Tiểu luận tìm hiểu các loài vi khuẩn gây sâu răng, Tiểu luận tìm hiểu các loài vi khuẩn gây sâu răng, Tiểu luận tìm hiểu các loài vi khuẩn gây sâu răng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
ĐỀ TÀI VI SINH TÌM HIỂU VI KHUẨN GÂY SÂU RĂNG
Tháng 12/2008
I.Giới thiệu
I.1 Định nghĩa
Trang 2Bệnh sâu răng chính là tổn thương tiêu huỷ tổ chức cứng của răng (bao gồm men răng và ngà răng tổ chức không có tế bào), tạo nên lỗ hổng trên bề mặt răng Sâu răng có thể ở bề mặt thân răng hoặc cổ răng, tổn thương sâu trên thân răng bắt đầu từ men răng, còn tổn thương trên cổ răng bắt đầu từ men răng hoặc ngà cổ răng Bệnh không tự khỏi Sâu răng là bệnh rất phổ biến, có thể gặp ở mọi lứa tuổi
I.2 Tình hình sâu răng
-Tình hình bệnh sâu răng trên thế giới:
Khoảng 90% trẻ em tuổi đến trường trên toàn thế giới và hầu hết người trưởng thành dều đã trải qua bệnh sâu răng Tỉ lệ bệnh cao nhất là ở Châu Á và Châu Mỹ Latin
và tỉ lệ thấp ở Châu Phi Ỏ Mỹ sâu răng là bệnh mạn tính phổ biến nhất ở trẻ em gấp khoảng 5 lần so với tỉ lệ bị bệnh Hen Ở người lớn tuổi 50 ti lệ bị sâu răng dao động trong khoảng 29% đến 59% giữa các nghiên cứu
- Tình hình bệnh răng miệng ở Việt Nam
Viện Răng Hàm Mặt quốc gia vừa đưa ra con số thống kê với 99,4% dân số mắc bệnh về răng miệng Người càng lớn tuổi, càng bị sâu răng nhiều
Cụ thể, tỷ lệ sâu răng ở độ tuổi dưới 18 là 87,5% (với 2,84 chiếc răng sâu/người);
từ 33 - 44 tuổi là 83,2% (với 4,7 chiếc răng sâu/người) và trên 45 tuổi là 89,7% (8,43 chiếc răng sâu/người)
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tỉ lệ sâu răng ở Việt Nam cao Cụ thể, nồng độ fluor trong nước ăn hầu hết chỉ ở mức 0,4 ppm (chưa bằng ½ chuẩn quốc tế) Tuy nhiên, vấn đề chính yếu là công tác chăm sóc răng miệng của người dân còn quá thấp Trên 60% trẻ em không bao giờ được đi khám răng miệng (bao gồm cả học sinh tiểu học và trung học), trên 50% người lớn không bao giờ đi khám răng miệng
Theo kết quả điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc (được thực hiện năm 1999-2001) thì tỉ lệ sâu răng sữa ở trẻ em đang ở tuổi đến trường (từ 6-8 tuổi) là 85%, ở độ tuổi lớn hơn (9-11 tuổi), tỉ lệ này là 56,3% Một điều báo động nữa là trong thực tế, tỉ lệ mắc bệnh sâu răng vĩnh viễn càng cao khi tuổi càng lớn
Trang 3Kết quả điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc, do Viện Răng Hàm Mặt Hà Nội
và Đại học Adelaide (Australia) tiến hành gần đây, cho thấy trên 90% dân số Việt Nam bị sâu răng và mắc các bệnh về răng, đặc biệt tập trung ở lứa tuổi từ 35-44 (tỷ lệ mắc bệnh lên tới 98%)
I.3 Cấu tạo của răng
Buồng tuỷ răng gồm mạch máu, các sợi thần kinh tạo thành tuỷ răng thông với bó mạch thần kinh hàm trên hoặc hàm dưới qua lỗ chóp ở vùng chân răng Mỗi răng thường
