1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghệ thuật chỉ đạo chiến lược quân sự của đảng ta trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975

87 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghệ Thuật Chỉ Đạo Chiến Lược Quân Sự Của Đảng Ta Trong Cuộc Tổng Tiến Công Và Nổi Dậy Mùa Xuân 1975
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia
Chuyên ngành Quân Sự
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 1975
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 770 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lịch sử chiến tranh giải phóng và bảo vệ đất nước của nhân dân ta đã ghinhận rằng: Nhân dân Việt Nam thắng giặc ngoại xâm không chỉ bằng ý chíquật cường mà còn là sự kết hợp chặt chẽ và

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN! 1

MỞ ĐẦU 2

I Lý do chọn đề tài 2

II Mục đích, Nhiệm vụ nghiên cứu .2

III Giả thuyết khoa học 3

IV Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 3

V Phơng pháp nghiên cứu .3

VI Bố cục của đề tài: .3

PHẦN I NGHỆ THUẬT ĐÁNH GIẶC GIỮ NỚC CỦA CHA ÔNG 5

I Những yếu tố tác động đến việc hình thành nghệ thuật đánh giặc giữ nớc của cha ông .5

1.1 Địa lý 5

1.2 Kinh tế 6

1.3 Chính trị .6

1.4 Văn hóa – xã hội 7

II Nội dung của nghệ thuật đánh giặc giữ nớc của cha ông 8

2.1 T tởng kế sách 8

2.2 Toàn dân là binh, cả nớc đánh giặc

11 2.4 Nghệ thuật kết hợp đấu tranh giữa các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao, binh vận 17

PHẦN II NGHỆ THUẬT CHỈ ĐẠO CHIẾN LỢC QUÂN SỰ CỦA

Trang 2

ĐẢNG TA TRONG CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY MÙA XUÂN 1975 .20

I Chiến lợc quân sự 20

20

2 Nội dung của chiến lợc quân sự

20

II Khái quát cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 22

22

2 Chiến dịch Tây Nguyên đại thắng

26

3 Chiến dịch Huế - Đà Nẵng đại thắng 30

4 Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

37

III Nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử của cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 46

46

49

Trang 3

IV Bớc phát triển mới của nghệ thuật chỉ đạo chiến lợc quân sự của Đảng

ta trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 52

1 Hạ quyết tâm chiến lợc chính xác

52 2 Chuẩn bị lực lợng thật mạnh, triển khai thế trận thật hiểm .

57 3 Phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của chiến tranh cách mạng .

61 4 Vận dụng sáng tạo nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân .

64 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 77

I KẾT LUẬN 77

II KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .80

III ĐỀ XUẤT 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 4

LỜI CẢM ƠN !

Bằng tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn thầy giáo: Thượng tá - Trương Xuân Dũng, thầy giáo: Trung tá - Lê Văn Duyên – là những người

đã tận tình, chu đáo hướng dẫn em hoàn thành luận văn này.

Em xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn đến tập thể các thầy giáo khoa Giáo dục quốc phòng đã giảng dạy và hướng dẫn, giúp đỡ, động viên, khuyến khích em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.

Xin chân thành cảm ơn bạn bè và những người thân trong gia đình đã đóng góp ý kiến, giúp đỡ động viên tôi hoàn thành tốt luận văn này.

Xin trân trọng cảm ơn !

Trang 5

MỞ ĐẦU

I Lý do chọn đề tài

Việt Nam chúng ta có lịch sử truyền thống đấu tranh dựng nước và giữnước vô cùng oanh liệt Các cuộc chiến tranh chống kẻ thù xâm lược do nhândân ta tiến hành đều là chiến tranh nhân dân chính nghĩa, thu hút được đôngđảo quần chúng tham gia ủng hộ

Chiến tranh nhân dân Việt Nam đã trải qua những bước phát triển tronglịch sử đấu tranh vũ trang của dân tộc từ thấp đến cao và đạt đến đỉnh cao trongthời đại Hồ Chí Minh dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam Qúa trìnhchống kẻ thù xâm lược, giữ nước hoặc giải phóng dân tộc hoặc bảo vệ tổ quốcmỗi thời đại lịch sử có khác nhau, song rốt cuộc thì dù dài, dù ngắn nhân dân tađều đánh bại mọi kẻ thù xâm lược, giải phóng được dân tộc Vận nước có lúcthịnh lúc suy, song mỗi khi có kẻ thù xâm lược, nhân dân ta lại đoàn kết đứnglên chiến đấu chống bọn xâm lăng, bảo tồn nòi giống, văn hóa dân tộc ViệtNam

Lịch sử chiến tranh giải phóng và bảo vệ đất nước của nhân dân ta đã ghinhận rằng: Nhân dân Việt Nam thắng giặc ngoại xâm không chỉ bằng ý chíquật cường mà còn là sự kết hợp chặt chẽ và tài trí sáng suốt thông minh, sựđoàn kết của toàn dân đánh giặc, đánh bằng mưu kế, thắng bằng thế thời: Cuộckháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, mà đỉnh cao làcuộc tổng và nổi dậy mùa xuân 1975 là một bước phát triển mới cả về chỉ đạochiến lược, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật Chính vì vậy mà tôi lựa chọn

đề tài “ Nghệ thuật chỉ đạo chiến lược quân sự của Đảng ta trong cuộc tổng tiếncông và nổi dậy mùa xuân 1975” Để giúp tôi hiểu biết sâu sắc thêm về nghệthuật lãnh đạo, chỉ đạo chiến tranh của Đảng ta, bổ sung cho tôi nguồn kiếnthức phong phú về nội dung khi giảng dạy bộ môn GDQP

II Mục đích, Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu về quá trình hình thành và phát triển của nghệ thuật quân sựViệt Nam

Trang 6

- Tìm hiểu nghệ thuật lãnh đạo cách mạng và chỉ đạo chiến lược quân sựcủa Đảng ta trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975.

- Nghiên cứu để có thể làm tài liệu tham khảo và làm cơ sở để giảng dạy

bộ môn Giáo Dục Quốc Phòng

Để làm sáng tỏ mục đích nghiên cứu đề tài cần tập trung giải quyết cácnhiệm vụ trọng tâm như sau:

Thứ nhất : Làm rõ cơ sở lí luận và thực tiễn của nghệ thuật chiến tranh

nhân dân Việt Nam

Thứ hai : Tìm hiểu nghiên cứu các yếu tố tác động và nội dung nghệ

thuật đánh giặc của cha ông

Thứ ba : Nghiên cứu nghệ thuật chỉ đạo chiến lược quân sự của Đảng ta

trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975

III Giả thuyết khoa học

Sau khi nghiên cứu thành công, đề tài này sẽ giúp cho chúng ta hiểu sâusắc thêm nghệ thuật chiến tranh nhân dân của cha ông, đặc biệt là nghệ thuậtlãnh đạo chiến tranh cách mạng và chỉ đạo chiến lược quân sự của Đảng tatrong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 Đây sẽ là nguồn tài liệu

trợ giúp chúng ta khi giảng dạy bộ môn " Đường lối quân sự Việt Nam”.

IV Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về nghệ thuật chỉ đạo chiến lược củaĐảng ta trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975

V Phương pháp nghiên cứu.

1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Nhằm thu thập, phân tích, hệ thống hoá tri thức khoa học để xây dựng cơ

sở lý luận

2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

VI Bố cục của đề tài:

Đề tài gồm có 3 phần:

- Phần I Mở đầu

Trang 7

- Phần II Nội dung

+ Gồm có hai phần:

Phần I: Nghệ thuật đánh giặc giữ nước của tổ tiên

Phần II: Nghệ thuật chỉ đạo chiến lược quân sự của Đảng ta trong cuộcTổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975

- Phần III Kết luận và đề xuất

Tài Liệu Tham Khảo

PHẦN I NGHỆ THUẬT ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA CHA ÔNG

Trang 8

ở phía Tây, Trung Quốc ở phía Bắc, Lào và Căm pu Chia ở phía Tây Đấtnước ta có hình chữ S, với khảng cách từ Bắc đến Nam khảng 1650 km, vị tríhẹp nhất chiều Đông sang Tây là 50 km Với đường bờ biển dài 3262kmkhông kể các đảo, Việt Nam tuyên bố có 12 hải lý ranh giới lãnh thổ Nước ta

có địa hình đa dạng bao gồm rừng núi Cao Nguyên, Trung Du chiếm 3/4 lãnhthổ, nhiều sông ngòi kênh rạch Nước ta có 2 con sông lớn nhất là Sông Hồng

và Sông MêKông bắt nguồn từ Tây Bắc lục địa Châu Á chảy ra Biển Đôngtạo ra hệ thống giao thông, thuỷ chiến lược rộng khắp Từ xa xưa nước ta đã

có đường “Thiên di” của nhiều tộc người tạo nên 2 trục đường chính nối dài

từ Bắc vào Nam

Do Việt Nam là nước giàu tài nguyên, có điều kiện để phát triển nềnsản xuất nông nghiệp nhưng lại nằm ở vành đai thiên tai, lụt lội, khí hậukhông điều hoà Mặt khác nước ta nằm ở một vị trí chiến lược hết sức quantrọng, cửa ngõ đi vào lục địa Châu Á, đi ra Thái Bình Dương, điểm cắt nhaucủa đường thiên di Bắc Nam và Đông Tây Vì thế nước ta luôn bị các thiên taiđịch hoạ, kẻ thù dòm ngó tiến công xâm lược Điều này đòi hỏi dân tộc taphải biết đoàn kết, cảnh giác, sát cánh bên nhau, cùng nhau tạo nên sức mạnhtổng hợp chống lại sự tàn phá của thiên nhiên, đánh bại mọi kẻ thù để tồn tại,xây dựng và phát triển đất nước Trong đánh giặc, tổ tiên ta đã biết vận dụng

yếu tố “thiên thời, địa lợi” sáng tạo ra nhiều cách đánh phù hợp hiệu quả như:

Lợi dụng núi rừng, đèo dốc, sông biển, đồng ruộng ao hồ, đầm lầy để tiêu

Trang 9

diệt kẻ địch, bảo vệ mình Đúng như Nguyễn Trãi đã viết “Quan hà bách nhị

do thiên thiết” (quan hà hiểm yếu hai người chống lại được trăm người).

nước theo tinh thần tự lực tự cường, quán triệt tư tưởng “Quốc phú binh cường” Trong xây dựng đất nước tổ tiên ta đã đề ra những chính sách nhằm phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng như “ngụ binh ư nông” của nhà Lý,

“Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc” của nhà Trần, “Ra sức làm đường, đắp đê, đào kênh rạch cải tạo đồng ruộng, đẩy mạnh chăn nuôi sản xuất ra các loại công cụ lao động, đóng thuyền bè để phát triển sản xuất, cơ động quân đội” Trong đánh giặc nhân dân ta đã biết cất giấu lương thực để

