Giúp học sinh tự tin hơn trong học tập để các em hoàn thành nhiệm vụ học tập và tiếp tục học tập ở các lớp cao hơn; Áp dụng chuyên đề này, tôi tin là đa số học sinh trong lớp, các em đều[r]
Trang 1- Việc giúp học sinh tiếp thu kiến thức mới một cách tốt nhất thì cần phải
có phương pháp giảng dạy và đổi mới các phương pháp cũ như thế nào chothích hợp Song việc đổi mới như thế nào, bắt đầu từ đâu, người thực hiện ra saothì quả là không dễ dàng chút nào Muốn làm được việc đó phải dày côngnghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo Mà trước hết là người giáo viên giảng dạy Thấmnhuần tinh thần đó, thời gian qua bản thân tôi đã không ngừng nghiên cứu, tìmtòi, chủ động nắm bắt để giảng dạy có hiệu quả Tuy nhiên, đây cũng chỉ làthành công bước đầu;
- Chuẩn kiến thức, kĩ năng là các yêu cầu cơ bản, tối thiểu mà tất cả họcsinh cần phải đạt được sau từng giai đoạn học tập Chuẩn kiến thức, kĩ năng mônToán đối với từng lớp ở tiểu học đã được quy định tại Chương trình sách giáodục phổ thông cấp Tiểu học;
- Bên cạnh đó, Toán là một môn có vị trí và nhiệm vụ hết sức quan trọng.Bởi lẽ Toán học không những cung cấp cho học sinh những kiến thức, kỹ năngcần thiết để học lên các lớp trên hay áp dụng vào cuộc sống, mà toán học còngóp phần quan trọng trong việc hình thành nhân cách ở học sinh, và hỗ trợ đắclực cho mục tiêu giáo dục toàn diện cho các em;
- Mặt khác, trong trường tiểu học hiện nay, cùng với môn Tiếng Việt,môn Toán là môn có thời lượng giảng dạy cao hơn hẳn các môn học khác Điều
đó cho thấy môn Toán hết sức quan trọng trong việc dạy học, đặc biệt là lớp 3;
- Vì vậy, để giúp học sinh nắm vững kiến thức, kĩ năng làm nền tảng choviệc học tốt môn Toán là một vấn đề hết sức quan trọng, đòi hỏi người làmcông tác giáo dục phải nghiên cứu, tìm những biện pháp giảng dạy hay, giúp họcsinh dễ hiểu, phù hợp để hình thành kiến thức, kĩ năng nhằm giúp học sinh họctốt môn toán
2 Lịch sử của đề tài
Trong chương trình giáo dục tiểu học hiện nay, môn Toán cùng với cácmôn học khác trong nhà trường Tiểu học có những vai trò góp phần quan trọngđào tạo nên những con người phát triển toàn diện
Toán học là môn khoa học tự nhiên có tính lôgíc và tính chính xác cao, nó
là chìa khóa mở ra sự phát triển của các bộ khoa học khác
Muốn học sinh Tiểu học học tốt được môn Toán thì mỗi người Giáo viênkhông phải chỉ truyền đạt, giảng giải theo các tài liệu đã có sẵn trong Sách giáokhoa, trong các sách hướng dẫn và thiết kế bài giảng một cách rập khuôn, máy
Trang 2móc làm cho học sinh học tập một cách thụ động Nếu chỉ dạy học như vậy thìviệc học tập của học sinh sẽ diễn ra thật đơn điệu, tẻ nhạt và kết quả học tập sẽkhông cao Nó là một trong những nguyên nhân gây ra cản trở việc đào tạo các
em thành những con người năng động, tự tin, sáng tạo sẵn sàng thích ứng vớinhững đổi mới diễn ra hàng ngày
3 Mục đích nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu
a Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này nhằm giúp học sinh học tốt môn Toán Hình thànhcho các em kĩ năng tính toán để giải được các bài toán trong chương trình sáchgiáo khoa Toán lớp 3 và các bài toán nâng cao Giúp các em biết vận dụng vàocuộc sống
b Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng: Môn Toán lớp 3;
- Đối tượng khảo sát thực nghiệm: Học sinh lớp 3A, Trường Tiểu họcVạn Thạnh 2
4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu, thời gian nghiên cứu
a Nhiệm vụ
Xuất phát từ tình hình thực tế, để giúp các em nắm và biết cách làm cácdạng toán, các bài toán trong sách giáo khoa.Để làm được điều đó thì cần phải
có phương pháp phù hợp như sau:
Bước 1: Giúp học sinh nắm chắc các kiến thức lí thuyết của môn toán;
Bước 2: Hướng dẫn học sinh nhận dạng các dạng toán;
Bước 3: Hướng dẫn học sinh nắm chắc phương pháp làm từng loại bài;
Bước 4: Luyện tập, làm các bài tập và củng cố kiến thức cho học sinh
Để giải quyết các nhiệm vụ trên, tôi càng bám sát vào các phương pháp, hìnhthức tổ chức dạy học toán cho học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 3Anói riêng Tạo hứng thú cho học sinh học tốt và vận dụng vào cuộc sống
b Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp đàm thoại, trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp, với họcsinh lớp 3A;
* Phương pháp quan sát, điều tra;
- Truyền đạt, phỏng vấn giáo viên;
- Điều tra học sinh, các loại vở bài tập
* Phương pháp nghiên cứu lí luận:
- Đọc các tài liệu cần thiết;
- Tìm hiểu sách giáo khoa, sách giáo viên, và các tài liệu tham khảo khác
Trang 3* Phương pháp kiểm tra, thống kê kết quả:
- Kiểm tra chất lượng qua các lần kiểm tra, thực hành;
- Thống kê kết quả ở mỗi lần kiểm tra, thực hành
* Phương pháp tổng kết kinh nghiệm:
- Giáo viên rút kinh nghiệm cho mình, tổng kết thành các bài học cơ bản
c Thời gian nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: năm học 2013 – 2014; thời gian bắt đầu: đầutháng 10 năm 2013; thời gian kết thúc: cuối tháng 2 năm 2014
6 Điểm mới trong kết quả nghiên cứu
Tiếp thu kinh nghiệm từ các bậc giáo viên đi trước và quá trình tự tìm tòitích lũy chuyên môn, bản thân tôi đã vận dụng các phương pháp đã tích lũy khiđang học trên ghế nhà trường cao đẳng và tình hình thực tế của lớp, trường đangtham gia giảng dạy
- Ưu tiên sử dụng những bài tập trong sách giáo khoa;
- Tận tâm giảng giải, gợi mở để học sinh hiểu các bài tập và làm các bàitập dễ dàng hơn
Đề ra phương pháp để giảng dạy môn toán cho học sinh
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Trang 4song lại khó cho người học Và như vậy thì vai trò của người thầy sẽ không rõ.Qua đó tính sáng tạo cũng không có Dạy toán là dạy sáng tạo là dạy cách suyluận lôgíc thì phải mở rộng ngoài sách giáo viên, sách giáo khoa, sách thiết kếcủa Bộ Dạy toán là dạy cách làm việc sáng tạo, cách suy luận, cách sống nhânvăn thời hiện đại Thế nên, người giáo viên phải có tầm nhìn Tầm nhìn đó vừa
xa, vừa thực tế, phải nắm được lý thuyết song phải có kỹ năng khái quát vừa hếtsức cụ thể Như vậy phải đọc nhiều, tích luỹ nhiều, và phải rút ra được nhữngđiều cần thiết để tận dụng;
Trong quá trình dạy học toán ở phổ thông nói chung, ở tiểu học nói riêng,môn toán là một trong những môn học quan trọng nhất trong chương trình học ởtiểu học;
Môn toán có hệ thống kiến thức cơ bản cung cấp những kiến thức cầnthiết, ứng dụng vào đời sống sinh hoạt và lao động Những kiến thức kĩ năngtoán học là công cụ cần thiết để học các môn học khác và ứng dụng trong thực tếđời sống Toán học có khả năng to lớn trong giáo dục học sinh nhiều mặt như:Phát triển tư duy lôgic, bồi dưỡng những năng lực trí tuệ (Trừu tượng hoá, kháiquát hoá, phân tích, tổng hợp, chứng minh, so sánh, ) Nó giúp học sinh biết
tư duy suy nghĩ, làm việc góp phần giáo dục những phẩm chất, đạo đức tốt đẹpcủa người lao động;
Giáo dục toán học là một bộ phận của giáo dục tiểu học Do đó, môn toán
có nhiệm vụ góp phần vào thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu của bậc học, đó là:Trang bị cho học sinh một hệ thống kiến thức và kĩ năng cơ bản, cần thiết choviệc học tập tiếp hoặc đi vào cuộc sống Giúp học sinh biết vận dụng kiến thứcvào hoạt động thiết thực trong đời sống, từng bước hình thành, rèn luyện thóiquen phương pháp và tác phong làm việc khoa học, phát triển hợp lí phù hợp vớitâm lí của từng lứa tuổi Tạo tiền đề cho học sinh học tốt các môn học còn lại;
2 Thực trạng
Trong thực tiễn có nhiều điều khác so với sách vở, có nhiều điều khôngsách vở nào nói hết Toán học cũng vậy Sách vở không nói hết mới cần đến vaitrò của người thầy Trong thực tiễn sách học không lường hết những tình huốngxảy ra trong quá trình dạy học Bởi vậy, sách dạy chúng ta phương pháp truyềnthụ kiến thức Song, chúng ta cũng có thể giúp người viết sách hoàn thiệnphương pháp giảng dạy một cách tốt hơn Chưa nói đối tượng học sinh ở mỗi địaphương lại có sự khác nhau Nhận thức của các em có sự chênh lệch, do đóngười giáo viên tuỳ theo học sinh của lớp mình, của địa phương mình để có cáchdạy thích hợp;
Trường Tiểu học Vạn Thạnh 2 là trường thuộc vùng sâu, vùng xa, gồm 3điểm trường thuộc 3 thôn Học sinh Trường Tiểu học Vạn Thạnh 2 có đặc điểmriêng, lớp 3A có những điểm khác biệt so với lớp 3 trong trường Một số emmôn toán còn yếu, phương pháp học tập chưa rõ ràng, còn thụ động trong việctiếp thu bài Song điều đáng nói, đây là vùng sâu, vùng xa Trình độ nhận thứccủa phụ huynh còn nhiều hạn chế Hơn phân nửa số học sinh là con nhà có hoàncảnh kinh tế khó khăn Ngoài giờ học ở trường, về nhà các em còn phụ giúp gia
Trang 5đình Một số học sinh cha mẹ phải đi làm ăn xa không trực tiếp dạy dỗ, chămsóc, Vì vậy, các em còn lo chơi chưa chú ý về học tập Những bài học bàitập còn lơ là Như vậy, trách nhiệm nặng nề thuộc vào người giáo viên trực tiếpđứng lớp;
Mặt khác, bản thân đã có tinh thần trách nhiệm, có ý thức về chuyên môntrong việc tiếp cận với phương pháp giảng dạy toán 3 mới Tôi nhận thấy đốitượng học sinh không đồng đều, một số học sinh trung bình, yếu, Phần nhiềuhọc sinh chưa nắm vững chắc những kiến thức cơ bản về toán như:
+ Chưa thuộc bảng nhân, chia;
+ Chưa nắm vững cách đọc, viết và so sánh số tự nhiên (đến hàng nghìn,chục);
+ Chưa biết đặt tính, thực hiện phép tính ( cộng, trừ, nhân, chia cột dọc); + Đặc biệt các em còn rất yếu trong việc giải toán có lời văn;
+ Chưa thuộc các quy tắc đã học trong giải toán
Đứng trước thực trạng trên, là giáo viên chủ nhiệm lớp 3A tôi thật sự bănkhoăn và đặt ra nhiệm vụ là làm thế nào để bồi dưỡng, hình thành cho học sinhnhững kiến thức cơ bản giúp học sinh học tốt môn toán Chính vì thế nên tôi
chọn đề tài: Một số kinh nghiệm dạy học nhằm giúp học sinh học tốt môn toán lớp 3
3 Giải pháp
Để rèn luyện và bồi dưỡng học sinh học tốt môn toán, ngay từ đầu năm tôiđược phân công giảng lớp 3A Sau khi khảo sát chất lượng đầu năm và qua cáctiết ôn tập toán đầu năm, tôi đã phân loại học sinh cụ thể vào sổ tay như sau: + Chưa thuộc bảng nhân, chia ở lớp 2 đã học: 10/25 học sinh;
+ Chưa nắm vững cách đọc, viết và so sánh số tự nhiên: 4/25 học sinh; + Chưa biết đặt tính, thực hiện phép tính: 5/25 học sinh;
+ Giải toán có lời văn chưa được: 8/25 học sinh;
+ Chưa thuộc các quy tắc đã học trong giải toán: 20/ 25 học sinh
- Để tìm hiểu về gia đình, điều kiện sống, sự chăm lo của phụ huynh đối vớicon em Ngay từ đầu năm tôi đề nghị Ban Giám Hiệu cho họp phụ huynh họcsinh Thông qua cuộc họp tôi báo cáo lại tình hình học tập của từng học sinh đặcbiệt là học sinh yếu môn Toán;
- Trong cuộc họp tôi động viên phụ huynh mua đầy đủ dụng cụ học tập chohọc sinh;
- Cần tạo điều kiện cho các em có góc học tập ở nhà Đặc biệt là phụ huynhnhắc nhở việc học tập của các em và học thuộc bảng cửu chương Thường xuyêntheo dõi, kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh trước khi đến lớp;
Trang 6- Để lớp đủ dụng cụ học tập tôi liên hệ thư viện mượn sách giáo khoa và
vở bài tập cho học sinh, nên lớp tôi có 25/25 học sinh có đầy đủ dụng cụ họctập;
- Qua hai tháng đầu giảng dạy tôi cố gắng tìm hiểu những nguyên nhân dẫnđến các em học yếu toán;
- Từ đó tôi suy nghĩ tìm hiểu, lựa chọn các phương pháp, biện pháp mới, đểgiúp học sinh có kĩ năng, thói quen và căn bản trong quá trình học toán Cụ thểnhư sau:
1) Luyện cho học sinh thuộc bảng nhân, chia.
- Theo tôi nghĩ, học sinh học tốt môn toán thì không thể không luyện cho
học sinh học thuộc bảng nhân, chia Bởi lẽ, học sinh có thuộc bảng nhân, chiamới vận dụng giải các bài tập có liên quan Đặc biệt là các phép chia có số bịchia 3, 4 chữ số và giải toán hợp;
- Để luyện cho học sinh thuộc và khắc sâu các bảng nhân, chia tôi làm nhưsau:
+ Khi dạy tôi hướng dẫn học sinh lập được bảng nhân, chia và tôi chốt lạicho học sinh nắm sâu hơn và dễ nhớ hơn như sau:
VD: Bảng nhân.
* Các thừa số thứ nhất trong bảng nhân đều bằng nhau.
* Các thừa số thứ hai trong bảng nhân đều khác nhau theo thứ tự là 1, 2, 3,
4, 5, 6, 7, 8, 9, 10 Mỗi thừa số này liền nhau hơn kém nhau 1 đơn vị ( trong bảng nhân các thừa số thứ hai nhỏ nhất là 1, lớn nhất là 10 không có thừa số 0)
* Các tích cũng khác nhau và mỗi tích liền nhau hơn kém nhau bằng thừa số thứ nhất (Tích thứ nhất trong bảng nhân chính là thừa số thứ nhất, tích cuối cùng trong bảng nhân gấp thừa số thứ nhất 10 lần).
* Các thương của bảng chia 9 là thừa số thứ hai của bảng nhân 9.
+ Hàng ngày, đầu giờ học môn toán, thay vì cho học sinh vui, để khởi động,tôi thay vào cả lớp cùng đọc một bảng nhân hoặc chia và cứ thế lần lượt từ bảngnhân 2, bảng chia 2 đến bảng nhân, chia học hiện tại;
+ Sau mỗi giờ học toán tôi thường kiểm tra những học sinh chưa thuộc bảngnhân, chia từ 2 đến 4 em;
Trang 7+ Tôi thường xuyên kiểm tra học sinh bảng nhân, chia bằng cách in bảngnhân, chia trên giấy A4, nhưng không in kết quả và bỏ trống một số thành phầncủa phép nhân, chia trong bảng Vào cuối tuần dành thời gian khoảng 10 phútcho các em ghi đầy đủ và hoàn chỉnh bảng nhân, chia như yêu cầu Tôi và họcsinh cùng nhau nhận xét, khen ngợi học sinh làm bài tốt, nhắc nhở các em làmbài chưa tốt;
+ Tôi cũng thường xuyên cho học sinh chép bảng nhân nào mà các em chưathuộc vào tập riêng Ngày sau trình bày và đọc cho tổ trưởng nghe vào đầu giờ,sau đó tổ trưởng báo cáo cho giáo viên
* Thỉnh thoảng để khắc sâu kiến thức, tôi còn cho học sinh chơi trò chơi.
VD: Trò chơi ôn lại bảng nhân ( trò chơi lô tô)
- Tôi chuẩn bị nhiều bảng theo thứ tự đảo ngược như sau:
Tiếp tục như những cách làm trên cho đến khi cả lớp đều thuộc từ bảngnhân, chia 2 đến 9
2) Hướng dẫn đọc, viết, so sánh các số tự nhiên.
( Học sinh biết đọc, viết, so sánh các số tự nhiên là chuỗi kiến thức rất quantrọng trong chương trình toán 3)
- Chuỗi kiến thức này nhằm giúp học sinh nắm được cách đọc, viết và sosánh các số tự nhiên vận dụng vào cộng, trừ, nhân, chia số thứ tự và giải bài toánhợp;
- Dạy chuỗi kiến thức này theo tôi, người giáo viên cần hình thành cho họcsinh những kiến thức cơ bản sau:
* Giúp học sinh hiểu các số tự nhiên.
- Các số 0, 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, là các số tự nhiên
Trang 8- Số 0 là số tự nhiên bé nhất, không có số tự nhiên lớn nhất.
- Hai số tự nhiên liên tiếp hơn kém nhau 1 đơn vị
- Số 0, 2, 4, 6 là các số tự nhiên chẵn, số 1, 3, 5,7, 9, 11, là các số
tự nhiên lẻ Hai số chẵn ( hoặc lẻ) liên tiếp hơn kém nhau 2 đơn vị
- Nắm được tên và vị trí của các hàng ( hàng đơn vị, hàng chục, hàng trăm,hàng nghìn)
- Biết qui tắc các giá trị theo vị trí của các chữ số trong cách viết số
VD: Dạy cho học sinh:
- Các số có bốn chữ số gồm hàng nghìn, hàng trăm, hàng chục, hàng đơn
vị Tôi giải thích cho học sinh là: hàng nghìn các chữ số lớn hơn 0.
VD: 1234; 2574; 4351; hàng nghìn là: 1, 2, 4 nghìn Không thể có
hàng nghìn là 0 như: 0234, 0574, 0351, Vậy số có bốn chữ số có hàngnghìn nhỏ nhất là 1, lớn nhất là 9
* Hướng dẫn đọc, viết.