có từ 1 đến 3 chân răng, răng cửa có1chân, răng hàm nhỏ thường dao động từ 1 đến 2 chân răng, răng hàm thường có 3 chân răng trở lên Tuỷ răng thường được chia thành 2 phần là tuỷ thân nằm trong thân răng và tuỷ chân nằm trong chân răng Tuỷ răng bình thường vô trùng và được che bọc bảo vệ bởi men răng và ngà răng
I.4 Nguyên nhân
Các nguyên nhân xã hội dẫn đến việc Việt Nam nằm trong nước có tỉ lệ bệnh sâu răng và viêm quanh răng cao nhất thế giới: Nguyên nhân chính là thiếu bác sĩ răng hàm mặt và tổ chức khoa, phòng răng hàm mặt tại các địa phương còn yếu kém Nồng độ fluor trong nguồn nước tại một số vùng quá thấp (dẫn đến bệnh sâu răng) và hầu hết người dân chưa quan tâm đến chăm sóc răng miệng Ngoài ra, trên 60% trẻ em và trên 50% người lớn tại Việt Nam không bao giờ đi khám răng miệng, một phần do thiếu hiểu biết về phòng bệnh răng miệng
Trước đây người ta cho răng nguyên nhân chính gây ra sâu răng là do vi khuẩn và đường
Men của vi khuẩn + Glucid lên men + Thời gian è Acid.
Acid + răng = Tiêu canxi.
Bệnh sâu răng chỉ diễn ra khi cả 3 yếu tố trên cùng tồn tại (vi khuẩn, glucid và thời gian) Vì thế cơ sở của việc phòng chống bệnh sâu răng là ngăn chặn 1 hoặc cả 3 yếu
tố xuất hiện cùng lúc
Còn một yếu tố thứ tư không kém phần quan trọng là bản thân người bệnh Các yếu tố chủ quan như tuổi tác, bất thường của tuyến nước bọt, bất thường bẩm sinh của răng có thể khiến cho khả năng mắc bệnh sâu răng tăng cao và tốc độ bệnh tiến triển nhanh
Trang 4
Ngày nay người ta giải thích nguyên nhân sâu răng bằng cơ chế hóa học và lý sinh học
Sâu răng =sự hủy khoáng > sự tái khoáng
Yếu tố gây mất ổn định
+ Mảng bám (vi khuẩn kiểm soát được)
+ Chế độ ăn đường nhiều lần
+ Thiếu nước bọt hoặc nước bọt acid
pH< 5
Sự bảo vệ
+ Nước bọt
+ Khả năng kháng acid của men + Fluor có trên bề mặt men răng + Trám bít hố rãnh
+ Độ Ca + PH> 5,5
Sự ổn định của câu trúc răng trong miệng được cân bằng bởi hai quá trình huỷ khoáng và tái khoáng xảy ra giữa bề mặt răng và môi trường nước bọt quanh răng theo thời gian thực Khi nồng độ pH của nước bọt quanh răng giảm xuống dưới mức 5.5, tốc
độ huỷ khoáng nhanh hơn tốc độ tái khoáng Điều này có thể hiểu rằng môi trường acid
đã làm mất cấu trúc men hoặc ngà răng ở trên một vùng nào đó của thân răng mà có đồng thời cả 3 yếu tố tạo ra acid: Vi khuẩn, Carbonhydrat và thời gian
Các yếu tố chính tham gia vào sự cân bằng huỷ khoáng và tái khoáng là:
1 Mảng bám răng
Sau khi men răng bị ăn mòn thành lỗ, vi khuẩn và thức ăn càng có điều kiện bám vào, acid càng được tạo ra nhiều hơn, tổ chức cứng (men và ngà răng) càng bị phá hủy, lỗ sâu được mở rộng và tiến về phía tủy răng