ổn định đời sống, nuôi quân, sử dụng các công cụ lao động sản xuất ra cácloại vũ khí trang bị như mũi tên đồng, cung nỏ, vót chông để đánh giặc bảo

vệ Tổ quốc

1.3 Chính trị

Đất nước ta có 54 dân tộc anh em cùng chung sống, không qua chế độchiếm hữu nô lệ, phân vùng cát cứ không nhiều Do phải cùng nhau chunglưng đấu cật chống lại thiên tai, địch hoạ, các nhà nước phong kiến đã cónhững tư tưởng tiến bộ thân dân, những chính sách hoà hợp dân tộc đúng đắn,nên các dân tộc ít xảy ra mâu thuẫn, hận thù Các dân tộc đều sống hoà thuận,gắn bó thuỷ chung, yêu quê hương đất nước Đây là nhân tố, là cơ sở tạo nênsức mạnh đoàn kết, thống nhất dân tộc, sự cố kết cộng đồng bền vững Trongquá trình xây dựng đất nước, chúng ta đã tổ chức ra nhà nước xác định chủ

Trang 10

quyền lãnh thổ, tổ chức ra quân đội, đề ra luật pháp để quản lý, xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc Các nhà nước phong kiến Việt Nam đều có tư tưởng trọngdân, đưa ra nhiều chính sách hợp với lòng dân, xác định vai trò, vị trí củaquần chúng nhân dân, mối quan hệ giữa dân với nước, nước với dân được ví

như “không thể phân biệt được đâu là cá đâu là nước” nên đã động viên và

phát huy được sức mạnh toàn dân trong công cuộc xây dựng đất nước, độngviên cả nước đánh giặc gìn giữ non sông Trong đánh giặc, quân và dân ta đãchiến đấu dũng cảm, kiên cường, bất khuất, tinh thần quyết tâm cao, với ý chíquật cường sắt đá và nghị lực phi thường, luôn sáng tạo ra nhiều cách đánhhay, đánh giặc mềm dẻo khôn khéo, mưu trí sáng tạo Dân tộc ta đã chiến đấu

và đánh bại nhiều kẻ thù, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững độc lập chodân tộc

1.4 Văn hóa – xã hội

Dân tộc ta có một nền văn hoá bản địa xuất hiện sớm, từ thời tiền sửvới kết cấu bền vững có nhà, có làng, có bản, có nhiều dân tộc cùng chungsống, mỗi dân tộc, làng xã lại có một truyền thống phong tục tập quán riêng.Nhưng trong quá trình lao động, đấu tranh để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thìcác dân tộc đã vun đắp nên những truyền thống văn hóa chung như: Tinh thầnyêu nước, đoàn kết, gắn bó, yêu thương đùm bọc che chở lẫn nhau, ý thức laođộng cần cù sáng tạo, ý chí tự lực tự cường, đấu tranh dũng cảm, kiên cường,bất khuất Đây là nguồn gốc sức mạnh của dân tộc để chống lại thiên nhiên,đánh bại mọi thế lực, mọi kẻ thù xâm lược Truyền thống ấy được thể hiện rõ

nét và sâu sắc qua các truyền thuyết “Lạc Long Quân và Âu Cơ”, “Sơn Tinh Thuỷ Tinh”, “Thánh Gióng” Trong quá trình xây dựng đất nước, dân tộc ta

-luôn coi trọng phát triển nền văn hoá, giáo dục kiến thức hội hoạ, âm nhạcmang bản sắc truyền thống dân tộc, đồng thời không ngừng tiếp thu có chọnlọc những tinh hoa của nền văn hoá thế gới làm cho nền văn hóa nước ta ngàycàng phong phú, đa dạng và tràn đầy sức sống

Trang 11

Tóm lại, Các yếu tố địa lý kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội có ảnh

hưởng rất lớn đến nghệ thuật đánh giặc của tổ tiên ta Tất cả nững yếu tố đó

đã không ngừng được tìm tòi và phát triển, tạo nên sức mạnh to lớn cho dântộc ta trong quá trình xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc, đấu tranh bảo vệgiống nòi, giữ vững nền độc lập dân tộc, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổquốc

II Nội dung của nghệ thuật đánh giặc giữ nước của cha ông

2.1 Tư tưởng kế sách

Với tư tưởng tích cực chủ động tiến công và kế sách đánh giặc mềmdẻo, khéo léo của dân tộc ta đã được các triều đại Lí, Trần, Hậu Lê và QuangTrung vận dụng một cách linh hoạt, sánh tạo, đưa quân và dân ta đánh bạinhiều kẻ thù xâm lược, giữ vững nền độc lập dân tộc, bảo vệ chủ quyền toànvẹn lãnh thổ của Tổ quốc và được thể hiện qua các nội dung sau:

Thứ nhất, Tư tưởng tích cực, chủ động tiến công

Lịch sử chiến tranh giải phóng dân tộc và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc

cho thấy: “Tư tưởng chiến lược tiến công là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình

đánh thắng các đạo quân xâm lược đất nước ta”

Quan điểm quân sự của dân tộc Việt Nam cho rằng: chỉ có tiến công vàtiến công một cách kiên quyết mới có thể đánh bại được kẻ thù để giải phóngđất nước và bảo vệ Tổ quốc Và trên thực tế, các cuộc chiến tranh chống xâmlược đã giành được thắng lợi, dân tộc Việt Nam đều rất coi trọng nghệ thuậttiến công và thực hiện tiến công rất tài giỏi

Cách tiến công của chúng ta là tích cực chuẩn bị, tiến công liên tục,

tiến công từ nhỏ đến lớn, từ cục bộ đến toàn bộ Đạt được mục tiêu tiến công

là tiêu diệt nhiều sinh lực địch, làm thay đổi so sánh lực lượng ta và địch trên

chiến trường, thay đổi cục diện chiến tranh và ta dành thắng lợi Tư tưởng tích cực chủ động tiến công là chủ động giành quyền đánh giặc trên các mặt

trận của dân tộc, kiên quyết tiến công bằng sức mạnh tổng hợp toàn dân,không thụ động phòng ngự đó là yếu tố quyết định thắng lợi trong chiến tranh

Trang 12

và là nét đặc sắc trong nghệ thuật đánh giặc giữ nước của dân tộc ta Với thế

cơ động tiến công từ mọi phía, hãm địch vào thế bị động lúng túng, nắm đượcthời cơ chuyển sang phản công, tiến công và giành thắng lợi Từ thời nhàTrần vào thế kỉ thứ XIII, trước thế mạnh của quân Nguyên - Mông, tư tưởngtích cực chủ động tiến công được thể hiện bằng việc không chấp nhận yêusách của Chúa Nguyên, mà động viên nhân dân cả nước chuẩn bị vũ khíkháng chiến, xây dựng quyết tâm đánh giặc cao cho quân dân cả nước Với ý

chí “sát thát” thề giết giặc Nguyên - Mông Khi quân Nguyên Mông vào xâm

lược nước ta, nhà Trần đã phát huy sức mạnh toàn dân, thế trận làng nước,chặn giặc phía trước, đánh giặc phía sau, triệt phá đường tiếp tế lương thực,

cô lập địch, tập trung lực lượng, kết hợp chặt chẽ giữa tiến công và rút lui,phản công chiến lược và kết quả cả 3 lần đều đánh bại cuộc tiến công xâmlược của giặc Nguyên Mông

Trong nghệ thuật quân sự dân tộc Việt Nam, phòng ngự luôn gắnliền với tiến công và phản công Vừa chặn địch ở chính diện, vừa đánhvào bên sườn phía sau, kết hợp phản công và tiến công ngay khi đangcòn phòng ngự, tìm cách bộc lộ sơ hở để ta chuyển sang tiến công hoặcphản công, đó là cách phòng ngự thế công

Trang 13

người tham chiến trên chiến trường Vì vậy ai có sức mạnh hơn, thông minhhơn và sáng tạo hơn thì ngưới đó sẽ chiến thắng

Do đó kế sách đánh giặc ở đây là mưu kế, là sách lược đánh giặc củadân tộc Kế sách phải mềm dẻo, khéo léo kết hợp chặt chẽ giữa tiến công vàphòng ngự, quân sự với binh vận, ngoại giao tạo ra thế mạnh của ta phá thếmạnh của địch, trong đó tiến công quân sự luôn giữ vai trò quyết định Kếsách đó được vận dụng linh hoạt sáng tạo cho từng cuộc chiến tranh Vì vậymưu kế và kế sách giữ vai trò hết sức quan trọng trong nghệ thuật đánh giặc

Mưu kế trong chiến tranh tạo ra thế trận và thời cơ có lợi mà đánh

thắng địch, đó là yếu tố thế và thời trong chiến tranh do mưu kế tạo nên.Trong lịch sử đấu tranh của dân tộc, nhân dân ta luôn phải đương đầu vớinhững kẻ thù lớn mạnh hơn mình rất nhiều lần, chúng vừa đông lại có tiềmlực kinh tế, quân sự to lớn hơn Nhân dân ta đánh giặc trong điều kiện nhỏđánh lớn, ít địch nhiều, yếu chống mạnh và thường bị quân thù bao vây vềmọi phía

Từ đó mà nghệ thuật đánh giặc của cha ông ta kể từ xưa đến nay đều vì

thế mà nghĩ đến mưu kế, tạo thời cơ, nắm bắt thời cơ, dành chủ động, đánh

bất ngờ để thắng địch Trên sông Bạch Đằng, Ngô Quyền đã dùng mưu trícắm cọc nhọn bịt sắt chôn xuống lòng sông có quân mai phục tạo ra sức mạnhtổng hợp làm thế mạnh của ta dụ quân địch vào thế trận, rồi đánh quặt lạichúng lúc thuỷ triều rút nước xuống để tiêu diệt địch Đây là nghệ thuật tạo,nắm thời cơ Sự thông minh, sáng tạo trong chiến tranh là biểu hiện trước hết

ở mưu kế hay và khéo léo Mưu hay kế sâu không chỉ biểu hiện ở phạm trùchiến lược mà còn biểu hiện rất rõ ở phạm trù chiến dịch, chiến đấu trongnghệ thuật quân sự của dân tộc ta Có mưu hay kế khéo thì các trận đánh lớn,nhỏ cũng như tác chiến đều cho phép ta với lực lượng ít hơn, có thể đánhthắng được một đối thủ có lực lượng đông và vũ khí trang bị kỹ thuật mạnhhơn Mưu hay kế khéo có thể buộc địch đánh theo cách đánh của ta, biến địch

Trang 14

từ tiến công thành bị tiến công, quá trình giao chiến buộc địch bộc lộ ranhững sơ hở để ta chủ động và bất ngờ đánh thắng

Ngoài ra mặt trận ngoại giao cũng giữ vai trò hết sức to lớn Thời Trầnđánh thắng giặc Nguyên - Mông đã mở mặt trận tiến công ngoại giao, buộc

chúa Nguyên phải công nhận xâm phạm quốc cảnh “Đại việt” để ta thả 5 vạn

tù binh về nước

Từ đó cho thấy tư tưởng chỉ đạo đánh giặc của nhân dân ta phải dành,giữ vững quyền chủ động, liên tục tiến công địch Nhưng tuỳ theo điều kiệncủa từng cuộc chiến tranh, so sánh lực lượng ta và địch, để tìm ra cách đánhthích hợp tiêu diệt chúng Kế sách đánh giặc của nhân dân ta rất mềm dẻo,khôn khéo, kết hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự với binh vận, ngoạigiao tạo ra thế mạnh của ta, phá thế mạnh của địch, đánh bại chúng, trong đótiến công quân sự luôn giữ vai trò quyết định

