Chiến tranh lạnh kết thúc xóa đi trật tự thế giới cũ và thiết lập một trật tự thế giới mới cũng chính là lúc Ấn Độ phải đối diện với những thách thức mới trong quan hệ quốc tế cũng như “bóng ma” khủng hoảng trong nước. Sau hơn bốn thập niên theo đuổi chủ trương “trung lập” và “không liên kết”, Ấn Độ từng bước “mở cửa để thổi sức sống mới” cho nền kinh tế thì khu vực Đông Á trung tâm chính của “điều kì diệu kinh tế châu Á” – là lựa chọn “thuận tình thuận lí” cho sự hội nhập kinh tế. Đồng thời, xu thế mới cũng mang đến cơ hội để tái kết nối, ôn lại tình hữu nghị với những nước láng giềng xưa trên nền tảng những nguyên tắc mới phù hợp với yêu cầu của thời đại .
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
KHOA QUỐC TẾ HỌC
− −
TIỂU LUẬN (CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI VIỆT NAM)
VÀ QUAN HỆ VIỆT - ẤN GIAI ĐOẠN 2007 -2020
Giảng viên bộ môn : ThS Trần Thị Thu Nhóm sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Châu Giang
Ngô Thị Ni Ni Nguyễn Thị Vũ Khánh Nguyễn Quang Hoàng Lớp : 18CNQTH01
Đà Nẵng, tháng 05/2021
Trang 2PHIẾU ĐÁNH GIÁ BÀI TIỂU LUẬN
Stt Tiêu chí đánh giá Điểm tối đa Điểm
đánh giá
1 Tiểu luận có bố cục rõ ràng và đáp ứng được
yêu cầu của đề tài
2 Nội dung chính của tiểu luận được triển khai
đầy đủ; thông tin phù hợp, chính xác và cập
4 Tiểu luận được trình bày sạch sẽ, không có lỗi
chính tả và lỗi soạn thảo văn bản
1
5 Tiểu luận có trích dẫn nguồn tham khảo và
trình bày Danh mục tài liệu tham khảo đúng
Trang 3MỤC LỤC Nội dung ……….………trang
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG CHÍNH 2
1 Khái quát về Chính sách hướng Đông của Ấn Độ 2
1.1 Bối cảnh ra đời 2
1.1.1 Bối cảnh quốc tế 2
1.1.2 Bối cảnh khu vực 2
1.1.3 Bối cảnh quốc gia 3
1.2 Các giai đoạn phát triển và nội dung chính sách 3
1.2.1 Các giai đoạn phát triển 3
1.2.2 Nội dung chính sách 4
1.3 Một số hướng triển khai của chính sách 5
2 Quan hệ Việt – Ấn giai đoạn 2007 - 2020 6
2.1 Những nhân tố tác động tới quan hệ Việt - Ấn giai đoạn 2007 – 2020 6 2.1.1 Bối cảnh quốc tế và khu vực 6
2.1.2 Vị trí của Ấn Độ trong chính sách đối ngoại của Việt Nam 6
2.1.3 Vị trí của Việt Nam trong chính sách Hướng Đông của Ấn Độ7 2.2 Quan hệ Việt - Ấn trên một số lĩnh vực 7
2.2.1 Lĩnh vực chính trị - ngoại giao 7
2.2.2 Lĩnh vực kinh tế 8
2.2.3 Lĩnh vực an ninh – quốc phòng 8
2.2.4 Lĩnh vực văn hóa – giáo dục 9
3 Đánh giá và dự đoán về triển vọng quan hệ Việt - Ấn 9
3.1 Đánh giá về quan hệ Việt - Ấn 9
3.2 Dự báo về triển vọng quan hệ Việt - Ấn 10
KẾT LUẬN ……… 11
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.…….……… ……….………12
Trang 4MỞ ĐẦU
Chiến tranh lạnh kết thúc xóa đi trật tự thế giới cũ và thiết lập một trật tự thế giới mới cũng chính là lúc Ấn Độ phải đối diện với những thách thức mới trong quan hệ quốc tế cũng như “bóng ma” khủng hoảng trong nước Sau hơn bốn thập niên theo đuổi chủ trương “trung lập” và “không liên kết”, Ấn Độ từng bước “mở cửa để thổi sức sống mới” cho nền kinh tế thì khu vực Đông Á - trung tâm chính của “điều kì diệu kinh tế châu Á” – là lựa chọn “thuận tình thuận lí” cho sự hội nhập kinh tế Đồng thời, xu thế mới cũng mang đến cơ hội để tái kết nối, ôn lại tình hữu nghị với những nước láng giềng xưa trên nền tảng những nguyên tắc mới phù hợp với yêu cầu của thời đại [1] [17]
