1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI PHẠM GIẾT NGƯỜI DO VƯỢT QUÁ GIỚI HẠN PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG

28 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 755,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI PHẠM GIẾT NGƯỜI DO VƯỢT QUÁ GIỚI HẠN PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNGPHẦN MỞ ĐẦU1.Tính cấp thiết của đề tài:42.Mục tiêu của đề tài:53.Đối tượng nghiên cứu:54.Phạm vi nghiên cứu:55.Phương pháp nghiên cứu:66.Bố cục bài tiểu luận:6CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TỘI PHẠM GIẾT NGƯỜI DO VƯỢT QUÁ GIỚI HẠN PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG71.1 Chế định phòng vệ chính đáng và vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng71.2 Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng111.2.1 Cấu thành tội phạm:111.2.2 Hình phạt:13CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN XÉT XỬ TỘI PHẠM GIẾT NGƯỜI DO VƯỢT QUÁ GIỚI HẠN PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG142.1 Áp dụng pháp luật hình sự trong xét xử tội danh giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng14Bản án 3602019HSPT ngày 13112019 về tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng và tội gây rối trật tự công cộng.2.2 Vướng mắc trong quá trình thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự…...15Bản án 052017HSPT ngày 07112017 về tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.Bản án 692017HSST ngày 17112017 về tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.CHƯƠNG III. KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT21KẾT LUẬN:………………….....………………………………………………………..23

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

Danh sách sinh viên thực hiện:

3 Trần Thị Anh Thư B20503DNA027

4 Nguyễn Ngọc Thùy Trang B20503DNA036

5 Nguyễn Thị Vương B20503DNA046

Trang 3

MÔN LUẬT HÌNH SỰ 2

Danh mục viết tắt:

Từ viết tắt Giải thích từ ngữ

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài: 4

2 Mục tiêu của đề tài: 5

3 Đối tượng nghiên cứu: 5

4 Phạm vi nghiên cứu: 5

5 Phương pháp nghiên cứu: 6

6 Bố cục bài tiểu luận: 6

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TỘI PHẠM GIẾT NGƯỜI DO VƯỢT QUÁ GIỚI HẠN PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG 7

1.1 Chế định phòng vệ chính đáng và vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng 7

1.2 Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng 11

1.2.1 Cấu thành tội phạm: 11

1.2.2 Hình phạt: 13

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN XÉT XỬ TỘI PHẠM GIẾT NGƯỜI DO VƯỢT QUÁ GIỚI HẠN PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG 14

2.1 Áp dụng pháp luật hình sự trong xét xử tội danh giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng 14

2.2 Vướng mắc trong quá trình thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự… 15

CHƯƠNG III KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 21

KẾT LUẬN:……… ……… 23

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Trong các văn kiện quốc tế và Hiến pháp Việt Nam thì quyền sống được hiến định với tư cách là một quyền con người cơ bản và quan trọng nhất: “Mọi người có quyền sống Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ Không ai bị tước đoạt trái luật” Do

đó mục tiêu bảo vệ quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người luôn được đặt lên hàng đầu đối với mọi dân tộc, mọi quốc gia, mọi thời kỳ và mọi chế độ Hiện nay, trước tình hình các vụ án giết người, cướp của xảy ra ngày càng nhiều và mức độ nguy hiểm ngày càng cao Không ít vụ án, nhiều bị cáo ban đầu chính là các nạn nhân, do có hành vi chống trả nhằm ngăn chặn sự tấn công, không may dẫn đến hậu quả chết người và bị truy cứu trách nhiệm hình sự Vậy trong những trường hợp đó có hành vi

tự vệ sẽ được coi là phòng vệ chính đáng, có trường hợp sẽ bị coi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

Về mặt lập pháp thì quyền phòng vệ chính đáng đã được ghi nhận rõ nét đặc biệt là

từ khi xuất hiện Bộ luật hình sự năm 1985 cho đến BLHS hiện hành năm 2015 (sửa đổi,

bổ sung 2017) thì những quy định này đã được chỉnh sửa để phù hợp hơn với thực tiễn và tạo điều kiện cho việc phát huy trên thực tế Bằng quy định này, pháp luật cho phép công dân được quyền chống trả lại các hành vi xâm hại các lợi ích của Nhà nước, tổ chức, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân

Về mặt lý luận, phòng vệ chính đáng luôn là vấn đề được nhiều người quan tâm do những cách hiểu và các quan điểm khác nhau đặt ra từ hoạt động lập pháp cũng như áp dụng pháp luật

Về mặt thực tiễn, phòng vệ chính đáng trên thực tế đã và đang phát huy những tác dụng tích cực Tuy nhiên vẫn còn có nhận thức chưa đúng khiến cho việc sử dụng quyền này từ phía người tự vệ lẫn việc áp dụng những quy định trong BLHS về quyền phòng vệ chính đáng này còn nhiều vấn đề gây tranh cãi trên thực tế, làm giảm hiệu quả của việc

bảo vệ quyền con người, lợi ích của xã hội

Trước những khó khăn vướng mắc trong việc áp dụng chế định phòng vệ chính đáng và vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng trong quá trình xét xử, cũng như sử dụng

Trang 6

quyền phòng vệ trên thực tế chưa đúng đắn dẫn đến hậu quả chết người đã khiến cho ranh giới từ nạn nhân trở thành bị cáo quá mong manh Chính vì những lý do trên nên chúng

tôi đã chọn đề tài “Áp dụng pháp luật hình sự đối với tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng”

2 Mục tiêu của đề tài:

Mục tiêu là phân tích những quy định của pháp luật về tội phạm giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng Sau đó áp dụng những quy định trên để đưa ra những đánh giá, làm rõ việc áp dụng pháp luật hình sự trong các vụ án đã được xét xử trong thực tiễn với tội danh giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

Để đạt được những mục tiêu trên thì bài nghiên cứu tập trung phân tích các vấn đề sau:

- Phân biệt chế định phòng vệ chính đáng và vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

- Phân tích những quy định của BLHS Việt Nam và các văn bản pháp lý liên quan về tội phạm giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

- Phân tích cấu thành tội phạm của tội danh giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng tại Điều 126 của BLHS 2015

- Phân tích một số vụ án trong thực tiễn đã được xét xử về tội danh giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng từ đó có đưa ra đánh giá về những khó khăn, vướng mắc trong việc xét xử tội phạm này trong thực tiễn, cũng như đưa ra đề xuất, giải pháp khắc phục những khó khăn đó

3 Đối tượng nghiên cứu:

Với tên đề tài là “Áp dụng pháp luật hình sự đối với tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” thì đối tượng nghiên cứu là BLHS Việt Nam, các văn bản pháp lý

liên quan và các bản án đã được xét xử trên thực tế về tội danh giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

4 Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu một cách tương đối có hệ thống về lý luận và thực tiễn trong việc xét xử tội phạm giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng theo BLHS Việt Nam

- Phạm vi về chủ thể tiến hành: Tòa án nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện Các chủ thể khác

sẽ được đề cập đến khi có liên quan

Trang 7

- Phạm vi về địa bàn: Những quy định của pháp luật và thực tiễn xét xử trên lãnh thổ Việt Nam;

- Thời gian nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu thực tiễn áp dụng từ 2015 cho đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp phân tích câu chữ để tìm hiểu, làm rõ ý chí của người làm luật, phát hiện các quy phạm pháp luật mà người làm luật muốn xây dựng và được thể hiện trong văn bản

- Phương pháp quy nạp và diễn dịch

- Phương pháp thống kê so sánh

- Phương pháp nghiên cứu án điển hình

6 Bố cục bài tiểu luận:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dụng chính bài tiểu luận được chia làm 3 chương:

Chương I: Tổng quan về tội phạm giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng Chương II: Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật hình sự trong xét xử tội phạm giết

người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

Chương III: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Trang 8

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TỘI PHẠM GIẾT NGƯỜI DO VƯỢT QUÁ

