũng chưa được hình thành nên không được đề cập tới trong các ghi chép sử liệu Hoạt động mua, bán tranh vẽ trong thời kỳ quân chủ khi đó chưa phổ biến dưới dạng tác phẩm độc lập như ngày nay đến đối tượng là công chúng phổ thông, nhưng hội họa đã sớm có sự giao lưu và giao thương ở bên trong cũng như đến từ bên ngoài lãnh thổ Đại Việt Điều đáng chú ý là các hình thức chợ tranh hòa trộn với hàng thủ công như đề cập nêu trên còn khá phổ biến cho đến nửa cuối kỷ XX ở Việt Nam

Đầu thế kỷ XX, công chúng mới dần được tiếp cận rộng rãi với môi trường hội họa và các hoạt động liên quan tới lĩnh vực nghệ thuật này ở Việt Nam Thị

Trang 35

trường tác phẩm hội họa hiện đại sơ khai xuất hiện thực sự chỉ khi có những tên tuổi của các họa sĩ Trường CĐMTĐD được công chúng biết đến với vai trò của người nghệ sĩ qua những bức tranh họ vẽ Đó là những người họa sĩ đầu tiên của nền NTTH Việt Nam hiện đại Tác phẩm hội họa là tranh vẽ của họ từ việc tham gia vào các cuộc trưng bày, đấu xảo ở thị trường nội địa đã được ghi nhận ở giá trị thương mại khá cao và tăng dần theo thời gian Thể hiện ở số liệu thống kê về kinh doanh các tác phẩm hội họa trong thời kỳ đó của Cục Văn thư và Lưu trữ Việt Nam (archives.gov.vn) với doanh thu đạt được tính bằng đồng bạc Đông Dương tại các năm: 1934 là 600 đồng; 1935 là 687 đồng; 1936 ghi nhận mức doanh thu thấp nhất

là 300 đồng; 1937, con số này đã lên tới 1.600 đồng; 1938 là 7.180 đồng; 1939 đánh dấu bước nhảy vọt thần kỳ là 24.799 đồng, 1940 là 25.422 đồng, năm 1941 là 27.116 đồng, 1942 ghi nhận con số ấn tượng là 41.087 đồng Nói về nội dung này, Quang Việt cho biết: “Từ năm 1941 đến trước Cách mạng tháng Tám, người Nhật lùng mua rất nhiều tranh (Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn, v.v.) giá xê dịch từ 1300 đến 1500 piastres” (60 piastre = 1 lạng vàng) [116, tr.41]

Tranh của các họa sĩ MTĐD đã từng bước ra thế giới, hòa mình vào dòng chảy chung để làm nên một thị trường hội họa Việt Nam hiện đại với một diện mạo mới Không chỉ ở trong nước mà còn là điểm sáng ở một số thị trường mỹ thuật trên thế giới, tranh của nhiều họa sĩ Việt Nam đã trở thành những sản phẩm mỹ thuật mang bản sắc riêng, món hàng văn hóa đặc thù đắt giá trong những lô hàng nhiều giá trị của các cuộc đấu giá, thu hút được quan tâm của công chúng, các nhà sưu tập

mỹ thuật đến từ nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ trong thời gian qua Các tác phẩm hội họa của Lê Phổ, Mai Trung Thứ có giá bán hơn 1 triệu USD là một ví dụ tiêu biểu

Thị trường mỹ thuật nói chung, thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam hiện đại hoạt động công khai ở miền Bắc đã có một thời gian dài vắng bóng kể từ sau sự kết thúc của Trường CĐMTĐD cho tới thời kỳ Đổi Mới, ở nửa cuối thập kỷ 80 của thế

kỷ trước Khi những luồng sinh khí mới của “cởi trói”, Đổi Mới tràn tới làm bừng sáng và thay đổi diện mạo của đời sống văn hóa, kinh tế, xã hội Nhu cầu hưởng thụ, sáng tạo văn hóa nghệ thuật đã thay đổi mạnh mẽ, trong đó lĩnh vực mỹ thuật, phần nhiều là tác phẩm hội họa là một ví dụ trực quan sinh động Khi sau một thời gian dài gắn bó với đề tài cách mạng, kháng chiến và công cuộc bảo vệ dựng xây đất nước, nay đổi mới và hội nhập thành công đã tạo được dấu ấn lớn và hiệu quả tích cực trong

