Trong thời điểm hiện nay, việc nghiên cứu khảo sát và đánh giá về những ảnh hưởng và tác động của truyền thông đại chúng đối với các tầng lớp công chúng ở nước ta là có tính cấp thiết và
Trang 1LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Trang 2
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU Trang
1 Tính cấp thiết và lí do chọn đề tài 4
PHẦN NỘI DUNG
Chương I: Những vấn đề lí luận và phương pháp
nghiên cứu hiệu quả của báo chí đối với công chúng
20
Trang 31.1 Cơ sở lý luận 20
1.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về truyền thông
đại chúng
20
1.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về truyền thông đại chúng 23
1.1.3 Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về truyền
thông đại chúng
26
1.1.4 Lý thuyết của M.Weber về đối tượng nghiên cứu của
truyền thông đại chúng
1.2.4 Công chúng của truyền thông đại chúng 35
Trang 41.2.5 Công chúng sinh viên báo chí 37
1.3 Địa điểm khảo sát và một số đặc điểm của đối tượng
nghiên cứu
37
1.3.1 Vài nét về địa điểm khảo sát 37
1.3.2 Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 39
Chương II: Cách thức, mức độ và những vấn đề được
quan tâm trong giao tiếp đại chúng của công chúng sinh viên
báo chí
42
2.1 Các phương tiện thông tin đại chúng và cách thức tiếp
nhận thông tin của công chúng sinh viên báo chí
2.1.2 Địa điểm và cách thức tiếp nhận thông tin từ báo chí
của công chúng Sinh viên báo chí
48
Trang 52.1.2.1 Địa điểm và cách thức đọc báo in 49
2.2.2.2 Địa điểm và cách thức nghe đài phát thanh 53
2.2.2.3 Địa điểm và cách thức xem truyền hình 55
2.1.2.4 Địa điểm và cách thức truy cập Interner 58
2.2 Mức độ tiếp nhận thông tin của công chúng sinh viên
báo chí
61
2.3 Những vấn đề được quan tâm của công chúng công
sinh viên báo chí
70
2.3.1 Những nội dung thông tin được quan tâm 69
2.3.1.1 Những thông tin thời sự, chính trị - xã hội 72
2.3.1.2 Những thông tin văn hoá, văn nghệ, vui chơi giải
trí
77
2.3.2 Những thể loại tác phẩm báo chí được quan tâm 79
2.3.2.1 Tin
Trang 62.3.2.2 Phóng sự
2.3.2.3 Phỏng vấn, tọa đàm
2.3.3 Nhu cầu và mức độ trao đổi thông tin của công
chúng sinh viên báo chí
82
Chương III: Nhận diện một số kênh truyền thông đại
chúng liên quan đến nghề báo và việc sử dụng thông điệp từ
báo chí của công chúng sinh viên báo chí
89
3.1 Nhận diện một số kênh truyền thông đại chúng
3.1.3 Trang web: nghebao.com (Nghề báo – Thư ký của
thời đại )
95
3.2 Vấn đề sử dụng thông điệp báo chí vào việc học tập và
rèn luyện của sinh viên báo chí
98
3.2.1 Mức độ tiếp nhận thông tin từ báo chí liên quan đến 99
Trang 7việc học tập và rèn luyện của sinh viên báo chí
3.2.2 Ý nghĩa của những thông tin từ báo chí đối với việc
học tập và rèn luyện của sinh viên báo chí
Trang 9Hệ thống các phương tiện truyền thông đại chúng mà trung tâm là
hệ thống báo chí hiện nay phát triển rất mạnh mẽ, đã trở thành một thành tố rất quan trọng của xã hội Hệ thống này vừa là động lực, vừa là công cụ trong hoạt động tổ chức, quản lí và nâng cao dân trí trong xã hội
Trong hoạt động của mình, hệ thống truyền thông đại chúng đã thể hiện vai trò cũng như khả năng tạo sự tương tác xã hội, hướng dẫn, định hướng hành
vi hoạt động trong công chúng Chính vì vậy, truyền thông đại chúng trở thành một thiết chế xã hội, nó được coi là tác nhân cơ bản làm hình thành các liên kết
xã hội
Hiện nay, truyền thông đại chúng có được sự hỗ trợ rất lớn của các phương tiện Khoa học kĩ thuật Công nghệ phát triển ở trình độ cao đã đưa hệ thống này trở thành một trong những hệ thống quan trọng nhất của xã hội hiện đại Thông tin của từng quốc gia trở thành đối tượng của báo chí mọi quốc gia, không gian thông tin của nhân loại đang được thu nhỏ lại Sự quốc tế hoá truyền thông đại chúng đang đặt cả thế giới vào tình huống mà trong đó các hàng rào thông tin “cứng” bị phá vỡ Điều này là cơ sở thực tiễn cũng như là điều kiện thuận lợi thúc đẩy các nghiên cứu xã hội học về truyền thông đại chúng
Trang 10Nhà nước nhiều lĩnh vực xã hội đã có sự phát triển rõ rệt Hoạt động truyền thông đại chúng đã phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng, đóng góp tích cực vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Trong đường lối đổi mới toàn diện, nổi bật lên là vấn đề dân chủ hoá các mặt của đời sống xã hội; Thực tế này đã tạo nên những diến biến mới mẻ trong hoạt động thông tin báo chí ở nước ta
Báo chí hiện nay đã cơ bản hạn chế được hình thức thông tin một chiều đơn điệu và ngày càng thể hiện được vai trò là cầu nối giữa Đảng và Dân Thông tin hai chiều được thực hiện trên báo chí: một mặt tuyên truyền, giải thích đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với công chúng mặt khác phản ánh những nguyện vọng, ý kiến phản hồi của công chúng trong quá trình thực hiện đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước
Nói đến báo chí là nói đến các loại hình của nó như : Báo in, báo ảnh, phát thanh, truyền hình, internet …Đó là các bộ phận, các kênh thông tin
cơ bản nhất, cốt lõi nhất, tiêu biểu cho sức mạnh, bản chất và xu hướng vận động của thông tin đại chúng
Trong thực tế, mỗi loại hình báo chí có những thế mạnh và những hạn chế riêng , chẳng hạn như: báo in có khả năng lưu trữ lâu, đồng thời đi sâu phân tích chi tiết các sự kiện hiện tượng, công chúng của loại hình báo chí này
có thể tiếp nhận thông tin ở mọi nơi, mọi lúc mọi thời điểm khác nhau Hạn chế
cơ bản của loại hình báo chí này là khó có khả năng phát hành rộng rãi tới công chúng ở vùng sâu, vùng xa…Phát thanh, Truyền hình có thế mạnh là nhanh, đồng thời, rộng khắp, hàng triệu triệu công chúng có thể tiếp nhận thông tin đồng thời với thời điểm diễn ra sự kiện Nhưng hạn chế của nó là tính thoảng qua, khả năng lưu trữ kém …đòi hỏi công chúng tiếp nhận thông tin từ loại hình
Trang 11báo chí này phải hết sức tập trung, quá trình thông tin bị phụ thuộc vào làn sóng, thời tiết…