2 Khả năng chống sâu của răng còn tùy thuộc vào trạng thái độ cứng của răng Hàm răng không bị sứt mẻ, không khiếm khuyết, mọc thẳng hàng, thẳng lối, men răng
Trang 5trắng bóng, mức khoáng hóa răng cao là những yếu tố quan trọng chống lại các tác nhân gây sâu răng
3 Yếu tố tiếp theo gây ra sâu răng được nhắc đến nhiều là mảng bám răng, mảng bám là cấu trúc quan trọng để vi khuẩn bám vào đó sinh sôi nảy nở, nhất là ăn nhiều đường, ăn đồ ngọt, không đánh răng trước khi đi ngủ Các gợn thức ăn còn bám vào các
kẽ răng, nếu không đánh răng thường xuyên và không lấy cao răng định kỳ cũng sẽ làm môi trường thuận lợi cho vi khuẩn gây sâu răng phát triển
4 Khả năng kháng khuẩn, cân bằng và giữ cho độ pH > 5.5 của nước bọt cũng là yếu tố quan trọng trong việc kiểm soát khả năng xảy ra sâu răng và tốc độ sâu răng
Như vậy những yếu tố đóng vai trò quan trọng trong bệnh sâu răng là vi khuẩn, đường trong thức ăn, thời gian để vi khuẩn và đường tồn tại trong miệng và tính chất nước bọt của người bệnh, độ cứng và hình thể của răng, thói quen VSRM
Quá trình từ răng mới sâu đến khi hình thành lỗ sâu phải trải qua một thời gian Người ta cho rằng từ lúc xuất hiện các đốm răng cho đến khi hình thành lỗ sâu có thể đến 1,5 năm, trong thời gian đó rất cần được điều trị kịp thờ
I.5 Hậu quả của sâu răng
Khi lỗ sâu hình thành trên bề mặt men răng, làm thủng lớp men, thủng tiếp tục qua ngà răng đến buồng tuỷ sẽ tạo thành một đường dẫn vi khuẩn từ môi trường miệng tấn công vào tuỷ răng, gây đau nhức, bệnh nhân nếu không được điều trị sẽ trải qua các cảm giác của viêm tuỷ cấp, viêm tuỷ mạn tính và viêm tuỷ hoại tử mà dân gian thường đúc kết bằng câu “ Thứ nhất đau mắt, thứ nhì nhức răng”
Vùng xương quanh chóp sẽ hình thành u quanh chóp răng, u này khi phát triển to dần, các tế bào vùng lõi ít được nuôi dưỡng sẽ thoái triển hoặc hoại tử trỏ thành dịch, u lúc này được gọi là nang chân răng, nang này nằm giữa chiều dày của xương hàm trên hoặc dưới dính vào vùng chóp chân răng, nang tiếp tục phát triển ra phía trước có thể tạo
ra lỗ dò dịch nang ra ra lợi hoặc vào phía trong tạo ra lỗ dò vùng hàm ếch vòm miệng ngang với vùng chóp chân răng
Nguy hiểm hơn nữa là nang phát triển sang ngang các chân răng bên cạnh gây chèn ép và chết tuỷ các răng lân cận
Sâu răng còn tạo một lỗ chứa thức ăn, vi khuẩn đây là nguồn gieo rắc vi khuẩn gây viêm đường hô hấp trên, mũi, xoang đường hô hấp dưới như họng, khí phế quản…
Sâu răng còn là nguồn gốc gây hôi miệng do lỗ sâu chứa thức ăn, vi khuẩn sinh dưỡng và lên men nguồn thức ăn này, giải phóng ra các sản phẩm phân huỷ thức ăn như khí H2S có mùi hôi
I.6 Triệu chứng
Răng bị sâu sẽ ê buốt khi có kích thích nóng lạnh, chua ngọt, hết ê buốt khi loại
bỏ hết các yếu tố kích thích,
Trang 6Vùng sâu có thể đổi màu đen hoặc nâu.