Trang 36

đời sống xã hội Chưa có bao giờ, thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam lại thăng hoa đến như vậy, sự bùng nổ trên mọi phương diện từ số lượng, hình thức, nội dung đến giá trị kinh tế mang lại đã tạo ra muôn vàn sắc thái mới cho xã hội, không chỉ tới riêng các họa sĩ “Nửa sau của thập niên 90 là một giai đoạn mà người người vẽ tranh, nhà nhà bán tranh” [115, tr.232] nên từ một vài cửa hàng bán hàng lưu niệm cho khách du lịch ở Hà Nội, Tp.HCM, chỉ trong một thời gian ngắn đã bùng nổ số lượng lên đến 425 (năm 2006) gallery, phòng trưng bày lớn, nhỏ ở khắp Việt Nam Một không gian, môi trường xã hội, nghệ thuật với những chính sách mới, tăng trưởng kinh tế cùng những hoạt động thị trường tưng bừng đã trở thành động lực, tạo

đà cho số lượng tác phẩm hội họa của các họa sĩ từ đó tăng lên đáng kể “Trên báo chí, truyền thanh hầu như ngày nào cũng thấy một ông họa sĩ tươi cười đứng giữa hoa, tranh và bạn bè của buổi khai mạc phòng tranh” [49, tr.27] Thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam trong giai đoạn này đã tạo điều kiện cho công chúng có cơ hội tiếp cận rất nhiều tác phẩm với chất liệu thể hiện mới, lần đầu tiên xuất hiện cùng

sự đa dạng phong cách, khác biệt đề tài, nội dung phong phú của các họa sĩ trong số gần 2.000 hội viên Hội MTVN (Số liệu năm 2017) và hơn 1.000 họa sĩ mới là sinh viên được đào tạo kiến thức về mỹ thuật ra trường hằng năm [Xem thêm: Phục lục 9, tr.226] Cùng với sự bùng nổ về số lượng các cuộc thi, triển lãm ở gallery, các phòng trưng bày kết hợp với hiệu ứng lan tỏa trên phương tiện truyền thông, trên những trang website của hạ tầng số rồi đến các nhà đấu giá, chợ nghệ thuật đã làm thành một diện mạo mới vô cùng năng động của nền hội họa Việt Nam, cũng như thị trường của nó Mặc dù, số liệu doanh thu từ các hoạt động thị trường hội họa tại Việt Nam chưa thống kê chính thức được, nhưng NCS đã điều tra, phân tích tổng hợp dựa trên thực tế kết quả khảo sát về việc bán tranh của 50 họa sĩ hoạt động chuyên nghiệp

và 10 gallery, phòng tranh đang còn hoạt động ở ba trung tâm lớn của MTVN là Hà Nội, Huế và Tp.HCM cho thấy, trong quãng thời gian 10 năm trở lại đây, thị trường tác phẩm hội họa nội địa đã luôn có tăng trưởng tích cực tuy không đồng đều hằng năm Vì vậy, khi cơ quan QLNN xây dựng được những chính sách tốt, có giải pháp thiết thực, phù hợp và đáp ứng được vai trò “định hướng thị trường”, phù hợp với thông lệ quốc tế sẽ làm thay đổi phương thức vận hành, lành mạnh hóa hoạt động mua bán, điều đó sẽ thúc đẩy phát triển thị trường tác phẩm hội họa mạnh mẽ, trở

Trang 37

thành một trong những trụ cột quan trọng để thực hiện Chiến lược CNVH, quảng bá hình ảnh đất nước, đóng góp hiệu quả vào nền kinh tế xã hội