2.2 Toàn dân là binh, cả nước đánh giặc

Đây là nghệ thuật về tổ chức, sử dụng lực lượng, động viên tinh thần,phát huy sức mạnh, cách đánh giặc theo sở trường của từng người, từng lực

lượng, mỗi bản làng, thôn xóm trên cả nước tạo thành sức mạnh toàn dân là binh cả nước đánh giặc

Toàn dân là binh, cả nước đánh giặc là nghệ thuật đánh giặc truyềnthống độc đáo, sáng tạo của dân tộc ta, là chiến thuật chiến tranh nhân dântoàn dân đánh giặc, nó được thể hiện trong cả khởi nghĩa vũ trang, trong chiếntranh bảo vệ Tổ quốc và chiến tranh giải phóng dân tộc

Thắng lợi của nhân dân ta chống kẻ thù xâm lược trong lịch sử đều do

biết tiến hành chiến tranh nhân dân, phát huy sức mạnh toàn dân là binh, cả nước đánh giặc mà nội dung thực chất là nghệ thuật quân sự dựa vào dân, lấy

dân làm gốc để tiến hành chiến tranh Nó mang tính truyền thống của nghệthuật quân sự Việt Nam, nó đã trở thành nguyên lý sâu sắc nhất để tiến hànhgiành thắng lợi khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng suốt hàng ngànnăm lịch sử

Trang 15

- Cơ sở phát động toàn dân đánh giặc

Các cuộc chiến tranh mà nhân dân ta tiến hành đều là chiến tranh yêunước chính nghĩa để bảo vệ Tổ quốc hoặc giải phóng dân tộc, đây là nguồnsức mạnh tinh thần to lớn thúc đẩy toàn đân hăng hái tham gia, nhà nhàhưởng ứng, người người đứng lên đánh giặc cứu nước Dân tộc ta có truyềnthống đoàn kết, yêu nước, thương nòi, ý chí đấu tranh kiên cường bất khuất,tinh thần quyết đánh quyết thắng quân xâm lược để bảo vệ độc lập dân tộc,chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc

Từ xa xưa, nhân dân ta đã biết đứng lên chống giặc ngoại xâm, biết dựavào sức lực của chính mình, tạo ra sức mạnh đoàn kết và kiên trì đấu tranh lâudài, cuối cùng dành được thắng lợi, mở đầu cho trang sử chống ngoại xâm rất

vẻ vang của dân tộc Lực lượng chủ yếu ấy là những người dân của các bộtộc, bộ lạc được huy động ra đi làm dân binh để chiến đấu Với trang bị vũ khílúc ấy vừa bằng tre, gỗ, vừa bằng sắt, đồng, đá Tre, gỗ, đá dùng làm gậy gộc,mũi tên, lao và đá ném; sắt đồng làm ra giáo, mác, rìu, lao

Những trang bị ấy thường ngày là những phương tiện lao động sảnxuất, săn bắn thú rừng để sinh sống, đồng thời cũng là vũ khí chiến đấu chốnggiặc khi cần thiết Sức mạnh đó là sức mạnh dựa vào sự đoàn kết của các bộtộc chống ngoại xâm để bảo vệ dân tộc, bảo vệ giống nòi

Trải qua bao nhiêu thế hệ, dân tộc Việt Nam với khí phách anh hùngngày càng nảy nở và phát triển, đã kiên quyết liên tục đứng lên chống ngoạixâm, sẵn sàng chịu đựng mọi gian khổ, bảo vệ quyền sống của mình trênmảnh đất quê hương

- Nội dung nghệ thuật phát huy sức mạnh toàn dân là binh, cả nước đánh giặc

Thứ nhất, tổ chức động viên lực lượng

Là tổ chức động viên toàn dân, mọi nhà, mọi người đều đánh giặc,

“trăm họ là binh, cả nước đánh giặc” tạo nên sức mạnh tổng hợp của cả dân

tộc Với truyền thống yêu nước nồng nàn, tự lập tự cường, anh dũng bất khuất

Trang 16

gắn liền với ngọn cờ đại nghĩa chiến đấu vì độc lập, thống nhất đất nước “nhân dân ta đã sớm có ý thức gắn quyền lợi của Tổ quốc với quyền lợi của gia đình

và bản thân, gắn bó nước với nhà, làng với nước trong mối quan hệ keo sơn bền chặt”, “nước mất nhà tan”, câu nói đó đã có từ lâu đời cho nên mỗi khi có

giặc xâm lược thì mọi người đều đồng lòng đứng dậy chống giặc để giữ nước,

giữ nhà “Cả nước chung sức đánh giặc đó là truyền thống quân sự của dân tộc Việt Nam”

Trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, các nhà nước phong kiếnĐại Việt đã tổ chức sử dụng lực lượng vũ trang cùng nhân dân biên giới, đánhbại mọi âm mưu thủ đoạn mua chuộc lôi kéo, kích động của kẻ thù, giữ vữngbiên cương của Tổ quốc, các địa phương còn tích cực tổ chức lực lượng, độngviên nhân dân chủ động xây đồn luỹ, chuẩn bị vũ khí sẵn sàng đánh giặc

Khởi nghĩa Lam Sơn với mục tiêu “kéo cùng dân ra khỏi lầm than”,

quân khởi nghĩa được nhân dân ủng hộ mạnh mẽ phát triển lên thành cuộcchiến tranh giải phóng dân tộc Khi đánh giặc, quân khởi nghĩa đi đến đâu

cũng “chật đất người theo”, nghĩa quân đánh giặc ở đâu nhân dân ở đó nổi

dậy hưởng ứng Quân Lam Sơn tiến quân vào Nghệ An, Tân Bình, ThanhHoá người trẻ gia nhập nghĩa quân, người già cũng tham gia đánh giặc, chỉriêng Trà Lân đã có hơn 5000 thanh niên được tuyển vào quân đội Khi tiếnquân ra Bắc Bộ, cả đồng bằng vùng lên đánh giặc, chiến thắng Tốt Động,Chúc động, Đông Quan, Chi Lăng đều có dân binh và nhân dân trong vùng

giúp sức mà sử sách còn ghi “Hào kiệt các lộ ở kinh đô và nhân dân các lộ, phủ, huyện tấp nập kéo đến cửa quân hết sức liều chết đánh thắng giặc ở các xứ” Sau mười năm chiến đấu bền bỉ, gian khổ và ngoan cường, cuộc khởi

nghĩa Lam Sơn đã hoàn thành vẻ vang nhiệm vụ giải phóng dân tộc Thắnglợi của cuộc chiến thật là oanh liệt, toàn diện và triệt để đã đập tan hoàn toàn

ý chí xâm lược nước ta của nhà Minh, đất nước được giải phóng và nền độclập dân tộc nhờ đó mà được bảo đảm gần 4 thế kỉ (đầu thế kỉ XV đến cuối thế

kỉ XVIII) không bị nạn ngoại xâm, phong kiến phương Bắc đe doạ

Trang 17

Trong các cuộc chiến tranh này, ngoài lực lượng quân sự thì dân chúngcũng tham gia trực tiếp chống giặc bằng nhiều hình thức rất phong phú, ra sức

hỗ trợ về mọi mặt để đánh thắng kẻ thù Đối với đất nước ta, trước nạn xâmlược thường xuyên đe dọa của kẻ thù, các vị lãnh tụ luôn biết dựa vào dân, coiviệc chăm lo súc mạnh của nhân dân làm nền tảng cho việc giữ nước và giảiphóng đất nước Hình thức chiến tranh nhân dân sớm xuất hiện, không những

kế thừa được phong trào đấu tranh có tính chất quần chúng rộng rãi với truyềnthống anh hùng bất khuất đã có từ xa xưa, mà còn phát triển lên một trình độmới rất cao, lập nên những kỳ tích vang dội với những chiến công hiển hách.Hình thức tổ chức lực lượng quân sự lúc này bao gồm ba thứ quân (quân cấmcủa triều đình, quân các lộ các địa phương và dân binh) ngày càng hoàn thiện,gồm bộ binh, thuỷ quân và các loại hình binh chủng khác Tổ tiên ta đánhthắng địch không chỉ ở miền rừng núi, trung du mà ở cả đồng bằng, trên sôngnước và ngoài cửa biển Đánh thắng giặc Tống, Nguyên, Minh, Xiêm, Thanh

đã chứng minh sức mạnh toàn dân trong nghệ thuật đánh giặc “toàn dân là binh cả nước đánh giặc”, điều đó được nhà quân sự thiên tài Trần Quốc Tuấn khẳng định “Sở dĩ nước ta thắng được giặc ngoại xâm qua nhiều thời đại là

do ta biết đồng lòng đánh giặc, cả nước chung sức…”

Thứ hai, Với sức mạnh“toàn dân là binh, cả nước đánh giặc” đã hình thành nên thế trận đánh giặc độc đáo, sáng tạo ra nhiều cách đánh đạt hiệu quả cao

Trong quá trình đánh giặc, quân và dân nước Đại Việt đã khéo léo vận

dụng kết hợp chặt chẽ giữa mưu, kế, thế, thời, lực để tạo ra sức mạnh của ta

đánh phá, làm suy yếu hạn chế thế mạnh của địch trên phạm vi chiến lược vàchiến đấu tiêu diệt chúng Thế trận của ta là kết hợp chiến tranh nhân dân địaphương (thế của các lộ, các vương hầu xưa kia, thế bộ đội địa phương và quân

du kích) với thế trận chiến tranh bằng hoạt động tác chiến của quân chủ lực(du quân của triều đình) là thế trận chiến lược của các lực lượng vũ trang kết

Trang 18

hợp với các lực lượng chính trị triển khai trên các địa bàn xung yếu và kếthợp chặt chẽ với nhau hãm địch vào thế không có lợi

Khởi nghĩa Lam Sơn, nghĩa quân đã phát huy thế mạnh của chiến tranhgiải phóng dân tộc, sức mạnh của toàn dân, vận dụng cách đánh vây hãm

thành, đánh quân cứu viện Với tư tưởng “Giặc đông ta ít, lấy ít đánh đông, chỉ ở nơi đất hiểm mới được công” ta thực hiện “nhử người đến chứ không để người nhử đến” trong trận Chúc Động, Tốt Động

Từ đó cho thấy: Nghệ thuật đánh giặc mưu trí sáng tạo của dân tộc ta làgiành giữ vững quyền chủ động trong cả công và phòng Trong đánh giặcphải linh hoạt sử dụng mưu kế để lừa địch, tạo lợi thế, tận dụng thời cơ để tậptrung lực lượng đánh địch Ta thắng địch là thắng địch ở chỗ khôn khéo như