Thấy lỗ sâu to hoặc nhỏ có thể thấy thức ăn lưu đọng, đáy lỗ sâu thường rộng hơn miệng lỗ
Đáy lỗ sâu cứng hoặc mềm mủn
Lỗ sâu tiến triển theo từng đợt nên đáy lỗ sâu sẽ buốt khi thăm khám, đáy mềm và ngược lại không buốt và cứng khi thăm khám
Để phát hiện sâu răng, tất cả mọi người cần đi khám răng định kỳ 6 tháng 1 lần để kiểm tra có bị sâu răng không và chữa kịp thời Lỗ sâu nằm trên mặt nhai, mặt ngoài và mặt trong của răng thì dễ phát hiện khi khám lâm sàng, lỗ sâu ở mặt tiếp giáp của hai răng thì khó phát hiện hơn, nhiều trường hợp cần chụp Xquang để chẩn đoán
Răng bị sâu khác với các bộ phận khác bị tổn thương, vì đây là một quá trình và là
bộ phận duy nhất trong cơ thể không có khả năng tự phục hồi, phải chữa trị
Khi lỗ sâu tiến sát tủy răng thì tủy răng sẽ bị viêm bởi sự tấn công của vi khuẩn vào tuỷ qua đáy lỗ sâu, bệnh nhân bị đau tủy răng từng cơn Thông thường khó nhận biết
vì khi các lỗ sâu răng xuất hiện thì bệnh đã tiến triển được một thời gian dài, đang bước sang giai đoạn trầm trọng Nếu không điều trị thì tuỷ răng sẽ chết và có thể phát sinh những biến chứng như viêm quanh cuống răng, viêm xương, viêm hạch
I.7 Phân loại sâu răng
Phân loại theo mức độ
Thông thường sâu răng phát triển liên tục từ lớp nông đến lớp sâu của răng
Sâu men: Rất khó phát hiện Triệu chứng ban đầu là răng đổi màu dạng đốm
trắng trên một vùng có nguy có sâu cao như trên các rãnh kẽ mặt nhai, mặt bên của các răng hàm, lúc này người bệnh chưa cảm thấy gì, lỗ sâu răng chưa có và kích thích do thức
ăn nóng, lạnh chưa xảy ra Khi xuất hiện những đốm trắng trên lâm sàng thì sâu răng đã tới đường men ngà
Sâu ngà: Một thời gian sau, răng biến đổi sang màu nâu hoặc màu đen Lỗ sâu ở
răng xuất hiện, người bệnh cảm thấy khó chịu khi thức ăn giắt vào lỗ sâu, dấu hiệu là đau khi kích thích bởi chua, cay, nóng, lạnh Hết kích thích thì hết đau Tuy vậy khi lỗ sâu còn nhỏ thì không đau hoặc lỗ sâu ở mặt bên đã to nhưng miệng nhỏ thì cũng không có dấu hiệu Nếu lỗ sâu tiếp tục bị sâu thì phần đáy lỗ bị bong calcium và mềm hóa, nhiễm vào tầng sâu của răng, làm cho bệnh nặng hơn Khi răng đau kéo dài, hoặc mức độ đau gia tăng thì rất có thể tủy răng đã bị viêm do vi khuẩn xâm nhập gây viêm tuỷ răng qua đáy
lỗ sâu Bên cạnh đó, khi bị sâu răng, hơi thở của người bệnh còn có mùi hôi
Phân loại theo vị trí
1 Sâu răng mặt nhai
Trang 72 Sâu cổ răng xẩy ra thông thường ở tuổi cao niên khi nướu răng bị tuột kéo rút
do đánh răng không đúng cách hoặc khi bị bệnh nướu răng Tình trạng này xảy ra khi nướu răng không còn bao bọc chung quanh cổ răng nữa, và chân răng không có lớp men răng bảo vệ nên dễ đưa tới sâu răng
3.Sâu kẽ răng
I.8 Cách điều trị và phòng chống
1 Có 3 cách chủ yếu để chữa bệnh sâu răng ở giai đoạn sớm, đó là:
- Vệ sinh răng miệng thường xuyên và đúng cách