1.2.2.2 Thị trường tác phẩm hội họa Việt Nam ở ngoài nước

Văn hóa Việt Nam phong phú, thống nhất nhưng đa dạng, bên cạnh những đặc trưng riêng mang tính bản thể, của khu vực Đông Nam Á còn chứa đựng nhiều yếu tố từ sự giao thoa, tiếp biến bởi nhiều nền văn hóa lớn trên thế giới như Trung Hoa, Ấn Độ, phương Tây trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Vì vậy, hội họa cũng sớm đến Việt Nam khi ở vào vị trí là một phần của thực thể nghệ thuật tạo hình phương Đông, rồi phương Tây Từ đó, hội họa Việt Nam hình thành trên cơ sở tiếp thu và nhanh chóng hòa nhập, một phần do các họa sĩ quốc nội tự tạo nhưng đồng thời cũng mang không ít những yếu tố sáng tạo trên nền tảng nghệ thuật đến

từ bên ngoài lãnh thổ Ban đầu, tác phẩm hội họa luôn được sở hữu bởi một số người có quyền lực và giàu có, rồi sau đó mới dần lan tỏa tới các thành phần và nhu cầu khác trong xã hội Tác phẩm hội họa Việt Nam xuất hiện, tham gia vào các hình thái hoạt động khác nhau của đời sống, trong đó có việc trưng bày, trao đổi, đặt hàng và giao lưu từ nhiều thế kỷ trước tương tự như ở xã hội hiện đại ngày nay, mặc

dù, còn ở mức sơ khai và chưa có được những điều kiện thuận lợi để phổ biến trong

xã hội Trong những công trình biên soạn lịch sử của dân tộc, việc ghi chép về nội dung này chưa được phong phú và chi tiết nhưng cũng dần trở nên sáng tỏ khi những họa phẩm cổ như “Trúc Lâm Đại sĩ xuất sơn đồ” phát lộ Nhiều chợ - thị ở ngoài thành, cảng thị ở trong nước bên cạnh những trao đổi, buôn bán hàng hóa phổ dụng, việc bán tranh đã sớm được hình thành và song tồn với những hoạt động thương mại khác, mang những nét cơ bản khá tương đồng như hoạt động của thị trường tranh hay chợ tranh ngày nay Tuy chưa có sự tham dự một cách độc lập, nhưng tranh vẽ đã sớm có giao dịch ở chợ và cùng sự chắp cánh bay xa của những sản phẩm tinh xảo khác mà vượt ra ngoài biên giới lãnh thổ quốc gia bởi các nhu cầu giao thương Điều đó thực tế đã diễn ra, không phải chỉ đến khi xuất hiện các họa sĩ mỹ thuật cận đại và các gallery trên giấy với hoạt động đơn thuần dưới dạng

bài viết như Trịnh Cung đề cập tới trong cuốn sách Mỹ thuật Việt Nam những vấn

đề xoay quanh [23], khi đó mới có thị trường tranh ở Việt Nam Việc tham dự trưng

bày tranh, tượng trong các cuộc đấu xảo (Exposition) - cuộc thi và trưng bày triển lãm của các họa sĩ MTĐD có yếu tố nước ngoài những năm đầu thế kỷ XX cùng với

Trang 38

các hoạt động mỹ thuật tương tự khác, chính là hoạt động xúc tiến thương mại xuyên quốc gia đối với tác phẩm MTVN hiện đại nhìn dưới góc độ thị trường Tranh ở vai trò là sản phẩm văn hóa nghệ thuật tham gia mạnh mẽ vào hoạt động thương mại nội địa và xuyên biên giới đã được ghi nhận ở những năm đầu thế kỷ

