Vua Trần Nhân Tông đã sống một cuộc đời oanh liệt, có những đóng góp vô cùng to lớn và thiết thực do dân tộc Việt Nam và Phật giáo.Vậy thì ,vì sao Trần Nhân Tông lại có những tư tưởng đó
Trang 1Hà Nội, 2019
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN
KHOA TRIẾT HỌC -
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN
KHOA TRIẾT HỌC -
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan tất cả nội dung trong khóa luận với đề tài “Những quan điểm cơ bản của Trần Nhân tông về chính trị, quân sự, ngoại giao, văn hóa và giáo dục” là công trình nghiên cứu cá nhân tôi và dưới sự hướng
dẫn của PGS.TS Nguyễn Thanh Bình Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong khóa luận này là trung thực, không sao chép từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào Các nguồn tài liệu tham khảo đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định, nếu phát hiện ra có
sự gian lận tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước hội đồng và kết quả của
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm cụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Cở sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 2
5 Ý nghĩa khóa luận 3
6 Kết cấu của đề tài 3
NỘI DUNG 4
Chương 1: ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ CHO SỰ HÌNH THÀNH NHỮNG QUAN ĐIỂM CỦA TRẦN NHÂN TÔNG VỀ CHÍNH TRỊ, QUÂN SỰ, NGOẠI GIAO, VĂN HÓA VÀ GIÁO DỤC 4
1.1 Điều kiện lịch sử, chính trị, xã hội Việt Nam cho sự hình thành những quan điểm của Trần Nhân Tông về chính trị, quân sự, ngoại giao, vắn hóa và giáo dục 4
1.2 Tiền đề lý luận cho sự hình thành những quan điểm của Trần Nhân Tông về chính trị, quân sự, ngoại giao, văn hóa và giáo dục 10
1.3 Trần Nhân Tông – cuộc đời và sự nghiệp 18
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TRẦN NHÂN TÔNG VỀ CHÍNH TRỊ, QUÂN SỰ, NGOẠI GIAO, VĂN HÓA VÀ GIÁO DỤC 25
2.1 Quan điểm của Trần Nhân tông về chính trị, quân sự và ngoại giao 2.1.1 Quan điểm của Trần Nhân Tông về chính trị 25
2.1.2 Quan điểm của Trần Nhân Tông về quân sự 35
Trang 52.1.3 Quan điểm của Trần Nhân Tông về ngoại giao 38
2.2 Quan điểm của Trần Nhân Tông về giáo dục và văn hóa 45
2.2.1 Quan điểm của Trần Nhân Tông về giáo dục 45
2.2.2 Quan điểm của Trần Nhân Tông về văn hóa 47
2.3 Những giá trị nổi bật trong các quan điểm của Trần Nhân Tông về chính trị, quân sự, ngoại giao,văn hóa và giáo dục 52
KẾT LUẬN 59
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Vương triều Trần rực rỡ để lại những giá trị đặc biệt có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của đất nước: Một triều đại vừa sinh Phật, vừa sinh Thánh Cả Phật và Thánh nhà Trần cho đến tận ngày hôm nay, sau gần một thiên niên kỷ bão táp, vẫn giữ một vị trí sừng sững trong tâm thức dân tộc
Cùng với thời gian, những tư tưởng của vị Hoàng đế thứ 3 của triều đại nhà Trần - Trần Nhân Tông để lại càng có giá trị với tầm vóc vượt thời gian Ngay từ thế kỷ XIII, trí tuệ và tư tưởng Trần Nhân Tông đã đạt tới đỉnh cao, đặc biệt là những tư tưởng của ông về chính trị, quân sự, văn hóa, giáo dục Trần Nhân Tông là ông vua minh triết trong lãnh đạo, dũng cảm, kiên quyết trong đánh giặc và ân tình trong việc trị dân, trị nước, và sâu sắc trong tu hành Với tình thương và tâm từ bi rộng lớn, tấm lòng yêu nước và thương dân kết hợp với khuynh hướng chính trị nhạy bén của Trần Nhân Tông, Trần Nhân Tông đã tiếp tục biên khảo bộ Hình luật, chú trọng nhiều hơn đến đời sống của thần dân Đại Việt thời ông trị vì Hội nghị Diên Hồng và hội nghị Bình Than dưới sự dẫn dắt của Trần Thánh tông và Trần Nhân tông đã nói lên điều đó Đối diện với vận mệnh của đất nước đang lâm nguy trước giặc ngoại xâm, ông đã kêu gọi tiếng nói và sự đồng lòng của vua tôi, quần thần