Chính trong bối cảnh này, “Hướng về phía Đông” là một chiến lược lớn của Ấn
Độ “Chính sách hướng Đông” là một trong những trụ cột quan trọng trong chính sách ngoại giao của Ấn Độ được đề ra bởi Thủ tướng Nanrendra Modi để thúc đẩy quan hệ với các nước Đông Nam Á và coi đây là nhân tố nòng cốt trong các tính toán chiến lược của “tiểu lục địa” này tại khu vực Nếu như đối với nhiều nước trên thế giới, “thế giới phẳng” là một ví dụ tiêu biểu cho sự phát triển vượt bậc của công nghệ phần mềm ở Ấn
Độ, thì đối với Đông Nam Á, “Chính sách hướng Đông” cũng như “lăng kính mới” đầy triển vọng từ hậu chiến tranh Lạnh đến nay [17]
Trên cơ sở tiếp cận khu vực Đông Nam Á, “Chính sách hướng Đông” (Look East Policy) nâng cấp thành “Hành động phía Đông” (Act East Policy) là một trọng những điều chỉnh chính sách quan trọng của Ấn Độ [18] Chính sách này đã tác động mạnh mẽ đến mối quan hệ Việt - Ấn Hơn nữa, Việt Nam được xem là trụ cột trong “Chính sách hướng Đông” của Ấn Độ tại Đông Nam Á và cũng là đối tác chiến lược quan trọng trong
“Tầm nhìn Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” [19] Nếu trước đây, mối quan hệ Việt -
Ấn chỉ được thúc đẩy chủ yếu về mặt chính trị thì giờ đây đã được mở rộng và phát triển trên nhiều lĩnh vực từ chính trị, an ninh, quốc phòng đến kinh tế, văn hóa, giáo dục, đặc biệt kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ đối tác chiến lược vào năm 2007 [2]
Bài tiều luận này sẽ trình bày rõ ràng về Chính sách hướng Đông của Ấn Độ và Quan hệ Việt – Ấn giai đoạn 2007 – 2020 Bài tiểu luận gồm ba phần sau đây:
Phần 1: Khái quát về Chính sách hướng Đông của Ấn Độ
Phần 2: Quan hệ Việt - Ấn giai đoạn 2007 - 2020
Phần 3: Đánh giá và dự đoán về triển vọng quan hệ Việt - Ấn
Trang 5về nguồn cung và giá dầu cao buộc Ấn Độ phải tìm kiếm nguồn cung mới Hơn nữa, từ khi chiến tranh vùng Vịnh nổ ra, Ấn Độ bị mất đi nguồn tài chính lớn từ Trung Đông [20]
1.1.2 Bối cảnh khu vực
Mối quan hệ giữa Ấn Độ với các nước láng giềng Nam Á vẫn như “quả bom nổ chậm”, đặc biệt là đối với Pakistan Kể từ năm 1947, Ấn Độ tách làm hai quốc gia là Ấn Độ và Pakistan, tình hình chính trị hai nước vẫn luôn trong tình trạng bất ổn và căng thẳng leo thang [20]
Ngoài ra, Hiệp hội Hợp tác khu vực Nam Á (SAARC) phát triển chậm chạp và ít hiệu quả Hơn nữa, Ấn Độ lo ngại các nước dùng diễn đàn này để chỉ trích và cô lập mình trong những vấn đề tranh chấp đơn phương Trước tình tế
“tiến thoái lưỡng nan”, Ấn Độ buộc phải tìm cách thoát khỏi “cái lồng bối cảnh Nam Á” Lựa cho mình “đường bay mới”, tiến đến những khu vực tiềm năng, đem lại nhiều lợi ích [20]
Ngược lại sự trì trệ của các nước Nam Á, khu vực Đông Á trỗi dậy với sự phát triển năng động và ổn định Đông Á có vị trí địa chiếm lược quan trọng khi nằm trong vành đai Châu Á- Thái Bình Dương và là nơi hội tụ nhiều cường quốc thế giới như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc [19] Đây cũng là một trong những nguyên nhân Ấn Độ đẩy mạnh quan hệ với khu vực Đông Á [20]