Nguyễn Huệ nói:

“ Người khéo thắng là thắng ở chỗ rất mềm dẻo”

Một nước nhỏ bị một nước lớn đang lúc cường thịnh chinh phục và nôdịch, lại có thể tự giải phóng hoàn toàn bằng những chiến thắng quân sự hếtsức lẫy lừng trong một thời gian ngắn như vậy, thì đó là một sự kiện hiếm cótrong thời đại bấy giờ Điều đó chứng tỏ rằng vào thế kỉ XX dân tộc Việt Nam

đã là một dân tộc trưởng thành, có ý thức dân tộc sâu sắc, có sức sống phithường và năng lực sáng tạo phong phú Đó là một dân tộc đã có hàng ngànnăm lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, một dân tộc anh hùng và khôngmột thế lực xâm lược nào có thể khuất phục nổi

2.3 Nghệ thuật lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh

- Cơ sở xác định:

Nghệ thuật lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh xuấtphát từ điều kiện thực tiễn chiến tranh ở nước ta Một nước đất không rộng,người không nhiều, luôn phải chống lại nhiều kẻ thù lớn mạnh, chúng có lựclượng quân đội, trang bị vũ khí, kinh tế lớn hơn ta rất nhiều lần Đứng trướcmột kẻ thù lớn mạnh như thế phải làm thế nào để không bị đè bẹp? Làm thế

Trang 19

nào để nắm quyền chủ động? Làm thế nào để xoay chuyển tình thế? Đó là vấn

đề tưởng chừng như không thể trong cuộc đối đầu giữa một quốc gia nhỏ bévới những kẻ thù lớn mạnh Tuy thế nhưng lịch sử Việt Nam chứng minh đượcrằng kẻ địch dù có đến từ đâu, lớn mạnh cỡ nào ta cũng tìm cách tiêu diệt

chúng Trong binh pháp người việt, kỹ thuật lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh đã trở thành nghệ thuật quân sự Những đội quân

xâm lược có tiềm lực mạnh luôn muốn đánh nhanh và chúng chắc chắn rằngnếu cự lại sức mạnh của chúng thì chúng ta không thể tồn tại được lâu, thế nênthay vì chọn cách đánh đối đầu ngay như ý muốn của giặc ta lại tìm cách làmsuy yếu giảm sức mạnh của địch Đó là bằng thế trận chiến tranh nhân dân rộngkhắp, bằng sức mạnh thoắt ẩn, thoắt hiện và dường như ở đâu cũng có lựclượng của ta đánh địch

Trong các cuộc chiến tranh giải phóng và giữ nước của dân tộc, nghệthuật quân sự Việt Nam có nhiều sáng tạo và linh hoạt, phù hợp với tươngquan lực lượng giữa địch và ta để định ra phương thức sử dụng lực lượng phùhợp với tình hình đặc điểm của từng cuộc chiến tranh Lịch sử chống giặcngoại xâm của dân tộc ta mỗi thời một khác nhưng đều để lại truyền thống

“Biết địch, biết ta trăm trận không nguy”, nghệ thuật sử dụng lực lượng trên

cơ sở đánh giá địch một cách chính xác, từ so sánh lực lượng và phân tích thếđịch, thế ta, dự báo hình thái đôi bên sẽ diễn biến trên chiến trường từ đó đưa

ra phương thức để đánh địch

Do đó, đối với một dân tộc nhỏ bé như chúng ta nếu không biết lựa sứcmình thì không bao giờ có thể đánh bại được kẻ thù hùng mạnh Vì thế chủđộng bất ngờ là mạch sống tác chiến trong nghệ thuật quân sự của dân tộc ta

- Nội dung tiến hành

Trong quá trình dựng nước và giữ nước thế kỉ X đến thế kỉ XVIII,

nghệ thuật đánh giặc dùng nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh đã có bước phát triển mới, được vận dụng rất linh hoạt trong chiến

tranh, chiến lược và chiến đấu Quân dân ta kết hợp rất chặt chẽ mưu, kế, thế,

Trang 20

thời, lực để nâng cao sức mạnh chiến đấu đạt hiệu quả đánh tan mọi âmmưu, thủ đoạn của kẻ thù

Trong thời đại triều Lý, chỉ có mười vạn quân nhưng do có kế sách

đánh giặc “Tiên phát chế nhân”, lựa chọn đối tượng, hướng chiến lược, đánh

giá đúng, cùng nhân dân đánh tan mười vạn quân Chăm Pa ở phía Nam, 30vạn quân Tống ở phía Bắc Trong trận quyết chiến chiến lược ở sông NhưNguyệt, Lý Thường Kiệt chỉ có 6 vạn quân do biết tận dụng địa hình, xâydựng phòng tuyến chặn đánh giặc vững chắc, chủ động tiến công liên tụcchặn đánh quân giặc Nắm chắc thời cơ, ông tập trung binh lực đánh đònquyết định ở địa điểm, thời gian có lợi, đánh tan mười vạn quân Tống

Lê Lợi và Nguyễn Trãi với tư tưởng chỉ đạo đánh giặc “Dĩ quả địch trúng”, cách đánh“ít địch nhiều thường dùng mai phục, yếu chống mạnh đánh bất ngờ” Trận Kẽm Lưu, Bố ẢI nghĩa quân Lam Sơn chỉ có vài nghìn,

đánh tan hàng vạn quân Minh Trận Tốt Động, Chúc Động quân Lam Sơn chỉ

có một vạn, đánh tan 9 vạn quân do Vương Thông chỉ huy Trận Chi Lăng Xương Giang 4, 5 vạn nghĩa quân đánh tan mười vạn quân của Liễu Thăng

-Qua đó cho thấy nghệ thuật dùng nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh là nghệ thuật đánh giặc độc đáo, sáng tạo của dân tộc ta Đòi

hỏi các nhà lãnh đạo, chỉ huy phải có tài thao lược, biết động viên, phát huysức mạnh toàn diện, vận dụng cách đánh phải tạo ra được nhiều lợi thế hơn kẻthù, để tiêu diệt chúng Trong đánh giặc nếu ta chưa tạo được lợi thế hơn địch,thì nhất thiết phải tập trung binh lực mạnh để đánh thắng chúng Nó đã trởthành nét đặc sắc trong nghệ thuât đánh giặc truyền thống của dân tộc ta

2.4 Nghệ thuật kết hợp đấu tranh giữa các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao, binh vận

Nghệ thuật chiến tranh nhân dân của dân tộc ta là giải quyết mối quan

hệ giữa đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, đấu tranh ngoại giao, binhvận, địch vận và các mặt đấu tranh khác trong cuộc kháng chiến toàn dân,toàn diện và lâu dài Vì vậy sự kết hợp giữa các mặt đấu tranh quân sự, đấu

Trang 21

tranh chính trị, đấu tranh ngoại giao và đấu tranh binh vận trong chiến tranh lànét điển hình trong nghệ thuật đánh giặc của tổ tiên ta

Thế kỉ XI, Lý Thường Kiệt đem quân sang vùng Ung Châu, KhâmChâu, Liêm Châu để phá thế bàn đạp chuẩn bị xâm lược của quân Tống, đãvận dụng kế sách vận động binh lính và nhân dân địa phương nước địch ủng

hộ cuộc hành quân của mình Nhiều biện pháp ông đã làm như giải thích rõmục đích của cuộc hành quân, nêu lên ngọn cờ diệt bọn thống trị áp bức, ứchiếp dân nghèo khổ, nên được binh lính và nhân dân ủng hộ

Tiêu biểu nhất là trong cuộc chiến tranh thời Lê, Nguyễn Trãi đã đặtvấn đề chính trị, ngoại giao, binh vận, địch vận lên một vị thế rất cao, tiến

hành một cách có hệ thống và kiên nhẫn, trở thành chiến lược “Đánh vào lòng người” Hàng vạn tên địch đã phải hạ vũ khí xin hàng, cuối cùng làm tan

rã về tổ chức và tinh thần của một đạo quân xâm lược to lớn

Trong chiến tranh, đấu tranh quân sự là điều diễn ra rất tất yếu, và cótính quyết định trực tiếp đến thắng lợi của cuộc chiến tranh Phải tổ chức thựchành các phương thức tác chiến, huy động lực lượng đánh giặc, thực hiện cáchình thức, thủ đoạn chiến đấu rất linh hoạt sáng tạo, tiêu diệt nhiều sinh lựcđịch tạo lợi thế cho các mặt trận khác Lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc

ta đã chỉ ra rằng: nhân dân ta luôn phải đối chọi với những kẻ thù mạnh hơn ta

về mọi thứ, âm mưu của chúng rất nham hiểm, xảo quyệt Muốn đánh thắng,làm chúng hoàn toàn thất bại về ý đồ xâm lược của chúng thì phải đánh thậtmạnh, tiêu diệt nhiều binh lực, phá huỷ nhiều phương tiện vật chất của chúngmới làm cho chúng suy yếu mà đi tới thất bại Song mặt khác phải tìm cáchkhoét sâu nhược điểm, yếu điểm của quân xâm lược về mặt tinh thần thì thắnglợi của ta mới trọn vẹn, giảm bớt được thương vong tổn thất to lớn với ta Đấychính là nghệ thuật phải biết dựa vào thế mạnh, thế thắng của ta mà làm công

tác chính trị binh vân, ngoại giao Thế mạnh của ta là yếu tố chính nghĩa, thế thắng của ta là thế trận chiến tranh nhân dân Dựa vào hai thế đó và kết hợp

một cách chặt chẽ giữa các mặt trận để giành thắng lợi trong chiến tranh

Trang 22

Bên cạnh đó mặt trận ngoại giao cũng rất được chú trọng, ngày càngphát triển và trở thành một mặt trận phối hợp hiệu quả với đấu tranh quân sự,chính trị, đánh mạnh vào ý chí xâm lược của kẻ thù, làm sáng tỏ giá trị nhânvăn quân sự của ta Ngoại giao đã tích cực, chủ động, luôn giương cao ngọn

cờ vì hoà bình, độc lập dân tộc, kiên trì kết hợp đấu tranh chính trị, tập trunglàm rõ chính nghĩa của ta, vạch trần những âm mưu thủ đoạn và tội ác của kẻthù Mỗi khi dành được thắng lợi trên mặt đấu tranh quân sự, chính trị, ông

cha ta đều cử sứ giả “Bàn hoà” với địch; tu sửa lại các con đường, cung cấp

lương thảo cho hàng binh của địch khi thất bại trở về nước tất cả việc làm đóvới mục đích là để dập tắt muôn đời chiến tranh

Kết hợp giữa đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị, binh vận, địch vậnvới đấu tranh ngoại giao, tiến công địch toàn diện đã thể hiện tính độc đáosáng tạo, vô cùng phong phú và linh hoạt Nghệ thuật kết hợp cần phải luônnắm chắc thắng lợi của đấu tranh quân sự, chính trị, binh vận, địch vận làm cơ

sở và thế mạnh cho tiến công ngoại giao phát triển Điểm nổi bật ở đây khôngchỉ là phát triển đấu tranh quân sự ở mức cao mà còn là sự hình thành và pháttriển khá hoàn thiện một nghệ thuật đấu tranh chính trị đặc sắc, làm cho chínhtrị không chỉ là nền tảng cơ bản của cuộc chiến tranh mà còn là phương thứctiến công địch có hiệu lực cao, trực diện tiến công địch trên chiến trường.Chính trị trong chiến tranh của ta là chính trị quân sự, còn quân sự của ta làquân sự chính trị Nghệ thuật tiến hành chiến tranh hay nhất, đạt hiệu lựcchiến lược lớn nhất của ta là nghệ thuật kết hợp đấu tranh quân sự, đấu tranhchính trị, binh vận và đấu tranh ngoại giao Những bài học kinh nghiệm ấyvẫn giữ nguyên giá trị trong thời đại mới, thời đại xây dựng và bảo vệ Tổquốc hiện nay

Qua những vấn đề mà chúng ta vừa nghiên cứu ở trên, có thể nói hìnhthức đấu tranh của cha ông đã sử dụng trong chiến tranh bảo vệ tổ quốc đó làhình thức chiến tranh nhân dân Hình thức này còn được biểu thị đặc trưng

Trang 23

nhất trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 mà chúng ta sẽ

đi nghiên cứu ở phần 2

PHẦN II NGHỆ THUẬT CHỈ ĐẠO CHIẾN LƯỢC QUÂN SỰ CỦA

ĐẢNG TA TRONG CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY

MÙA XUÂN 1975.