XX, thời các họa sĩ MTĐD, như họa sĩ Lương Xuân Nhị cho biết: “Tranh của tôi thường bán được, lần triển lãm nào ít ra tôi cũng bán được một bức tranh, có khi mang đi triển lãm bao nhiêu tranh rồi về tay không Khoảng thời gian này năm thứ hai (1933 - 1934)” [14, tr.557] Việc bán tranh đã trở thành hoạt động giao thương đem lại nguồn thu nhập không nhỏ và trở nên khá phổ biến đối với các họa sĩ MTĐD, từ hoạt động đó đã tạo nên một thị trường tranh thu hút được sự quan tâm của công chúng Điều này, đã được nhắc đến trong khá nhiều công trình nghiên cứu

về lịch sử MTVN, trong cuốn sách Trường Mỹ thuật Đông Dương lịch sử và nghệ thuật của Quang Phòng - Quang Việt đã trích dẫn bài viết trên tờ L’Avenir du Tonkin (số ra ngày 25/2/1932) tại Triển lãm Thuộc địa Quốc tế Paris 1931 nói về

giá tiền thu được từ việc bán tranh của các họa sĩ MTĐD như sau: “Những người tham dự triển lãm đã đạt kết quả đáng kể vì số tiền thu được từ bán tranh lên tới khoảng 60.000 francs, trong khi chỉ riêng một học sinh, ông Nguyễn Phan Chánh,

đã thu được 20.000 francs từ các bức tranh lụa” [72, tr.8] (giá gạo 1.3 đồng/giạ - 40 listres tương đương với 68kg) Ngoài những hiệu quả thiết thực như kinh tế, giao lưu, quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài, v.v các hoạt động thị trường còn đem lại nguồn cảm hứng sáng tạo dồi dào cho các họa sĩ Vì vậy, những hoạt động như thế nhanh chóng trở nên sôi động khi các họa sĩ MTĐD đã tham dự khá dầy đặc các hoạt động mỹ thuật ở nước ngoài nên khi kiểm đếm một cách khái quát chỉ

trong khoảng thời gian hơn 10 năm, từ năm 1930 - 1943, tác giả Trần Khánh Chương (2012), Mỹ thuật Hà Nội cho biết: “Tác phẩm của các họa sĩ tốt nghiệp

Trường CĐMTĐD tham dự Đấu xảo thuộc địa năm 1931 ở Paris gồm Nguyễn Phan Chánh, Nam Sơn, Đỗ Đức Thuận, Tô Ngọc Vân, Mai Trung Thứ, v.v Cũng năm

1931, một số tác phẩm của họa sĩ Việt Nam đã được gửi đi dự Triển lãm tại Roma Năm 1932, một số tác phẩm của họa sĩ Việt Nam tiếp tục tham gia đấu xảo thuộc địa ở Paris (Pháp), v.v [15, tr.16] và sau đó là các năm 1935, các họa sĩ tham gia Triển lãm tại Đấu xảo Paris, năm 1937; Triển lãm Mỹ thuật tại San Fracisco (Mỹ); năm 1943, tại Nhật Bản, v.v

Trang 39

Sau 20 năm, quãng thời gian tồn tại của Trường CĐMTĐD, các hoạt động thị trường mỹ thuật Việt Nam ở nước ngoài có phần trống vắng Sự bất ổn định có nguyên nhân từ các cuộc chiến tranh trên thế giới và ở Việt Nam Ở miền Bắc, hoạt động thị trường tranh gần như không còn, nguồn lực xã hội đều dành cho các cuộc kháng chiến Ở miền Nam, thị trường mỹ thuật có hoạt động “từ 1967 tới 1973

…Nhiều gallery thương mại ra đời, nhiều triển lãm nhóm và cá nhân được trưng bày Tác phẩm chủ yếu bán cho người nước ngoài, v.v.” [78, tr.79] Đến khi hòa bình được lập lại, cuộc cải cách công thương nghiệp tư doanh bắt đầu trong cả nước Kinh tế tư nhân dần xóa bỏ nên hoạt động thị trường MTVN lại rơi vào khoảng trống, việc bán tranh ra nước ngoài rất ít, ngoại trừ việc trưng bày giao lưu

