1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tài liệu Một số đặc điểm chung của lễ hội. ppt

5 481 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số đặc điểm chung của lễ hội
Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 163,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính địa phương của lễ hội chính là điều chứng tỏ lễ hội gắn bó rất chặt chẽ với đời sống của nhân dân, nó đáp ứng những nhu cầu tinh thần và văn hóa của nhân dân, không chỉ ở nội dung l

Trang 1

Một số đặc điểm chung của lễ hội

Tính thiêng

Muốn hình thành một lễ hội, bao giờ cũng phải tìm ra được một lý do mang tính "thiêng" nào đó Đó là người anh hùng đánh giặc bị tử thương, ngã xuống mảnh đất ấy, lập tức được mối đùn lên thành mộ Đó là nơi một người anh hùng bỗng dưng hiển thánh, bay về trời Cũng có khi đó chỉ là một bờ sông, nơi có một xác người chết đuối, đang trôi bỗng nhiên dừng lại, không trôi nữa; dân vớt lên, chôn cất, thờ phụng Cũng có khi lễ hội chỉ hình thành nhằm ngày sinh, ngày mất của một người có công với làng với nước, ở lĩnh vực này hay lĩnh vực khác (có người chữa bệnh, có người dạy nghề, có người đào

mương, có người trị thủy, có người đánh giặc ) Song, những người đó bao giờ cũng được "thiên hóa", đã trở thành "Thần thánh" trong tâm trí của người dân

Nhân dân tin tưởng những người đó đã trở thành Thần thánh, không chỉ có thể phù hộ cho họ trong những mặt mà sinh thời người đó đã làm: chữa bệnh, làm nghề, sản xuất, đánh giặc mà còn có thể giúp họ vượt qua những khó khăn đa dạng hơn, phức tạp hơn của đời sống

Chính tính "Thiêng" ấy đã trở thành chỗ dựa tinh thần cho nhân dân trong những thời điểm khó khăn, cũng như tạo cho họ những hy vọng vào điều tốt đẹp sẽ đến

Tính "cộng đồng"

Lễ hội chỉ được sinh ra, tồn tại và phát triển khi nó trở thành nhu cầu tự nguyện của một cộng đồng Cộng đồng lớn thì phạm vi của lễ hội cũng lớn Bởi thế mới có lễ hội của một

họ, một làng, một huyện, một vùng hoặc cả nước

Tính địa phương

Lễ hội được sinh ra và tồn tại đều gắn với một vùng đất nhất định Bởi thế lễ hội ở vùng nào mang sắc thái của vùng đó Tính địa phương của lễ hội chính là điều chứng tỏ lễ hội gắn bó rất chặt chẽ với đời sống của nhân dân, nó đáp ứng những nhu cầu tinh thần và văn hóa của nhân dân, không chỉ ở nội dung lễ hội mà còn ở phong cách của lễ hội nữa Phong cách đó thể hiện ở lời văn tế, ở trang phục, kiểu lọng, kiểu kiệu, kiểu cờ, ở lễ vật dâng cúng

Tính cung đình

Đa phần các nhân vật được suy tôn thành Thần linh trong các lễ hội của người Việt, là các người đã giữ các chức vị trong triều đình ngày xưa

Bởi thế những nghi thức diễn ra trong lễ hội, từ tế lễ, dâng hương, đến rước kiệu đều

mô phỏng sinh hoạt cung đình Sự mô phỏng đó thể hiện ở cách bài trí, trang phục, động

Trang 2

tác đi lại Điều này làm cho lễ hội trở nên trang trọng hơn, lộng lẫy hơn Mặt khác lễ nghi cung đình cũng làm cho người tham gia cảm thấy được nâng lên một vị trí khác với ngày thường, đáp ứng tâm lý, những khao khát nguyện vọng của người dân

Tính đương đại

Tuy mang nặng sắc thái cổ truyền, lễ hội, trong quá trình vận động của lịch sử, cũng dần dần tiếp thu những yếu tố đương đại Những trò chơi mới, những cách bài trí mới, những phương tiện kỹ thuật mới như rađio, cassete, video, tăng âm, micro đã tham gia vào lễ hội, giúp cho việc tổ chức lễ hội được thuận lợi hơn, đáp ứng nhu cầu mới

Tuy vậy, những sự tiếp thu này đều phải dần dần qua sự sàng lọc tự nguyện của nhân dân, được cộng đồng chấp nhận, không thể là một sự lắp ghép tùy tiện, vô lý

Quy trình của lễ hội

Về thời gian của hội, thông thường địa phương nào mở hội cũng đều tiến hành theo quy trình sau:

Ngày đầu

Lễ nhập tịch, quét dọn, mở cửa di tích, rước nước làm lễ tắm tượng (mộc dục) cùng các

đồ tế tự

Ngày thứ hai

Chính hội, triển khai các nghi thức cổ truyền: tế, rước, các trò vui Đây là ngày đông vui,

có ý nghĩa nhất của lễ hội

Ngày thứ ba (Xuất tịch, giã đám, giã hội)