I Chiến lược quân sự

1 Khái niệm chiến lược quân sự

Chiến lược quân sự là lý luận, thực tiễn chuẩn bị đưa đất nước, lực lượng

vũ trang nhằm ngăn ngừa và sẵn sàng tiến hành chiến tranh, lập kế hoạch chuẩn

bị và tiến hành chiến tranh Chiến lược quân sự là bộ phận hợp thành và là bộphận quan trọng nhất, có tác dụng chủ đạo trong nghệ thuật quân sự

2 Nội dung của chiến lược quân sự

- Thứ nhất, xác định đúng kẻ thù và đối tượng tác chiến.

Xác định đúng kẻ thù của cách mạng và đối tượng tác chiến trong chiếntranh là vấn đề tối quan trọng của chiến lược quân sự và rất phức tạp Từ đó cóđối sách và phương thức đối phó có hiệu quả nhất Thực dân Pháp, đế quốc Mỹđến xâm lược nước ta chúng đều núp dưới chiêu bài “bảo hộ”, “khai hoá văn

Trang 24

minh”, “bảo vệ thế giới tự do” nhằm lừa bịp nhân dân và dư luận Sau cáchmạng tháng Tám năm 1945, chúng đều có chung mục đích là tiêu diệt Chínhphủ Hồ Chí Minh, phá hoại cách mạng Việt Nam.

Sau khi phân tích từng kẻ thù, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xácđịnh: Thực dân Pháp là kẻ thù nguy hiểm trực tiếp của cách mạng Việt Nam,quân đội Pháp xâm lược là đối tượng tác chiến của nhân dân ta Chúng ta phảichiến đấu 9 năm chống thực dân Pháp Khi quân Pháp bị thất bại, đế quốc Mĩtạo cớ áp đặt thực hiện chủ nghĩa thực dân kiểu mới ở Việt Nam, một loại hìnhchiến tranh giấu mặt Nhận rõ âm mưu của Mĩ, ngay từ tháng 9 năm 1945Đảng ta đã chỉ rõ “đế quốc Mĩ đang dần trở thành kẻ thù trực tiếp, nguy hiểmcủa dân tộc Việt Nam, Lào, Campuchia” Thực tế chúng ta phải chiến đấuchống Mĩ từ 1954 đến 1975

- Thứ hai, đánh giá đúng kẻ thù.

Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí luôn luôn phân tích đánh giá đúng mặtmạnh, mặt yếu của từng kẻ thù Đối với thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minhcho rằng chúng có những mặt rất mạnh, nhưng chúng “như mặt trời ở lúchoàng hôn, hống hách lắm nhưng đã gần tắt nghỉ” Đối với đế quốc Mĩ, chúng

ta nhận định, Mĩ giàu nhưng không mạnh Cho nên Mĩ đưa mấy chục vạn quânviễn chinh vào miền Nam, nhưng ta vẫn ở thế tiến công, có quyết tâm đánh Mĩ

và thắng Mĩ

- Thứ ba, mở đầu và kết thúc chiến tranh đúng lúc.

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ, thời điểm mở đầu chiếntranh là những thời điểm thoả mãn hoàn cảnh lịch sử, có sức lôi cuốn toàn dântộc đứng lên đánh giặc cứu nước và có sức thuyết phục trên trường quốc tếmạnh mẽ

Cuộc kháng chiến chống Pháp, ngày 19 tháng 12 năm 1946, Chủ tịch HồChí Minh phát động toàn quốc kháng chiến Bởi vì “chúng ta muốn hoà bình,chúng ta đã nhân nhượng…thực dân Pháp càng lấn tới vì chúng quyết cướpnước ta một lần nữa…” Cuộc kháng chiến chống Mĩ “Đảng ta chọn thời điểm

Trang 25

sau năm 1960, bằng cách chuyển từ khởi nghĩa từng phần lên chiến tranh cáchmạng Đó là lúc Mĩ áp dụng chiến lược “chiến tranh đặc biệt” và cách mạngmiền Nam có bước phát triển mạnh mẽ Đồng thời nhằm mục đích không cho

Mĩ tạo cớ can thiệp vào công cuộc xây dung CNXH ở miền Bắc

Thời điểm kết thúc chiến tranh, là những thời điểm thế và lực của cáchmạng đều mạnh, có điều kiện đánh đòn quyết định giành thắng lợi hoàn toàn.Cuộc kháng chiến chống Pháp, ta chọn thời điểm 1954, đánh đòn quyết địnhbằng chiến dịch Điện Biên Phủ, kết thúc chiến tranh Cuộc kháng chiến chống

Mĩ ta chọn thời điểm 1975, đánh đòn quyết định bằng chiến dịch Hồ Chí Minh,kết thúc chiến tranh

- Thứ tư, phương châm tiến hành chiến tranh

Về chỉ đạo chiến lược chúng ta thực hiện đánh lâu dài, vì nước ta nhỏphải thắng các tên đế quốc to Đánh lâu dài, lấy thời gian làm lực lượng,chuyển hoá sức mạnh trong chiến tranh, tạo thế, nắm thời cơ đánh đòn quyếtđịnh Đánh lâu dài không đồng nghĩa với việc kéo dài vô thời hạn cuộc chiếntranh “trường kỳ mai phục”, mà phải biết chọn thời điểm kết thúc cuộc chiếntranh càng sớm càng tốt Cuộc kháng chiến chống Pháp ta chủ trương “trường

kỳ kháng chiến”, sau 9 năm đã giành thắng lợi Cuộc kháng chiến chống Mĩ, taxác định chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa

và năm 1975 đã giành thắng lợi hoàn toàn

- Thứ năm, phương thức tiến hành chiến tranh

Chúng ta tiền hành cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc rộngkhắp với tinh thần “bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, khôngphân biệt đẳng cấp, tôn giáo, dân tộc, hễ là người Việt Nam phải đứng lênchống thực dân Pháp xâm lược, cứu Tổ quốc” Phương thức tiến hành chiếntranh là kết hợp chặt chẽ tiến công và nổi dậy, tiêu diệt địch để giành quyềnlàm chủ, giành quyền làm chủ để tiêu diệt địch bằng hai lực lượng (quân sự,chính trị), trên ba vùng chiến lược ( vùng núi, vùng nông thôn đồng bằng và đôthị), cả ba mũi giáp công (quân sự, chính trị và binh vận) làm cho kẻ thù bị

Trang 26

lúng túng trong đối phó dẫn đến đổ vỡ về chiến lược, sa lầy về chiến thuật, cuốicùng chấp nhận thất bại.

II Khái quát cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975

1 Bối cảnh lịch sử

Năm 1973, hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở ViệtNam đã được ký kết tại Pa-ri Hiệp định Pa-ri về Việt Nam thể hiện thắng lợi vĩđại của nhân dân ta và phản ánh thất bại hết sức nặng nề của đế quốc Mỹ Mỹ

đã buộc phải rút quân đội khỏi miền Nam nước ta, cam kết tôn trọng các quyềndân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, chấm dứt mọi dính líu quân sự và canthiệp nội bộ của miền Nam Việt Nam Từ đó cục diện quân sự đã có sự thayđổi cơ bản Xu thế tất thắng của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ởmiền Nam đã trở nên rõ rệt không thể nào đảo ngược

Tuy nhiên đế quốc Mỹ và tay sai vẫn ngoan cố theo đuổi âm mưu áp đặtchủ nghĩa thực dân mới của Mỹ lên toàn bộ miền Nam nước ta Hiệp định Pa –

ri chưa ráo mực, nhân dân ta ở miền Nam chưa được hưởng một ngày hoà bình,thì Mỹ – nguỵ đã trắng trợn chà đạp lên hầu hết các điều khoản chủ yếu củahiệp định, tiếp tục tiến hành trên quy mô lớn cuộc chiến tranh thực dân kiểumới của chúng, chồng chất vô vàn tội ác đối với đồng bào ta ở miền Nam.Chúng đã liên tiếp đề ra nhiều kế hoạch chiến tranh với mục tiêu: Trong 3 năm

từ năm 1973 đến năm 1975, chiếm hết tất cả các vùng giải phóng của ta và đặttoàn bộ miền Nam dưới quyền kiểm soát của chúng Chúng ôm ấp ảo tưởngbước sang năm 1976 sẽ có thể ung dung xây dung và củng cố chế độ thực dânkiểu mới của Mỹ trên toàn miền Nam, biến miền Nam trở thành một quốc giariêng biệt nằm trong quỹ đạo của Mỹ, chia cắt lâu dài nước ta

Nhân dân Việt Nam ta đã giành được thắng lợi vĩ đại, nhưng sự nghiệpcách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam chưa hoàn thành Vì vậy,tiếp tục phấn đấu đưa cách mạng tiến lên, hoàn toàn giải phóng miền Nam, tiếntới thống nhất đất nước, hoàn thành triệt để cách mạng dân tộc dân chủ trong cảnước là nhiệm vụ chính trị của toàn dân ta trong giai đoạn mới Chúng ta chủ

Trang 27

trương nêu cao ngọn cờ hoà bình, độc lập dân tộc, tôn trọng và nghiêm chỉnhthi hành Hiệp định Pa-ri, song quyết không dung thứ hành động phá hoại hiệpđịnh, quyết không dung thứ hành động tiếp tục chiến tranh của Mỹ – Thiệu Đểbảo vệ thành quả cách mạng, để thực hiện kỳ được những mục tiêu cao cả củacách mạng, quân và dân ta nắm vững quan điểm cách mạng bạo lực, kiên quyếtdùng chiến tranh cách mạng đánh bại cuộc chiến tranh thực dân kiểu mới của

Mỹ – nguỵ Trải qua hai năm chiến tranh quyết liệt, năm 1973 và năm 1974,quân và dân ta đã giành được những thắng lợi to lớn trên khắp các chiếntrường Từ tháng 12 năm 1974, đồng bào và các chiến sĩ ở các tỉnh đồng bằngsông Cửu Long và miền Đông Nam Bộ lại đã giành được những thắng lợi tolớn hơn nữa: trong một thời gian ngắn, tiêu diệt hàng ngàn đồn bốt và giảiphóng tỉnh Phước Long – tỉnh đầu tiên được hoàn toàn giải phóng ở miền Nam.Những thắng lợi to lớn của ta đã đẩy quân nguỵ, nguỵ quyền vào tình trạng suyyếu toàn diện, không thể nào gượng lại và buộc chúng phải chuyển về thếphòng ngự chiến lược trên toàn chiến trường Còn đế quốc Mỹ thì sau khi rútquân khỏi miền Nam nước ta, không những không hồi phục lại được, khôngnhững mạnh lên như chúng hy vọng, mà ngược lại, ngày càng lún sâu vào mộtcuộc khủng hoảng trầm trọng về mọi mặt Trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa,nhân dân ta đạt được những thành tích lớn, đáng phấn khởi trong công cuộchàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, phát triển văn hoá…đồngthời tiếp tục động viên sức người, sức của, kề vai sát cánh với đồng bào miềnNam hoàn thành sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước

Trước khi cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta nổ ra, địchcòn có một lực lượng quân sự rất lớn trên chiến trường miền Nam Chúng cómột đội quân rất đông, được trang bị hiện đại, gồm đủ các quân chủng, trong

đó có lực lượng không quân và hải quân khá mạnh Chúng đã ráo riết củng cố

cả một hệ thống kìm kẹp vô cùng tàn bạo từ trung ương đến cơ sở, gồm cả mộtlực lượng cảnh sát đông hàng chục vạn tên

Trang 28

Lực lượng địch bố trí theo yêu cầu của cái gọi là chiến lược “chiến tranhdiện địa” nhằm “bảo vệ đến mức tối đa an ninh lãnh thổ”, với một hệ thốngkiểm soát quân sự gần tám ngàn đồn bốt các loại, cắm sâu tận xuống xã, ấp.Chúng ra sức tăng cường lực lượng địa phương nhằm tiến tới làm cho tất cảquân chủ lực của chúng trở thành hoàn toàn cơ động, hòng đối phó có hiệu quảvới các cuộc tiến công của ta và mở các cuộc tiến công lớn đánh chiếm vùnggiải phóng.

Một bộ phận quan trọng của lực lượng chủ lực địch gồm 3 sư đoàn vàthường có thêm 1 đến 2 sư đoàn dự bị chiến lược, đã được bố trí để bảo vệquân khu 3 nguỵ, tức miền Đông Nam Bộ Đây là một địa bàn xung yếu vàquan trọng vào bậc nhất ở miền Nam, vì ở đó có Sài Gòn là “thủ đô”, là trungtâm quân sự, chính trị, văn hóa lớn nhất của miền Nam, là nơi tập trung các cơquan đầu não của nguỵ quân, nguỵ quyền

Một lực lượng khá mạnh gồm 3 sư đoàn, có lúc được tăng cường từ 1đến 2 sư đoàn dự bị chiến lược, được bố trí ở quân khu 1 là địa bàn chiến lượctiếp giáp với miền Bắc, có căn cứ quân sự liên hợp lớn Đà Nẵng và tập đoànphòng ngự mạnh Thừa Thiên – Huế

Trên địa bàn quân khu 3 rộng lớn, bao gồm toàn bộ Tây Nguyên và cáctỉnh ven biển từ Bình Định vào đến Bình Thuận, địch bố trí 2 sư đoàn chủ lực

và gần một nửa tổng số liên đoàn quân bịêt động, tập trung ở khu vực bắc TâyNguyên và ở tỉnh Bình Định Còn trên các tỉnh khác ở đồng bằng ven biển vàmột số tỉnh ở cao nguyên Trung Bộ như Tuyên Đức, Lâm Đồng, địch chỉ bố trílực lượng địa phương phòng ngự, vì chúng cho rằng ở đây khó có hoạt độnglớn của bộ đội chủ lực Quân giải phóng

Quân khu 4 nguỵ gồm các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đông dânnhiều của, nguồn nhân lực, vật lực chủ yếu chiến lược của chiến lược “ViệtNam hoá chiến tranh” Ở đây chiến tranh nhân dân phát triển rộng khắp, nhưngđịch cho rằng chủ lực ta không mạnh lắm cho nên chúng đã bố trí 3 sư đoàntrên cả vùng đồng bằng rộng lớn

Trang 29

Trên mỗi quân khu, địch còn bố trí một lực lượng lớn các đơn vị khôngquân, hải quân, thiết giáp, pháo binh…cùng một lực lượng đông đảo quân địaphương.

Nhìn chung có thể thấy, lực lượng địch tuy rất lớn nhưng bị dàn ra trênnhững địa bàn quá rộng cho nên thế bố trí của chúng phân tán, bộc lộ nhiều chỗyếu và sơ hở, đặc biệt là tuyến dài hàng mấy trăm kilômét dọc ven biển miềnTrung Với thế bố trí đó, trong tình hình trước đây, quân địch còn có thể tạmthời đứng được Song cục diện ngày nay đã khác Lực lượng so sánh đã thayđổi căn bản có lợi cho ta Các chiến trường của ta đã được tổ chức hoàn chỉnhthêm, hệ thống giao thông chiến lược được phát triển, khả năng cơ động củacác binh đoàn lớn của ta được tăng cường Trong tình hình đó, hệ thống bố trícủa địch không thể nào đứng vững được trước sức mạnh tiến công của ta

Trong bối cảnh lịch sử như đã trình bày ở trên, một cuộc đọ sức cuốicùng giữa ta và địch tất yếu sẽ phải diễn ra và sự sụp đổ hoàn toàn của nguỵquân, nguỵ quyền miền Nam là không thể tránh khỏi

2 Chiến dịch Tây Nguyên đại thắng

Trang 30

Lược đồ chiến dịch Tây Nguyên

Cuộc tổng tiến công chiến lược mở đầu bằng chiến dịch đại thắng trênhướng Tây Nguyên

Chiến dịch Tây Nguyên đã bắt đầu bằng trận điểm đúng huyệt Buôn MaThuột ngày 10 tháng 3 năm 1975, sau khi quân ta đã tiêu diệt Thuần Mẫn vàĐức Lập, hai cứ điểm quan trọng trên đường số 14 Ngay từ ngày 4 tháng 3năm 1973, quân và dân Tây Nguyên đã cắt đứt các đường số 19 và số 14, côlập Plây Cu, Công Tum, đồng thời bao vây, uy hiếp các căn cứ quan trọng này

Ta đã khéo nghi binh, làm cho địch phán đoán sai hướng tiến công của ta, kéo

sự chú ý của chúng về hướng Plây Cu, buộc chúng phải bị động điều độngquân đối phó theo ý định của ta, bộc lộ sơ hở ở Buôn Ma Thuột Địch đã điềuđộng phần lớn lực lượng sư đoàn bộ binh số 22 từ Bình Định lên và từ các liênđoàn quân biệt động, bảo an, lực lượng thiết giáp từ Plây Cu xuống, cố giải toảđường số 19, con đường huyết mạch nối liền Tây Nguyên với đồng bằng.Chúng còn điều động thêm một trung đoàn của sư đoàn bộ binh số 23 từ Buôn

Ma Thuột lên tăng viện cho Plây Cu, Buôn Ma Thuột, mục tiêu rất hiểm yếucủa chiến dịch Tây Nguyên, lúc này trở nên tương đối yếu và sơ hở

Trang 31

Nắm vững thời cơ, quân ta đã dùng lối đánh táo bạo, bất ngờ, nhanhchóng cơ động lực lượng vượt qua các tuyến phòng thủ vòng ngoài của Buôn

Ma Thuột, tiến công thẳng vào các mục tiêu chủ yếu trong thị xã, chiếm lĩnh 2sân bay, tiêu diệt khu căn cứ thiết giáp, pháo binh, tiểu khu Đắc Lắc, sư đoàn

bộ binh số 23 Sau không đầy 2 ngày chiến đấu, ta làm chủ hoàn toàn thị xãBuôn Ma Thuột

Bị đòn choáng váng, địch vội vã điều động viện binh từ Plây Cu, némxuống phía đông Buôn Ma Thuột, khu vực Phước An 2 trung đoàn của sư đoàn

số 23, các liên đoàn quân biệt động, có máy bay và đại bác yểm trợ thực hiệnphản kích, hòng chiếm lại Buôn Ma Thuột

Kiên quyết bẻ gãy cuộc phản kích của địch, ta đã nhanh chóng tập trunglực lượng, đánh chiếm căn cứ của trung đoàn bộ binh số 45, chi khu quân sự

và quận lỵ Buôn Hồ, Hoà Bình và đã cơ động lực lượng dự bị mạnh, liên tiếptấn công địch từ ngày14 đến ngày 18 tháng 3 năm 1975, tiêu diệt toàn bộ sưđoàn 23 và các lực lượng địch còn lại quanh thị xã, giải phóng quận lỵ Phước

An, đập tan hoàn toàn kế hoạch của địch chiếm lại Buôn Ma Thuột

Những thắng lợi vang dội đầu tiên này đã gây bất ngờ lớn cho địch, làmrung chuyển toàn bộ hệ thống phòng thủ của chúng ở hướng Tây Nguyên.Trong khi đó, trên mặt trận Bình Định, hướng phối hợp quan trọng của chiếndịch Tây Nguyên, quân và dân ta đã ghìm chặt và đánh thiệt hại nặng một sốtrung đoàn thuộc sư đoàn 22 nguỵ trên đướng số 19 ở đèo Mang Giang, thựchiện chia cắt triệt để, khoá chặt đoạn đường này Công Tum và Plây Cu càng bị

uy hiếp nghiêm trọng Thế trận của địch ở Tây Nguyên chỉ trong mấy ngày đãtrở nên hết sức tồi tệ Trong thời gian này, quân và dân ta tiến công địch mạnh

mẽ trên khắp các chiến trường Quân địch thiếu lực lượng cơ động, đối phó rấtlúng túng Trước tình hình đó, để tránh nguy cơ bị tiêu diệt lớn, Mỹ – nguỵ đãbuộc phải đi đến một quyết định chiến lược: rút bỏ các tỉnh Công Tum, Gia Lai

để bảo toàn lực lượng, lui về giữ toàn bộ vùng đồng bằng ven biển miền Trung

và tạo điều kiện tập trung lực lượng cơ động để phản kích chiếm lại Buôn Ma

Trang 32

Thuột, địa bàn mà chúng cho là rất quan trọng về quân sự, chính trị và kinh tế.Trước sức mạnh tấn công vũ bão của quân ta, cuộc rút lui chiến lược của địch ởTây Nguyên đã biến thành một cuộc tháo chạy hỗn loạn và thất bại thảm hại.