- Hạn chế tối đa các thức ăn, đồ uống có phụ gia là đường
- Sử dụng dung dịch keo Fluor ở chỗ răng sâu Phương pháp này có tác dụng rất nhanh và hiệu quả trong việc ngăn chặn sâu răng và phục hồi cấu trúc răng trở lại bình thường Bởi vì Fluor ở dung dịch này có nồng độ cao hơn nhiều so với ở trong kem đánh răng Nhưng tuyệt đối cách này chỉ được thực hiện bởi nha sĩ để tránh ngộ độc Fluor, nhất là ở trẻ em
2 Khi đã bị sâu răng có lỗ sâu cách điều trị duy nhất là cần sớm loại bỏ các mô
răng đã bị mủn, nhiễm khuẩn và phục hồi bù cấu trúc men răng bằng các vật liệu hàn răng, trám răng
Dùng vật liệu hàn để bịt kín lỗ sâu răng, ngăn không cho vi khuẩn hoặc các tác nhân bên ngoài như nhiệt độ, hoá chất tấn công, huỷ hoại tuỷ răng Có 3 loại vật liệu được sử dụng nhiều nhất trong hàn răng là A-mangam, Composite tổng hợp và Cement silicat (hay còn gọi là xi măng sứ)
Dùng thuốc điều trị cho những trường hợp mới chớm sâu, chưa hình thành lỗ Thuốc dùng thường là chấm vào chỗ bị sâu, đây là những dung dịch có tính sát khuẩn Phương pháp này chỉ nên áp dụng cho chỗ sâu của răng nghiền phía sâu vì dễ gây đổi màu men răng
Biện pháp tái khoáng phần bị sâu, dùng dung dịch gồm các chất calcium, phosphate, fluorine đổ vào nơi răng chớm sâu, có khả năng thu hẹp vùng có màu trắng vôi hoặc vùng đó ngừng phát triển Đây là phương pháp tái khoáng đơn giản, hiệu quả, không đau và an toàn
Trang 8Để phòng bệnh mọi người cần phải chải răng sau mỗi bữa ăn Chải răng thường xuyên vào buổi sáng hoặc tối, hoặc ít nhất 1 lần trong ngày sau bữa tối chải răng đúng cách bằng bàn chải lông mềm, chải mặt ngoài, mặt trong và mặt nhai, trên và dưới Nên cầm bàn chải nghiêng một góc 450 so với mặt răng và đầu lông bàn chải hướng về phía lợi, chuyển động của bàn chải theo chiều lên xuống như hướng mọc của răng hoặc xoay tròn và lùi dần từ trong ra ngoài, chải kỹ rìa lợi và cổ răng, chải từng nhóm răng tới khi sạch, đối với mặt nhai thì đơn giản hơn, chỉ cần đặt lông bàn chải vuông góc với mặt răng và kéo qua kéo lại
- Súc miệng bằng nước súc miệng có tính sát khuẩn đặc hiệu với các loại vi khuẩn trong miệng, thêm các chất làm khô niêm mạc miệng, chất tạo mùi thơm…
- Tránh ăn vặt nhất là ăn vặt đồ ngọt, chải răng đúng cách là việc quan trọng để làm sạch hoàn toàn các răng
- Dùng chỉ nha khoa làm sạch kẽ răng: Các kẽ răng thường vẫn còn đọng thức ăn sau khi chải răng nếu đánh và chà răng không thôi thì chỉ làm sạch được 75% bề mặt của răng, 25% còn lại là ở vùng kẽ răng dưới khe nướu và chỉ có chỉ tơ nha khoa làm sạch được vùng này bởi vậy nên sử dụng chỉ nha khoa sau khi chải răng, cách dùng như sau: Lấy một đoạn chỉ nha khoa dài khoảng 40cm, quấn chặt vào hai đầu ngón tay giữa cho tới khi cách nhau 10cm, dùng hai ngón trỏ căng sợi chỉ, dùng ngón trỏ trái hoặc phải ấn sợi chỉ vào kẽ răng còn dắt thức ăn, kéo lên theo kẽ răng, thức ăn sẽ ra theo sợi chỉ Sau