Ở nước ta các loại hình thông tin đại chúng đồng thời tồn tại và phát triển, chúng không những không loại trừ nhau, mà ngược lại còn bổ khuyết, hỗ trợ cho nhau tạo nên sức mạnh tổng hợp, góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước
Hiện nay, cả nước ta có khoảng 14.000 nhà báo chuyên nghiệp đang hoạt động Ngoài ra còn có hàng ngàn cộng tác viên, thông tin viên và một đội ngũ đông đảo đang hoạt động trong lĩnh vực thông tin xã hội Đó là cán bộ ở các phòng thông tin văn hoá, các đài truyền thanh cấp huyện, xã…
Cả nước hiện có 553 cơ quan báo in, trong đó có 157 báo 396 tạp chí và khoảng hơn 1000 bản tin Hàng năm, xuất bản hơn 550 triệu bản báo 64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương 470 trong số 512 huyện, 7000 xã trong tổng số hơn 10.359 xã được đọc báo trong ngày Tính bình quân mỗi năm 1 người là 7,5 bản báo 70% lượng báo chí tập trung ở thị xã, thành phố
Có 1 đài truyền hình, 1 đài phát thanh quốc gia và 4 đài truyền hình khu vực ở Huế, Đà Nẵng , Cần thơ, Thành phố Hồ Chí Minh Một đài truyền hình kĩ thuật số VTC của bộ bưu chính viễn thông Ngoài ra 64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đều có đài Phát thanh - Truyền hình Riêng đối với loại hình phát thanh, ngoài đài phát thanh quốc gia Tiếng nói Việt Nam và các đài phát thanh cấp tỉnh còn có hệ thống đài truyền thanh của gần 520 huyện và hơn 10.000 xã Đây là loại hình báo chí có tính ổn định và phân bố đồng đều nhất trong cả nước
Cả sóng phát thanh và truyền hình quốc gia đều được truyền qua vệ tinh Theo con số thống kê chưa đầy đủ cả nước hiện có hơn 10 triệu máy thu
Trang 12hình, với gần 85% số hộ gia đình xem được truyền hình Sóng phát thanh hiện
đã tới 5 châu lục và hơn 90% lãnh thổ nước ta
Báo chí trực tuyến (qua mạng Internet) là một là một loại hình báo chí mới ra đời so với báo chí truyền thống; Nhưng được sự hỗ trợ mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật và công nghệ hiện đại đã khẳng định được vai trò cũng như sức mạnh vượt trội của mình
Ở nước ta, tờ báo trực tuyến đầu tiên chính thức ra đời năm 2000 Qua 7 năm phát triển, đến nay cả nước ta đã có khoảng hơn 2.500 trang Web đang hoạt động và hầu hết các tờ báo đều có báo trực tuyến Theo đánh giá của PGS.TS Trần Đình Hoan nguyên Uỷ viên bộ chính trị, Bí thư Trung ương Đảng thì : “
Báo điện tử đang góp phần tích cực vào sự lớn mạnh của đất nước”( Nguồn :
Viêt Nam Nét ngày 20/05/2003)
Hệ thống các phương tiện truyền thông đại chúng ở nước ta hiện nay được đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng và quản lí của Nhà nước Chính
vì vậy, các hoạt động xuất bản và phát hành ấn phẩm của hệ thống này đều được dựa trên những cơ sở thống nhất như :
- Dấu hiệu về nghề nghiệp ( Giáo dục thời đại, Quân đôi nhân dân, Người làm báo )
- Dấu hiệu về lứa tuổi ( Nhi đồng, Thanh niên, Tuổi trẻ, Người cao tuổi…)
- Dấu hiệu về lãnh thổ ( Hà Nội mới, Sài gòn giải phóng, Hà tây, Hà Nam…)
- Dấu hiệu về xã hội (Đại đoàn kết, Lao động …)1)
Trang 13- Dấu hiệu về giới ( Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ Thủ đô, Nữ sinh …)
- Dấu hiệu về nhu cầu thị hiếu ( Tạp chí Thời trang, Báo Văn Nghệ, tạp chí Văn nghệ… )*
Tất cả các dấu hiệu trên là cơ sở để hoạt động xuất bản và phát hành đối với tất cả các loại hình báo chí, kể cả báo chí Trung ương và địa phương Tất cả các đấu hiệu trên đều rất xác thực và gần gũi với đời sống xã hội, do đó các đối tượng công chúng đều có thể tiếp nhận những thông tin phù hợp từ hệ thống truyền thông đại chúng
Trong thời điểm hiện nay, việc nghiên cứu khảo sát và đánh giá về những ảnh hưởng và tác động của truyền thông đại chúng đối với các tầng lớp công chúng ở nước ta là có tính cấp thiết và có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn
Gần đây, một số tác giả cũng đã đưa vấn đề nhận diện công chúng truyền thông đại chúng trong đề tài nghiên cứu Tuy nhiên, vẫn còn thiếu vắng những công trình xem xét dưới góc độ Xã hội học và Báo chí theo hướng nghiên cứu hiệu quả của truyền thông đại chúng đối với công chúng nói chung
và đối với công chúng là sinh viên nói riêng
Sinh viên là nhóm dân số xã hội tương đối lớn trong hệ thống cơ cấu xã hội Nhóm sinh viên được xác định bởi những đặc điểm rõ rệt :
- Có độ tuổi trung bình khoảng từ 18 – 24
*
Dẫn theo Mai Quỳnh Nam “Công chúng Thanh niên đô thị và báo chí - nghiên cứu trường hợp
thành phố Hải Phòng năm 2002.” Mai Văn Hai – Mai Quỳnh Nam: Chương IX :Đời sống văn hoá
tinh thần và hoạt động truyền thông đại chúng.Báo cáo Xã hội năm 2000 Trịnh Duy Luân chủ biên,
Trang 14- Có trình độ học vấn tương đối cao
- Đang học nghề, trong một tổ chức trường học
Có thể nói sinh viên là bộ phận lao động trí thức trong lực lượng lao động của xã hội Họ là nguồn nhân lực chủ yếu trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Lực lượng sinh viên sống và học tập tập trung tại các đô thị, do đó các hoạt động giao tiếp với các phương tiện thông tin đại chúng cũng diễn ra trong môi trường văn hoá, kinh tế, chính trị phát triển, vì vậy có nhiều điều kiện thuận lợi để tiếp nhận nguồn thông tin đa dạng phong phú
Đối với công chúng truyền thông là sinh viên, thì nhóm công chúng là sinh viên báo chí cần được lưu ý và quan tâm Bởi lẽ, trước hết, họ là lực lượng lao động hùng hậu trong công cuộc đổi mới hiện nay Họ là những trí thức, sẽ là những chủ nhân của đất nước trong tương lai Và đặc biệt sau khi ra trường họ
sẽ trở thành những nhà báo - những người sẽ trực tiếp hoạt động trong lĩnh vực truyền thông đại chúng Chính vì vậy, sự tác động của các phương tiện truyền thông đại chúng có ảnh hưởng rất quan trọng đến quá trình học tập, cũng như tác nghiệp của họ sau này Nghiên cứu về nhóm công chúng sinh viên báo chí trong mối quan hệ với hệ thống báo chí càng có ý nghĩa thiết thực trong giai đoạn hiện nay
Với ý nghĩa trên, luận văn của chúng tôi chọn sinh viên của Trường Cao đẳng Phát thanh - Truyền hình TW1(Trực thuộc Đài Tiếng Nói Việt Nam)
tại Hà Nam để khảo sát hiệu quả của báo chí với công chúng sinh viên báo chí
2 Vài nét về lịch sử nghiên cứu
Trang 15Nghiên cứu xã hội học về truyền thông đại chúng nằm trong hệ