và nhân dân trong việc bảo vệ đất nước
Vua Trần Nhân Tông đã sống một cuộc đời oanh liệt, có những đóng góp vô cùng to lớn và thiết thực do dân tộc Việt Nam và Phật giáo.Vậy thì ,vì sao Trần Nhân Tông lại có những tư tưởng đó, những tư tưởng tiến bộ của ông về chính trị, quân sự, ngoại giao, văn háo, giáo dục là gì? Ngày nay, những tác phẩm của Trần Nhân Tông do Thánh đăng ngữ lục ghi lại như
Thiền Lâm thiết chủy ngữ lục, Thiền lâm thiết chủy hậu lục, Đại hương ải ấn thi tập, Tăng già toát sự và Thạch thất mị ngữ hoàn toàn đã thất tán Những
gì còn lại chỉ gồm một số bài thơ ,văn và ngữ lục được ghi chép rải rác Cho
Trang 7nên, việc nghiên cứu tư tưởng của của Trần Nhân Tông không hề dễ dàng Tuy nhiên, căn cứ vào những gì hiện hữu về vua Trần Nhân Tông còn lưu lại, tôi xin phép được phác họa sơ qua một số quan điểm cơ bản của Trần Nhân Tông trong vấn đề chính trị, quân sự, ngoại giao văn hóa và giáo dục
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Từ việc phân tích một số quan điểm cơ bản của Trần Nhân
Tông về chính trị, quân sự, ngoại giao,văn hóa và giáo dục từ đó, khóa luận chỉ ra những giá trị nổi bật của các quan điểm của Trần Nhân Tông về vấn đề chính trị, quân sự, ngoại giao, văn hóa và giáo dục
Nhiệm vụ: Để hoàn thành mục đích trên, khóa luận có nhiệm vụ làm
-Những giá trị nổi bật của các quan điểm của Trần Nhân Tông về chính
trị, quân sự, ngoại giao, văn hóa và giáo dục
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Các quan điểm cơ bản của Trần Nhân Tông về chính trị,
quân sự, ngoại giao, văn hóa và giáo dục
Phạm vi: Một số tác phẩm của Trần Nhân Tông và các bộ quốc sử đề
cập đến con người và sự nghiệp của Trần Nhân Tông
4 Cở sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận dựa trên sơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về xã hội và con người
Trang 8Khóa luận áp dụng phương pháp biện chứng, duy vật lịch sử trong triết học Mác – Lênin Ngoài ra khóa luận còn vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học khác như: phân tích ,tổng hợp, so sánh…
5 Ý nghĩa khóa luận
Khóa luận góp một phần vào việc nghiên cứu về các quan điểm của Trần Nhân Tông về chính trị, quân sự, ngoại giao, văn hóa và giáo dục, để trên cơ sở đó thấy được những giá trị nổi bật
Khóa luận có thể làm tài liệu để nghiên cứu và học tập lịch sử tư tưởng Việt Nam
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận gồm 2 chương 6 tiết
Trang 9NỘI DUNG Chương 1: ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ CHO SỰ HÌNH THÀNH NHỮNG QUAN ĐIỂM CỦA TRẦN NHÂN TÔNG VỀ CHÍNH TRỊ, QUÂN SỰ, NGOẠI GIAO, VĂN HÓA VÀ GIÁO DỤC
1.1.Điều kiện lịch sử, chính trị, xã hội Việt Nam cho sự hình thành những quan điểm của Trần Nhân Tông về chính trị, quân sự, ngoại giao, văn hóa và giáo dục
Để nghiên cứu tư tưởng về chính trị, quân sự, ngoại giao, văn hóa, giáo dục của Trần Nhân Tông trước tiên chúng ta cần tìm hiểu điều kiện lịch sử xã hội và những tiền đề lý luận hình thành tư tưởng của ông Giống như C.Mác
đã nói “Các triết gia không mọc lên như nấm từ trái đất, họ là sản phẩm của thời đại mình, của dân tộc mình, mà dòng sữa tinh tế nhất, quý giá và vô hình
được tập trung lại trong tư tưởng triết học” [1, tr.156]