Hơn nữa, sự phát triển của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)
- một tổ chức có tiếng nói trọng lượng ở Châu Á – Thái Bình Dương cũng là nhân
tố quan trọng trong việc điều chỉnh chính sách ngoại giao của Ấn Độ sau năm
1991 Đặc biệt, trong bối cảnh Trung Quốc đang ngày càng gia tăng vị thế của
Trang 6mình ở Nam Á và Ấn Độ Dương Ấn Độ tăng cường hợp tác với các nước ASEAN như là “lời tuyên chiến” với Trung Quốc ở khu vực Đông Nam Á [11]
1.1.3 Bối cảnh quốc gia
Nguyên nhân khiến Ấn Độ buộc phải thay đổi chính sách đối ngoại không chỉ bởi tác động mạnh mẽ của bối cảnh thế giới và khu vực trong những năm cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 của thế kỉ XX mà còn xuất phát từ hình hình kinh
tế, xã hội, chính trị đầy bất ổn của Ấn Độ thời điểm đó [20]
Sau một thời gian dài khép mình với phương Tây và đóng cửa nền kinh
tế, Ấn Độ “oằn mình” chống đỡ trước “bóng ma” khủng hoảng kinh tế Hàng loạt các vấn đề kinh tế và xã hội mà Ấn Độ phải đương đầu có thể kể đến như nợ nước ngoài 70 tỉ USD không có khả năng chi trả, lạm phát kinh tế trên 13 % [3], nạn tham nhũng mất kiểm soát, bùng nổ dân số, tỉ lệ thất nghiệp, nghèo đói và thất học tăng cao,… [17]
Khủng hoảng kinh tế và rối loạn xã hội cũng đẩy nền chính trị Ấn Độ rơi vào tình trạng bất ổn Thêm vào đó, Ấn Độ còn phải đối mặt với các mối đe dọa khủng bố, nhiều tổ chức ly khai vũ trang hay các phong trào phản động từ các bang Punjab, Jammu, Kashmir và vùng Đông Bắc [20]
Nếu như chính sách đối nội của Ấn Độ vào đầu thập niên 90 của thế kỉ
XX được thủ tưởng Narasimha Rao đánh giá như “đứng trước bờ vực thẳm” thì
về đối ngoại, thủ tưởng Rajiv Gandhi tuyên bố rằng: “Ấn Độ đã bị lu mờ như thể không còn tồn tại Chúng ta phải đảm bảo làm sao cho Ấn Độ xuất hiện trở lại như một tiền tuyến” [3]
Ấn Độ cải cách toàn diện nền kinh tế, rời bỏ chính sách tự lực cánh sinh
về kinh tế và tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế” [10], từ bỏ chủ nghĩa
lý tưởng và theo đuổi chính sách đối ngoại thực dụng hơn - chủ nghĩa hiện thực [16], Ấn Độ chuyển mũi nhọn sang các quốc gia Đông Á với mong muốn bảo toàn lợi ích và giữ vững vị thế của mình “Chính sách hướng Đông” được xem như ước mơ cường quốc châu Á từ đó thành cường quốc thế giới của Ấn Độ [21]
1.2 Các giai đoạn phát triển và nội dung chính sách
1.2.1 Các giai đoạn phát triển
Thuật ngữ “Nhìn về hướng Đông” (Look East) [13] được khởi xướng từ năm 1993-1994, sau khi Ấn Độ triển khai cuộc cải cách sâu rộng từ năm 1991 theo hướng tự do hóa “Chính sách hướng Đông” là định hướng chiến lược quan trọng nhất trong chính sách ngoại giao mới của Ấn Độ, được triển khai với hai giai đoạn và tập trung vào ba lĩnh vực kinh tế, chính trị và quân sự [23]
Giai đoạn I được xác định từ đầu thập niên 90 của thế kỉ XX đến năm
2002, Ấn Độ tăng cường phát triển quan hệ trên mọi mặt với các nước Đông Nam