đó cũng trên một kẽ răng đó kéo sợi chỉ cọ qua lại vùng cổ răng của từng răng tạo nên kẽ răng đó
- Những người bị tụt lợi dẫn đến hở cổ và chân răng nhiều và thưa răng cần dùng thêm bàn chải kẽ răng để làm sạch mặt tiếp giáp giữa các răng Những răng mọc lệch lạc cần được chỉnh cho đúng vị trí vì răng mọc lệch bị bám thức ăn nhiều hơn làm tăng nguy
cơ sâu răng Tránh ăn vặt đồ ngọt nhiều lần, nên ăn thành bữa và chải răng sau bữa ăn
- Khám răng định kỳ 6 tháng 1 lần để phát hiện răng sâu và chữa kịp thời
- Dùng chất nhựa phủ lên mặt nhai các răng có nguy cơ sâu răng cao như trên mặt nhai của răng hàm hoặc những răng răng hàm nhỏ (premolars) có nhiều đường rãnh và
hố sâu trũng làm cho thức ăn thường hay bị ứ đọng lại trên mặt nên dễ bị sâu răng hơn những răng khác Chất liệu dùng để trám bít hố rãnh phòng ngừa là 1 vật liệu trắng và trong –Sealants- được đặt lên bề mặt của răng Lớp nhựa này tồn tại được vài năm nên cần phải được xem xét hoặc quét lại nếu nó bị tróc đi
II YẾU TỐ VI SINH TRONG SÂU RĂNG
Trang 9Theo GS Wade, “miệng của một người khỏe mạnh là nơi trú ngụ của vô vàn các
vi trùng khác nhau, trong đó có cả virus, nấm, sinh vật đơn bào và vi khuẩn Vi khuẩn chiếm số lượng đông đảo nhất - có khoảng 100 triệu vi khuẩn trong mỗi một mml nước bọt và hơn 600 loại vi khuẩn khác nhau trong miệng".Trong đó nguyên nhân chính là do
2 nhóm vi khuẩn streptococcus mutans và lactobacillus.Có một loại vi khuẩn mới, phát triển ngày càng mạnh trong miệng người, có thể góp phần gây bệnh nướu và sâu răng vừa được các nhà khoa học Trường King’s College London phát hiện, đặt tên là "Prevotella histicola" theo tiếng Latin có nghĩa là nơi cư trú của các mô
streptococcus mutans: Đây là nhóm liên cầu khuẩn
Lactobacillus: nhóm này có nhiều dạng vi khuẩn như Lactobacillus acidophillus…
Họ vi khuẩn Prevotella có liên quan đến rất nhiều loại bệnh đường miệng cũng như các bệnh nhiễm trùng trong các bộ phận khác của cơ thể GS Wade cho biết ông đã thành công khi tìm ra những loại vi khuẩn mới ở mô khỏe mạnh bình thường lẫn những
vi khuẩn sống bên trong các tế bào ung thư miệng “Điều này khẳng định lại rằng vi khuẩn đường miệng có thể xâm nhập vào cả mô và tế bào đơn”
Bệnh sâu răng và các bệnh liên quan đến nướu là những loại bệnh vi khuẩn thường gặp nhất ở con người Phát hiện nói trên có thể giúp cho các nhà khoa học hiểu về những thay đổi trong các hoạt động của vi khuẩn dẫn tới các vấn đề về răng miệng Giáo sư Hugh Pennington, giáo sư danh dự về ngành Vi trùng học tại trường Đại học Aberdeen cho biết, việc tiếp tục kiểm tra các loại vi khuẩn chưa được biết đến là hết sức quan trọng đặc biệt đối với những loại vi khuẩn có thể gây bệnh Ông cũng khẳng định, việc tiến hóa không ngừng của vi khuẩn cho thấy khả năng về một sự thay thế không ngừng và không có điểm dừng của các loài và giống mới