Từ cuối thế kỷ XII khi nhà Lý ngày càng suy yếu, triều đình lục đục, vua quan ngày đêm chỉ lo ăn chơi sa đọa không màng đến đời sống của người dân cực khổ, khó khăn, sản xuất đình trệ, mất mùa đói kém xảy ra liên miên, nhân dân khắp nơi cùng nhau nổi lên chống lại triều đình, xã hội ngày càng loạn lạc, các thế lực trong nước mất đoàn kết, đánh giết lẫn nhau…Không lâu sau đó, tháng 12 năm Ất Dậu (1226) công chúa Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh, nhà Lý nhường ngai vàng cho
nhà Trần, nhà Trần được thành lập từ đó
Về tổ chức hành chính và bộ máy quan lại, thời Trần tổ chức hành chính và bộ máy quan lại nhìn chung hoàn thiện hơn so với thời Lý Sau khi giành được chính quyền, nhà Trần đã phân chia lại Đại Việt thành 12 lộ thay
vì 24 lộ như ở thời Lý Bộ máy hành chính được củng cố theo hướng tăng tính tập quyền quan liêu Các quan được cấp lương bổng theo ngạch, bậc; cứ
10 năm thăng tước một cấp, 15 thăng tước một bậc
Trang 10Về quốc phòng an ninh, nhà Trần một mặt, nhanh chóng ổn định tình hình chính trị, xã hội, xây dựng chính quyền mới; mặt khác, tổ chức lại quân đội, củng cố quốc phòng Quân đội nhà Trần gồm có cấm quân và quân ở các
lộ Cấm quân là đạo quân bảo vệ kinh thành, triều đình, nhà vua Ở các làng
xã, có hương binh Khi có chiến tranh, còn có quân đội của các vương hầu Quân đội nhà Trần được tuyển dụng theo chính sách "ngụ binh ư nông" và theo chủ trương : "Quân lính cốt tinh nhuệ, không cốt đông”, xây dựng tinh thần đoàn kết trong quân đội Quân đội nhà Trần được học tập binh pháp và luyện tập võ nghệ thường xuyên Nhà Trần còn cử nhiều tướng giỏi cầm quân đóng giữ các vị trí hiểm yếu, nhất là vùng biên giới phía bắc Vua Trần
thường đi tuần tra việc phòng bị ở các nơi này
Về pháp luật, năm 1230, Trần Thái Tông ban hành bộ Quốc triều hình luật Cơ quan pháp luật nhà Trần được tăng cường hoàn thiện hơn Trong triều có thẩm hình viện chuyên xét xử việc hình ngục Cuối thế kỷ XIII, nhà Trần lập ra Viện đăng văn kiểm pháp, lấy các đại thần phụ trách Việc tuyển chọn các quan làm chức vụ này có tiêu chuẩn thanh liêm, thẳng thắn Các tầng lớp đại quý tộc như Vua và hoàng gia được pháp luật bảo hộ đặc biệt, xã hội còn chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của Phật giáo, chú trọng đến việc bảo vệ sản xuất nông nghiệp, ban hành các luật về đất đai, chuyển nhượng vật nuôi trong nông nghiệp như trâu bò, coi việc xây dựng, bảo vệ đê điều là việc làm
của toàn nhà nước và nhân dân
Về ngoại giao, dưới triều Trần các vua đã tiến hành ngoại giao kiên quyết và cứng rắn để bảo vệ độc lập chủ quyền dân tộc Sau chiến thắng quân Mông Cổ lần 1 (1258), công việc ngoại giao được tiến hành qua những biện pháp làm sáng tỏ uy lực của mình:
Các vua thời Trần đã cử sứ bộ là tướng vừa thắng Mông Cổ sang chầu
và lệnh cho sứ bộ khi sang chầu không kê khai số dân, quân dịch, cống nạp
và phải chống việc đòi nước ta phải theo nghi lễ Mông Cổ
Trang 11Trong hai lần kháng chiến chống quân Nguyên sau đó (1285 và 1288), nhà Trần đã thi hành chính sách ngoại giao vừa kiên quyết vừa mềm dẻo để kiềm chân quân xâm lược Nguyên Mông, nêu cao chính nghĩa của nhân dân
ta
Sau chiến thắng, triều Trần tiếp tục đấu tranh ngoại giao làm tan rã ý chí xâm lược của kẻ thù, vừa tố cáo tội ác xâm lược, chỉ trả nhà Nguyên
những tù binh ít nguy hiểm đối với đất nước
Triều Trần đã lợi dụng lúc địch gặp khó khăn, lúng túng, vận dụng sách lược ngoại giao uyển chuyển, linh hoạt “khi cương, khi nhu” vì vậy địch phải chấp nhận hòa hoãn, thậm chí cam kết không xâm phạm lãnh thổ và
danh dự nước ta