và làm quà tặng hoặc trao đổi không công khai trong Khối các nước XHCN (bản

chính bức tranh sơn mài Tình quân dân (1949) của họa sĩ Sĩ Ngọc là ví dụ) Việc

bán tác phẩm nếu có, chỉ diễn ra ở những tư gia với khách hàng là các nhà ngoại giao nhờ sự quen biết cá nhân (ông Petro Paris, Phó Đại sứ Italia tại Hà Nội với bộ sưu tập tranh các họa sĩ MTĐD của ông là một ví dụ điển hình) Trong giai đoạn này khá nhiều tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao của hội họa Việt Nam đã được bán

không công khai ra nước ngoài (ví dụ, tác phẩm Thiếu nữ bên hoa huệ của Tô Ngọc

Vân trong bộ sưu tập của Đức Minh) Điều đó cũng tương tự như Trung Quốc, khi

“tất cả những tác phẩm Trung Quốc đẹp nhất đã nằm trong các sưu tập hay các bảo tàng ở London, Tokyo, Paris và nhất ở là Mỹ” [72, tr.28]

Sau Đổi Mới, thị trường mỹ thuật hay chính xác hơn là thị trường tranh ở Việt Nam đã thực sự bùng nổ, đặc biệt từ khi có sự xuất hiện trở lại của các gallery Các hoạt động triển lãm, trưng bày giới thiệu, mua bán trở nên sôi động hơn bất cứ khi nào và thị trường này đã ngày càng thêm đổi thay Không chỉ tăng về diện mà

đã đổi cả về chất, khi một lần nữa có sự tham gia khá đông đảo của các gallery có hoạt động khác với hình thức truyền thống, đó là gallery trực tuyến (gallery online), nhà đấu giá, chợ nghệ thuật Điều đó minh chứng cho việc cung cầu về tranh - tác phẩm hội họa Việt Nam ngày càng phát triển mạnh mẽ Nhiều tác phẩm hội họa của các họa sĩ Việt Nam trở thành hàng hóa văn hóa có trong nhu cầu sở hữu được nhiều người tìm mua Thu nhập tăng lên, đời sống vật chất, tinh thần công chúng đã thay đổi và được nâng cao Trưng bày, trang trí từ nhà riêng cho tới các công trình công sở công cộng của Nhà nước đã đưa tác phẩm nghệ thuật vào những hạng mục

Trang 40

trang bị thiết yếu của công trình Trong cuốn Hội Mỹ thuật 60 năm xây dựng và phát triển (Trần Khánh Chương biên soạn, 2017) viết: “Lần đầu tiên trong việc xây dựng công sở, mỹ thuật được quan tâm đầu tư ngay từ đầu đó là trường hợp tranh tượng cho nhà Quốc hội Được biết, hiện nay Văn phòng mới của Chính phủ đang xây dựng và cũng bắt đầu quan tâm đưa tác phẩm mỹ thuật vào trang trí nội thất Đây là một tín hiệu vui” [15, tr.190] làm cho việc mua tranh lan tỏa trở thành nhu cầu trong công chúng (ví dụ, các căn hộ chung cư mẫu trong thời gian qua đều có tranh để trưng bầy và trang trí như một phần tất yếu), họa sĩ có thêm động lực sáng tác Họa sĩ bán được nhiều tranh hơn, giá cả cùng giá trị tranh cũng dần tăng lên, khiến thị trường nội địa phát triển tác động tới thị trường tranh ở ngoài nước trở nên sôi động hơn Thể hiện ở việc, các nhà đấu giá lớn trên thị trường nghệ thuật quốc

tế như Sotheby’s, Christie’s, Larasati, v.v thường xuyên có tác phẩm hội họa của các họa sĩ Việt Nam trong những phiên đấu giá thời gian qua Hòa vào xu thế đi lên

về giá tranh của thị trường mỹ thuật Đông Nam Á và châu Á, trong đó có Việt Nam

đã làm xuất hiện tên của nhiều họa sĩ hiện đại của chúng ta ở thị trường công khai ở khu vực này lọt vào danh sách họa sĩ có giá bán tác phẩm vượt ngưỡng 1 triệu USD Sau một thời gian, tranh của họa sĩ Việt Nam như Nguyễn Phan Chánh, Tô Ngọc

