Lời nói đầuTrong những năm gần đây, nền kinh tế nước ta có những chuyển biến to lớn đó là sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Cơ chế thị trường mở ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp nhưng cũng đặt ra không Ýt khó khăn, thách thức đòi hỏi doanh nghiệp phải điều chỉnh để thích nghi với môi trường đầy cạnh tranh khốc liệt và biến động. Sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp là phụ thuộc vào việc doanh nghiệp có tự bù đắp được chi phí đã bỏ ra trong quá trònh sản xuất kinh doanh và có lãi hay không? Xu hứng hiện nay là các doanh nghiệp không ngừng phấn đấu tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản xuất. Bởi lẽ, chi phí và giá thành là những chỉ tiêu kinh tế quan trọng của doanh nghiệp có liên quan chặt chẽ với nhau. Việc tính đúng, tính đủ chi phí xác định giá thành sản phẩm có ý nghĩa kinh tế vô cùng to lớn, giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp có những quyết định đúng đắn trong doanhnghiệp để đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất với chi phí thấp nhất.Để đáp ứng nhu cầu cấp thiết đó em xin trình bày một số ý kiến về kế toán chi phí sản xuất và tinhs giá thành sản phẩm ở các doanh nghiệp xây lắp dưới góc độ lý luận và thực tiễn trong chuyên đề thực tập tốt nghiệp này.Bố cục của chuyên đề :Chương I: Lý luận chung về công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp ở các doanh nghiẹp xây dựng Chương II: Tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Xây lắp và Vật tư xây dụng số 6 Chương III: Một số ý kiến nhằm hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Công ty Xây lắp và Vật tư xây dựng số 6.Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong khi làm chuyên đề này, song vì thời gian cũng như kiến thức có hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu xót, em rất mong nhận được sự dóng góp ý kiến của các thầy cô giáo để chuyên đề của em thêm phong phú về lý luận, thiết thực với thực tế.
Trang 1Lời nói đầu
Trong những năm gần đây, nền kinh tế nước ta có những chuyển biến to lớn đó là sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước Cơ chế thị trường mở ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp nhưng cũng đặt ra không Ýt khó khăn, thách thức đòi hỏi doanh nghiệp phải điều chỉnh để thích nghi với môi trường đầy cạnh tranh khốc liệt và biến động Sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp là phụ thuộc vào việc doanh nghiệp có tự bù đắp được chi phí đã bỏ ra trong quá trònh sản xuất kinh doanh và có lãi hay không? Xu hứng hiện nay là các doanh nghiệp không ngừng phấn đấu tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản xuất Bởi lẽ, chi phí và giá thành là những chỉ tiêu kinh tế quan trọng của doanh nghiệp có liên quan chặt chẽ với nhau Việc tính đúng, tính đủ chi phí xác định giá thành sản phẩm có ý nghĩa kinh tế vô cùng to lớn, giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp có những quyết định đúng đắn trong doanhnghiệp để đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất với chi phí thấp nhất
Để đáp ứng nhu cầu cấp thiết đó em xin trình bày một số ý kiến về kế toán chi phí sản xuất và tinhs giá thành sản phẩm ở các doanh nghiệp xây lắp dưới góc độ lý luận và thực tiễn trong chuyên đề thực tập tốt nghiệp này
Trang 2Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong khi làm chuyên đề này, song vì thời gian cũng như kiến thức có hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu xót, em rất mong nhận được sự dóng góp ý kiến của các thầy cô giáo để chuyên đề của
em thêm phong phú về lý luận, thiết thực với thực tế
Trang 3Chương i: lý luận chung về công tác
kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp ở các
doanh nghiệp xây dựng
i Đặc điểm của các sản phẩm xây lắp tác động đến tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất vật chất độc lập có chức năng tái sản xuất TSCĐ cho tất cả các ngành trong nền kinh tế quốc dân XDCB tạo nên
cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội, góp phần quan trọng trong việc xây dựng cơ
sở hạ tầng và công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước
Ngành XDCB có những đặc điểm riêng biệt khác với những ngành sản xuất khác như: chu kỳ sản xuất kéo dài, sản phẩm có tính đơn chiếc đó là những công trình, vật kiến trúc có qui mô lớn, kết cấu phức tạp, thời gian xây dựng và lắp đặt dài, sản phẩm không đem ra thị trường tiêu thụ hầu hết đã có người đặt hàng trước khi xây dựng và nơi sản xuất cũng đồng thời là nơi tiêu thụ sản phẩm
Chính những sự khác nhau đó đã ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý
và hạch toán trong xây dựng cơ bản
Quá trình từ khi khỏi công xây dựng đến công trình hoàn thành bàn giao, đưa vào sử dụng thường là dài, nó phụ thuộc vào qui mô và tính chất phức tạp
về kỹ thuật của từng công trình Quá trình thi công này thường được chia ra thành nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn thi công bao gồm nhiều công việc khác nhau Khi đi vào trong công việc cụ thể đôi khi do chịu ảnh hưởng của yếu tố thời tiết khí hậu làm ngừng quá trình sản xuất, làm cho tiến độ thi công công trình chậm đi Sở dĩ có hiện tượng có hiện tượng này bởi vì phần lớn các công trình đều được thực hiện ở ngoài trời, do vậy mà điều kiện thi công không có
Trang 4tính ổn định, luôn biến động theo địa điểm xây dựng và theo từng giai đoạn thi công công trình.
Các công trình được ký kết tiến hành thi công đều dựa trên đơn đặt hàng, hợp đồng cụ thể của bên giao thầu xây lắp Cho nên nó phụ thuộc vào nhu cầu của khách hàng và thiết kế kỹ thuật của công trình đó Khi có khối lượng xây lắp hoàn thành thì đơn vị xây lắp phải đảm bảo đúng tiến độ, đúng thiết kế kỹ thuật đảm bảo chất lượng công trình
giá thành công tác xây lắp.
Việc hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm giúp cho việc quản lý chặt chẽ và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư của nhà nước
Đáp ứng được các yêu cầu quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm thông qua việc cung cấp đầy đủ, chính xác kịp thời các thông tin về chi phí sản xuất, giá thành sản xuất sản phẩm, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
tính giá thành công tác xây lắp.
Xác định đúng đắn đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành phù hợp với điều kiện thực tế của doanh nghiệp thoả mãn yêu cầu quản lý đặt ra, vận dụng các phương pháp tập hợp chi phí và phương pháp tính giá thành một cách khoa học, hợp lý đảm bảo cung cấp một cách kịp thời, chính xác đầy đủ các số liệu cần thiết cho công tác quản lý Cụ thể là:
- Xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, phù hợp với tổ chức sản xuất ở doanh nghiệp, xác định đúng đối tượng tính giá thành
- Phản ánh đầy đủ, chính xác, kịp thời toàn bộ chi phí sản xuất ở doanh
Trang 5- Phản ánh đầy đủ, chính xác, kịp thời toàn bộ chi phí sản xuất thực tế phát sinh
Kiểm tra tình hình thực hiện các định mức chi phí vật tư, nhân công, sử dụng máy thi công và các dự toán chi phí khác Phát hiện kịp thời các khoản chênh lệch so với định mức dự toán, các khoản chi phí ngoài kế hoạch các khoản thiệt hại, mất mát, hư hỏng trong sản xuất và đề xuất những biện pháp ngăn chặn kịp thời
- Tính toán chính xác kịp thời giá thành sản phẩm xây lắp, các sản phẩm
và lao vụ hoàn thành khác của doanh nghiệp
- Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch hạ giá thành của doanh nghiệp theo từng công trình, hạng mục công trình, từng loại sản phẩm, lao vụ, vạch ra khả năng và các biện pháp hạ giá thành một cách hợp lý, hiệuquả
- Xác định đúng đắn và bàn giao thanh toán kịp thời khối lượng công tác xây lắp hoàn thành Định kỳ kiểm kê và đánh giá khối lượng thi công theo nguyên tắc qui định
Đánh giá đúng đắn kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh ở từng công trình, hạng mục công trình, từng bộ phận thi công, tổ đội sản xuất trong trường hợp nhất định, kịp thời lập báo cáo về chi phí sản xuất và giá thành công tác xây lắp, cung cấp chính xác kịp thời các thông tin có Ých về chi phí sản xuất
và giá thành phục vụ cho yêu cầu quản lý của lãnh đạo trong doanh nghiệp
Trang 6ii Những nội dung cơ bản về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp.
dùng.
1.1 Khái niệm chi phí sản xuất.
Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây dựng là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống, lao động vật hoá và các chi phí cần thiết khác
mà doanh nghiệp đã bỏ ra để tiến hành hoạt động xây lắp trong một thời kỳ nhất định
Giá trị của sản phẩm xây lắp được biểu hiện bằng công thức sau:
Gxl = c + v + mTrong đó:
c- toàn bộ giá trị về tư liệu sản xuất đã tiêu hao trong quá trình tạo ra sản phẩm xây lắp (khấu hao TSCĐ, chi phí NVL, chi phí nhân công, ) và nó được gọi là hao phí lao động vật hoá
v- Chi phí tiền lương, tiền công phải trả cho người lao động tham gia quá trình xây lắp tạo ra sản phẩm xây dựng Nó được gọi là hao phí lao động cần thiết.m- Giá trị mới do lao động sống tạo ra sản phẩm xây dựng
Ở doanh nghiệp xây lắp cần phải phân biệt giữa chi phí và chi tiêu Hai khái niệm này rất dễ nhầm lẫn nếu ta không phân tích cụ thể bản chất của chúng
Có trường hợp chi phí nhưng không phải chi tiêu và ngược lại
Chi tiêu trong kỳ của doanh nghiệp xây lắp bao gồm chi têu cho quá trình mua hàng quá trình sản xuất xây lắp, quá trình quản lý sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp xây lắp mang lại những hiệu quả khác nhau, cụ thể là:
Trang 7Chi tiêu cho quá trình mua hàng làm tăng tài sản củ doanh nghiệp (nguyên vật liệu, TSCĐ )
Chi tiêu cho quá trình sản xuất kinh doanh xây lắp làm cho các khoản tiêu dùng cho quá trình sản xuất kinh doanh tăng lên
Chi phí trong kỳ của xí nghiệp xây lắp bao gồm toàn bộ phần giá trị tài sản hao mòn hoặc tiêu dùng trong quá trình sản xuất xây lắp tính vào chi phí trong kỳ
Về mặt lượng chi phí xây lắp phụ thuộc vào hai yếu tố:
- Khối lượng lao động và tư liệu sản xuất đã bỏ ra trong quá trình xây lắp
1.2 Phân loại chi phí sản xuất
Để hạch toán chi phí sản xuất theo từng nội dung cụ thể, theo từng đối tượng tập hợp chi phí, đối tượng tính gía thành, phải tiến hành phân loại chi phí một cách khoa học, thống nhất theo những tiêu chuẩn nhất định
Phân loại chi phí một cách khoa học và hợp lý là một yêu cầu quan trọng trong công tác kế hoạch, công tác hạch toán và tính giá thành sản phẩm Tuỳ theo yêu cầu của công tác quản lý và hạch toán, mà có nhiều cách phân loại khác nhau:
1.2.1 Phân loại chi phí sản xuất theo tính chất kinh tế
Trang 8Theo tính chất kinh tế, các chi phí sản xuất được phân loại theo các yếu tố chi phí Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố chi phí là sắp xếp những chi phí
có chung tính chất kinh tế vào một yếu tố không kể chi phí đó phát sinh ở đâu, dùng vào mục đích gì trong công tác sản xuất sản phẩm ( phục vụ quản lý hay trực tiếp sản xuất )
Theo cách phân loại này thì toàn bộ các chi phí sản xuất của doanh nghiệp xây lắp được chia ra 7 yếu tố chi phí sau:
- Yếu tố chi phí nguyên liệu, vật liệu:
Bao gồm toàn bộ các chi phí về các loại nguyên liệu, vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu phụ tùng thay thế, vật liệu thiết bị xây dựng cơ bản mà doanh nghiệp
đã sử dụng cho các hoạt động sản xuất trong kỳ
- Yếu tố chi phí nhiên liệu, động lực:
Bao gồm toàn bộ các chi phí về nhiên liệu, động lực mà doanh nghiệp đã
sử dụng cho các hoạt động sản xuất trong kỳ
- Yếu tố chi phí tiền lương và các khoản phụ cấp theo lương:
- Yếu tố chi phí BHXH, BHYT, KPCĐ:
Bao gồm toàn bộ số tiền trích BHXH, BHYT, KPCĐ của công nhân và nhân viên hoạt động sản xuất trong doanh nghiệp
- Yếu tố chi phí khấu hao TSCĐ
Bao gồm toàn bộ số tiền trích khấu hao TSCĐ sử dụng cho sản xuất của doanh nghiệp
- Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài:
Bao gồm toàn bộ số tiền doanh nghiệp đã chi trả về các loại dịch vụ mua
từ bên ngoài nh tiền điện, tiền nước, tiền bưu phí phục vụ cho hoạt sản xuất
Trang 9- Yếu tố chi phí bằng tiền khác:
Bao gồm toàn bộ chi phí khác dùng cho hoạt động sản xuất ngoài các yếu
tố chi phí ở trên
Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố giúp ta biết được những chi phí gì
đã dùng vào sản xuất tỷ trọng của từng chi phí đó là bao nhiêu để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất từ đó cung cấp tài liệu để tổng hợp tính toán thu nhập quốc dân
1.2.2 Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích và công dụng của chi phí
Theo cách phân loại này, căn cứ vào mục đích và công dụng của chi phí trong sản xuất để chia ra các khoản mục chi phí khác nhau, mỗi khoản mục chi phí chỉ bao gồm những chi phí có mục đích va công dụng, không phân biệt chi phí đó có nội dung kinh tế như thế nào Do vậy cách phân loại này còn gọi là phân loại chi phí sản xuất theo khoản mục; trong doanh nghiệp xây lắp toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ được chia ra làm các khoản mục chi phí sau:
- Chi phí vật liệu trực tiếp:
Chi phí vật liệu trực tiếp là chi phí (đã tính đến hiện trường xây lắp) của các vật liệu chính, vật liệu phụ, vật liệu luân chuyển (ván khuôn, đà giáo ), bán thành phẩm cần thiết để tạo nên sản phẩm xây lắp
- Chi phí nhân công trực tiếp:
Bao gồm chi phí về tiền công, tiền trích BHXH, BHYT, KPCĐ của công nhân trực tiếp xây lắp, không tính vào khoản mục này số tiền công và trích BHXH, BHYT, KPCĐ của công nhân sử dụng máy thi công, nhân viên sản xuất chung (phân xưởng, đội sản xuất) nhân viên bán hàng và nhân viên quản lý
- Chi phí sử dụng máy thi công:
Là chi phí sử dụng máy thi công để hoàn thành sản phẩm xây lắp bao gồm
Trang 10+ Chi phí nhân công: là các chi phí liên quan và phải trả cho nhân công (thợ, điều khiển máy như: tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp, trích BHXH, BHYT, KPCĐ)
+ Chi phí vật liệu: là chi phí vật liệu dùng để chạy máy sửa chữa máy thi công
+ Chi phí dụng cụ sản xuất: là chi phí dụng cụ, công cụ dùng cho nhu cầu
sử dụng máy thi công
+ Chi phí khấu hao máy thi công: là toàn bộ số tiền trích khấu hao cơ bản của máy thi công
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: là toàn bộ chi phí về lao vụ, dịch vụ mua từ bên ngoài để sử dụng máy thi công nh: Chi phí về điện, nước, hơi, khí nén, chi phí sửa chữa máy thi công thuê ngoài
+ Chi phí bàng tiền khác: là những chi phí bằng tièn ngoài ngoài những chi phí nêu trên phục vụ cho sử dụng máy thi công
- Chi phí sản xuất chung:
Chi phí sản xuất chung là những chi phí dùng cho hoạt động sản xuất chung ở các đội (phân xưởng) ngoài 3 khoản mục đã nêu trên bao gồm 5 khoản:
+ Chi phí nhân viên phân xưởng (đội sản xuất) như: tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp của nhân viên quản lý đội xây dựng, trích BHXH, BHYT và KPCĐ của công nhân trực tiếp xây lắp, công nhân sử dụng máy và nhân viên quản lý, nhân viên kế toán thống kê, thủ kho, công nhân vận chuyển, sửa chữa ở xây dựng
+ Chi phí vật liệu: Bao gồm các chi phí vật liệu sử dụng chung nh vật liệu dùng để sửa chữa, bảo dưỡng TSCĐ, vật liệu văn phòng và những vật liệu dùng cho nhu cầu quản lý chung ở phân xưởng đội sản xuất
Trang 11+ Chi phí dụng cụ sản xuất: là chi phí về dụng cụ, công cụ dùng cho nhu cầu sản xuất chung ở phân xưởng đội sản xuất nh: khuôn mẫu, dụng cụ gá lắp, dụng cụ cầm tay, dụng cụ bảo hộ lao động, ván khuôn dàn giáo
+ Chi phí khấu hao tài sản cố định: Bao gồm toàn bộ số tiền trích khấu hao của TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình, TSCĐ thuê tài chính sử dụng ở các phân xưởng, đội sản xuất như khấu hao nhà xưởng, phương tiện vận tải, truyền dẫn TSCĐ khác
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài:
Là những chi phí về lao vụ dịch vụ mua từ bên ngoài để phục vụ cho hoạt động sản xuất chung ở phân xưởng, đội sản xuất nh chi phí về điện, nước, khí nén, hơi, chi phí điện thoại, Fax, chi phí sửa chữa TSCĐ thuê ngoài
+ Chi phí bằng tiền khác: Bao gồm những chi phí bằng tiền ngoài những chi phí nêu trên phục vụ cho nhu cầu sản xuất chung của phân xưởng, đội sản xuất
Phân loại chi phí theo đúng mục đích và công dụng kinh tế có tác dụng phục vụ cho yêu cầu quản lý chi phí sản xuất theo định mức, cung cấp số liệu cho việc tính giá thành sản phẩm xây lắp, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành
1.2.3 Phân loại chi phí sản xuất theo phương pháp tập hợp chi phí sản xuất và mối quan hệ với đối tượng chịu chi phí.
Theo cách phân loại này chi phí sản xuất được phân thành hai loại :
- Chi phí trực tiếp: Chi phí trực tiếp là những chi phí sản xuất quan hệ trực tiếp với việc sản xuất ra một loại sản phẩm, một công việc nhất định, căn cứ vào
số liệu từ chứng từ kế toán để ghi trực tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí
- Chi phí gián tiếp: chi phí gián tiếp là những chi phí sản xuất có liên quan
Trang 12thông qua phân bổ cho các đối tượng chịu chi phí có liên quan theo một tiêu thức thích hợp.
Cách phân loại chi phí sản xuất này có ý nghĩa trong việc xác định phương pháp kế toán tập hợp và phân bổ chi phí cho các đối tượng một cách đúng đắn, hợp lý
1.2.4 Phân loại chi phí theo nội dung cấu thành của chi phí
Theo cách phân loại này chi phí sản xuất chia ra làm 2 loại:
- Chi phí đơn nhất: Chi phí đơn nhất là chi phí do một yếu tố duy nhất cấu thành nh: vật liệu chính dùng trong sản xuất, tiền lương công nhân trực tiếp sản xuất
- Chi phí tổng hợp: Chi phí tổng hợp là những chi phí do nhiều yếu tố khác nhau tập hợp lại theo cùng một công dụng nh chi phí sản xuất chung
Theo cách phân loại này giúp cho việc đánh giá vai trò của trong loại chi phí trong việc hình thành sản phẩm để tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất thích hợp với từng loại chi phí
2.2 Khái niệm:
Giá thành sản phẩm xây lắp là toàn bộ chi phí sản xuất bao gồm chi phí vật liệu, chi phí nhân công, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí trực tiếp khác, tính cho công trình, hạng mục công trình hay khối lượng xây lắp hoàn thành, đến giai đoạn qui ước hoàn thành nghiệm thu, bàn giao và được chấp nhận thanh toán
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm đều phản ánh những hao phí trong quá trình sản xuất nhưng lại là hai khái niệm khác nhau Chi phí sản xuất chỉ tính trong một thời kỳ và được tập hợp theo từng kỳ nhất định, còn giá thành sản
Trang 13sang loại trừ đi chi phí thực tế của khối lượng xây lắp dở dang cuối kỳ và được tính theo từng hạng mục công trình.
2.2 Các loại giá thành sản phẩm xây lắp
+
Lãi định mức
Giá dự toán của
-Lãi định mức
*Giá thành kế hoạch
Giá thành kế hoạch dựa trên những định mức tiên tiến của nội bộ doanh nghiệp, nó phản ánh trình độ quản lý giá thành của doanh nghiệp
Giá thành kế hoạch công tác xây lắp
=
Giá thành
dự toán xây lắp
-Mức hạ giá thành dự toán
*Giá thành thực tế
Giá thành thực tế của sản phẩm xây lắp là biểu hiện bằng tiền của tất cả các chi phí thực tế phát sinh và nó được xác định theo số liệu do kế toán cung cấp
Ba loại giá thành trên có mối quan hệ với nhau về mặt số lượng
Trang 14Xuất phát từ đặc điểm của sản phẩm xây dựng, giá thành công tác xây lắp công được theo dõi trên hai chỉ tiêu: giá thành của sản phẩm xây lắp hoàn chỉnh
và giá thành khối lượng hoàn thành qui ước Trong đó:
- Giá thành của sản phẩm xây lắp hoàn chỉnh: là giá thành của những công trình, hạng mục công trình đã hoàn thành
- Giá thành khối lượng hoàn thành qui ước: là giá thành khối lượng hoàn thành đến một giai đoạn nhất định nhưng phải đảm bảo yêu cầu kỹ thuật và được nghiệm thu
trong doanh nghiệp xây dựng
Đối với các doanh nghiệp xây dựng, đối tượng tập hợp chi phí sản xuất thường được xác định theo từng công trình hay từng đơn đặt hàng Còn đối tượng tính giá thành là các hạng mục công trình, các giai đoạn công việc đã hoàn thành bàn giao, các sản phẩm lao vụ khác đã hoàn thành (nếu có)
Đối tượng tập hợp chi phí là căn cứ để mở các tài khoản, sổ chi tiết theo từng hạng mục công trình Còn việc xác định đối tượng tính giá thành sản phẩm
là căn cứ để kế toán lập các bảng biểu chi tiết tính giá thành sản phẩm và tổ chức công tác giá thành sản phẩm theo đối tượng tính giá
xây dùng
Hiện nay, các danh nghiệp xây dựng có thể áp dụng trong hai phương pháp: tập hợp chi phí sản xuất theo phương pháp kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ
4.1 Tài khoản sử dụng
• TK621: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Trang 15Tài khoản này dùng để theo dõi và hạch toán các khoản chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, được mở chi tiết cho từng đối tượng tập hợp chi phí.
Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 621:
Bên nợ: Giá trị thực tế nguyên liệu, vật liệu xuất ding trực tiếp cho sản
xuất chế tạo sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ, lao vô trong kỳ hạch toán
Bên có: - Trị giá nguyên liệu, vật liệu sử dụng không hết được nhập lại
kho
- Kết chuyển hoặc tính phân bổ trị giá nguyên liệu, vật liệu thực
sử dụng cho sản xuất, kinh doanh trong kỳ vào các tài khoản có liên quan
để tính giá thành sản phẩm, dịch vụ, lao vô
Tài khoản 621 không có số dư cuối kỳ
• TK 622: chi phí nhân công trực tiếp
Tài khoản này dùng để phản ánh chi phí nhân công trực tiếp sản xuất xây lắp, trực tiếp thực hiện lao vụ, dịch vụ
Kết cấuvà nội dung phản ánh của TK 622:
Bên nợ: - Chi phí nhân công trực tiếp tham gia hoạt động xây lắp bao
gồm tiền lương, tiền công lao động và các khoản trích trên tiền lương theo qui định
- Riêng đối với hoạt động xây lắp không bao gồm các khoản trích trên lương về BHXH, BHYT, KPCĐ
Bên có: Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp cho các đối tượng chịu chi
phí có liên quan (bên Nợ TK 154 hoặc TK 631)
Tài khoản này không có số dư cuối kỳ
• TK 623: Chi phí sử dụng máy thi công
Trang 16Tài khoản này dùng để tập hợp và phân bổ chi phí sử dụng xe, máy thi công phục vụ trực tiếp cho hoạt động xây lắp công trình.
Tài khoản này chỉ sử dụng để hạch toán chi phí sử dụng xe, máy thi công đối với trường hợp doanh nghiệp xây lắp thực hiện xây, lắp công trình theo phương thức thi công hỗn hợp vừa thủ công vừa kết hợp bằng máy
Trường hợp doanh nghiệp thực hiện xây lắp công trình hoàn toàn theo phương pháp bằng máy không sử dụng TK 623 “ chi phí sử dụng máy thi công”
mà doanh nghiệp hạch toán các chi phí xây lắp trực tiếp vào các TK 621, 622, 627
Không hạch toán vào TK 623 khoản trích về BHXH, BHYT, KPCĐ tính trên lương phải trả công nhân sử dụng máy thi công
TK 623 có 6 Tài khoản cấp 2:
- TK6231: Chi phí nhân công
- TK 6232: Chi phí vật liệu
- TK 6233: Chi phí dụng cụ sản xuất
- TK 6234: Chi phí khấu hao máy thi công
- TK 6237: Chi phí dịch mua ngoài
- TK 6238: Chi phí bằng tiền khác
Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 623:
Bên Nợ: Các chi phí liên quan đến máy thi công (chi phí nguyên vật liệu
cho máy hoạt động, chi phí tiền lương và các khoản phụ cấp lương, tiền công của công nhân trực tiếp điều khiển máy, chi phí bảo dưỡng, sửa chữa máy thi công )
Bên Có: Kết chuyển chi phí sử dụng máy thi công vào bên Nợ TK154 -
Trang 17Tài khoản 623 không có số dư cuối kỳ
• TK 627: Chi phí sản xuất chung
Tài khoản này dùng để phản ánh chi phí sản xuất của đội, công trường xây dựng gồm: lương nhân viên quản lý đội xây dựng, khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ được tính theo tỷ lệ (%) qui định hiện hành trên tiền lương phải trả cho công nhân trực tiếp xây lắp, nhân viên sử dụng máy thi công và nhân viên quản lý đội (thuộc biên chế doanh nghiệp) khấu hao TSCĐ dùng chung cho hoạt động của đội và những chi phí khác liên quan đến hoạt động của đội
Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 627:
Bên Nợ: Các chi phí sản xuất chung phát sinh trong kỳ
Bên Có: - Các khản ghi giảm chi phí sản xuất chung
- Kết chuyển chi phí sản xuất chung vào bên Nợ TK 154- Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
Tài khoản 627 không có số dư cuối kỳ
Tài khoản 627 - chi phí sản xuất chung có 6 TK cấp 2
- TK6271 - Chi phí nhân viên phân xưởng
- TK 6272 - Chi phí vật liệu
- TK 6273 - Chi phí dụng cụ sản xuất
- TK 6274 - Chi phí khấu hao TSCĐ
- TK 6277 - Chi phí dịch vụ mua ngoài
- TK 6278 - Chi phí bằng tiền khác
• Tài khoản 154: Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
Tài khoản này dùng để hạch toán, tập hợp chi phí sản xuất kinh doanh
Trang 18vụ, lao vô doanh nghiệp xây lắp áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên trong hạch toán hàng tồn kho.
Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 154:
Bên Nợ: - Các chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực
tiếp, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí sản xuất chung phát sinh trong kỳ liên quan đến giá thành sản phẩm xây lắp công trình hoặc giá thành theo giá khoán nội bộ
- Các chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí sản xuất chung phát sinh trong kỳ liên quan đến sản xuất sản phẩm công nghiệp và dịch vụ lao vụ khác
- Giá thành xây lắp của nhà thầu phụ hoàn thành bàn giao cho nhà thầu chính được xác định tiêu thụ trong kỳ kế toán
Bên Có: - Giá thành sản phẩm xây lắp hoàn thành bàn giao (từng phần,
hoặc toàn bộ) được coi là tiêu thụ, hoặc bàn giao cho đơn vị nhận thầu chính xây lắp (cấp trên hoặc nội bộ), hoặc nhập kho thành phẩm chờ tiêu thụ
- Giá thành thực tế của sản phẩm đã chế tạo xong nhập kho hoặc chuyển đi bán
- Chi phí thực tế của khối lượng lao vụ, dịch vụ đã hoàn thành cung cấp cho khách hàng
- Giá thành xây lắp của nhà thầu phụ hoàn thành bàn giao cho nhà thầu chính được xác định trong kỳ kế toán
- Trị giá phế liệu thu hồi, trị giá sản phẩm hỏng không sửa chữa được
Trang 19Số dư bên Nợ: - Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang còn dở dang cuối
4.2.1 Kế toán chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp.
Chi phí về nguyên liệu, vật liệu tronh doanh nghiệp xây lắp là những chi phí về nguyên vật liệu chính, vật kết cấu nửa thành phẩm mua ngoài, vật liệu phụ, vật liệu khác sử dụng để cấu tạo công trình Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thường được xây dựng định mức chi phí hoặc dự toán chi phí và tổ chức quản lý chóng theo định mức hoặc dự toán
Việc sử dụng nguyên liệu, vật liệu trực tiếp để sản xuất ssản phẩm, hạng mục công trình nào phải tính trực tiếp cho sản phẩm, hạng mục công trình đó trên cơ sở chứng từ gốc theo giá thực tế của vật liệu và theo số lượng vật liệu thực tế đã sử dụng
• Phương pháp hạch toán một số hoạt động kinh tế chủ yếu
Trang 20- Trong kỳ khi xuất kho vật liệu chính, vật liệu phụ sử dụng trực tiếp cho sản xuất xây lắp thực hiện dịch vụ, lao vụ, căn cứ vào phiếu xuất kho nguyên liệu, vật liệu kế toán ghi:
Nợ TK 621 - Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp
Có TK 152 - Nguyên liệu, vật liệu
- Trường hợp vật liệu xuất dùng sử dụng cho SXKD xây lắp, nhưng không sử dụng hết, nhập lại kho, ghi:
Nợ TK 152 - Nguyên liệu, vật liệu
Có TK 621 - Chi phí nguyên liệu vật liệu trực tiếp
- Cuối kỳ hạch toán, kết chuyển chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp theo đối tượng tập hợp chi phí, ghi:
Nợ TK 154 - Chi phí, vật liệu SXKD dở dang (chi tiết theo từng công trình)
Có TK 621 - Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp
4.2.2 Kế toán chi phí nhân công trực tiếp.
Chi phí nhân công trực tiếp là khoản tiền phải trả, phải thanh toán cho công nhân trực tiếp sản xuất xây lắp, trực tiếp thực hiện các lao vụ, dịch vụ gồm tiền lương chính, lương phụ, các khoản phụ cấp, tiền trích BHXH, BHYT, KPCĐ theo thời gian phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất Riêng đối với hoạt động xây lắp, không hạch toán vào chi phí nhân công trực tiếp khoản tính BHXH, BHYT, KPCĐ tính trên quỹ lương nhân công trực tiếp hoạt động xây lắp
Không được tính vào chi phí nhân công trực tiếp, các khoản tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp của công nhân sử dụng máy móc thiết bị nhân viên phân xưởng (đội sản xuất), nhân viên bán hàng và nhân viên quản lý doanh nghiệp
Trang 21• Phương pháp hạch toán một số hoạt động kinh tế chủ yếu:
- Chi phí tiền lương vào các khoản phụ cấp phải trả cho công nhân trực tiếp xây lắp trong kỳ hạch toán ghi:
Nợ TK622 - Chi phí nhân công trực tiếp
Có TK 334 - Phải trả công nhân viên
- Trường hợp doanh nghiệp có thực hiện trích trước tiền lương nghỉ phép theo kế hoạch thì số tiền trích trước tiền lương nghỉ phép của công nhân trực tiếp xây lắp cũng tính là chi phí nhân công trực tiếp Khi tính trước chi phí này và chi phí trong kỳ, ghi:
Nợ TK 622 - Chi phí nhân công trực tiếp
Có TK 335 - Chi phí trả trước
- Tính, trích BHXH, BHYT và kinh phí công đoàn của công nhân trực tiếp sản xuất (chỉ đối với hoạt động sản xuất sản phẩm công nghiệp hoặc động cung cấp dịch vụ):
Nợ TK 622 - Chi phí nhân công trực tiếp
Có TK 338 - Phải trả phải nộp khác
(chi tiết TK 3382, 3383, 3384)
Cuối kỳ kế toán, kết chuyển chi phí nhân công rực tiếp vào các khoản trích theo lương cho các đối tượng chịu chi phí, ghi:
Nợ TK 154 - Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
(Chi tiết cho từng hạng mục công trình)
Có TK622 - Chi phí nhân công trực tiếp
4.2.3 Phương pháp hạch toán khoản mục chi phí sử dụng máy thi công
Trang 22Khoản mục chi phí sử dụng máy thi công bao gồm: Chi phí cho các máy thi công nhằm thực hiện khối lượng công tác xây, lắp bằng máy Chi phí sử dụng máy thi công gồm: Chi phí thường xuyên và chi phí tạm thời
Chi phí thường xuyên sử dụng máy thi công gồm: Lương chính lương phụ của công nhân điều khiển máy, phục vụ máy Chi phí vật liệu, chi phí công cụ dụng cụ, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí dịch vụ mua ngoài (chi phí sửa chữa nhỏ, điện nước ), chi phí khác bằng tiền
Chi phí tạm thời sử dụng máy công gồm: Chi phí sửa chữa lớn máy thi công (đại tu, trung tu ), chi phí công trình tạm thời cho máy thi công (lều, lán ), chi phí tạm thời có thể phát sinh trước (được hạch bên Nợ TK 142) Sau
đó sẽ phân bổ dần vào Nợ TK 623 Hoặc phát sinh sau nhưng phải tính trước vào chi phí sản xuất xây lắp trong kỳ trường hợp này phải tiến hành trích trước chi phí tạm thời sử dụng máy thi công
4.2.4 Kế toán chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung là những chi phí quản lý phục vụ cho sản xuất và những chi phí sản xuất ngoài ba khoản vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp và chi phí sử dụng máy thi công, phát sinh ở các đội xây dựng, công trình xây dựng
Trang 23như chi phí nhân viên đội xây dựng, chi phí vật liệu, công cụ, dụng cụ dùng ở đội sản xuất, chi phí khấu hao TSCĐ
Chi phí phí sản xuất chung phải được tập hợp theo từng địa điểm phát sinh chi phí, nếu trong doanh nghiệp có nhiều đội xây dựng phải mở sổ chi tiết
để tập hợp chi phí sản xuất chung cho từng đội xây dựng
Cuối tháng chi phí sản xuất chung đã tập hợp được kết chuyển để tính giá thành sản phẩm Chi phí sản xuất chung của đội xây dựng nào kết chuyển vào tính giá thành của sản phẩm, công việc của đội xây dựng (thi công) đó Trong trường hợp một đội xây dùng trong kỳ có xây dựng (thi công) nhiều công trình, hạng mục công trình thì phải tiến hànhphân bổ chi phí sản xuất chung cho các công trình, hạng mục công trình có liên quan
SƠ ĐỒ HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT CHUNG
(nếu tổ chức theo từng tổ đội sản xuất)
Trang 24Khấu hao TSCĐ thuộc đội sản
Trang 25SƠ ĐỒ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG CÁC DOANH NGHIỆP THỰC HIỆN KẾ TOÁN HÀNG TỒN KHO THEO PHƯƠNG PHÁP KÊ KHAI THƯỜNG
XUYÊN
TK 621 TK 154 TK 155
Cuối kỳ, kết chuyển Sản phẩm xây lắp
chi phí NVL trực tiếp chờ tiêu thụ hoặc
chưa bàn giao
TK 622 TK 138, 334
Cuối kỳ, kết chuyển chi phí Bồi thường phải thu hoặc trừ
nhân công trực tiếp vào lương do sản phẩm hỏng
TK 623 TK 632
Cuối kỳ tính toán, phân bổ và Giá thành thực tế công tác
kết chuyển chi phí SDMTC xây lắp hoàn thành bàn giao,
Trang 264.3 Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp thực hiện kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ
Sản phẩm làm dở trong các doanh nghiệp xây lắp là các công trình, hạng mục công trình dở dang chưa hoàn thành hay khối lượng công tác xây lắp trong
kỳ chưa được bên chủ đầu tư nghiệm thu, chấp nhận thanh toán
Đánh giá sản phẩm làm dở là tính toán xác định phần chi phí sản xuất trong kỳ cho khối lượng sản phẩm là dở cuối kỳ theo nguyên tắc nhất định
Muốn đánh giá sản phẩm làm dở một cách chính xác trước hết phải tổ chức kiểm kê chính xác khối lượng công tác xây lắp hoàn thành theo qui ước ở từng giai đoạn thi công để xác định khối lượng công tác xây lắp dở dang, phát hiện tổn thất trong quá trình thi công
Chất lượng của công tác kiểm kê khối lượng xây lắp dở dang có ảnh hưởng đến tính xác cử việc đánh giá sản phẩm làm dở và tính giá thành Do đặc điểm của sản phẩm xây dựng là kết cấu phức tạp nên việc xác định chính xác mức độ hoàn thành cuả nó rất khó
Khi đánh giá sản phẩm kế toán cần kết hợp chặt chẽ với bộ phận kỹ thuật,
bộ phận tổ chức lao động để xác định mức độ hoàn thành của khối lượng xây lắp
dở dang một cách chính xác Dựa trên kết quả kiểm kê sản phẩm làm dở đối với doanh nghiệp xây lắp thường áp dụng một số phương pháp đánh giá sản phẩm làm dở sau:
Trang 275.1 Phương pháp đánh giá theo chi phí dự toán
Theo phương pháp này thì chi phí thực tế của khối lượng xây lắp dở dang (KLXLDD) cuối kỳ được xác định nh sau:
5.2 Phương pháp đánh giá sản phẩm làm dở theo tỷ lệ hoàn thành tương đương
Theo phương pháp này thì chi phí thực tế của KLXLDD cuối kỳ được xác định nh sau:
đầu kỳ
+
Chi phí thực tế lắp đặt thực hiện
trong kỳ
Chi phí theo dự toán KLXLDD
đã tính đổi theo sản lượng hoàn thành tương đương
x
Giá trị dự toán của KLXL hoàn thành bàn giao trong kỳ theo dự toán
+
Chi phí theo dự toán KLXLDD cuối
kỳ tính theo sản lượng hoàn thành tương đương
Chi phÝ thùc tÕ
KLXLDD cuèi kú
CP thùc tÕ KLXLDD ®Çu kú
CP thùc tÕ KLXL thùc tÕ trong kú
CP dù to¸n KLXL hoµn thµnh bµn giao trong kú
CP KLXL cuèi kú theo dù to¸n
CP KLXLDD cuèi kú
=
+
+
X
Trang 285.3 Phương pháp đánh giá sản phẩm làm dở theo dự toán
Theo phương pháp này chi phí thực tế của khối lượng dở dang cuối kỳ được tính theo công thức:
+ Chi phí thực tế lắp đặt thực hiện trong
kỳ
X
Giá dự toán KLXLDD cuối kỳ
Giá trị dự toán của KLXL hoàn thành bàn giao trong kỳ
+ Giá trị dự toán của
KLXLDD cuối kỳ
Đối với công việc nh sửa chữa, hoàn các công trình có gía trị nhỏ, thời gian thi công ngắn theo hợp đồng được bên chủ đầu tư thanh toán sau khi hoàn thành toàn bộ công việc Lúc này giá trị sản phẩm làm dở cuối kỳ là toàn bộ chi phí sản xuất thực tế phát sinh từ khi thi công cho đến thời điểm kiểm kê đánh giá
6 Phương pháp tính giá thành sản phẩm công tác xây lắp
Phương pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp là phương pháp sử dụng số liệu về chi phí xây lắp để tính toán ra tổng giá thành và giá thành đơn vị thực tế của sản phẩm xây lắp đã hoàn thành theo các yếu tố hoặc các khoản mục giá thành trong kỳ tính giá thành xây lắp đã được xác định
Kỳ tính giá thành xây lắp là thời kỳ bộ phận kế toán giá thành cần phải tiến hành tính giá thành cho các công trình, hạng mục công trình Tuỳ theo đặc điểm của từng đối tượng tính gía thành và mối quan hệ giữa các đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành mà mà kế toán phải chọn lựa, sử
Trang 29dụng một hoặc kết hợp nhiều phương pháp để tính giá thành cho một đối tượng hay nhiều đối tượng và ngược lại Trong các doanh nghiệp xây lắp thường áp dụng các phương pháp sau:
_ Phương pháp tính giá thành giản đơn
_ Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng
_ Phương pháp tính giá thành định mức
_ Phương pháp tính giá thành tổng cộng chi phí
6.1 Phương pháp tính giá thành giản đơn :
Phương pháp này là phương pháp tính giá thành phổ biến trong các doanh nghiệp xây lắp hiện nay vì sản xuất thi công mang tính chất đơn chiêc, đối tượng tập hợp chi phí sản xuất phù hợp với đối tượng tính giá thành Hơn nữa, áp dụng phương pháp này đảm bảo cho việc cung cấp kịp thời số liệu gía thành trong mỗi kỳ báo cáo, tính toán đơn giản và thực hiện dễ dàng
Theo phương này tập hợp các chi phí sản xuất phát sinh trực tiếp cho một công trình hoặc hạng mục công trình từ khi khởi công đến khi hoàn thành chính
là giá thành thực tế của công trình, hạng mục công trình tập hợp chi phí sản xuất, tập hợp theo công trình hoặc cả công trình nhưng giá thành thực tế phải tính riêng Công ty từng hạng mục công trình Có thể căn cứ vào chi phí sản xuất của cả nhóm và hệ số kinh tế kỹ thuật đã qui định cho từng hạng mục công trình nhằm tính giá thành cho hạng mục công trình đó Kỳ tính giá thành phù hợp với
kỳ báo cáo
Trong trường hợp công trình, hạng mục công trình chưa hoàn thành toàn
bộ mà có khối lượng xây lắp hoàn thành bàn giao cần phải tính giá thành thực tế, thì:
Giá thành thực = Chi phí thực + Chi phí thực - Chi phí thực
Trang 30lượng bàn giao đầu kỳ trong kỳ cuối kỳ
Nếu các hạng mục công trình có thiết kế khác nhau, dự toán khác nhau nhưng cùng thi công trên một địa điểm do một đơn vị công trường sản xuất đảm nhiệm và không có điều kiện quản lý Theo dõi việc sử dụng các loại chi phí khác nhau cho từng hạng mục công trình thì từng loại chi phí đã tập hợp trên toàn bộ công trình đều phải tiến hành phân bổ cho từng hạng mục công trình
Khi đó giá thành thực tế của từng hạng mục công trình là :
Nếu ta gọi Gdti : Là giá trị dự toán của hạng mục công trình i
Gdt : Là tổng dự toán của tất cả các hạng mục công trình
C : Là tổng chi phí thực tế của từng hạng mục công trình
6.2 Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng
Phương pháp này áp dụng đối với các doanh nghiệp xây lắp theo đơn đặt hàng Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là từng đơn đặt hàng
Theo phương pháp này hàng tháng chi phí sản xuất thực tế phát sinh được tập hợp theo từng đơn đặt hàng và khi nào hoàn thành hạng mục công trình,
Trang 31công trình thì chi phí sản xuất của đơn đặt tập hợp được cũng chính là giá thành thực tế của đơn đặt hàng đó.
Nếu đơn đặt hàng gồm nhiều hạng mục công trình, đơn nguyên khác nhau thì phải tính toán xác định số chi phí của từng hạng mục công trình, công trình, đơn nguyên liên quan đến đơn đặt hàng Những chi phí trực tiếp được tập hợp thẳng vào hạng mục công trình, đơn nguyên, những chi phí liên quan đến hạng mục công trình (thường là chi phí sản xuất chung) thì được tính toán phân bổ cho từng hạng mục công trình
6.3 Phương pháp tính giá thành định mức.
Bước 1: Tính giá thành định mức của sản phẩm xây lắp:
Giá thành định mức của sản phẩm xây lắp được căn cứ vào định mức kinh tế
kỹ thuật hiện hành để tính Tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ thể mà tính giá thành định mức Nó bao gồm giá thành định mức của các bộ phận chi tiết cấu thành nên sản phẩm xây lắp hoặc giá thành sản phẩm của từng giai đoạn công trình, hạng mục công trình hoặc có thể tính luôn cho sản phẩm xây lắp
Bước 2: Xác định số chênh lệch do thay đổi định mức.