Sau thắng lợi Buôn Ma Thuột, ta nhận định: địch bị thất bại rất nặng, đặcđiểm nổi bật là tinh thần của chúng đã bị suy sụp, ta đang đứng trước thời cơthuận lợi để phát triển tiến công, giành toàn thắng cho chiến dịch Từ ngày 13tháng 3, ta đã dự kiến quân địch có thể buộc phải rút khỏi Tây Nguyên Ngày

16 tháng 3, khi quân địch ở Plây Cu, Công Tum bắt đầu triển khai cuộc rút luitheo đường số 7, thì một binh đoàn của ta được giao từ trước nhiệm vụ chiếnđấu trên hướng này, đã nhanh chóng vận động bằng cơ giới theo đường số 14

và đường số 7B, kịp thời chặn đứng quân địch ở đông và tây Cheo Reo Mộtđơn vị bộ đội địa phương của tỉnh Phú Yên được lệnh tiến lên cắt cầu Sơn Hoà,chặn đường rút của địch Như vậy là số phận quân địch ở Tây Nguyên rút chạy

đã được định đoạt Từ 18 tháng 3 đến 20 tháng 3, quân ta bao vây, chia cắt, tiếncông tiêu diệt quân địch, đồng thời giải phóng thị xã Cheo Reo Tiếp đó, ta đãnhanh chóng truy kích và tiêu diệt tàn quân địch chạy về quận lỵ Củng Sơn.Đến ngày 24 tháng 3, toàn bộ quân địch rút chạy từ Công Tum, Plây Cu gồm 6liên đoàn quân biệt động, 3 trung đoàn thiết giáp cùng các đơn vị binh chủng,quân chủng kỹ thuật khác đã bị tiêu diệt

Trận quyết chiến Tây Nguyên đã toàn thắng Cả vùng Tây Nguyên chiếnlược rộng lớn được giải phóng Trên 12 vạn quân địch bị tiêu diệt Hơn 60 vạnnhân dân các dân tộc giành lại hoàn toàn quyền làm chủ Ta thu toàn bộ vũ khí

và phương tiện chiến tranh của địch

Chiến dịch Tây Nguyên đại thắng có ý nghĩa chiến lược hết sức to lớn.Sau thắng lợi này, quân ta ở thế uy hiếp trực tiếp tuyến phòng ngự ven biểnmiền Trung của địch Hệ thống bố trí chiến lược của chúng trên toàn chiếntrường miền Nam đứng trước nguy cơ bị cắt làm hai Quân khu 3 bị uy hiếp vàquân khu 1 bị cô lập Toàn bộ hệ thống quân sự và kìm kẹp của địch ở miềnNam bị rung chuyển dữ dội Thắng lợi này đã giáng một đòn quyết định vào

Trang 33

lực lượng chủ yếu của địch ở quân khu 2, tạo điều kiện hết sức thuận lợi để giảiphóng các tỉnh còn lại của quân khu này.

Sau khi quân địch ở Tây Nguyên bị tiêu diệt, các binh đoàn chủ lực của

ta thừa thắng phát triển tiến công về hướng đồng bằng ven biển miền Trungtheo các trục đường số 19, số 7 và số 21 Một binh đoàn mạnh của ta đang hoạtđộng trên đường số 19 và tỉnh Bình Định đã nhanh chóng tiêu diệt căn cứ AnKhê ngày 23 tháng 3 Sau đó binh đoàn này đã kết hợp với một binh đoàn khác

từ Tây Nguyên xuống, đánh một trận lớn từ Phú Phong đến sân bay Gò Quánhthuộc tỉnh Bình Định, tiêu diệt phần lớn sư đoàn nguỵ số 22 Lực lượng còn lạicủa sư đoàn này đã bị các lực lượng vũ trang địa phương Bình Định kết hợpvới quần chúng nổi dậy mạnh mẽ, tiêu diệt và làm tan rã hoàn toàn Một binhđoàn khác từ Tây Nguyên tiến xuống theo đường số 21, đã tiêu diệt lữ đoànlính dù số 3 án ngữ đèo Phượng Hoàng, giải phóng quận lỵ Khánh Dươngthuộc tỉnh Khánh Hoà Trong thời gian này, phối hợp với Tây Nguyên, quân vàdân ta đã tích cực đánh địch trên khắp các mặt trận, đặc biệt cao trào tiến công

và nổi dậy đã dâng lên mạnh mẽ ở các tỉnh ven biển miền Trung Trung Bộ.Trước bão táp tiến công và nổi dậy của quân và dân ta, toàn bộ lực lượng cònlại của quân đoàn 2 của nguỵ đã tan rã nhanh chóng Các tỉnh, thành còn lại củaquân khu 2 được giải phóng với một nhịp độ dồn dập

Ngày 1 tháng 4 tỉnh Bình Định với thành phố Quy Nhơn

Cùng ngày tỉnh Phú Yên với thị xã Tuy Hoà

Ngày 2 tháng 4, tỉnh Lâm Đồng với thị xã Bảo Lộc

Từ ngày 2 đến ngày 3 tháng 4 tỉnh Khánh Hoà với thành phố Nha Trang

và quan cảng Cam Ranh

Ngày 4 tháng 4 tỉnh Tuyên Đức với thành phố Đà Lạt

Trước đó ngày 24 tháng 3, tỉnh Quảng Đức với thị xã Gia Nghĩa đã đượcgiải phóng

Địch vội vàng sát nhập hai tỉnh cực nam của quân khu 2 là Ninh Thuận

và Bình Thuận vào quân khu 3 với ý đồ tăng cường phòng thủ Sài Gòn từ xa

Trang 34

Toàn bộ quân khu 2 nguỵ đã bị xoá sổ.

3 Chiến dịch Huế - Đà Nẵng đại thắng

Lược đồ chiến dịch Huế - Đà Nẵng

Thắng lợi Tây Nguyên đánh dấu một bước suy sụp mới của Mỹ – nguỵ,một bước ngoặt trong quá trình phát triển của cục diện quân sự và chính trị ởmiền Nam Với chiến thắng Tây Nguyên, cuộc chiến tranh cách mạng đã bướcsang một giai đoạn mới, từ tiến công có ý nghĩa chiến lược phát triển thànhtổng tiến công chiến lược trên toàn chiến trường miền Nam

Từ đầu tháng 3 năm 1975, để phối hợp với hướng Tây Nguyên, ta đã đẩymạnh hoạt động trên mặt trận Trị – Thiên cũng như trên mặt trận đồng bằngquân khu 5 Bước vào trung tuần tháng 3, quân và dân ta đã gấp rút hoàn thànhmọi công tác chuẩn bị, sẵn sàng hành động táo bạo và bất ngờ, giành thắng lợilớn nhất cho trận quyết chiến sắp tới trên chiến trường Trị -Thiên - Huế vàchiến trường bắc khu 5

Chiến trường Trị – Thiên – Huế và chiến trường đồng bằng Khu 5 baogồm cả Đà Nẵng là những nơi đã diễn ra nhiều cuộc khởi nghĩa và nhiều cuộctiến công quy mô lớn Từ sau năm 1972, lực lượng chính trị của quần chúng vàlực lượng vũ trang địa phương của ta phát triển mạnh Các binh đoàn chủ lực

Trang 35

lớn của ta đã có đầy đủ điều kiện để đứng chân vững chắc và triển khai tiếncông Huế, Đà Nẵng trên một thế trận rất lợi hại.

Huế và Đà Nẵng là những khu vực phòng ngự mạnh nhất của quân khu 1nguỵ Để tiêu diệt toàn bộ hệ thống phòng thủ của địch ở quân khu 1, ở phíabắc ta đã thực hiện chia cắt chiến lược, tiến công tiêu diệt sư đoàn bộ binh số 1,giải phóng tỉnh Thừa Thiên và thành phố Huế; ở phía nam ta đã tiến công tiêudiệt toàn bộ sư đoàn bộ binh số 2, giải phóng các tỉnh Quảng Tín, Quảng Ngãi

Ta đã cô lập hoàn toàn thành phố Đà Nẵng và cuối cùng đã nhanh chóng baovây công kích từ nhiều mặt, kết hợp tiến công với nổi dậy, đánh chiếm căn cứquân sự liên hợp này Các trận đánh lớn diễn ra táo bạo, thần tốc, linh hoạt,theo kế hoạch đã dự kiến, hình thành một chiến dịch quy mô rộng lớn, chỉ mấyngày sau khi chiến dịch Tây Nguyên kết thúc thắng lợi, ta đã tiêu diệt và làmtan rã toàn bộ quân địch ở quân khu 1

Tập đoàn phòng ngự Thừa Thiên – Huế có hơn 4 vạn quân, gồm nhữngđơn vị được xếp vào loại thiện chiến nhất của quân nguỵ như sư đoàn bộ binh

số 1, các lữ đoàn lính thuỷ bộ binh đánh bộ…dựa vào các tuyến phòng thủ kiên

cố được xây dựng từ nhiều năm ở phía bắc và tây thành phố Huế

Vào thượng tuần tháng 3 quân ta đã tiến công mạnh nhiều vị trí địch trêntuyến phòng thủ Trị – Thiên và thực hiện nghi binh rộng rãi Trong khi đó,hàng trăm đội công tác vũ trang vượt qua tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch,thọc sâu xuống đồng bằng, phát động quần chúng nổi dậy, đẩy mạnh chiếntranh nhân dân ở vùng sau lưng địch Trước sức tiến công của ta, ngày 19 tháng

3, quân địch buộc phải rút khỏi thị xã Quảng Trị, lui vào củng cố tuyến phòngngự ở nam sông Mỹ Chánh

Ta đã nắm chắc quy luật hành động của địch, đánh giá đúng những khókhăn, chỗ yếu và mâu thuẫn trong tình thế chiến lược mới Ngày 17 tháng 3,quân ta đã được lệnh thực hiện chia cắt chiến lược giữa Huế và Đà Nẵng Ngày

19 tháng 3, trong khi chiến dịch Tây Nguyên chưa kết thúc thì ta đã hạ quyếttâm mở trận tiến công lớn tiêu diệt tập đoàn phòng ngự Thừa Thiên – Huế

Trang 36

Ngày 22 tháng 3, Quân giải phóng bắt đầu tiến công Huế từ nhiềuhướng.