thống tri thức của xã hội học, đây là một hoạt động khoa học tạo được sự quan tâm của cả Báo chí học và Xã hội học truyền thông đại chúng
Trong lịch sử nghiên cứu về sự tác động của truyền thông đại chúng với xã hội, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều quan điểm nhìn nhận khác nhau tuỳ thuộc vào sự biến động của mỗi giai đoạn lịch sử - xã hội nhất định
Năm 1905, việc phát minh ra vô tuyến điện và theo đó là sự ra đời của đài phát thanh – đây là một bước ngoặt lớn trong lịch sử phát triển các phương tiện truyền thông đại chúng Đài phát thanh ra đời với những ưu điểm vượt trội về tốc độ thông tin cũng như sự quảng đại trong việc truyền bá nên đã được công chúng hào hứng, say sưa tiếp nhận
Các nhà nghiên cứu xã hội học thời kỳ này cho rằng các phương tiện truyền thông đại chúng thực sự có một sức mạnh vạn năng Tiêu biểu cho khuynh hướng này là quan điểm của trường phái Frankfurt, họ cho rằng với khả năng của đài phát thanh sẽ rất dễ thuyết phục công chúng, khiến họ phải tin tưởng và phục tùng theo các thông điệp và mục đích của nó được truyền trên sóng phát thanh Nhận xét này được đưa ra từ sự quan sát số lượng công chúng
bị tác động và sự ảnh hưởng của nội dung thông điệp truyền tải, chưa dựa trên những nghiên cứu thực nghiệm đối với công chúng truyền thông
Năm 1944, P.Larsfeld cùng các cộng sự đã thông qua nghiên cứu thực nghiệm đối với cử tri về quyết định bầu cử chỉ ra rằng, các chiến dịch vận động tranh cử thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng hầu như chỉ làm tăng thêm sự tin tưởng vào những ý định sẵn có của cử tri, thực tế ít làm thay đổi quyết định của họ[403, 404]
Năm 1960, J.Klapper trong cuốn “Tác động của truyền thông đại
Trang 16tác động rất mạnh) cùng với những yếu tố trung gian khác chứ không phải là yếu tố duy nhất dẫn đến sự thay đổi hành vi của công chúng”[40,144] Nói cách khác, truyền thông đại chúng không phải là nguyên nhân cần và đủ, không phải
là tác nhân cơ bản đẫn đến sự thay đổi thái độ ứng xử của công chúng
Khi công nghệ truyền hình ra đời đã đánh đấu một bước tiến dài trong sự phát triển của các phương tiện truyền thông đại chúng Sức mạnh của truyền hình được khẳng định bởi nó sử dụng tổng hợp sức mạnh của cả các loại hình báo in, phát thanh và hình ảnh Khoảng những thập niên 60 – 70 của thế kỷ
XX, truyền hình phát triển mạnh mẽ và phổ biến rộng rãi, những quan điểm nghi ngờ về sức mạnh của truyền thông đại chúng được đặt ra xem xét lại Đã
có nhiều công trình nghiên cứu khẳng định sức mạnh cũng như sự tác động to lớn của loại hình này
Mạng Internet ra đời đã thực sự làm thay đổi quan niệm về các phương tiện truyền thông đại chúng truyền thống Những hạn chế về khả năng lưu trữ thông tin , thời lượng, sự đơn điệu, sự tương tác … của các phương tiện truyền thống đã được giải quyết Mạng Internet đã khẳng định được vai trò cũng như sự tác động to lớn của nó đối với xã hội công chúng
Những thập niên cuối của thế kỷ XX, công nghệ mạng Internet đã phát triển mạnh mẽ và phổ biến ở hầu hết các quốc gia, nó tạo điều kiện để thế giới xích lại gần nhau hơn Có thể nói rằng, Internet là tác nhân cơ bản để thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá, tăng cường khả năng giao lưu, hội nhập, hợp tác, trên mọi lĩnh vực giữa các quốc gia trong khu vực và trên thế giới
Sự ra đời của mạng Internet với những ưu điểm vượt trội và phạm vi tác động của nó đã tạo ra không gian rộng lớn hơn cũng như nhiều hướng nghiên cứu mới về hiệu quả của truyền thông đại chúng đối với công chúng xã hội Theo các tài liệu từ tiểu ban nghiên cứu truyền thông đại chúng của Đại hội Xã hội học thế giới lần thứ XV, tổ chức năm 2002 cho thấy hướng nghiên cứu hiệu
Trang 17quả truyền thông đại chúng của mạng Internet được đặc biệt chú trọng và phạm
vi nghiên cứu không chỉ trong mỗi quốc gia mà mở rộng ra toàn thế giới
Đến cuối thế kỷ XX, J.Habermas đưa ra khái niệm “không gian cộng đồng” trong đó các phương tiện truyền thông đại chúng đóng vai trò trung gian liên lạc và tiếp xúc trong nội bộ xã hội dân sự, cũng như nội bộ xã hội xã hội dân sự và các thiết chế Nhà nước Đồng thời xác định truyền thông đại chúng không phải là lãnh địa riêng của các nhà truyền thông hay các chuyên gia truyền thông, nó là diễn đàn chung để thông tin về xã hội về con người Truyền thông đại chúng cũng là nơi thể hiện các mối quan hệ giữa các tầng lớp, các nhóm xã hội[351, 352]
Nghiên cứu xã hội học truyền thông đại chúng là một hướng nghiên cứu cơ bản của xã hội hiện đại Các nước có truyền thống nghiên cứu xã hội học rất coi trọng hướng nghiên cứu này Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi mà các quan hệ xã hội diễn ra ngày càng phức tạp trong bối cảnh toàn cầu hóa Truyền thông đại chúng được coi là một tác nhân xã hội, cơ bản tạo nên các liên kết xã hội không chỉ trong phạm vi quốc gia mà cả trên phạm vi khu vực và quốc tế
Trong giai đoạn phát triển của xã hội học, truyền thông đại chúng bắt đầu từ những năm 20 của thế kỷ trước, bao giờ xã hội học cũng hết sức được coi trọng, nó được coi là hướng nghiên cứu chủ yếu để xem xét các tác động xã hội của hệ thống truyền thông đại chúng đối với đời sống xã hội, và để đánh giá hiệu quả xã hội của hệ thống này
Ngay từ năm 1910, M.Weber người đã đặt luận cứ cho các nghiên cứu xã hội học truyền thông đại chúng đã xếp nghiên cứu về công chúng ở vị trí hàng đầu trong các vấn đề cần phải ưu tiên của xã hội học truyền thông đại chúng Qua bốn giai đoạn phát triển, nghiên cứu xã hội học truyền thông đại
Trang 18chúng chỉ ra rằng: truyền thông đại chúng tạo nên các tương tác xã hội để hình thành hành động xã hội phù hợp với định hướng xã hội
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu về hiệu quả truyền thông đại chúng với công chúng bước đầu đã tạo được sự quan tâm của giới chuuyên môn Từ năm 1990 đến nay đã có một số những công trình theo hướng nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về công chúng