Trang 7Á, trong đó, chú trọng các mối quan hệ về thương mại, đầu tư; tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; chủ động mở chiến lược ngoại giao với khu vực Đông Nam Á và Châu Á – Thái Bình Dương; tham gia các tổ chức an ninh, kinh tế và chính trị đa phương tại khu vực này như APEC, WTO, ARF, … Đặc biệt lấy chính sách ngoại giao kinh tế làm trụ cột [18]
Giai đoạn II được tính từ năm 2002, dấu mốc cho bước tiến quan trọng của Ấn Độ trong khuôn khổ hợp tác với các nước ASEAN là Hội nghị cấp cao ASEAN - Ấn Độ, tromg đó Ấn Độ với cương vi là nước đầu tiên ngoài khu vực Đông Nam Á đạt cơ chế hợp tác cấp cao thường niên Trong bài phát biểu ngày 26/08/2003 dưới tiêu đề “Châu Á: Một thời kỳ thay đổi” tại viện nghiên cứu Quân
sự và Chiến lược Singapo, Ngoại trưởng Ấn Độ Jashwant Sinha đã nói rằng: “với việc tổ chức Hội nghị cấp cao Phnom Penh tháng 11 năm ngoái (2002), chúng tôi đã thực sự bước vào giai đoạn 2 của Chính sách Hướng Đông” [23] Giai đoạn này nhằm mở rộng quan hệ hợp tác với các nước và khu vực từ Ô-xtrây-li-a đến Đông Á, bao gồm cả khu vực Đông Bắc Á (Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc) [51], trọng tâm là ASEAN và SAARC [14]
về chính trị, chiến lược Các nội dung chính sách được triển khai thực hiện với hai nhóm mục tiêu chủ yếu về chịnh trị, chiến lược và kinh tế xã hội [3]
Đối với nhóm mục tiêu chính trị - chiến lược, thông qua “Chính sách hướng Đông”, Ấn Độ muốn xây dựng và mở rộng quan hệ, đồng thời cạnh tranh ảnh hưởng với Trung Quốc ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương” để phần nào kiềm chế “sự bành trướng” của Trung Quốc tại Đông Á và Nam Á, nhất là Ấn
Độ Dương - khu vực được Thủ tướng Jawaharhal Nehru đánh giá là “có khả năng thay thế Đại Tây Dương với tư cách là đầu não trung tâm của thế giới” [15] [18]
Đối với nhóm muc tiêu kinh tế - xã hội, Ấn Độ triển khai “Chính sách hướng Đông” để phát triển quan hệ kinh tế với các quốc gia Đông Á, đặc biệt là thương mại nhằm duy trì mức tăng trưởng cao và ổn định nền kinh tế Thông qua
đó, Ấn Độ hướng đến việc hội nhập kinh tế với khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, nhất là hướng tới mục tiêu xây dựng cộng đồng kinh tế châu Á[16] Hơn thế nữa, các nhà lãnh đạo Ấn Độ tin rằng “Đông Nam Á nắm giữ chiếc chìa khoá tăng trưởng kinh tế ổn định của Ấn Độ và cho rằng vận mệnh của quốc gia gắn với khu vực này” [24] Vì vậy, quan hệ Ấn Độ - ASEAN hiện nay có những bước
Trang 8chuyển biến tích cực Bằng chứng rõ ràng là sau 20 năm quan hệ đối thoại, ASEAN và Ấn Độ đã quyết định đưa quan hệ lên tầm đối tác chiến lược từ năm
2012 thể hiện một nội hàm mới, rộng và sâu sắc hơn Nổi bật là hai bên quyết tâm xây dựng khu vực mậu dịch tự do toàn diện và Ấn Độ sẽ thể hiện mạnh mẽ vai trò của mình như là một nhân tố đảm bảo hòa bình và ổn định ở khu vực châu
Á - Thái Bình Dương Tuy nhiên, dù quan hệ giữa Ấn Độ và ASEAN đã có bước phát triển nhất định, nhưng trong thực chất, “Chính sách hướng Đông” vẫn chưa giúp Ấn Độ “thỏa mãn kì vọng” và dường như Ấn Độ vẫn chỉ là “người quan sát” trong các vấn đề ở khu vực Đông Nam Á [19]
1.3 Một số hướng triển khai của chính sách