Các vua Trần đã biết dựa vào sức mạnh đoàn kết của dân tộc và chính nghĩa, tìm hiểu kỹ về âm mưu của kẻ địch, linh hoạt trong việc áp dụng các chính sách ngoại giao Khi thì kìm chân địch bằng ngoại giao, lúc tiến công ngoại giao tiếp theo chiến thắng quân sự để làm lung lay tiến tới làm tan rã ý
chí xâm lược của địch như sau lần thắng Nguyên - Mông lần thứ ba
Nền kinh tế đất nước thời nhà Trần, về mặt nông nghiệp: để tránh nạn ngập lụt, vua Trần Thái Tông sai đắp đê hai bên bờ sông và cử quan đặc trách trông coi việc đê gọi là “Hà đê sứ” Mỗi năm sau vụ mùa, triều đình còn ra lệnh cho quân sĩ đắp đê hay đào lạch, hào, giúp đỡ dân chúng Triều đình cũng cho phép các vương, hầu có quyền chiêu tập những người nghèo khó, lưu lạc đi khai khẩn đất hoang để mở mang thêm ruộng nương Về mặt thuế má: Có 2 loại thuế là thuế thân và thuế điền Thuế thân được đóng bằng tiền và ít nhiều tùy theo số ruộng có Ai có dưới một mẫu ruộng thì được miễn thuế Thuế điền thì đóng bằng thóc Ngoài ra còn có thuế trầu cau, rau quả, tôm cá v.v Về mặt tiền tệ, để tiện việc tiêu dùng - vàng, bạc được đúc
thành phân, lượng và có hiệu của nhà vua
Trang 12Nhìn chung, lịch sử phát triển của đất nước ở triều Trần có thể chia ba thời kỳ: thời thứ nhất từ Thái Tông đến Nhân Tông là thời xây dựng và chống Mông - Nguyên, thời thứ hai từ Anh Tông đến Hiến Tông (có Thượng hoàng Minh Tông) là thời kế tục, thời thứ ba từ Dụ Tông (sau khi Thượng
hoàng Minh Tông mất) tới khi kết thúc là thời suy tàn
Các vua Trần thời hậu kỳ, kể cả Minh Tông, đều không biết chiêu mộ nhân tài; lực lượng quan lại đều kém tài Nếu thế hệ trước thắng Mông Nguyên khổng lồ một cách oai hùng bao nhiêu thì đời con cháu phải chạy trốn một Chiêm Thành nhỏ bé, từng núp bóng mình trong chiến tranh chống Mông - Nguyên xưa kia, một cách thảm hại bấy nhiêu Đến khi bị Chiêm Thành xâm lấn, không hề có một gương mặt nào của dòng họ Trần đứng ra chống được giặc mà phải dựa vào một tướng ngoài hoàng tộc (Trần Khát Chân vốn mang họ Lê) Nếu trong tông thất nhà Trần thời kỳ sau có những nhân tài như giai đoạn đầu thì dù Quý Ly có manh tâm cũng không thể tính chuyện cướp ngôi Nhà Trần trượt dốc từ Trần Dụ Tông, sau sự kiện Dương Nhật Lễ và cái chết của Duệ Tông đã không gượng dậy được nữa Đó chính
là thời cơ cho Hồ Quý Ly làm việc chuyên quyền và chiếm lấy ngôi nhà
Trần
Dù sao, nhà Trần vẫn là một trong những triều đại nổi bật nhất trong lịch sử Việt Nam Trang sử về nhà Trần trong sử sách nằm trong số những
trang sáng nhất và để lại nhiều bài học cho đời sau
Về văn hóa nghệ thuật, nhà Trần đã đào tạo được khá nhiều học giả nổi
tiếng như Lê Văn Hưu soạn bộ Đại Việt sử ký và đây cũng là sách bộ sử đầu
tiên của Việt Nam Mạc Đĩnh Chi nổi tiếng là một ông trạng rất mực thanh liêm, đức độ và có tài ứng đối đã làm cho vua quan nhà Nguyên phải kính phục Chu Văn An là một bậc cao hiền nêu gương thanh khiết, một thầy giáo mẫu mực, tiêu biếu cho tính cương trực Các vua Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông, Anh Tông, Minh Tông đều là những người giỏi văn chương và
Trang 13có soạn “Ngự tập” và danh tướng Trần Quốc Tuấn có làm những tác phẩm giá trị như Hịch tướng sĩ
Hàn Thuyên tức Nguyễn Thuyên có công làm thơ bằng chữ Nôm và đặt ra luật thơ Nôm Vì thế đã có nhiều học giả, văn nhân đã theo gương của
Hàn Thuyên mà làm những bài thơ Nôm rất giá trị Đại Việt sử ký toàn thư
chép: “Bấy giờ (năm 1282) có cá sấu đến sông Lô Vua sai hình bộ thượng thư Nguyễn Thuyên làm bài văn ném xuống sông, cá sấu bỏ đi Vua cho việc này giống như việc của Hàn Dũ, bèn ban gọi là Hàn Thuyên Thuyên lại giