1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quy trình công nghệ sản xuất axit citric sử dụng vi sinh vật

20 51 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 1,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quy trình công nghệ sản xuất axit citric sử dụng vi sinh vật, Quy trình công nghệ sản xuất axit citric sử dụng vi sinh vật, Quy trình công nghệ sản xuất axit citric sử dụng vi sinh vật

Trang 1

CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT ACID CITRIC

*******

I Mở đầu:

Acid hữu cơ hiện nay được sử dụng rất nhiều trong công nghiệp thực phẩm Các acid sau được sắp xêp theo thứ tự giảm dần về tầm quan trọng, đó là acid citric, acetic, lactic, tarric, malic, gluconic, propionic và fumaric Acid hữu

cơ được sử dụng nhiều trong công nghiệp thực phẩm và công nghệ đồ uống bởi các đặc tính như độ hòa tan cao, hiếu nước, khả năng duy trì pH, khả năng liên kết với các ion hóa trị cao Acid hữu cơ có thể được sản xuất bằng phương pháp hóa học, sinh học (lên men hoặc sử dụng enzyme),tách chiết từ các phụ phẩm sau khi lên men rượu…

Trong đó acid citric có phổ ứng dụng lớn nhất bài báo cáo này trình bày về công nghệ sản xuất acid citric bằng phương pháp lên men vi sinh vật

II Giới thiệu:

1 Acid citric:

Acid citric (acid 2-hydroxy-1,2,3-propane-tricarboxylic: C6H8O7) khá phổ biến trong các sản phẩm thiên nhiên như chanh, quả mâm xôi Acid thương phẩm thường được cung cấp ở dạng ngậm một nước (phân tử lượng 210, tỷ trọng 1,542 ở 20oC) Đây là một acid mạnh với 3 nhóm −COOH và hệ số phân

ly tương ứng là K1 =7,45.10-4; K2 =1,73.10-5; K3 =4,02.10-7

Nhiệt độ sôi phân hủy ở 175oC

Nhiệt độ nóng chảy 153oC (307,4oF o73 426K)

Khối lượng riêng 1665 kg/m3

pKa1=3,15; pKa2=4,77; pJa3=6,40

ở nhiệt độ phong acid citric tồn tại ở dạng tinh thể màu trắng dạng bột hoặc ở dạng khan hay là dạng monohydrate có chứa một phân tử nước trong mỗi phân tử acid citric Dạng khan thu được khi acid kết tinh tong nước nóng,

Trang 2

trái lại dạng monohydrate lại kết tinh trong nước lạnh Ở nhiệt độ trên 74oC dạng monohydrate sẽ chuyển sang dạng khan

Acid citric tan trong nước và tạo vị chua dễ chịu Acid citric lần đầu tiên được tinh chế vào năm 1784 bởi Scheele bằng phương pahp1 kết tủa citrat calci vào nươc chanh Trước năm 1920, acid citic được sản xuất chủ yếu ở Sicily từ chanh và công ty Arenella (Palermo) khi đó hầu như độc quyền về kĩnh vực này cho tới khi công nghệ lên men tạo acid citric được thực hiện ở Bỉ, năm

1919 và Mỹ, năm 1923

1.1 Công thức cấu tạo

Công thức cấu tao theo không gian

Trang 3

Citric acid crystal under polarized light, enlarged 200x

1.2 Chu trình acid citric

Các chu kỳ acid citric bắt đầu với ACETYL-CoA chuyển giao nhóm

ACETYL hai carbon thành hợp chất tiếp nhận có bốn carbon(oxaloacetate) để tạo thành một hợp chất sáu carbon (citrate).Các citrate sau đó đi qua một loạt các phản ứng chuyển đổi hóa học, mất đi carbon đầu tiên, sau đó mất nhóm carboxyl thứ hai là CO2 Các carbons mất đi như CO2 bắt nguồn từ

oxaloacetate, không trực tiếp từ CoA Các carbons của ACETYL-CoA trở thành một phần trong mạch carbon của oxaloacetate sau khi trở lai chu trình acid citric Các mất đi của các carbons từ ACETYL-CoA như CO2 đòi hỏi một nhiều lần lặp lại chu trình acid citric Tuy nhiên, bởi vì vai trò của các acid citric trong chu trình đồng hóa, chúng không thể bị mất đi qua nhiều chu trình tricarboxylic acid (TCA) trung gian cũng được sử dụng như sự dự báo cho sự biến đổi sinh học của các phân tử

Hầu hết các nguồn năng lực thực hiện bởi các bước oxi hóa của chu trình được chuyển giao như năng lượng-giàu electron thành Nad +, tạo ra NADH Cứ một ACETYL đi vào chu trình acid citric thì có ba phân tử của NADH được sản xuất

Electron cũng được chuyển giao cho các electron nhận, tạo ra QH2

Ở cuối mỗi chu kỳ, oxaloacetate bốn carbon đã được tái tạo và các chu kỳ tiếp tục

Trang 4

hình 1.1: chu trình acid citric

1.3 Ứng dụng

Với vai trò là một chất phụ gia thực phẩm, acid citric được dùng làm gia vị, chất bảo quản thực phẩm và đồ uống, đặc biệt là nước giải khát(không gaz) và kẹo, nó mang mã số E330 (5) Muối Citrate của nhiều kim loại được dùng để vận chuyển các khoáng chất trong các thành phần của chất ăn kiêng vào cơ thể Tính chất đệm của các phức Citrate được dùng để hiệu chỉnh độ pH của chất tẩy rửa và dược phẩm

Citric acid có khả năng tạo phức với nhiều kim loại có tác dụng tích cực trong xà phòng và chất tẩy rửa Bằng cách phức hóa các kim loại trong nước cứng, các phức này cho phép các chất tẩy rửa tạo nhiều bọt hơn và tẩy sạch hơn

mà không cần làm mềm nước trước Bên cạnh đó acid citric còn dùng để sản xuất các chất trao đổi ion dùng để làm mềm nước bằng cách tách ion kim loại

ra khỏi phức citrate

Acid citric được dùng trong công nghệ sinh học và công nghiệp dược phẩm để làm sạch ống dẫn thay vì phải dùng acid nitric

Trang 5

Ở Anh, acid citric được dùng làm chất đệm để cho heroin nâu dễ hòa tan hơn Một túi acid citric loại nhỏ được dùng để ép người nghiện thay kim tiêm bẩn bằng một cái sạch hơn nhằm hạn chế sự lây nhiễm của AIDS và bệnh viêm gan Các acid khác dùng để hòa tan heroin nâu là ascobbic, axetic và acid lactic, trong trường hợp thiếu thuốc con nghiện sẽ tiêm nước chanh vắt hay dấm

Citric acid là một trong những hóa chất cần thiết cho quá trình tổng hợp Hexametylen triperoxit diamin (HMDT) là một chất dễ phát nổ giống Axeton peroxit, nhạy với nhiệt và ma sát Ở một số nước nếu bạn mua một số lượng lớn acid citric bạn sẽ bị liệt kê vào sổ đen của các âm mưu khủng bố

 Acid citric cũng được cho vào thành phần của kem để giữ các giọt chất béo tách biệt Ngoài ra nó cũng được thêm vào nước ép chanh tươi

2 Aspergillus niger:

− Aspergillus đều thuộc nhóm nấm bất toàn (Deuteromycetes hay Fungi Imperfecti), có cuống đính bào tử có đầu phình ra Nhóm nấm bất toàn là những nấm sinh sản vô tính bằng bào tử bụi mang bởi những giá bào tử có hình dạng khác nhau xếp thành chuổi (đính bào tử) ở đầu ngọn có cuống bào tử Nấm Aspergillus còn gọi là mốc tương Sợi nấm có vách ngăn, cuống mang bào tử bụi phồng lên ở ngọn Các chuổi bào tử bụi từ đầu phồng mọc tỏa khắp mọi hướng Bào tử bụi có thể màu vàng (Aspergillus flavus), màu đen (Aspergillus niger) Nấm Aspergillus oryzae là loài mốc chính trong quá trình chế tạo tương và tương do Aspergillus oryzae lên men ngon hơn các tương khác vì loại mốc này có khả năng biến đổi tinh bột của gạo nếp thành đường làm cho tương có vị ngọt Hai loài không độc làm tương là Aspergillus oryzae

và Aspergillus sojae có hình thái và màu sắc rất giống với 2 loài rất nguy hiểm

là Aspergillus flavus và Aspergillus parasiticus sản sinh ra độc tố Aflatoxin gây bệnh ung thư

−Aspergillus có bào t  có m t trong không khí chúng ta hít th , nh ng bìnhử ặ ở ư

th ng không gây b nh. Tuy nhiên riêng tr ng h p tình tr ng mi n d ch suyườ ệ ườ ợ ạ ễ ị

gi m có th   r t nh y c m lây nhi m ả ể ấ ạ ả ễ Aspergillus.

Trang 6

−Aspergillus Niger là một loại nấm mốc thuộc genus Aspergillus bao gồm

một bộ nấm thường là sinh sản vô tính, mặc dù các hình thức hoàn hảo (các

hình thức sao chép hữu tính) đã được tìm thấy Aspergilli ở khắp nơi trong tự

nhiên Chúng được phân phối rộng rãi và đã được quan sát trong một phạm vi rộng lớn của môi trường sống bởi vì chúng có thể sử dụng được nhiều chất

khác nhau A niger là thường được tìm thấy như là một vi sinh vật hoại sinh

phát triển trên lá chết, hạt đã được bảo quản, phân, và thực vật đang phân hủy khác Những bào phát triển rộng rãi và thường kết hợp với các chất hữu cơ và đất

−Một số hình ảnh về Apergillus niger:

Trang 8

III Sinh tổng hợp acid citric

Acid citric được tổng hợp bởi một số loại vi nấm (Penicillium spp.,

Aspergillus niger, A wentii, Trichoderma viride), nấm men (Yarrowia lipolytica, Canndida guilliermondii) và vi khuẩn (Arthrobacter) trên các môi

trường khác nhau (glucose, sucrose, n-alkanes) Ở quy mô công nghiệp, acid

citric được sản xuất từ đường (glucose, sucrose) sử dụng nấm A.niger, hoặc

trên một số cơ chất khác sử dụng nấm men Các chủng công nghiệp là một phần của bí quyết công nghệ và khó có thể có được, tuy nhiên một số chủng từ các bảo tàng giống quốc tế cũng có thể ứng dụng cho sản xuất acid citric Những chủng này bao gồm: A niger NRRL 2270, NRRL 599,ATCC 11414 và ATCC 9142; hay Y lipolytica ATCC 20346, ATCC 20390, NRRL Y-7576 và NRRL Y-1095

Trang 9

hình 1.2: Quá trình trao đổi chất trong siêu tổng hợp acid citric ở Aspergillus niger

Sơ đồ chuyển hóa vật chất trong quá trình siêu tổng hợp acid citric ở A.

niger được trình bày trong hình 1.2 Yếu tố quan trọng cho siêu tổng hợp acid

citric là tốc độ chuyển hóa cao của cơ chất qua quá trình glycolys (5-10mmol.min-1 mg protein -1 ) hạn chế chu trình tricarboxylic acid (TCA) phân hủy citric acid, và cung cấp oxaloacetate cho tổng hợp citric acid Các enzyme

Trang 10

quan trọng điều hòa sinh tổng hợp acid citric là phosphofructokinase (PFK1) pyruvate carboxylase (PC), citrate synthase (CS) và ketoglutarate dehydrogenase (KHD) PFK1 bị ức chế bởi citrate tuy nhiên quá trình này được hạn chế bởi nồng độ NH4 + cao và sự tích lũy fructose-2, 6-biphosphate (FBP). Enzyme 6-phosphofructo-2-kinase (PFK2) chịu trách nhiệm cho sinh tổng hợp FBP ít bị điều hòa và chỉ ảnh hưởng bởi nồng độ cơ chất Việc điều hòa enzyme pyruvate kinase (PK) ít ảnh hưởng tới quá trình sinh tổng hợp acid

citric Hoạt lực CS của A niger bị ảnh hưởng bởi nồng độ OAA sản sinh ra

trong phản ứng xúc tác bởi enzyme pyruvate carboxylase (PC), một enzyme nằm trong tế bào bào chất và được kích hoạt bởi nồng độ đường cao Malate được tạo ra từ OAA bởi enzyme malate dehydrogenase trong tế bào chất Malate tham gia vào vận chuyển trao đổi citrate qua thành ty thể Trong ty thể, malatr được oxy hóa trở lại thành OAA Trong điều kiện bình thường ( không

có sự tích lũy của citrate), citrate được chuyển hóa trong ty thể bởi aconitase (ACT), isocitrate dehydrogenase (IDH) và KDH Citrate, OAA và NADH có tác động ức chế lên KDH và IDH

Trong quá trình chuyển hóa dẫn tới siêu tổng hợp acid citric, việc điều tiết hoạt động của enzyme là thiết yếu, để kiểm soát tốc độ chuyển hóa quan trọng nhất vẫn là điều tiết vận chuyển glucose và hoạt động của hexokinase (HK) Hệ vận chuyển glucose ái lực thấp (Km = 3,67mmol) được kích hoạt bởi nồng độ đường và hoạt động trong qía trình siêu tổng hợp acid citric Hệ vận chuyển này chỉ bị ức chế một phần bởi pH thấp và nồng độ citrate cao Việc nâng cao hoạt lực sinh acid citric chủ yếu được thực hiện thông qua đột biến và sàng lọc với luận điểm là khả năng thể hiện của HK và hệ vận chuyển glucose đóng vai trò chính trong siêu tồng hợp acidcitric