- Hướng dẫn phân hàng: VD số: 5921
+ Hàng nghìn, hàng trăm, hàng chục, hàng đơn vị
Số 5921: Có 5 nghìn, 9 trăm, 2 chục, 1 đơn vị
Đọc số 5921: Năm nghìn, chín trăm hai mươi mốt
Giáo viên viết: 5921
Phân tích: 5 9 2 1
5nghìn 9trăm 2chục 1đơn vị
Hoặc: lớp nghìn lớp đơn vị
Khi viết, ta viết từ hàng cao đến hàng thấp (viết từ trái sang phải)
Khi đọc lớp nào ta kèm theo đơn vị lớp đó
Học sinh đọc: Năm nghìn, chín trăm hai mươi mốt
- Hơn thế nữa, tôi còn hướng dẫn thêm cho học sinh cách đọc như sau: VD: Số 5921 và 5911
Số 5921 đọc là: Năm nghìn, chín trăm hai mươi mốt
Số 5911 đọc là: Năm nghìn, chín trăm mười một
- Nói cụ thể hơn, từ hai số trên cho học sinh nhận ra được cách đọc ở cùng
hàng đơn vị của hai số là khác nhau chỗ mốt và một Nghĩa là số 5921, hàng đơn
vị đọc là mốt, còn số 5911 hàng đơn vị đọc là một Tuy cùng hàng và đều là số
“1” nhưng tên gọi lại khác nhau Tôi còn phát hiện và giúp học sinh đọc và
nhận ra cách đọc của một vài số lại có cách đọc tương tự trên:
Trang 9VD: Số 2305 và 2325 cùng hàng đơn vị là số “5” nhưng lại đọc là “năm”
và “lăm”.
VD: Số 2010: Học sinh nhiều em đọc là “Hai nghìn không trăm linh mười” Tôi hướng dẫn các em Trong số tự nhiên chỉ được đọc “linh một, linh hai, linh chín, không có đọc là linh mười” vậy số 2010 đọc là: Hai nghìn không trăm mười.
* Hướng dẫn so sánh.
Trong qui tắc là: Khi ta so sánh trong hai số thì: Số nào có ít chữ số hơn thì
số đó bé hơn và ngược lại VD: 9999 < 10 000 ; 1000 > 999
+ Còn các số có cùng chữ số thì sao? Ngoài việc làm theo qui tắc thì tôi cònlàm như sau:
VD: Bài tập 3a trang 100:
Để tìm số lớn nhất trong các số: 4375 ; 4735 ; 4537 ; 4753 Tôi hướng dẫn
họ sinh như sau:
- Xếp theo cột dọc, sao cho thẳng hàng nghìn, trăm, chục, đơn vị với nhau
Cụ thể trên bảng phần được xoá là:
- Phân theo hàng nghìn, trăm, chục, đơn vị
- So sánh từng hàng để chọn ra số lớn nhất trong hàng như: hàng nghìn đềubằng nhau là 4 Đến hàng trăm chọn được hai số lớn là 7 có trong 4735 và 4753.Sau đó yêu cầu các em chỉ so sánh hai số này và tìm được số lớn nhất là 4753
3) Hướng dẫn cách đặt tính, thực hiện phép tính ( cộng, trừ, nhân, chia cột
* Đối với phép cộng, trừ: ( giúp học sinh nhớ và áp dụng)
- Phép cộng:
VD : 2473 + 3422 = 5895
Trang 10
Số hạng số hạng Tổng
+ Nếu ta thay đổi chỗ các số hạng của tổng thì tổng không thay đổi
2473 + 3422 = 3422 + 2473= 5895+ Muốn tìm tổng ta lấy số hạng thứ nhất cộng với số hạng thứ hai
2473 + 3422 = 5895+ Muốn tìm số hạng chưa biết, ta lấy tổng trừ đi số hạng đã biết