Vân tiến sát mốc giá trị ấy, tháng 4/2017 tranh lụa Cuộc sống gia đình (Family life,

khoảng 1937-1939) của họa sĩ Lê Phổ, Việt Nam cũng đã vượt qua với giá 1,172 triệu USD Cũng tại thị trường đó, hai năm sau, vẫn là tranh của Lê Phổ, tháng

5/2019, Bức tranh sơn dầu Khỏa thân (Nude, 1931) được bán với giá 1,4 triệu USD [152] Tháng 10/2020 tranh Thiếu nữ bên hoa mẫu đơn (Jeune fille aux pivoines,

khoảng 1940 -1945) của Lê Phổ được bán với giá hơn 1,164 triệu Euro Những thay đổi tích cực về giá trị tác phẩm ấy đã phản ánh một cách khách quan tốt đẹp về tiềm năng thị trường tranh Việt Nam ở ngoài nước Hiện nay, có không ít tác phẩm hội họa Việt Nam tham gia vào hoạt động mỹ thuật ở một số thị trường thứ cấp lớn, trong các cuộc đấu giá quốc tế, các chợ nghệ thuật với giá trị thương mại lớn, đồng thời giữ những vị trí khá quan trọng trên bản đồ hội họa khu vực và thế giới, góp phần không nhỏ vào việc quảng bá hình ảnh Việt Nam ra quốc tế

Như vậy, qua phân tích trên, có thể thấy nếu chỉ tính riêng tác phẩm hội họa Việt Nam hiện đại, kể từ khi dứt mạch với truyền thống trong quá khứ, được nhận thức và định vị là sản phẩm nghệ thuật sáng tạo đến nay đã trải qua thời gian hơn một

Ngày đăng: 13/09/2021, 15:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chí Anh (2013), “Trúc Lâm Đại Sĩ xuất sơn đồ”, Tạp chí Nghiên cứu Phật học, số 2, tr.16 - 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trúc Lâm Đại Sĩ xuất sơn đồ”, Tạp chí" Nghiên cứu Phật học
Tác giả: Chí Anh
Năm: 2013
2. Hoàng Anh (1998), “Mối quan hệ thương mại giữa Gallery - họa sĩ - thị trường”, Tạp chí Mỹ thuật thời nay, số 18, tr.32-34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ thương mại giữa Gallery - họa sĩ - thị trường”, Tạp chí "Mỹ thuật thời nay
Tác giả: Hoàng Anh
Năm: 1998
3. Hoàng Anh (2015), “Bán tranh Việt Nam ra nước ngoài”, Tạp chí Mỹ thuật, số 275-276, tr.10 - 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bán tranh Việt Nam ra nước ngoài”, Tạp chí" Mỹ thuật
Tác giả: Hoàng Anh
Năm: 2015
4. Phạm Tuấn Anh (chủ biên và cộng sự) (2011), Quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ, Nxb Khoa học kỹ thuật, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ
Tác giả: Phạm Tuấn Anh (chủ biên và cộng sự)
Nhà XB: Nxb Khoa học kỹ thuật
Năm: 2011
5. Thùy Ân (2016), “Với vấn nạn tranh giả - pháp luật của chúng ta hết sức lỏng lẻo”, Báo Lao động, số 161, tr.6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Với vấn nạn tranh giả - pháp luật của chúng ta hết sức lỏng lẻo”, Báo "Lao động
Tác giả: Thùy Ân
Năm: 2016
6. Tạ Quang Bạo (2014) Điêu khắc Tạ Quang Bạo, Nxb Mỹ thuật, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điêu khắc Tạ Quang Bạo
Nhà XB: Nxb Mỹ thuật
7. Nguyễn Chí Bền (chủ biên) (2006), Văn hóa Việt Nam, mấy vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Văn hóa Thông tin, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam, mấy vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Chí Bền (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2006
8. Bernice Chan (1998), “Giai đoạn khởi sắc của Hội họa Việt Nam”, Lê Đào dịch theo HK Life, 2.11.1997, Tạp chí Mỹ thuật thời nay, số 19, tr.42 - 44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giai đoạn khởi sắc của Hội họa Việt Nam”, Lê Đào dịch theo HK Life, 2.11.1997, Tạp chí" Mỹ thuật thời nay
Tác giả: Bernice Chan
Năm: 1998
9. Bộ Văn hóa - Thông tin (2003) Tuyển tập Mỹ thuật Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Văn hóa Thông tin, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Mỹ thuật Việt Nam thế kỷ XX
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
10. Nguyễn Tiến Cảnh (chủ biên) (1992), Mỹ thuật Huế, Xí nghiệp in Thừa Thiên Huế, Thừa Thiên Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ thuật Huế
Tác giả: Nguyễn Tiến Cảnh (chủ biên)
Năm: 1992
11. Nguyễn Du Chi (2001), Trên đường tìm về cái đẹp của cha ông, Nxb Mỹ thuật, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trên đường tìm về cái đẹp của cha ông
Tác giả: Nguyễn Du Chi
Nhà XB: Nxb Mỹ thuật
Năm: 2001
12. Nguyễn Trọng Chuẩn (2017), Văn hóa và sự phát triển bền vững đất nước trong bối cảnh biến đổi toàn cầu, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, Tạp chí Xã hội học, số 2 (138), tr.9 - 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 2017
13. Claude Mahoudot (1943), Nền hội họa Pháp ảnh hưởng ở Đông Dương, Tạp chí L’Indochine, No 171 ngày 9/12/1943 Sách, tạp chí
Tiêu đề: L’Indochine
Tác giả: Claude Mahoudot
Năm: 1943
14. Trần Khánh Chương (2012), Mỹ thuật Hà Nội thế kỷ XX, Nxb Mỹ thuật, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ thuật Hà Nội thế kỷ XX
Tác giả: Trần Khánh Chương
Nhà XB: Nxb Mỹ thuật
Năm: 2012
15. Trần Khánh Chương (chủ biên) (2017), Hội Mỹ thuật Việt Nam 60 năm xây dựng và phát triển, Nxb Mỹ thuật, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội Mỹ thuật Việt Nam 60 năm xây dựng và phát triển
Tác giả: Trần Khánh Chương (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Mỹ thuật
Năm: 2017
16. Thạch Chương (1960), “Giới thiệu một nhận thức siêu thực về nghệ thuật”, Tạp chí Sáng tạo, số 5 (11/1960), tr.97 - 102 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu một nhận thức siêu thực về nghệ thuật”, Tạp chí "Sáng tạo
Tác giả: Thạch Chương
Năm: 1960
17. Corinne de Ménonville (1998), “Cuộc phiêu lưu của nghệ thuật hiện đại Việt Nam”, Tạp chí Mỹ thuật thời nay, số 19, tr.39 - 41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc phiêu lưu của nghệ thuật hiện đại Việt Nam”, Tạp chí" Mỹ thuật thời nay
Tác giả: Corinne de Ménonville
Năm: 1998
19. Cục Bản quyền tác giả (2013), Từ nghệ sĩ đến công chúng (sách in nội bộ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ nghệ sĩ đến công chúng
Tác giả: Cục Bản quyền tác giả
Năm: 2013
20. Cục Sở hữu trí tuệ (2013), Tài liệu tập huấn về sở hữu trí tuệ dành cho cán bộ quản lý sở hữu trí tuệ của các cơ quan nhà nước, Nxb Khoa học Kỹ thuật, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn về sở hữu trí tuệ dành cho cán bộ quản lý sở hữu trí tuệ của các cơ quan nhà nước
Tác giả: Cục Sở hữu trí tuệ
Nhà XB: Nxb Khoa học Kỹ thuật
Năm: 2013
21. Nguyễn Đỗ Cung (1944), “Cái ‘hiếm’ có đáng quý không”, Báo Thanh Nghị số 90 (11/1944), tr.7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cái ‘hiếm’ có đáng quý không”, Báo "Thanh Nghị
Tác giả: Nguyễn Đỗ Cung
Năm: 1944

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w