Hoạt động của vi khuẩn
Sâu răng gây ra bởi các loại vi khuẩn sản sinh acid điển hình là Lactobacillius và Streptococcus Mutans Chúng chuyển hoá các loại Carbonhydrat có thể lên men như đường Sucrose, đường Fructose và đường Glucose thành acid Lactic kết quả là làm tăng lượng Acid Lactic và giảm độ pH trong miệng, những chất đó có thể hòa tan chất hữu cơ
và phân hủy chất vô cơ của kết cấu răng, chúng còn sản sinh và tiết ra chất hữu cơ,
Trang 10polyore, enzyme thủy phân chất lòng trắng trứng (một thành phần trong nước miếng) tạo thuận lợi cho sự lưu đọng của thức ăn trên bề mặt răng
Men của vi khuẩn + Glucid lên men + Thời gian è Acid
Acid + răng = Tiêu canxi Sâu răng =sự hủy khoáng > sự tái khoáng
III Các thực phẩm tốt cho răng
Táo: các quả táo có thể là “người bảo vệ” hữu ích
cho răng và lợi Táo giúp ngăn ngừa răng không bị sâu do
chứa nhiều vitamin C và khoáng tố boron Ngoài hai yếu tố
này, các quả táo cũng là nguồn chất xơ rất lớn, rất tốt trong
việc làm cho răng và lợi sạch
Cá: các loại chất đạm là những thành phần quan
trọng đối với độ chắc khỏe của răng và lợi Và cá là một
trong những loại thực phẩm rất giàu đạm
Nước: nước có công dụng giúp vận chuyển những
dưỡng chất chủ yếu như canxi và các chất khác đến với các
màng tế bào, các màng này có nhiệm vụ tăng cường sự
khỏe mạnh cho răng và lợi Nếu bạn không có điều kiện
chải răng sau khi ăn, hãy nhớ uống nước để giữ cho răng
miệng sạch
Wasabi: loại gia vị này không chỉ là gia vị, nó còn
giúp bảo vệ răng Một nghiên cứu năm 2000 cho thấy trong
wasabi có chứa một chất làm loại gia vị này có vị nóng, có
tên isothiocyanate, chất này có tác dụng ngăn chặn sự phát
triển của vi khuẩn gây sâu răng
Sữa và các sản phẩm từ sữa là nguồn canxi rất tốt
cho răng
Đậu các loại đậu rất giàu canxi và các khoáng chất
thiết yếu khác, các dưỡng chất này rất quan trọng đối với
răng và lợi
Cherry, blueberry và quả nho đen: Cherry và berry
là các loại quả chứa bioflavonoid giúp bảo vệ lợi không bị
hư hại
Các loại hạt như hạt bí ngô, hạt vừng, hạt hướng
dương…đều rất giàu canxi, vitamin và khoáng chất, là các
loại dưỡng chất tốt cho sức khỏe của răng và lợi
Trà: tốt cho răng và lợi vì chứa chất flavonoid
chống sâu răng và ngăn ngừa các mảng bựa răng bám vào
răng gây sâu
5 loại thực phẩm chống hôi miệng
Hơi thở hôi do hai nguyên nhân chính là vệ sinh răng miệng và bệnh đường ruột Nếu hơi thở bị hôi bạn cần tìm ra nguyên nhân có thể do bệnh trong cơ quan tiêu hóa, viêm lợi, sâu răng, thức ăn…
1 Thảo dược:
Một số cây rau mùi có tác dụng khử trùng và có mùi thơm dễ chịu như cây mùi tây, bạc