Cánh quân chủ yếu ở hướng nam, đang tiến công địch ở núi Bông, đãkịp thời thay đổi hướng đánh, không đột phá tuyến phòng thủ vòng ngoài củađịch mà nhanh chóng thọc sâu cắt đường số 1, đánh chiếm quận lỵ Phú Lộc,triệt hẳn con đường rút lui của địch về Đà Nẵng Một đơn vị khác phối hợp vớilực lượng địa phương nhanh chóng chặn đường rút lui ra biển của địch ở cửa

số 1, từ hướng tây vượt qua sông Tả Trạch, tiến về phía bờ biển nhanh chóngbao vây và tiêu diệt địch

Ngày 24 tháng 3, quân ta đã bao vây chặt toàn bộ tập đoàn phòng ngựcủa địch ở Huế Ngày 25 tháng 3, các cánh quân ta tiến công vào khu cửa Tân

Mỹ – Thuận An, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng quân địch dồn vềđây Cùng ngày, các mũi tiến công khác của quân chủ lực đã cùng lực lượng vũtrang địa phương tiến vào thành phố, kết hợp với quần chúng nổi dậy, giảiphóng cố đô Huế, kết thúc vẻ vang trận đánh Thừa Thiên – Huế vào trưa ngày

26 tháng 3 năm 1975

Sau 4 ngày chiến đấu, quân và dân ta đã hoàn toàn tiêu diệt tập đoànphòng ngự Thừa Thiên – Huế Thắng lợi vang dội này là một đòn phủ đầu chímạng giáng vào kế hoạch phòng ngự co cụm chiến lược mới của địch ở vùngđồng bằng ven biển miền Trung Nó khẳng định quân và dân ta không những

Trang 37

có khả năng quét sạch những tập đoàn phòng ngự mạnh của địch ở chiếntrường rừng núi mà cũng hoàn toàn có khả năng tiêu diệt những tập đoànphòng ngự mạnh của địch ở vùng đồng bằng ven biển và trong các thành phố.Thắng lợi Thừa Thiên – Huế càng đẩy quân nguỵ lao nhanh hơn nữa xuốngthảm trạng suy sụp lớn về tinh thần và tổ chức.

Quân ta tiến công giải phóng thành phố Huế

Trong khi trận Huế chưa kết thúc ở phía nam Đà Nẵng diễn ra trận Tam

Kỳ – Quảng Ngãi Các lực lượng vũ trang ta đã hành động quả cảm và mau lẹ.Sau khi giải phóng các quận lỵ Tiên Phước, Phước Lâm, ta đã kiên quyết tiếncông, giải phóng thị xã Tam Kỳ ngày 24 tháng 3, liền đó gấp rút phát triển tiếncông về phía Đà Nẵng Đồng thời đồng bào và các lực lượng vũ trang địaphương Quảng Ngãi, nắm vững thời cơ, đã dấy lên một cao trào nổi dậy và tiếncông, giải phóng toàn tỉnh ngày 25 tháng 3 Một lực lượng lớn quân nguỵ,trong đó có phần lớn sư đoàn bộ binh số 2 đã bị tiêu diệt Chiến thắng Tam Kỳ– Quảng Ngãi đã đẩy căn cứ quân sự liên hợp Đà Nẵng vào thế hoàn toàn côlập với các lực lượng còn lại của quân nguỵ ở phía nam

Sau khi mất Huế, Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố quyết “tử thủ” Đà Nẵngbằng mọi giá Đà Nẵng là một căn cứ quân sự liên hợp hải, lục, không quânhiện đại và mạnh vào bậc nhất ở miền Nam Địch đã tập trung về Đà Nẵng hơn

Trang 38

10 vạn quân bao gồm nhiều đơn vị như sư đoàn bộ binh số 3, các lữ đoàn línhthuỷ đánh bộ, các liên đoàn quân biệt động, các đơn vị toàn quân của sư đoàn

bộ binh số 2, các trung đoàn thiết giáp, các tiểu đoàn pháo binh…Địch còn một

sư đoàn không quân bố trí ở sân bay Đà Nẵng, sân bay Nước Mặn, cùng nhiềutàu chiến đậu ở cảng và bờ biển Sau khi tập đoàn phòng ngự Thừa Thiên –Huế bị tiêu diệt đế quốc Mỹ đã vội vã điều động một số tàu chiến đến vùng venbiển Đà Nẵng, rập rình làm “lực lượng răn đe” Mỹ – nguỵ tính toán nếu tamuốn tiến công tập đoàn phòng ngự này của chúng thì sau khi giải phóng Huế,

Bộ đội ta hành quân vào Đà Nẵng

Ngày 24 tháng 3, trong khi trận đánh Huế đang bước vào giai đoạn khẩntrương, ta đã đánh giá đúng xu thế phát triển của tình hình và nhận định rằng,sau khi mất Huế và Tam Kỳ, dù địch muốn giữ Đà Nẵng cũng không thể giữđược Quân ta đã hạ quyết tâm tiến công tiêu diệt căn cứ quân sự liên hợp ĐàNẵng sáng 28 tháng 3, bọn chỉ huy quân đoàn 1 nguỵ còn họp bàn kế hoạchtăng cường phòng thủ Đà Nẵng Nhưng ta đã dự kiến, trước sức tiến công sắptới của quân ta, địch nhất định buộc phải rút khỏi Đà Nẵng Chúng có thể rútnhanh, cũng có thể trì hoãn một thời gian để rút có kế hoạch Quân ta đã quyết

Trang 39

định đánh địch theo tình huống chúng rút nhanh, đồng thời cũng chuẩn bị mọimặt để tiêu diệt địch trong trường hợp chúng tiếp tục cố thủ.

Quân và dân ta đã hành động theo phương châm kịp thời nhất, nhanhchóng nhất, táo bạo nhất, bất ngờ nhất, đồng thời phải chắc thắng Ta đã gấp rútđiều động lực lượng lớn từ các hướng đến, đồng thời phát huy các lực lượng đã

bố trí sẵn tại chỗ, kết hợp chặt chẽ tiến công quân sự với nổi dậy của quầnchúng Một binh đoàn tác chiến ở Huế được lệnh tiến quân về phía Đà Nẵngngay khi trận Huế chưa kết thúc Binh đoàn vừa giải phóng Tam Kỳ được lệnhlập tức tiến quân ra phía bắc Một binh đoàn bố trí từ trước ở Thượng Đức cũngđược lệnh tiến đánh Đà Nẵng Ngày 27 tháng 3, các binh đoàn của ta đều nhằmhướng Đà Nẵng tiến quân thần tốc không kể ngày đêm Các lực lượng địaphương cũng gấp rút và táo bạo tiến về thành phố Trong khi đó, các lực lượngchính trị của quần chúng trong thành phố Đà Nẵng gấp rút chuẩn bị để sẵn sàngnổi dậy

Sáng ngày 28 tháng 3, cuộc tiến công Đà Nẵng bắt đầu với trận đột kíchmãnh liệt của pháo binh ta vào sân bay và quân cảng Đà Nẵng, sân bay NướcMặn và bán đảo Sơn Trà, triệt hẳn mọi con đường rút chạy của địch, đườngkhông cũng như đường biển

Bộ binh và xe tăng ta tiến công mạnh mẽ trên các hướng

Bộ binh cơ giới từ phía bắc tiến theo đường số 1, chiếm đèo Hải Vân,Liên Chiểu, nhanh chóng đánh ta các đơn vị lính thuỷ đánh bộ, tiến thẳng vàothành phố, thọc sâu vào bán đảo Sơn Trà

Binh đoàn phía nam vượt qua Bà Rén, Vĩnh Điện, đánh tan sư đoànnguỵ số 3, nhanh chóng tiến về phía nam thành phố, vào sân bay Nước Mặn,kết hợp với bộ đội địa phương đã tiến vào đây từ trước, với quần chúng nổidậy, tiêu diệt và làm tan rã quân địch ở khu vực này, rồi đánh thẳng ra bán đảoSơn Trà

Binh đoàn phía tây nam nhanh chóng đánh chiếm căn cứ Ái Nghĩa, thọcthẳng vào sân bay Đà Nẵng

Trang 40

Phối hợp với cuộc tiến công của Quân giải phóng, đông đảo quần chúng

và các lực lượng tự vệ, biệt động trong và ngoài thành phố Đà Nẵng đã nổi dậymạnh mẽ, dành quyền làm chủ ở nhiều khu vực, chống địch cướp phá, bảo vệtính mạng và tài sản của nhân dân, vận động quân nguỵ hạ vũ khí, giúp đỡ bộđội nhanh chóng cơ động vào thành phố, kêu gọi sĩ quan và binh lính địch rahàng

15h ngày 29 tháng 3, các binh đoàn của ta từ các hướng tiến công thầntốc vào Đà Nẵng, đã gặp nhau ở trung tâm thành phố

Trận tiến công và nổi dậy giải phóng Đà Nẵng đã kết thúc toàn thắng.Hơn 10 vạn quân địch trong đó có cơ quan bộ tư lệnh quân đoàn 1 nguỵ đã bịtiêu diệt và tan rã hoàn toàn Căn cứ quân sự liên hợp mạnh nhất của địch ởmiền Trung đã hoàn toàn bị đập tan trong một cuộc tiến công và nổi dậy thầntốc 32 giờ Ta thu toàn bộ vũ khí và phương tiện chiến tranh Tiếp theo thắnglợi Thừa Thiên – Huế và thắng lợi Tam Kỳ – Quảng Ngãi, trận đại thắng ĐàNẵng đã quét sạch hệ thống phòng thủ chiến lược mới của địch ở miền Trung,xoá bỏ quân khu 1 nguỵ Sau trận Đà Nẵng, toàn bộ hệ thống phòng thủ còn lạicủa địch ở quân khu 2 bị sụp đổ dồn dập Kế hoạch co cụm chiến lược phònggiữ vững vùng đồng bằng ven biển của địch vừa mới triển khai đã bị đập tan

Thắng lợi Đà Nẵng đã đẩy quân địch vào tình trạng tuyệt vọng Chúng bịsuy sụp lớn về tinh thần, tan rã lớn về tổ chức, tổn thất lớn về vật chất kỹ thuật,

bế tắc hoàn toàn về chiến lược, chiến thuật Thắng lợi Đà Nẵng làm cho bè lũNguyễn Văn Thiệu hết sức kinh hoàng, Lầu năm góc và Nhà trắng hết sức sửngsốt Chính các nhà chiến lược Mỹ phải thừa nhận: “cuộc tiến công của cộng sản

là đòn hiểm không có cách gì chống đỡ, không có phép gì hồi phục được cả vềquân sự, chính trị và kinh tế”

Trong thời gian này, phối hợp với trận Tây Nguyên và trận Huế - ĐàNẵng, quân và dân Bình Long tiến công và nổi dậy chiếm thị xã An Lộc, đánhchiếm chi khu quân sự, quận lỵ Chơn Thành, giải phóng toàn bộ tỉnh BìnhLong Quân và dân các tỉnh Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Long An, Long Khánh,

Ngày đăng: 11/09/2021, 22:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1."Quốc phòng toàn dân". NXB, Quân đội nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc phòng toàn dân
2. " Những trận đánh có ý nghĩa quyết định đến lịch sử dân tộc" NXB Quân đội nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những trận đánh có ý nghĩa quyết định đến lịch sử dân tộc
Nhà XB: NXBQuân đội nhân dân
3. Điện biên phủ. NXB. Quân dội nhân dân Khác
4. Đại thắng mùa xuân 1975. NXB, Quân đội nhân dân Khác
5. Bộ tổng hành dinh Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w