Năm 2003 tại Mátxcơva, Ngoại trưởng Ấn Độ Yahshwant Sinha phát biểu: “Chúng tôi đã nỗ lực tạo dựng các thoả thuận thương mại và đầu tư đặc biệt, bao gồm việc thông qua Khu vực Thương mại Tự do Ấn Độ - ASEAN, Hiệp định Thương mại Tự do (FTA), Sáng kiến vùng Vịnh Bengal về Hợp tác Kinh tế
và Kỹ thuật Đa khu vực (BIMSTEC), Hiệp hội Hợp tác khu vực Nam Á (SAARC), cùng các thoả thuận song phương như Hiệp định Thương mại Tự do
Ấn Độ - Thái Lan, Thoả thuận Hợp tác Kinh tế Toàn diện Ấn Độ - Singapo, Hợp tác Mekong – sông Hằng (bao gồm Ấn Độ, Thái Lan, Myanmar, Việt Nam, Campuchia, và Lào) Đó là những khuôn khổ quan trọng trong “Chính sách hướng Đông” của Ấn Độ” [18] Từ phát biểu này cho thấy Ấn Độ triển khai chính sách hướng Đông theo ba hướng chủ yếu dưới đây
Thứ nhất, ASEAN với tư cách là một cơ chế hợp tác khu vực Vào đầu những năm 1990, chính phủ Ấn Độ đã đưa ra một quyết định chiến lược nhằm
“hâm nóng” quan hệ với các nước Đông Nam Á Nhờ vậy những hạt giống của
“Chính sách hướng Đông” nổi tiếng đã nảy mầm Nhìn nhận vai trò động lực của ASEAN trong các cơ chế hợp tác khu vực như ASEAN+1, ASEAN+3 và Cấp cao Đông Á, Ấn Độ xác định rằng, họ chỉ có thể hiện thực hoá các mục tiêu của mình ở Châu Á – Thái Bình Dương thông qua củng cố và nâng cấp quan hệ với
tổ chức khu vực này [24]
Thứ hai, Ấn Độ hợp tác tiểu khu vực Để kiềm chế sự ảnh hưởng của Trung Quốc tại Ấn Độ Dương, Ấn Độ đã chủ trương liên kết tiểu khu vực với khu vực Đông Nam Á lục địa thông qua các cơ chế hợp tác như BIMSTEC và Hợp tác Mekong-sông Hằng Về mặt chiến lược, “BIMSTEC làm đối trọng với sáng kiến hợp tác Bangladesh, Trung Quốc, Ấn Độ và Myanmar Còn Hợp tác Mekong-sông Hằng làm đối trọng với hợp tác Tiểu vùng Mekong mở rộng - một
cơ chế hợp tác có mặt Trung Quốc” [24]
Thứ ba là Hiệp định thương mại tự do Học giả Dong Zhang đánh giá:
“các FTA với các nước Đông Nam Á sẽ mang lại cho Ấn Độ “lựa chọn mở” trong
Trang 9trường hợp các cuộc đàm phán của WTO thất bại” Tuy nhiên, các FTA thường chỉ đề cập chủ yếu đến thương mại hàng hoá và thương mại dịch vụ và đương nhiên, đầu tư không thuộc nội dung của các FTA Đó là lý do tại sao Ấn Độ theo đuổi Hiệp định chung về hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN - Ấn Độ năm 2003
và Hiệp định Hợp tác Kinh tế Toàn diện Ấn Độ - Singapo năm 2005 Khi các cuộc đàm phán về FTA với ASEAN gặp khó khăn, Ấn Độ chuyển hướng sang các FTA song phương với các đối tác ở khu vực như Singapo và Thái Lan Đây được cho là cách thức dễ dàng hơn để Ấn Độ vẫn có thể duy trì và thúc đẩy các cuộc đàm phán về FTA với khu vực Đông Á [24]
2 Quan hệ Việt – Ấn giai đoạn 2007 - 2020
2.1 Những nhân tố tác động tới quan hệ Việt - Ấn giai đoạn 2007 – 2020
2.1.1 Bối cảnh quốc tế và khu vực
Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, một trật tự thế giới mới đã được hình thành, hầu hết các nước trên thế giới đều muốn ghi dấu ấn của mình trên vũ đài khu vực và quốc tế Quá trình toàn cầu hóa và khu vực hóa đã tạo nhiều cơ hội