Chủ yếu ban tổ chức làm lễ tạ, đóng cửa di tích

Quy chế lễ hội

Ban hành kèm theo quyết định số: 636/QĐ-QC ngày 21 tháng 5 năm1994 của Bộ trưởng

Bộ Văn hóa-Thông tin

Trang 3

Lễ hội là một loại hình sinh hoạt văn hóa truyền thống có sức cuốn hút đông người tham gia và đã trở thành nhu cầu trong đời sống tinh thần của nhân dân Để tổ chức, quản lý và chỉ đạo các lễ hội cho phù hợp với thuần phong mỹ tục, kinh tế, xã hội ở nước ta và đưa

sinh hoạt xã hội vào nền nếp, Bộ Văn hóa - Thông tin ban hành Quy chế lễ hội

Chương I: Quy định chung

Điều 1: Việc tổ chức lễ hội nhằm:

• Giáo dục truyền thống tốt đẹp của dân tộc về lịch sử, văn hóa trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước

• Tưởng nhớ công đức các danh nhân lịch sử, văn hóa, những người có công tích với dân, với nước (nhân thần, thiên thần)

• Tìm hiểu thưởng ngoạn các giá trị văn hóa thông qua các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, các công trình kiến trúc nghệ thuật, giữ gìn, phát huy vốn văn hóa truyền thống và phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc

• Vui chơi, giải trí lành mạnh

Điều 2 : Nghiêm cấm việc lợi dụng lễ hội để tổ chức các hoạt động có nội dung phản

động, đồi trụy, mê tín dị đoan hoặc trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc

Chương II: Tổ chức, quản lý lễ hội

Điều 3 :Việc tổ chức lễ hội phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo

quy định sau đây:

1 Lễ hội thu hút chủ yếu nhân dân trong một xã, một phường do ủy ban Nhân dân huyện, quận cấp giấy phép

2 Lễ hội thu hút chủ yếu nhân dân nhiều xã, phường, nhiều vùng trong một tỉnh, thành phố do ủy ban Nhân dân tỉnh, thành phố cấp giấy phép

3 Lễ hội thu hút nhiều khu vực, nhiều tỉnh, thành phố do Bộ Văn hóa-Thông tin cấp giấy phép

Điều 4: Lễ hội về những sự kiện lịch sử cách mạng, kháng chiến thì cấp nào cho phép,

cấp đó có trách nhiệm tổ chức chỉ đạo

Điều 5: Trong lễ hội, ngoài quốc kỳ có thể treo cờ hội truyền thống, cờ của các tôn giáo,

tín ngưỡng

Điều 6: Nghi thức của các lễ hội phải được tiến hành trang trọng theo truyền thống Điều 7: Thời gian tổ chức lễ hội không kéo dài quá 3 ngày, trừ hội chùa Hương (Hà Tây)

và Hội Xuân núi Bà Đen ( Tây Ninh)

Điều 8: Không được bán vé vào cửa tất cả các lễ hội

Trang 4

Trong khu vực lễ hội nếu tổ chức các trò diễn, trò chơi, biểu diễn ca, múa, nhạc hoặc thăm viếng khu di tích, trưng bày thì được bán vé, giá do ngành Tài chính quy định

Điều 9 :Ban tổ chức các lễ hội phải bảo đảm trật tự, an toàn, an ninh, tổ chức dịch vụ, y

tế, ăn uống, nghỉ ngơi, vệ sinh chu đáo, lịch sự

Chương III: Tổ chức thực hiện quy chế lễ hội

Điều 10: Việc tổ chức, quản lý các loại hình lễ hội có nội dung văn hóa trong cả nước

phải thực hiện theo quy chế này

Cơ quan Văn hóa-Thông tin các cấp có trách nhiệm nghiên cứu lễ hội ở địa phương mình

để hướng dẫn việc tổ chức phù hợp với từng lễ hội

Điều 11: Cục Văn hóa Thông tin cơ sở có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra việc thực

hiện Quy chế này

Điều 12 : Tổ chức hoặc cá nhân vi phạm quy chế này tùy theo mức độ sẽ bị xử phạt hành

chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật

Điều 13 : Quy chế này có hiệu lực từ ngày ban hành Quy chế mở hội truyền thống ban

hành kèm theo quyết định 54/VHQC ngày 4/10/1989 của Bộ Văn hóa và những văn bản hướng dẫn trước đây không còn hiệu lực

Bộ Văn hóa-Thông tin

Quyết định của Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin

về việc ban hành "Quy chế lễ hội"

Bộ trưởng Bộ Văn hóa-Thông tin

• Căn cứ Nghị định số 81/CP ngày 8/11/1993 của Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Văn hóa-Thông tin;

• Xét đề nghị của ông Cục trưởng Cục Văn hóa - Thông tin cơ sở;

Quyết định

Điều 1: Ban hành kèm theo quyết định này "Quy chế lễ hội"

Điều 2: Bản Quy chế lễ hội có hiệu lực từ ngày ban hành, Quy chế mở Hội truyền thống

ban hành kèm theo quyết định: 54/VHQC ngày 4/10/1989 của Bộ Văn hóa-Thông tin và các văn bản hướng dẫn trước đây không còn hiệu lực

Trang 5

Điều 3: Cục Văn hóa-Thông tin Cơ sở có trách nhiệm hướng dẫn cụ thể việc thực hiện

quy chế này

Bộ trưởng (Đã ký)

Trần Hoàn

Ngày đăng: 23/12/2013, 11:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w