GIỚI HẠN PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG

Tội phạm giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng được hiểu là hành vi phòng vệ quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại lợi ích của nhà nước, của tổ chức, lợi ích chính đáng của mình hay của người khác dẫn đến gây thiệt hại về tính mạng của người có hành vi xâm hại

Để phân biệt được tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng và xác định các dấu hiệu của tội phạm này nhất thiết phải căn cứ vào chế định phòng vệ chính đáng Bởi lẽ, không có phòng vệ chính đáng thì không có vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng Như vậy, dấu hiệu quan trọng nhất của tội phạm này là “Sự vượt quá giới hạn được coi là chính đáng”

- Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm

- Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có văn bản nào hướng dẫn cụ thể ngoài Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 05/01/1986 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn

áp dụng một số quy định của BLHS 1985 và chỉ thị số 07 ngày 22-12-1983 về việc xét xử các hành vi xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc trong khi thi hành công vụ Mặc dù các văn bản này hiện nay

đã hết hiệu lực, nhưng vẫn có tính chất tham khảo khi áp dụng chế định phòng vệ chính đáng trong thực tiễn Cụ thể, hành vi xâm hại tính mạng hoặc sức khỏe của người khác được coi là phòng vệ chính đáng khi có đủ các điều kiện sau đây:

Trang 9

- Thứ nhất, hành vi xâm hại những lợi ích cần phải bảo vệ là hành vi phạm tội hoặc rõ ràng là có tính chất nguy hiểm cho xã hội

Nếu hành vi xâm hại chỉ có tính chất nhỏ nhặt, tức là tính nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, không phải là phạm tội (như trộm cấp vặt, xô đẩy, đấm đá nhẹ…) thì việc phòng vệ bằng cách gây thiệt hại đến tính mạng hoặc sức khỏe của người xâm hại không được coi là phòng vệ chính đáng, mà là hành vi phạm tội theo các tội danh khác nhau, tùy từng trường hợp cụ thể

- Thứ hai, hành vi nguy hiểm cho xã hội đang gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại thực sự và ngay tức khắc cho những lợi ích cần phải bảo vệ

Nạn nhân phải là người đang có hành vi xâm hại đến các lợi ích của của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức Hành vi xâm hại này là hành vi đang diễn ra, có nghĩa là đã bắt đầu và chưa kết thúc Khi đó hành vi chống trả lại mới được xem là phòng vệ chính đáng Ngược lại, nếu hành vi này chưa diễn ra mà chỉ là một lời nói đe dọa hoặc hành vi đã diễn ra và kết thúc thì khi đó hành vi chống trả sẽ không được xem là phòng vệ chính đáng

Ví dụ: A và B mâu thuẫn, A cầm dao tới tấn công, đâm B thì khi đó B có quyền có

hành vi chống trả lại để bảo vệ bản thân, đây được xem là phòng vệ chính đáng Tuy nhiên, nếu A chỉ nói đe dọa là sẽ giết B, không có hành vi cụ thể nào khác mà B đã dùng cầm dao đuổi chém A thì lúc đó hành vi của B không được xem là phòng vệ Hoặc khi A cầm dao đuổi chém B, nhưng B đã nhanh chóng chạy thoát và A không đuổi theo nữa, thấy vậy B đã nhặt được khúc cây và đập vào đầu A, như vậy hành vi của B ở trường hợp này cũng không được xem là phòng vệ chính đáng

Hành vi xâm hại phải là hành vi trái pháp luật, nếu hành vi xâm hại lại là hành vi

mà pháp luật cho phép thì người bị xâm hại không có quyền chống trả để phòng vệ

Ví dụ: Cảnh sát đang đuổi bắt một tên tội phạm buôn bán ma túy, cảnh sát đã bắn

chỉ thiên để yêu cầu hắn đứng lại, nhưng hắn vẫn bỏ chạy Do đó cảnh sát đã bắn vào chân tên tội phạm để bắt hắn Khi cảnh sát đến gần hắn bất ngờ rút dao đâm vị cảnh sát trên Hành vi của tên tội phạm này không được coi là hành vi phòng vệ, vì hành vi của người cảnh sát được pháp luật cho phép

Trang 10

- Thứ ba, phòng vệ chính đáng không chỉ gạt bỏ sự đe dọa, đẩy lùi sự tấn công, mà còn có thể tích cực chống lại sự xâm hại, gây thiệt hại cho chính người xâm hại

Ví dụ: A cầm gậy đánh B, B tránh được rồi đâm A ngã gục

Vì vậy, nếu một người dù có khả năng bỏ chạy hoặc kêu cứu mà vẫn gây thiệt hại cho người xâm hại để phòng vệ, thì hành động của họ vẫn được coi là phòng vệ chính đáng

Nếu trong khi phòng vệ mà gây thiệt hại, không phải là cho người xâm hại, mà cho người thứ ba, thì hành vi gây thiệt hại không được coi là phòng vệ chính đáng, mà tùy theo tình tiết của sự việc cấu thành tội giết người, tội cố ý gây thương tích nặng, gây tổn hại cho sức khỏe người khác…, theo quy định chung của pháp luật và có thể có tình tiết giảm nhẹ nhất định Ví dụ: vì bị A đánh, B vừa tránh vừa chém lại A, nhưng không may lại chém nhầm phải C là người vừa vào để can ngăn

Hành vi vô ý gây thiệt hại cho người xâm hại không phải là phòng vệ chính đáng,

mà có thể là hành vi phạm tội thông thường vô ý Ví dụ: Khi giằng co để không cho người say rượu đánh mình, người cầm súng đã vô ý để súng nổ làm chết người say rượu Hành vi phòng vệ bằng cách cố ý gây thương tích, nhưng dẫn đến hậu quả chết người (ngoài sự mong muốn của người gây thương tích), cũng được coi là có tính chất phòng vệ

- Thứ tư, hành vi phòng vệ phải tương xứng với hành vi xâm hại, tức là không có

sự chênh lệch quá đáng giữa hành vi phòng vệ với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại

Hành vi chống trả ở đây phải là cần thiết Cần thiết là sự thể hiện tính không thể không chống trả, không thể bỏ qua trước một hành vi xâm phạm đến các lợi của xã hội Hành vi chống trả phải là biện pháp “cần thiết” để ngăn chặn và đẩy lùi hành vi tấn công Điều này có nghĩa: trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, người phòng vệ trên cơ sở tự đánh giá tính chất của quan hệ xã hội bị xâm hại, tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi tấn công và những yếu tố khác để quyết định biện pháp chống trả mà người đó cho là

“cần thiết” nhằm ngăn chặn và đẩy lùi hành vi xâm hại đến các khách thể được Luật Hình

sự bảo vệ Khi đánh giá một hành vi chống trả có cần thiết hay không còn phải căn cứ vào nhiều yếu tố khác như: mối tương quan lực lượng giữa bên xâm phạm và bên phòng

vệ, thời gian, không gian xảy ra sự việc Khi đã xác định hành vi chống trả là cần thiết thì

Trang 11

thiệt hại gây ra cho người có hành vi xâm phạm dù có lớn hơn thiệt hại mà người có hành

vi xâm phạm gây ra cho người phòng vệ vẫn được coi là phòng vệ chính đáng

Hành vi phòng vệ tương xứng với hành vi xâm hại không có nghĩa là thiệt hại do người phòng vệ gây ra cho người xâm hại phải ngang bằng hoặc nhỏ hơn thiệt hại do người xâm hại đe dọa gây ra hoặc đã gây ra cho người phòng vệ

Ví dụ: Ông A 70 tuổi đang ngủ ở nhà một mình vào ban đêm thì nghe có tiếng hai

người thanh niên lẽn vào nhà mình để trộm đồ, khi biết ông A phát hiện thì hai tên này xông vào đánh ông Sau đó ông A đã chạy vào bếp lấy con dao đe dọa hai tên này nếu còn tấn công thì ông sẽ đâm chúng Tuy nhiên hai tên này vẫn xông vào đánh ông, khi đó ông A đã cầm dao đâm một tên ngã gục