Các enzyme trong hệ oxy hóa cũng đóng vai trò trong quá trình siêu tổng hợp acid citric Trong siêu tổng hợp acid citric, NADH tạo ra sau glycolys được oxy hóa lại thông qua một con đường mới mẫn cảm với acid salicyl hydroxamic (SHAM) Sự biến đổi này so với hoạt động thường xuất phát từ việc enzyme NADM-UQ-oxidoreductase và các enzym khác trong hệ ozy hóa

bị ức chế hoặc bất hoạt

Trang 11

Điều kiện cần thiết cho siêu tổng hợp acid cotric đối với A niger bao gồm

việc tăng nồng độ đường, giảm thiểu mangan Ngoài ra, một số yếu tố khác cũng khá quan trọng như nồng độ phosphate, nito, kim loại vi lượng, pH thấp

và nồng độ oxy hòa tan cao Nồng độ rất thấp của Mangan (<10mg.m-3 ) đóng vai trò quyết định trong siêu tổng hợp acid citric bởi đây là nguyên nhân dẫn tới sự hạn chế hoạt động của con đường pentose phosphate, gia tăng glycolys, tăng nồng độ NH4+ nội bào, tăng sự quay vòng của protein và acid nuleic, biến đổi thành phần lipid màng, cấu trúc thành tế bào (hình thái tế bào do vậy cũng biến đổi)

Siêu tổng hợp acid citric ở nấm men không phụ thuộc nhiều vào nồng độ kim loại vi lượng mà chủ yếu được kích hoạt bởi hạn chế dinh dưỡng (nito, sulphur, phosphor hoặc magie) và sau đó là sự gia tăng sử dụng glucose Tỷ lệ ATP/AMP cao lúc này sẽ dẫn tới sự ức chế của enzyme IDH Những phản ứng quan trọng bao gồm việc tổng hợp OAA từ pyruvate (xúc tác bởi PC) khi sử

dụng glucose và các phản ứng trong chu trình glyoxylate đối với cơ chất là

n-alkanes Với nấm men, isocitrate có thể tích lũy ở mức 10-50% so với tổng citrate tạo ra và điều này được lý giải bởi khả năng vận chuyển qua màng ty thể của isocitrate cao hơn so với citrate Nồng độ citrate nội bào thấp cũng hạn chế được sự ức chế ngược của citrate đối với glycolys Việc nâng cao hoạt lực chủng giống nấm men sinh acid citric được thực hiện thông qua việc lựa chọn chủng tộc giống có hoạt lực isocitrate dehydrogenase và aconitase thấp

IV Công nghệ sản xuất acid citric

* Acid citric: Những năm 1920, người ta sản xuất acid citric bằng cách

dùng Aspergillus niger Người ta cũng đã tuyển chọn những giống

Aspergillus có năng suất cao để sản xuất có hiệu quả Cơ chất cho quá trình

lên men này là mật rỉ đường, nuôi ở độ pH thấp (pH=3)

Phương pháp lý thuyết dể sản xuất acid citric từ glucose:

C6H12O6 + 3/2O2 → C6H8O7 + 2H2O

Trang 12

*Quy trình sản xuất acid citric:

Tinh bột ↓ thủy phân Dịch đường

↓ Thanh trùng

↓ Cấy giống vi sinh vật → Lên men

↓ Dịch lên men ↓ trung hòa bằng CaCO3

Citrate calci

↓ Lọc lấy kết tủa citrate calci ↓ tách Ca bằng H2SO4

Dịch acid citric + CaSO4

↓ Lọc tách cid citric

↓ Kết tinh→Tinh thể acid citric

Trang 13

Dưới hoạt động của Aspergillus, pH chuyển sang dạng acid (pH=1), sau

đó người ta chiết ra được acid citric Trong quá trình lên men, dùng

Aspergillus niger chuyển được 90% đường thành acid citric Người ta cho

CaCO3 để tạo thành tủa calcium citrate lắng xuống, sau đó cho tác dụng tủa với H2SO4 để tạo thành acid citric và CaSO4 lắng xuống Đem acid citric cô, kết tinh Trong quá trình lên men, ở bề mặt tạo thành một lớp bào tử đen dày