để các nước mở rộng mối quan hệ, giao lưu và hợp tác cùng phát triển trên nhiều lĩnh vực [3] Bên cạnh đó, xu hướng mới của thế giới đã tạo nên những thách thức lớn đối với hòa bình, an ninh của mỗi nước trong khu vực cũng như thế giới Với lợi thế về vị trí địa chiến lược, nguồn tài nguyên dồi dào, Việt Nam đã trở thành đối tác ngoại giao quan trọng với các nước lớn như Trung quốc, Nhật Bản, cũng như các nước trong khu vực Đông Nam Á Đây cũng là nhân tố khách quan thúc đẩy mối quan hệ song phương giữa Việt Nam và Ấn Độ [26]
2.1.2 Vị trí của Ấn Độ trong chính sách đối ngoại của Việt Nam
Việt Nam và Ấn Độ chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1972
“Trong sáng như bầu trời không một gợn mây” - câu nói của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đến ngày hôm nay vẫn giữ nguyên giá trị sau gần năm thập kỷ qua, từ
nỗ lực ươm mầm của hai vị lãnh tụ là Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Jawaharlal Nehru, mối quan hệ hữu nghị truyền thống lâu đời giữa Việt Nam và
Ấn Độ không ngừng được củng cố và phát triển [25] Với mong muốn tiến xa hơn, lãnh đạo hai nước đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược vào tháng 7-2007
và nâng cấp lên đối tác chiến lược toàn diện vào tháng 9-2016 [7]
Trong những ngày đầu khó khăn của công cuộc tái thiết và đổi mới đất nước, Việt Nam luôn nhận được sự giúp đỡ quý báu của Ấn Độ Về phương diện
an ninh – quốc phòng, Ấn Độ luôn tích cực hỗ trợ Việt Nam trong đào tạo, nâng cao năng lực quân sự, chuyển giao công nghệ quốc phòng và cung cấp tín dụng quốc phòng Về giáo dục, Ấn Độ giành hiều ưu tiên và quan tâm thúc đẩy hợp tác khoa học - công nghệ, thông tin, truyền thông với Việt Nam Ngoài ra Ấn Độ
Trang 10còn là một trong 10 đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch song phương tăng bình quân 16%/năm trong 10 năm qua; đứng thứ 28 trong 126 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam với 168 dự án, tổng vốn đăng ký đạt 756 triệu USD trong năm 2017 Nhiều tập đoàn lớn của Ấn Độ như TATA, ONGC, Essar… đang đầu tư, kinh doanh thành công tại Việt Nam [26] Trong khuôn khổ ASEAN, Ấn Độ đã giúp đỡ Việt Nam triển khai hai dự án trọng điểm nằm trong khuôn khổ hợp tác ASEAN-Ấn Độ là Trung tâm phát triển doanh nhân Việt Nam - Ấn Độ (VIEDC) tại Hà Nội (chính thức đi vào hoạt động từ tháng 5/2006) và Trung tâm Đào tạo Tiếng Anh Việt Nam-Ấn Độ (VICELT) tại Đà Nẵng được thành lập tháng 7/2007 [27] Do đó, Ấn Độ vừa là bạn bè hữu nghị vừa là đối tác chiến lược quan trọng của Việt Nam trên nhiều phương diện
2.1.3 Vị trí của Việt Nam trong chính sách Hướng Đông của Ấn Độ
Từ sau chiến tranh lạnh cùng với quá trình toàn cầu hóa của thế giới,
“Chính sách hướng Đông” là sự thay đổi chiến lược quan trọng sau sự thất bại của chính sách “hướng nội và nửa bế quan tỏa cảng” của Ấn Độ [5] Ấn Độ đã thực hiện nền kinh tế tự do, tăng cường mở rộng quan hệ với các nước Đông Nam
Á, dần được mở rộng ra khu vực châu Á - Thái Bình Dương Chính sách Hướng Đông trên cơ sở tiếp cân khu vực Đông Nam Á đã tác động mạnh mẽ đến mối quan hệ Việt nam - Ấn Độ Tại khu vực Đông Nam á, Việt Nam được đánh giá
là trụ cột trong “Chính sách hướng Đông” của Ấn Độ Cũng bởi “tìm được tiếng nói chung” mà tình bang giao Việt - Ấn nhanh chóng “đơm hoa kết trái” [24] Từ mối quan hệ chủ yếu về chính trị, hai nước đã nâng tầm và mở rộng trên nhiều lĩnh vực khác như kinh tế, giáo dục, văn hóa, an ninh, quốc phòng, [3]