Xét trong hoàn cảnh này xét về tương quan ông A là người già 70 sức khỏe chắc chắn sẽ không bằng hai tên thanh niên, khi bị tấn công ông dùng dao đe dọa trước nhằm ngăn sự tấn công của bọn chúng nhưng chúng vẫn tiếp tục đánh ông Do đó trong trường hợp này việc ông dùng dao đâm một tên ngã gục vẫn được xem là hành vi chống trả tương xứng, hợp pháp

Để xem xét hành vi chống trả có tương xứng hay không, có rõ ràng là quá đáng hay không, thì phải xem xét toàn diện những tình tiết có liên quan đến hành vi xâm hại và hành vi phòng vệ như: khách thể cần bảo vệ (Thí dụ: bảo vệ địa điểm thuộc bí mật quốc gia, bảo vệ tính mạng); mức độ thiệt hại do hành vi xâm hại có thể gây ra hoặc đã gây ra

và do hành vi phòng vệ gây ra; vũ khí, phương tiện, phương pháp mà hai bên đã sử dụng; nhân thân của người xâm hại (nam, nữ; tuổi; người xâm hại là côn đồ, lưu manh…); cường độ của sự tấn công và của sự phòng vệ; hoàn cảnh và nơi xảy ra sự việc (nơi vắng người, nơi đông người, đêm khuya),… Đồng thời cũng cần phải chú ý đến yếu tố tâm lý của người phải phòng vệ có khi không thể có điều kiện để bình tĩnh lựa chọn được chính xác phương pháp, phương tiện chống trả thích hợp, nhất là trong trường hợp họ bị tấn công bất ngờ

Sau khi đã xem xét một cách đầy đủ, khách quan tất cả các mặt nói trên mà nhận thấy rõ ràng là trong hoàn cảnh sự việc xảy ra, người phòng vệ đã sử dụng những phương tiện, phương pháp rõ ràng quá đáng và gây thiệt hại rõ ràng quá mức như: gây thương tích nặng, làm chết người đối với người có hành vi xâm hại thì coi hành vi chống trả là

Trang 12

không tương xứng và là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng Ngược lại, nếu hành vi chống trả là tương xứng thì đó là phòng vệ chính đáng

Ví dụ: Anh A đang chạy xe trên đường thì bị thanh niên B chặn xe lại và lao vào

đánh đấm A tới tấp nhằm cướp xe Sau đó A đã chống trả bằng cách dùng nón bảo hiểm đánh liên tiếp vào đầu B làm B tử vong sau đó Lúc này hành vi của A không tương xứng với mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại gây ra, do đó hành vi này là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

Việc đánh giá một hành vi chống trả lại sự xâm hại là phòng vệ chính đáng hay vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là rất phức tạp trong các vụ án cụ thể vì không có một công thức nào đúng cho mọi trường hợp Vì vậy, tùy theo từng trường hợp các cơ quan có thẩm quyền đánh giá hành vi là phòng vệ chính đáng hay vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng dựa trên tính chất, mức độ; mục đích của hành vi gây thiệt hại và hành vi phòng vệ

Đối với các hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật Theo Điều 51 BLHS năm 2015 thì phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình

sự Vấn đề truy cứu trách nhiệm hình sự với người vượt quá giới hạn của phòng vệ chính đáng vẫn có thể được giảm nhẹ khi căn cứ vào lỗi của nạn nhân; mục đích của hành vi chống trả chỉ nhằm phòng vệ; người vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng không còn

thời gian để lựa chọn cách giải quyết khác

1.2 Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

1.2.1 Cấu thành tội phạm:

Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng được quy định tại Điều

126 BLHS năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là trường hợp giảm nhẹ đặc biệt của tội giết người Vì vậy ngoài những dấu hiệu pháp lý của tội giết người, cấu thành các tội phạm quy định tại Điều 126 còn quy định tình tiết vượt quá giới hạn phòng

vệ chính đáng khi bắt giữ người phạm tội CTtội phạm của tội danh này cụ thể như sau:

 Khách thể:

Trang 13

Xâm phạm đến quyền sống của con người, là quyền cơ bản và quan trọng nhất,

được pháp luật bảo vệ tại Điều 19 của Hiến pháp 2013: “Mọi người có quyền sống Tính

mạng con người được pháp luật bảo hộ không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật”

Đối tượng tác động của tội phạm là thân thể của người đang có hành vi đến quyền

và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức, của chính người phạm tội hoặc

của người khác

 Mặt khách quan của tội phạm:

Thứ nhất: Nạn nhân là người có hành vi trái pháp luật xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức, của chính người phạm tội hoặc của người

khác

Thứ hai: Tại thời điểm xảy ra sự việc hành vi xâm hại đó đang diễn ra và đang trực tiếp gây thiệt hại hoặc đang đe dọa gây thiệt hại thực sự và ngay tức khắc cho những lợi ích hợp pháp cần bảo vệ Đây cũng là cơ sở để phát sinh quyền phòng vệ chính đáng Thứ ba: Người phạm tội có hành vi trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của nạn nhân nhằm triệt tiêu hành vi xâm hại Người phạm tội sử dụng sức mạnh vật chất có hoặc không có sự hỗ trợ của công cụ, phương tiện tác động lên nạn nhân thông qua các hành vi bắn, đâm, chém, đấm đá Tuy nhiên, hành vi chống trả này là quá mức cần thiết, không tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi tấn công

Thứ tư: Động cơ, mục đích là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm Hành vi chống trả, xâm hại đến tính mạng nạn nhân nhằm mục đích ngăn chặn hành vi xâm hại của nạn nhân để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức, của chính người phạm tội hoặc của người khác

Hậu quả của tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phạm là gây chết người tội phạm hoàn thành khi hậu quả chết người xảy ra

Khi xác định tội phạm cần xem xét mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả: hành vi phòng vệ vượt quá giới hạn chính đáng là nguyên nhân dẫn đến cái chết của nạn nhân

Trường hợp hành vi trái pháp luật của nạn nhân là quá nhỏ, không có sự nguy hiểm đáng kể, người phạm tội vì tư thù cá nhân trước đây, lấy cớ phòng vệ mà xâm hại đến

Trang 14

tính mạng của nạn nhân thì khi đó sẽ được xem là phạm tội “Giết người”, chứ không còn

là “Giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng”

 Mặt chủ quan của tội phạm:

Về lí trí, khi thực hiện hành vi chống trả lại hành vi xâm hại thì người này có thể nhận thức được mức độ nguy hiểm do hành vi của mình gây ra có thể xâm hại đến sức khỏe, tính mạng của người có hành vi xâm hại

Về ý chí, mặc dù đã nhận thức được tính chất nguy hiểm, có thể thấy trước hậu quả

do hành vi của mình gây ra, nhưng người này vẫn để mặc hậu quả xảy ra nhằm mục đích ngăn chặn, làm chấm dứt hành vi xâm hại để bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức

Do đó, tội phạm này được thực hiện với lỗi cố ý gián tiếp

 Chủ thể của tội phạm: Người từ đủ 16 tuổi trở lên và có đầy đủ năng lực

trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm

cho xã hội, xâm hại đến quyền được bảo vệ về sức khỏe, tính mạng của người khác

1.2.2 Hình phạt:

Theo Điều 126 BLHS 2015 có quy định:

- Tại Khoản 1 (cấu thành cơ bản): Người nào giết người trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù

từ 03 tháng đến 02 năm

- Tại Khoản 2 (Cấu thành tăng nặng): Phạm tội đối với 02 người trở nên, thì bị phạt tù từ 2 năm đến 05 năm

Tóm lại: Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng có mức hình

phạt thấp hơn tội giết người, bởi ở đây đã có sự xem xét đến yếu tố lỗi của nạn nhân, đó

là hành vi tấn công, sự xâm hại lợi ích của Nhà nước, tổ chức, cá nhân và người phạm tội

có hành vi chống trả nhưng vượt quà mức cần thiết, không phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi tấn công

Ngày đăng: 11/09/2021, 21:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w