Sau này người ta sản xuất acid citric bằng cách nuôi Aspergillus trên parafin

dầu mỏ

Hiện nay acid citric được sản xuất bằng công nghệ lên men chìm hoặc lên

men bề mặt sử dụng A niger trên cơ chất là rỉ đường hoặc siro glucose Cả hai công nghệ này đều cho kết quả tương đương Tuy nhiên, hiện nay công nghệ lên men chìm được lựa chọn bởi công ty sản xuất acid citric lớn nhất thế giới (Bayer, ADM, Jungbunzlauer & Cargill) có lẽ do đòi hỏi đầu tư ban đầu và nhân công thấp Công nghệ lên men bề mặt hiện được công ty Citrique Balge (Bỉ)và Carestar (Italy) sử dụng bởi lý do là công nghệ này dễ kiểm soát và có tiêu hao năng lượng thấp

1 Môi trường lên men

Siêu tổng hợp acid citric được thực hiện trên môi trường có nồng độ đường cao (rỉ đường hoặc siro) và sự phát triển của sợi nấm bị hạn chế bởi các yếu tố dinh dưỡng như phospho, mangan, sắt hoặc kẽm Thành phần chung của môi trường được trình bày trong bảng 1.1

Bảng 1.1: Thành phần môi trường sử dụng phòng thí nghiệm và trong

sản xuất acid citric bằng nấm mốc Apergillus niger

Sucrose hoặc glucose 125 – 225kgm-3 180kgm-3

NH4NO3 (hoặc muối NH4+ khác) 0,5 – 3,5kgm-3 1,5kgm-3

Trang 14

Nguồn nitơ thông thường được sử dụng là nitrate ammon hoặc sulphate ammon Ion kim loại được loại ra khỏi môi trường trong bước xử lý nguyên liệu, đặc biệt với rỉ đường, bằng trao đổi cation hoặc/và bổ sung hexacyanoferrate kali (HCF) Nồng độ sắt tối ưu phụ thuộc vào từng chủng nấm, tuy nhiên nồng độ sắt trên 200mgm -3 được biết là có khả năng ức chế bằng cách bổ sung thêm Cu 2+ hoặc Zn 2+ trong quá trình nuôi cấy giống, hoặc trong giai đoạn đầu trên môi trường tổng hợp acid citric Nồng độ Mn 2+ cần được giữ ở mức độ càng thấp càng tốt (<10mgm-3 trong môi trường phosphate loãng) Một số thành phần như 3-6% (w/v) methanol; 0,1 – 0,5% (w /v) dầu ngô, lạc hoặc oliu; 0,025-0,5% (w/v) tinh bột được biết là có tác dụng tốt lên 30 phút ở quy mô pilot và phòng thí nghiệm Trong sản xuất công nghiệp, quá trình thanh trùng được thực hiện liên tục bằng sử dụng đĩa trao đổi nhiệt ba giai đoạn

2 Quá trình lên men

Việc tiếp giống thông thường thực hiện trong điềi kiện vô trùng bằng cách chuyển bào tử từ giống gốc sang môi trường agar ( trong các khay nông, đĩa petri, ống nghiệm) Sau 3-6 ngày nuôi cấy ở 30o C, bào tử được thu hoạch và nuôi cấy trên môi trường tinh bột để tạo khoảng 10 11 bào tử cho một centimet khối môi trường Sinh khối có thể được truyền trực tiếp vào nồi lên men dung tích 10-20m3 để tạo giống dạng hạt chứa 1-5 *105 hạt cho một lít môi trường Mỗi hạt có đường kính khoảng 0,1-0,2mm Giống dạng hạt được tiếp sang môi trường lên men công nghiệp với nồng độ (5-10 % (v/v))

Nấm có thể phát triển với các đặc điểm hình thái khác nhau Việc hình thành các sợi nấm rời rạc dài không phân nhánh cần phải tránh vì có thề làm tăng mạnh độ nhớt môi trường, giảm khả năng trao đổi oxy và lượng acid citric tạo

ra thấp, thậm chí không tạo ra Dạng hạt hình cầu, nhỏ với những sợi ngắn và mập thông thường được coi là tốt nhất cho sinh tổng hợp acid citric Việc theo dõi thường xuyên hình thái của hạt nấm dưới kính hiển vi là điều cần thiết nhằm kiểm soát sự phát triển của sợi nấm Trong thiết bị lên men cánh khuấy, tốc độ đấy lớn có tác dụng tốt cho việc hình thành các hạt nấm nhỏ

Ngày đăng: 13/09/2021, 00:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w