Trước hết phải nối đến những bài viết của tác giả Mai Quỳnh Nam đăng trên Tạp chí Xã hội học, ngoài việc đưa ra những cơ sở lý thuyết cho việc nghiên cứu truyền thông đại chúng và dư luận xã hội tác giả đã gợi mở ra hướng nghiên cứu thực nghiệm trong bối cảnh xã hội Việt Nam hiện nay
Trên tạp chí Xã hội học số 2 – 1996 trong bài “Về đặc điểm và tính chất của truyền thông đại chúng”,[55] tác giả đã phân tích mối quan hệ giữa giao tiếp các nhân, giao tiếp đại chúng và hệ thống truyền thông đại chúng.Trên
cơ sở phân tích mối quan hệ này, tác giả đã chỉ ra những tác động trực tiếp đến hiệu quả của hoạt động báo chí; Thứ nhất là sự tác động từ hệ thống pháp luật
và quyết định quản lý của các cơ quan quản lý báo chí Thứ hai là sự tác động từ công chúng báo chí Thực tế cho thấy rằng, trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá hiện nay sự tác động của các phương tiện truyền thông đại chúng dẫn đến
sự thay đổi ứng xử xã hội của công chúng là tương đối rõ nét; Đặc biệt trong đó
có nhóm công chúng là sinh viên báo chí
Bài viết “Về vấn đề nghiên cứu hiệu quả truyền thông đại chúng” trên tạp chí Xã hội học số 4 – 2001,[56] tác giả đã tổng hợp một số hệ thống chỉ tiêu định tính và định lượng làm cơ sở để phân tích hiệu quả của các phương tiện truyền thông đại chúng
Các bài nghiên cứu xã hội học thực nghiệm về báo chí cũng của tác giả này đã in trên tạp chí Tâm lí học số 1- 2004 như: “ Sinh viên Hà Nội trong
Trang 19giao tiếp đại chúng”, [55] “ Báo thiếu nhi dân tộc và công chúng thiếu nhi dân tộc” [48], “ Báo chí những vấn đề lí luận và thực tiễn” – Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội 2001.Tác giả cùng các cộng sự đã khảo sát mối quan hệ giữa các nhóm công chúng này với hệ thống truyền thông đại chúng trong môi trường chính trị - xã hội Đặc biệt, các nghiên cứu này chú ý tới đặc điểm quá trình tiếp nhận thông tin, xử lí thông tin, cơ chế lây lan thông tin và các thức sử dụng thông tin của họ, coi đó như những dấu hiệu tin cậy để đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống này
Ngoài ra, tác giả này cũng đưa ra hàng loạt các nghiên cứu về dư luận xã hội trong các bài viết trên tạp chí Xã hội học như “Dư luận xã hội - mấy vấn đề lí luận và phương pháp nghiên cứu” ( Tạp chí Xã hội học số 1- 1995),
“Dư luận xã hội về con số”( Tạp chí Xã hội học số 3 – 1996), “ mấy vấn đề về
dư luận xã hội trong công cuộc đổi mới”(Tạp chí Xã hội học số 2 – 1996), “ Vai trò của dư luận xã hội trong cơ chế “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”(Tạp chí Tâm lí học số 2 – 2000) Trong bài “ Truyền thông đại chúng và dư luận xã hội” ( Tạp chí Xã hội học số 1 – 1996) tác giả đi sâu phân tích mối quan
hệ biện chứng giữa báo chí và công chúng trong quá trình hình thành và thể hiện
dư luận xã hội
Các tác giả khác cũng công bố những công trình nghên cứu về xã hội học báo chí như: luận án tiến sĩ Xã hội học của tác giả Trần Hữu Quang năm
2000 “ Chân dung công chúng báo chí Thành phố Hồ Chí Minh” Luận án đi sâu khảo sát cách thức và mức độ sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng của công chúng Trên cơ sở phân tích các hình thức tiếp nhận thông tin từ các phương tiện truyền thông đại chúng của công chúng, để nhận diện công chúng trong bối cảnh đổi mới của Thành phố Hồ Chí Minh
Ngoài ra còn có những công trình nghiên cứu khác như: luận án
Trang 20vai trò tác động của truyền thông dân số đối với người nông dân”, PGS.TS Nguyễn Văn Dững “Đối tượng tác động của báo chí” trên tạp chí Xã hội học số
4 – 2004, luận văn thạc sĩ của tác giả Đinh Thị Phương Thảo “ Hiệu quả của truyền thông đại chúng đối với công chúng Thanh niên đô thị” nghiên cứu trường hợp thành phố Hải Phòng năm 2006…
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Truyền thông đại chúng với công chúng Thanh niên đô thị - nghiên cứu trường hợp thành phố Hải Phòng, do Viện Xã hội học chủ trì PGS.TS Mai Quỳnh Nam chủ nhiệm đề tài có thể được coi là công trình đầu tiên theo hướng nghiên cứu cơ bản là nghiên cứu công chúng
Việc nghiên cứu đề tài Hiệu quả của báo chí với công chúng sinh
viên báo chí có thể là một đóng góp để bước đầu hình dung được hiệu quả xã hội của báo chí đối với công chúng là sinh viên báo chí, trong đó có công chúng
là sinh viên báo chí Trường Cao đẳng Phát thanh - Truyền hình TW1
3.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Xuất phát từ góc nhìn của báo chí học, xã hội học báo chí; nghiên
cứu vấn đề hiệu quả của báo chí với công chúng sinh viên báo chí để đánh giá
tác động của hệ thống báo chí đối với công chúng là sinh viên báo chí được chọn làm đối tượng nghiên cứu Qua việc nghiên cứu để tìm hiểu, nhận diện sự lựa chọn nguồn tin cũng như sự tiếp thu, sử dụng những nguồn tin nhận được, đồng thời tìm hiểu dư luận xã hội trong sinh viên báo chí về hoạt động của báo chí trong hệ thống các phương tiện truyền thông đại chúng
Việc nghiên cứu đề tài này cũng có thể góp phần vào việc nghiên cứu hiệu quả của báo chí với công chúng nói chung, và đặc biệt là đối với công chúng là sinh viên, trong đó có một bộ phận là sinh viên báo chí
Trang 21Kết quả nghiên cứu từ đề tài này có thể là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu trong lĩnh vực báo chí học và xã hội học truyền thông đại chúng
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu vấn đề hiệu quả của báo chí với công chúng sinh viên
báo chí, chúng tôi hi vọng sẽ đưa ra được những khuyến nghị để các nhà quản lí truyền thông, các cơ quan truyền thông nắm được thực trạng sự tác động của hệ thống truyền thông đối với bộ phận công chúng này Từ đó tạo cơ sở khoa học cho những giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả của báo chí đối với công chúng sinh viên báo chí
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu vấn đề hiệu quả của báo chí với công chúng là sinh
viên báo chí nhằm tìm hiểu :
- Công chúng sinh viên báo chí tiếp cận thông tin như thế nào?
- Những vấn đề nào truyền tải trên báo chí được công chúng sinh viên báo chí quan tâm?