Bởi giá thành định mức xây lắp tính theo các định mức hiện hành nên khi thay đổi định mức hiện hành nên khi thay đổi định mức cần phải tính toán lại định mức mới
Việc thay đổi định mức thường được tiến hành nên khi thay đổi định mức cần phải tính toán lại định mức mới
Việc thay đổi định mức thường được tiến hành vào đầu tháng nên việc tính toán số chênh lệch do thay đổi định mức chỉ cần tính đối với sản phẩm làm dở đầu kỳ vì chi phí tính cho sản phẩm làm dở đầu kỳ (cuối kỳ trước) là theo định mức cũ
Trang 32Chênh lệch do thay đổi định mức = Định mức cũ - Định mức mới
Chi phí định mức (theo khoản mục)
Sau khi xác định được giá thành định mức, chênh lệch do thay đổi và thoát ly định mức sẽ tính được giá thành thực tế của sản phẩm xây lắp nh sau:
+-
Chênh lệch
do thay đổi định mức
+-
Chênh lệch
do thoát ly định mức
• Ưu điểm của phương pháp này:
- Áp dụng phương pháp tính giá thành theo định mức có tác dụng rất lớn trong
Trang 33sử dụng chi phí sản xuất có hợp lý không, có hiệu quả không, tiết kiệm hay lãng phí chi phí sản xuất ngay cả khi chưa có sản phẩm hoàn thành.
- Giảm bớt được khối lượng tính toán nhằm nâng cao hiệu quả công tác trong doanh nghiệp xây lắp
- Tính giá thành nhanh, phát hiện kịp thời nguyên nhân làm tăng giá thành, từ
đó có biện pháp khắc phục
• Nhược điểm:
- Áp dụng phương pháp này khi tính giá thành phải căn cứ vào định mức của nhà nước, mà nó lại được áp dụng trong một thời gian dài, không sát thực tế của mỗi doanh nghiệp gây ra tình trạng giá thành sản phẩm xây lắp của doanh nghiệp thiếu chính xác thiếu thực tế
6.4 Phương pháp tổng cộng chi phí
Phương pháp này áp dụng thích hợp với việc xây lắp các công trình có giá trị rất lớn, qui trình côngnghệ phức tạp, do đó quá trình xây lắp sản phẩm có thể chia ra cho nhiều đội khác nhau (nghĩa là mỗi đội chịu trách nhiệm thi công một phần công vệc của công trình) Khi đó đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là từng đội sản xuất còn đối tượng tính giá thành là sản phẩm cuối cùng Để tính giá thành sản phẩm cuối cùng phải tổng hợp chi phí sản xuất ở từng đội sản xuất rồi trừ đi chi phí thực tế của sản phẩm dở dang đầu kỳ
Công thức:
Z =Dđk + C1 + C2 + + Cn - Dck
C1, C2, , Cn : là chi phí sản xuất ở từng đội sản xuất hay từng hạng mục công trình
Trang 34SƠ ĐỒ HẠCH TOÁN TỔNG HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
XÂY LẮP (THEO PHƯƠNG PHÁP KÊ KHAI THƯỜNG XUYÊN)
Trang 357 Sơ qua về các hình thức kế toán trong các đơn vị:
Hiện nay ở nước ta các đơn vị đang sử dụng một trong các hình thức kế toán sau:
• Sơ đồ trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức Nhật ký - Sổ cái
Chøng tõ gècB¶ng tæng hîp chøng tõ gèc
sæ c¸i
Sæ kÕ to¸n chi tiÕt
Trang 36• Đặc điểm của hình thức kế toán Nhật ký chung là sử dụng sổ Nhật ký chung
để ghi chép tất cả các hoạt động kinh tế tài chính theo thứ tự thời gian và theo quan hệ đối ứng tài khoản, sau đó sử dụng số liệu ở sổ Nhật ký chung để ghi
sổ cái các tài khoản liên quan
• Sơ đồ trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán Nhật ký chung
B¸o c¸o tµi chÝnh
Chøng tõ gèc gècgèc
NhËt ký chung
Sæ c¸i
Sæ, thÎ h¹ch to¸n chi tiÕt
NhËt ký
chuyªn dïng
Trang 37• Sơ đồ trỡnh tự ghi sổ kế toỏn theo hỡnh thức kế toỏn Nhật ký - chứng từ
Bảng cân đối tài khoản
Báo cáo kế toán
Bảng tổng hợp chi tiết
hạch toán chi tiết
Trang 38• Sơ đồ trình tự ghi sổ theo hình thức kế toán chứng từ ghi sổ
Trang 39Chứng từ ghi sổ
Sổ cái
Bảng cân đối tài khoản
Báo cáo kế toán
Trang 40ChươngII: Tình hình công tác kế toán tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Công ty xây lắp
và vật tư xây dựng số 6.
1 Công tác tập hợp chi phí sản xuất tại Công ty xây lắp và vật tư xây dựng số 6.
Do đặc điểm riêng biệt của hoạt động xây lắp qui trình sản xuất phức tạp, thời gian xây dựng thường kéo dài, sản phẩm sản xuất là đơn chiếc có qui mô lớn, nơi sản xuất cũng là nơi tiêu thụ Do vậy đối tượng tập hợp chi phí sản xuất của Công ty là từng công trình, hạng mục công trình
Mỗi công trình, hạng mục công trình từ khi khởi công đến khi hoàn thành bàn giao đều được lập vào các sổ chi tiết chi phí sản xuất cho thực tế phát sinh cho công trình, hạng mục công trình đó
Hiện nay chi phí sản xuất của Công ty được chia thành ba loại:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
- Chi phí nhân công trực tiếp
- Chi phí sản xuất chung
Phương pháp và qui trình kế toán tập hợp chi phí sản xuất ở Công ty được thực hiện như sau:
1.1 Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
- Tại Công ty hiện nay tínhthuế theo phương pháp khấu trừ vì vậy phần nguyên vật liệu khi các tổ đội sản xuất xây dựng mua vào có hoá đơn giá trị gia tăng (GTGT) thì sẽ được khấu trừ Khi được thanh về một công trình, hạng mục công trình hoặc một phần công việc hoàn thành bàn giao đều phải nộp thuế GTGT