Việt Nam không chỉ có vị trí địa chiến lược quan trọng – là cầu nối hai vùng kinh tế biển và kinh tế lục địa của châu Á mà còn là cửa giao thương với các nền kinh tế biển khu vực, đồng thời cũng thuận lợi về đường bộ sát biên giới với nhiều nước Đông Nam Á Điều này là một ưu điểm lớn giúp Ấn Độ dễ dàng kết nối và tiếp cận với các nước trong khu vực này [10]
Đặc biệt, Việt Nam đảm nhiệm vai trò là điều phối viên quan hệ ASEAN
- Ấn Độ trong giai đoạn 2015 – 2018 cũng góp phần thúc đẩy hợp tác chặt chẽ giữa hai nước [29] [52] Vì vậy, các nhà lãnh đạo Ấn Độ luôn khẳng định Việt Nam là một trụ cột quan trọng trong “Chính sách hướng Đông” [49]
2.2 Quan hệ Việt - Ấn trên một số lĩnh vực
2.2.1 Lĩnh vực chính trị - ngoại giao
Quan hệ chính trị giữa Việt Nam và Ấn Độ vẫn không ngừng được củng
cố và thắt chặt bằng các cuộc viếng thăm để hâm nóng tình hữu nghị giữa hai nước Sau khi nhận được lời mời từ Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, thủ tướng Ấn
Trang 11Độ Narendra Modi đã đến viếng thăm Việt Nam vào ngày 2-3/9/2016 và kí kết hàng loạt các hiệp định song phương giữa hai nước Đồng thời, hai nước chuyển
từ “’Đối tác chiến lược” sang “Đối tác chiến lược toàn diện” [30]
Bên cạnh đó, các cuộc gặp mặt giữa các viên chức cấp cao của hai nước cũng diễn ra thường xuyên hơn chẳng hạn như cuộc viếng thăm Ấn Độ của cố Chủ tịch nước Việt Nam Trần Đại Quang vào tháng 3/2018, cuộc viếng thăm của phó chủ tịch nước Việt Nam Đặng Thị Ngọc Nhân vào tháng 2/2020, Ấn Độ cũng đã có nhiều cuộc viếng thăm Việt Nam như Tổng thống Ấn Độ Shri Ram Nath Kovind đã có cuộc viếng thăm vào ngày 18-20/11/2018, Bộ trưởng bộ Quốc phòng Ấn Độ Manohar Parrikar cũng đã thăm Việt Nam vào ngày 5-7/7/2017, [53]
Sau nhiều cuộc gặp mặt, Việt Nam và Ấn Độ đã thống nhất rằng năm 2017
sẽ là năm của ”tình hữu nghị Việt-Ấn” để kỷ niệm 45 năm quan hệ ngoại giao và
10 năm thiết lập mối quan hệ “Đối tác chiến lược” [31]
2.2.2 Lĩnh vực kinh tế
Việt Nam hiện nay đang là đối tác quan trọng của Ấn Độ không chỉ trong chính trị - ngoại giao mà còn trong lĩnh vực kinh tế Năm 2020, Việt Nam là đối tác thương mại đứng thứ 17 và thứ 4 trong ASEAN đối với Ấn Độ [32]
Việt Nam và Ấn Độ cũng đã thiết lập quan hệ hợp tác thương mại song phương trong chuyến thăm của cựu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đến Ấn Độ vào tháng 8 /2014 [16] Theo đó, trong kỳ họp lần hai Tiểu ban Thương mại hỗn hợp Việt Ấn 20/2/2015 thì việc đầu tư của Ấn Độ tập trung vào các lĩnh vực dầu khí, khai khoáng, công nghiệp chế tạo, chế biến nông sản và thực phẩm [33]
Ấn Độ hiện cũng đang là một trong 10 đối tác thương mại quan trọng nhât của Việt Nam Năm 2018, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước đạt 10,68 tỷ USD và 12,8 tỷ USD Năm 2019, Ấn Độ đã có 223 dự án tại Việt Nam với tổng
số vốn là 913,33 triệu USD Ấn Độ là quốc gia đứng thứ 26/131 quốc gia đầu tư vào Việt Nam Ngoài ra, còn có nhiều tập đoàn lớn của Ấn Độ như TATA, ONGC, Essar… đang đầu tư, kinh doanh thành công tại Việt Nam [34]