- Nhận diện một số kênh truyền thông đại chúng liên quan đến nghề báo và việc sử dụng những thông điệp tiếp nhận được đối với việc học tập và rèn luyện
- Góp phần đề xuất những giải pháp tăng cường hiệu quả
Trang 224.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cách thức tiếp nhận thông tin và hiệu quả việc sử dụng nội dung các thông điệp được thông tin trên báo chí
- Phân tích các hình thức trao đổi thông tin trong nhóm công chúng sinh viên báo chí
- Phân tích hiệu quả của báo chí qua hoạt động tiếp nhận và sử dụng thông tin từ các phương tiện truyền thông đại chúng của sinh viên báo chí
5 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu hiệu quả của báo chí với công chúng sinh viên báo chí
Trang 23C.Mác về vai trò của ý thức xã hội trong đời sống xã hội, về mối liên hệ giữa truyền thông đại chúng và d- luận xã hội đ-ợc lấy làm cơ sở cho việc nghiên cứu sự tác động của truyền thông đại chúng và d- luận xã
hội C.Mác cho rằng : Lý luận có thể trở thành lực
l-ợng vật chất khi nó thâm nhập vào quần chúng, sản phẩm của truyền thông là d- luận xã hội *
Nghiên cứu xã hội học truyền thông
đại chúng phát triển mạnh mẽ trong những thập niên vừa qua và trở thành một chủ đề cơ bản của xã hội hiện đại Năm 1910, M.Weber đã đề xuất h-ớng nghiên cứu này có nhiệm vụ phát triển mối quan hệ giữa truyền thông đại chúng với xã hội theo các h-ớng :
- Nghiên cứu công chúng
- Nghiên cứu tổ chức truyền thông và các nhà truyền thông với vai trò là một tầng lớp xã hội nghề nghiệp
- Phân tích nội dung thông điệp truyền tải
Nghiên cứu hiệu quả truyền thông đại chúng là một vấn đề cấp bách và phức tạp, điều đó xuất phát từ chỗ ng-ời ta ngày càng nhận thấy khả năng tác động to lớn của hoạt động truyền thông Mặt khác, tính phức tạp của h-ớng nghiên cứu này lại phụ thuộc bởi tính chất đa chức năng của thông tin đại chúng và các mối quan hệ nhiều chiều ở sự t-ơng tác với hệ thống thông tin đại chúng trong thực tế
Trang 24
Trên cơ sở áp dụng lí luận báo chí, quan
điểm lý thuyết xã hội học chuyên ngành để xem xét hiệu quả tác động của báo chớ với nhóm công chúng là sinh viên báo chí đ-ợc đặt trong các t-ơng tác xã hội cụ thể
Quan điểm lý thuyết xã hội học đ-ợc dùng làm cơ sở nghiên cứu ở đây gồm: Cách phân loại hiệu quả truyền thông đại chúng đối với công chúng do Weiss (1988) đ-a ra về tác động định l-ợng của truyền thông đại chúng; Những l-u ý của Moll (1993) khi phân tích chỉ báo độ ghi nhớ của công chúng về nội dung thông điệp; Những vấn đề tạo nên mối quan tâm của giới chuyên môn trong phân tích hiệu quả của truyền thông
đại chúng liên quan tới:
1 Việc tách giải quyết hoạt động của từng kênh truyền thông cụ thể
2 Nhận xét của Sechcô (1986) về sự sai lầm khi tách tác động truyền thông đại chúng ra khỏi ảnh h-ởng từ các cơ sở xã hội khác cùng tác động hàng ngày đối với công chúng truyền thông
3 Sự đan xen và t-ơng hỗ giữa giao tiếp đại chúng và giao tiếp cá nhân d-ới tác động của các ph-ơng tiện truyền thông đại chúng)
4 Lý luận về cơ chế lây lan thông tin; về dòng phản hồi thông tin
5 Lập luận của M.Weber về tác động của truyền thông đại chúng đối với việc hình thành ý thức quần chúng và d- luận xã hội [7]…
Trang 25Ng-ời nghiên cứu cũng đặc biệt chú ý đến các khía cạnh lý luận và lịch sử của vấn đề mà các tác giả đi tr-ớc đã đặt ra, coi đó nh- những tiền đề
lý luận để triển khai đề tài của mình
Những thụng tin chỳng tụi thu thập được qua việc sử dụng kết hợp cỏc phương phỏp :
- Phương phỏp nghiờn cứu định lượng thụng qua việc điều tra chọn mẫu Điều tra được tiến hành với 400 bảng hỏi với sinh viờn bỏo chớ Trường Cao đẳng Phỏt thanh - Truyền hỡnh TW1 trực thuộc Đài Tiếng Núi Việt Nam ( nằm trờn địa bàn thị xó Phủ Lý, tỉnh Hà Nam ) Mẫu nghiờn cứu được dựa trờn cỏc chỉ bỏo về giới tớnh, năm học, ngành học của sinh viờn
- Phương phỏp điều tra định lượng thu thập thụng tin được tiến hành với sinh viờn bỏo chớ tại trường năm 2007
Ngoài ra, thụng tin cũn được thu thập dựa trờn cỏc tư liệu sẵn cú liờn quan đến chủ đề nghiờn cứu, qua hệ thống bỏo chớ được cập nhật thường xuyờn
Chỳng tụi tiến hành xử lớ thụng tin theo phương phỏp :
- Sử dụng phương phỏp phõn tớch thống kờ đối với những số liệu định lượng
7 Giả thuyết
Đề tài được triển khai để đỏnh giỏ và kiểm nghiệm cỏc giả thuyết nghiờn cứu sau:
Trang 261 Vai trò, ý nghĩa của những thông tin được tiếp nhận từ báo chí, như
sự đối với việc học tập, rèn luyện và tác nghiệp của sinh viên báo chí
2 Dư luận xã hội của công chúng sinh viên báo chí, thể hiện những đề xuất về phương thức thông tin cũng như hiệu quả tác động đến nhóm công chúng này
3 Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, hệ thống báo chí
đã phát triển mạnh mẽ và có nhiều thành tựu đáng kể trong công cuộc đổi mới đất nước Tuy nhiên, trong hoạt động thông tin cũng đã xuất hiện những xu hướng bất cập, hạn chế như tính thương mại hóa và có cả những sai lệch trong thông điệp truyền thông; điều này sẽ tác động mạnh mẽ đến công chúng sinh viên báo chí
8 Kết cấu của luận văn
8.1 Phần mở đầu
Luận văn giới thiệu: Giả thuyết nghiên cứu; Phương pháp nghiên cứu; Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu; Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu; Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài; Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
8.2 Phần nội dung luận văn gồm 3 chương
ChươngI: Những vấn đề lí luận và phương pháp nghiên cứu hiệu quả
của báo chí đối với công chúng
Phần 1: Đưa ra các lí luận về truyền thông đại chúng, trên cơ sở của
báo chí học và xã hội học báo chí Đặc biệt là các quan điểm lí thuyết về công chúng của truyền thông và hiệu quả của truyền thông đại chúng Vài nét về vấn
đề nghiên cứu và hệ thống các khái niệm phục vụ nghiên cứu
Trang 27Phần 2: Giới thiệu địa điểm khảo sát, và một số đặc điểm cơ bản của đối tượng nghiên cứu
ChươngII: Cách thức, mức độ và những vấn đề được quan tâm trong
giao tiếp đại chúng của công chúng sinh viên báo chí
Phần 1: Trình bày cách thức tiếp nhận thông tin từ báo chí của công chúng là sinh viên báo chí
Phần 2: Trình bày mức độ tiếp nhận thông tin của công chúng sinh viên
Phần 1: Mức độ tiếp nhận thông tin từ báo chí liên quan đến việc học tập
và rèn luyện của sinh viên báo chí
Phần 2: Ý nghĩa của những thông tin từ báo chí đối với việc học tập và rèn luyện của sinh viên báo chí
8.3 Phần kết luận
Từ các kết quả phân tích, tác giả tiến hành luận giải các giả thuyết nghiên cứu, đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm mở rộng khả năng tiếp nhận thông tin của công chúng sinh viên nói chung và sinh viên báo chí nói riêng Mặt khác, nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống truyền thông đại chúng và đẩy mạnh các nghiên cứu khoa học về truyền thông đại chúng và công chúng của truyền thông đại chúng
Trang 29Tư tưởng về công tác báo chí và hoạt động báo chí xuất bản của những nhà kinh điển này vô cùng đồ sộ và phong phú – là một bộ phận quan trọng trong hình thái ý thức xã hội mác xít
Từ nhãn quan duy vật lịch sử và chủ nghĩa xã hội khoa học các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã giải thích sự ra đời cũng như bản chất của báo chí
Bằng những bài báo, những tác phẩm của mình các nhà cách mạng
vô sản đã thể hiện rất rõ quan điểm của mình: báo chí là vũ khí sắc bén đề chiến đấu bảo vệ lợi ích của quảng đại quần chúng nhân dân lao động, bác bỏ và vạch trần luận điệu của những thế lực thù địch Báo chí cách mạng vô sản phải thực
sự là vũ khí chiến đấu hữu hiệu của giai cấp công nhân, là cơ quan tuyên truyền, tham gia vào việc tổ chức phát triển xã hội bằng hoạt động ngôn luận Trọng trách của báo chí cách mạng là phục vụ lợi ích của nhân dân, vì sự tiến bộ và
Trang 30Trong thực tế, C.Mác – Ph.Ăng ghen là những người sáng lập ra nền báo chí cách mạng mà đấu mốc quan trọng là sự ra đời của tờ báo “Sông Ranh mới” trong những năm 1848 – 1849 Tờ báo này do do C.Mác làm tổng biên tập và Ph.Ăng ghen là cộng tác viên đắc lực[31, 39] Tờ báo này gắn liền với phong trào cộng sản ở châu Âu khoảng giữa thế kỷ thứ XIX
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, trong xã hội có phân chia giai cấp thì mỗi con người phải thuộc về một giai cầp, tầng lớp nhất định và quyền lợi của các giai cấp trong xã hội là khác nhau thậm chí đối lập nhau Các giai cấp tầng lớp trong xã hội đều sử dụng báo chí làm vũ khí chiến đấu để bảo
vệ địa vị chính trị và quyền lợi kinh tế của mình Chính vì vậy, báo chí của giai cấp nào thì phản ánh tôn chỉ mục đíc đường lối tư tưởng, tình cảm, nguyện vọng của giai cấp đó [31, 99]
Báo chí của các Đảng Cộng Sản được xác định là cơ quan ngôn luận của Đảng, là sợi dây liên hệ giữa Đảng và giai cấp công nhân, là vũ khí đấu tranh của gia cấp vô sản Ph.Ăng ghen chỉ ra rằng: “ Đối với Đảng nhất là Đảng của giai cấp công nhân thì việc lập ra tờ báo hàng ngày đầu tiên là cái mốc quan trọng để tiến lên phía trước Đó là nhận định ban đầu, từ đó Đảng sẽ tiến hành cuộc đấu tranh với những đối thủ của mình bằng vũ khí tương xứng Báo hàng ngày là công cụ tuyên truyền, cổ động quần chúng không có gì thay thế được” [36, 18]
C.Mác nhận định: “Báo chí sống trong nhân dân và trung thực chia
sẻ với nhân dân niềm hi vọng và sự lo lắng của họ Trong hi vọng và lo lắng, có điều gì báo chí nghe được từ cuộc sống, báo chí sẽ lớn tiếng loan tin cho mọi người đều biết, báo chí tuyên bố sự phán xét của mình đối với những tin tức đó một cách gay gắt, hăng say, phiến diện như những tình cảm và tư tưởng bị xúc động thầm bảo nó vào lúc đó Điều sai lầm hôm nay nằm trong các sự kiện mà
nó đưa tin, hoặc trong những lời nhận xét mà nó nêu lên thì ngày mai sẽ được
Trang 31bản thân nó bác bỏ” [3, 237] Từ nhận định trên cho thấy: báo chí cách mạng là công cụ phục vụ lợi ích của quần chúng nhân dân, coi phong trào quần chúng là
cơ sở thực tiễn để phản ánh, chỉ có như vậy báo chí mới có thể bảo vệ được quyền lợi của quần chúng một cách thiết thực
V.I.Lê nin - người cộng sản ưu tú, kế thừa tư tưởng chủ nghĩa Mác
đã đặc biệt nhấn mạnh vai trò của báo chí trong phong trào cách mạng: “Chúng
ta cần trước hết là tờ báo, không có nó thì không thể tiến hành được một cách có
hệ thống cuộc tuyên truyền, cổ động hết sức nguyên tắc và toàn diện” [37, 10], “
Tờ báo không chỉ là người tuyên truyền tập thể và cổ động tập thể, mà còn là người tổ chức tập thể… Nhờ có tờ báo, một tổ chức cố định tự nó hình thành, nó không chỉ làm các công tác địa phương mà còn làm cả công tác chung thường xuyên nữa, nó giúp cho những nhân viên của nó quen việc theo dõi chăm chú những biến cố chính trị, đánh gia ý nghĩa của những biến cố ấy đến các tầng lớp khác nhau trong nhân dân, và vạch ra cho đảng cách mạng những phương pháp hợp lí để tác động đến những biến cố ấy” [37, 12]
Báo chí một mặt cung cấp thông tin cho công chúng, mặt khác nó phản ánh những tâm tư nguyện vọng, ý kiến… của công chúng về những vấn đề thời sự nóng bỏng của xã hội Chính vì vậy, nó được xác định là một trong những nguồn cung cấp thông tin quan trọng cho những nhà quản lí xã hội Những quyết định quản lí chỉ thực sự phù hợp và hiệu quả khi nó dựa trên những thông tin chính xác từ thực tế cuộc sống V.I.Lênin đã yêu cầu thành lập một uỷ ban đặc biệt để thu thập và xử lí thông tin ngay từ những ngày đầu cách mạng: “Có thể và nhất thiết phải tổ chức một văn phòng như vậy, nó có thể đem lại lợi lớn; không có nó, chúng ta sẽ không có mắt, không có tai, không có tay
để tham gia các phong trào quốc tế” [39, 156]
V.I.Lênin đề cao sự phù hợp giữa các yếu tố nội dung và hình thức
Trang 32chúng khi nội dung thông tin tốt nhưng cách thể hiện không gần gũi, xa rời với đời sống nhân dân: “Sự đơn giản, dễ hiểu và phổ cập, nội dung sinh động của tư liệu đưa ra sẽ đảm bảo cho những tư tưởng của báo chí đi sâu vào lòng người đọc thuộc mọi tầng lớp nhân dân” [38, 92]
Từ những quan điểm trên cho thấy: chủ nghĩa Mác – Lênin đánh giá rất cao vai trò, cũng như hiệu quả của báo chí trong việc tác động vào xã hội, nó làm thay đổi nhận thức, cũng như hành vi ứng xử của con người trong thực tiễn cuộc sống Hiệu quả của báo chí sẽ là một sức mạnh to lớn, góp phần hình thành dư luận xã hội, định hướng dư luận xã hội tích cực trong công chúng
1.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về truyền thông đại chúng
Ở Việt Nam, nền báo chí cách mạng được đánh dấu bằng sự ra đời của tờ báo “Thanh niên” ngày 21 tháng 6 năm 1925 do Hồ Chí Minh sáng lập
Hồ Chí Minh - người chiến sĩ cộng sản ưu tú, nhà báo cộng sản đầu tiên đã sáng lập ra nền báo chí cách mạng của giai cấp vô sản ở nước ta Là người kế thừa những tinh hoa của chủ nghĩa Mác – Ăng ghen, Lênin về báo chí
vô sản, áp dụng sáng tạo vào hoàn cảnh Việt Nam, quan điểm về báo chí của Hồ Chí Minh rất cụ thể và sâu sát Trước hết, đối với báo Đảng, Người cho rằng: tờ báo của Đảng có nhiệm vụ làm cho tư tưởng và hành động thông suốt và thống nhất Cụ thể là tuyên truyền lí luận chủ nghĩa Mác – Lênin, đường lối chính sách đối nội và đối ngoại của Đảng và của Chính phủ Thông tin về tình hình trong nước cũng như thế giới, những kinh nghiệm tốt, xấu của các nghành các địa phương, phản ánh công tác học tập, công tác, tinh thần phê bình, tự phê bình, cũng như đời sống và ý nguyện của nhân dân…Mỗi tờ báo Đảng là những lớp huấn luyện đơn giản, thiết thực và rộng khắp: “Những tờ báo Đảng cung cấp cho chúng ta những điều cần biết làm về công tác tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo và công tác…nó giúp nâng cao trình độ chính trị và năng suất công tác của chúng ta” [336, 337] Hồ Chí Minh luôn xác định và đề cao vai trò của báo chí,
Trang 33coi nó như một vũ khí sắc bén chiến đấu để giành lại độc lập, tự do cho dân tộc:
“Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén cuả họ” [377] Đối với mỗi tờ báo để phục vụ được nhân dân tốt hơn đều phải xác định nội dung, tôn chỉ mục đích cũng như đối tượng phục vụ rõ ràng:
- Nhiệm vụ của tờ báo là tuyên truyền cổ động, huấn luyện, Giáo dục, và tổ chức dân chúng dể đưa dân chúng tới mục đích chung
- Tôn chỉ mục đích của mỗi tờ báo là đoàn kết toàn dân, thi đua ái quốc
Đối tượng của báo chí là đại đa số dân chúng: “ Một tờ báo không được đại đa số dân chúng ham chuộng, thì không xứng đáng là nột tờ báo” [346] Chính vì vậy, muốn để tờ báo được dân chúng ham chuộng, yêu thích thì các tờ báo phải hết sức chú ý đến cảc mặt nội dung và hình thức của tờ báo Về nội dung “các bài báo phải đơn giản, dễ hiểu, phổ thông, thiết thực, hoạt bát”
Về hình thức “ cách sắp đặt các bài, cách in phải sạch sẽ sáng sủa” [346]…
Không chỉ đối với những người làm báo, mà với tất cả các chiến sĩ cách mạng trên các mặt trận Hồ Chí Minh đề cao vấn đề nhận thức, vì chỉ khi có nhận thức con người mới có thể tự giác làm đúng, đi theo cái đúng cái cao cả: “ tuyệt đối cần thiết là chúng ta phải giúp đỡ các đồng chí của chúng ta khắc phục những khó khăn ấy bằng cách tạo điều kiện cho các đồng chí tiếp thu những kiến thức sơ đẳng nhất mà mỗi chiến sĩ cần phải có” [381]
Đối với nhà báo cách mạng trong đại hội lần thứ hai Hội nhà báo Việt Nam, Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: “Báo chí của chúng ta là phục vụ nhân dân lao động, phục vụ chủ nghĩa xã hội, cho hoà bình trên thế giới Chính vì thế cho nên, tất cả những người làm báo phải có lập trường chính trị vững chắc Chính trị phải làm chủ Đường lối chính trị đúng thì những việc khác mới đúng
Trang 34Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ ấy thì phải cố gắng học tập chính trị, nâng cao tư tưởng, đứng vững trên lập trường của giai cấp vô sản, phải nâng cao trình độ văn hoá, phải đi sâu vào nghiệp vụ của mình Cần phải luôn cố gắng, mà cố gắng thì nhất định thành công” Trong hoạt động nghiệp vụ của nhà báo cách mạng, mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết, phải tỏ rõ tư tưởng và lòng ước
ao của quần chúng Chính vì vậy trong mỗi bài báo Hồ Chí Minh yêu cầu :
- Phải học cách nói của quần chúng Chớ nói như giảng sách
- Phải luôn dùng những lời lẽ những thí dụ đơn giản
- Khi viết, khi nói, phải luôn luôn làm thế nào cho ai cũng hiểu được Làm sao cho quần chúng đều hiểu, đều tin, đều quyết tâm theo lời kêu gọi của mình Bao giờ cũng phải tự hỏi: “ Ta viết cho ai xem ? nói cho ai nghe”?
- Trước khi nói phải nghĩ cho chín, phải sắp đặt cẩn thận Sau khi viết rồi phải xem đi xem lại ba bốn lần [348, 349]
Hồ Chí Minh luôn xác định cách viết báo luôn gắn với hiệu quả truyền thông của báo chí Gắn báo chí với công chúng bằng hình thức thể hiện phù hợp với cách nghĩ, cách hiểu, cách nói, cách làm, của công chúng, trên cơ
sở đó để truyền tải thông tin Người nhấn mạnh : “Mình viết ra là cốt để Giáo dục, cổ động; nếu người xem mà không nhớ được, không hiểu được, là viết không đúng, nhằm không đúng mục đích Mà muốn người xem hiểu được, nhớ được, làm được thì phải viết cho đúng trình độ của người xem, viết rõ ràng gọn gàng, không dùng chữ nhiều”
Về cách viết báo trong bài giảng tại lớp chỉnh Đảng Trung ương ngày 17 tháng 08 năm 1953, Người chỉ rõ, khi viết báo chúng ta phải luôn đặt ra các câu hỏi : Vì ai mà viết? Mục đích viết để làm gì? và phải trả lời những câu hỏi đó Chẳng hạn, Viết cho ai? Viết cho đại đa số Công – Nông – Binh[10, 616] Viết để làm gì? để giáo dục gải thích, cổ động, phê bình Để phục vụ quần
Trang 35chúng Viết cái gì? Viết để nêu những cái hay, cái tốt của dân ta…của bạn ta Đồng thời phê bình những khuyết điểm của chúng ta, của cán bộ của nhân dân Không nên chỉ viết những cái tốt mà giấu những cái xấu Nêu cái hay, cái tốt thì phải có chừng mực, chớ phóng đại…Phê bình thì phải phê bình một cách thật thà, chân thành đúng đắn chứ không phải để lợi dụng để nó phản tuyên truyền[349]
Về vấn đề tài liệu để viết báo, trả lời câu hỏi lấy tài liệu ở đâu ? Người chỉ rõ, muốn có tài liệu thì phải tìm, thông qua các hoạt động như: nghe, hỏi, quan sát, thu thập từ các tài liệu thông tin khác và ghi chép[350]
Trả lời câu hỏi viết như thế nào? Người chỉ rõ : Cần phải tránh lối viết “ rau muống” nghĩa là lằng nhằng “trường giang đại hải” làm cho người xem như là “Chắt vắt vào rừng xanh” Ngoài ra, Người còn yêu cầu viết báo phải “ gọn gàng, rõ ràng, vắn tắt Nhưng vắn tắt không phải là cụt đầu, cụt đuôi,
mà phải có đầu có đuôi” Viết phải thiết thực “Nói có sách, mách có chứng” có nghĩa là “ nói cái việc ấy ở đâu, thế nào, ngày nào, nó sinh ra thế nào, phát triển thế nào, kết quả thế nào” Người khuyên viết báo không nên “ham dùng chữ”; Những chữ mà không biết rõ thì không nên dùng Những chữ mà tiếng ta có thì phải dùng tiếng ta Đặc biệt, trong lúc viết thì phải chú ý giữ bí mật nó được coi
là điều kiện cơ bản để đảm bảo hiệu quả thông tin.[339, 340, 341]
Trong Đại hội lần thứ III Hội nhà báo Việt Nam, Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh đến hiệu quả tác động của báo chí tới sự hình thành dư luận xã hội Người chỉ rõ báo chí phải giữ nhiệm vụ định hướng dư luận xã hội chứ không được phép vuốt đuôi dư luận xã hội Các phương tiện truyền thông đại chúng được xác định có vai trò hết sức quan trọng trong việc “đem ý kiến đúng
đã được lựa chọn đến với người dân để họ so sánh, bàn bạc, lựa chọn lại”; Trên
cơ sở đó “phải khéo léo tập trung ý kiến của quần chúng, hoá nó thành cái
Trang 36giải quyết các vấn đề mà hoá nó thành cách chỉ đạo nhân dân” [363, 364, 365, 366]
Có thể nói, quan điểm về báo chí và hoạt động báo chí của Hồ Chi Minh cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị Những quan điểm, tư tưởng đó được coi là cách thức để đảm bảo dư luận xã hội của các tầng lớp xã hội, các nhóm xã hội, để chúng thực sự trở thành công cụ, đối tượng để lãnh đạo, quản lí xã hội theo mục tiêu phát triển bền vững
1.1.3 Quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về truyền thông đại chúng
Đảng Cộng Sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập Ra đời ngày 03 tháng 02 năm
1930 Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam
cho mọi hoạt động của mình Đảng đã lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc cách
mạng đem lại độc lập tự do cho đất nước Trong các quá trình cách mạng, báo chí được sử dụng như một phương tiện hữu hiệu để đấu tranh giành thắng lợi
Đảng chỉ rõ báo chí phải luôn đi đầu trong trong việc tuyên truyền, bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng Trong sự nghiệp đổi mới công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay, Đảng lãnh đạo báo chí là điều kiện quan trọng để khơi dậy được nhiệt tình cách mạng, sức sáng tạo, tiềm năng trí tuệ to lớn của nhân dân, tổng kết các kinh nghiệm phong phú, sinh động từ thực tiễn để góp phần hoàn thiện đường lối, chính sách của Đảng, thực hiện quá trình “ tự Giáo dục” của nhân dân
Trên cơ sở nhận thức đó, Đảng luôn đề cao vai trò của hoạt động báo chí; coi báo chí là “công cụ sắc bén trọng công tác tư tưởng của Đảng”, là
“lực lượng xung kích trên mặt trận tư tưởng văn hoá” [45] Hiện nay báo chí cũng được đặt vào vị trí xung kích trong sự nghiệp công nghiệp hoá đất nước,
Trang 37dân chủ hoá đời sống xã hội, cổ vũ, phát hiện những nhân tố mới, tích cực trong cuộc sống; giám sát công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và bộ máy Nhà nước, thúc đẩy phát triển kinh tế, thoả mãn nhu cầu thông tin, nâng cao dân trí của nhân dân
Hiện nay, sau hơn 20 năm đổi mới đất nước ta đã có sự phát triển tương đối toàn diện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có báo chí
Hệ thống báo chí của chúng ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, vận hành trong cơ chế thị trường đã có được những bước phát triển mạnh mẽ cả về số lượng, chất lượng, ngày càng đáp ứng được nhu cầu thông tin của công chúng trong xã hội Nội dung thông tin được chuyển tải trên báo chí ngày càng phong phú, đa dạng
và đặc biệt là vấn đề được đề cập xác thực hơn, đã thu hút được sự quan tâm của công chúng; khiến họ cảm nhận những vấn đề thời sự xã hội như là “ chuyện của mình” Phương thức thông tin đa dạng, sinh động, hình thức đẹp, hấp dẫn… Nói chung trong giái đoạn hiện nay, báo chí của chúng ta đã dần tiếp cận được với trình độ của báo chí hiện đại trên thế giới
Bắt nguồn từ đường lối đổi mới toàn diện của Đảng, đường lối chính trị cũng từng bước hoàn thiện, trong đó có sự đổi mới công tác tư tưởng và văn hoá Định hướng tư tưởng và quan điểm báo chí cũng có những bước đổi mới đáng kể Từ việc xác định “ Báo chí là công cụ tư tưởng sắc bén của Đảng” đến quan điểm “ Báo chí vừa là tiếng nói của Đảng, Nhà nước,của các tổ chức xã hội, là diễn đàn của nhân dân” được coi là một bước phát triển mới của lí luận báo chí cách mạng Từ quan điểm này cho thấy: thông tin báo chí là đa dạng, phong phú, nhiều chiều nhưng phải vận hành trong sự quản lí có tính định hướng của Đảng, Nhà nước
Quan điểm này đã thể hiện được mối quan hệ gắn bó khăng khít giữa Đảng và dân Trên cơ sở “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, báo chí một
Trang 38công chúng, một mặt phản ánh những ý kiến, nguyện vọng của công chúng trong quá trình thực hiện đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước Có thể nói, báo chí là chiếc cầu nối giữa Đảng và dân, là kênh liên hệ giữa dân và Đảng, là cầu nối tin cậy giữa văn bản chính sách và thực tế cuộc sống
Ngoài ra, Đảng còn xác định báo chí là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu để xây dựng một nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
Đảng Cộng Sản Việt Nam khẳng định vai trò giám sát xã hội của truyền thông đại chúng thông qua việc phản ánh thực tiễn cuộc sống và định hướng dư luận xã hội, nâng cao nhận thức cho công chúng, đồng thời chỉ rõ: các cơ quan truyền thông đại chúng “ vừa phải hiểu rõ nguyện vọng, tâm tư của quần chúng
để phục vụ tốt và phản ánh với Đảng, vừa có trách nhiệm tạo cho được dư luận quần chúng đúng đắn” [1, 114] Để thực hiện được điều đó, các cơ quan truyền thông đại chúng phải “ coi trọng việc nâng cao chất lượng thông tin đại chúng, tính chân thật, tính chiến đấu và tính đa dạng của thông tin” [2, 112]
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, được soi sáng bởi lí luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trong suốt quá trình phát triển báo chí cách mạng Việt Nam luôn gắn mật thiết, đi cùng và phản ánh từng nhiệm
vụ, diễn biến của cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa
xã hội và đặc biệt là công cuộc đổi mới hiện nay
1.1.4 Lý thuyết của M.Weber về đối tượngnghiên cứu của truyền thông
Trang 39phải ưu tiên của xã hội học truyền thông đại chúng Ông cũng chỉ ra rằng: truyền thông đại chúng tạo nên các tương tác xã hội để hình thành hành động xã hội phù hợp với định hướng xã hội
M.Weber đã luận chứng về mặt phương pháp luận cho sự cần thiết của môn xã hội học báo chí và đã vạch ra phạm vi các vấn đề của nó:
- Hướng vào các tập đoàn, các tầng lớp xã hội khác nhau
- Phân tích các yêu cầu của xã hội đối với nhà báo
- Các phương pháp phân tích báo chí
- Phân tích hiệu quả của báo chí đối với việc xây dựng con người Lập luận của M.Weber chỉ rõ tác động của báo chí đối với việc hình thành ý thức quần chúng và dư luận xã hội và vạch ra mối liên hệ giữa các nhân tố này với hành động xã hội của cá cá nhân và các tầng lớp xã hội [53] Trên cơ sở lập luận của M.Weber cho thấy các phương tiện truyền thông đại chúng được xác định là một tác nhân quan trọng đối với quá trình xã hội hoá cá nhân và hình thành dư luận xã hội
Từ các đề xuất của M.Weber cho thấy, việc nghiên cứu xã hội học
về truyền thông đại chúng thì hướng nghiên cứu công chúng giữ vị trí quan trọng hàng đầu Hướng nghiên cứu này đã được các nhà nghiên cứu coi trọng trong suốt các qúa trình phát triển của xã hội học về truyền thông đại chúng Thông qua các phân tích thực nghiệm, ghi nhận rằng xã hội càng phát triển thì công chúng càng chủ động hơn trong hoạt động giao tiếp với các phương tiện truyền thông đại chúng Không những thế, họ còn chủ động hơn trong việc sử dụng những thông tin tiếp nhận được từ hệ thống này áp dụng vào hoạt động thực tiễn
Trang 401.1.5 Mô hình của H.Lasswell và C.Shannon về truyền thông đại chúng
Trong lịch sử nghiên cứu sự phát triển của truyền thông đại chúng, các nhà nghiên cứu đã đưa ra hai loại mô hình truyền thông cơ bản, đó là mô
hình truyền thông một chiều mang tính áp đặt và mô hình truyền thông đại
chúng hai chiều mềm dẻo
Mô hình truyền thông một chiều áp đặt là mô hình truyền thông đơn giản; Nó được hiểu là quá trình truyền thông tin giữa hai cá nhân, hay hai
nhóm người với nhau, trong đó một cá nhân hay một nhóm người giữ vai trò là
người truyền tin, truyền đi những thông điệp với tư cách là những tác nhân kích
thích nhằm để sửa đổi hành vi của những cá nhân hay nhóm người khác
Năm 1948, H.Lasswell đã đưa ra mô hình truyền thông đại chúng một chiều[26, 42] bao gồm những yếu tố:
- Who : Nguồn phát, chủ đề truyền thông
- Says what : Thông điệp, nội dung truyền thông
- Inh Which Channel : Kênh tuyền thông
- To Whom : Người nhận thông điệp
- With What Effects : Hiệu quả truyền thông
S M C R E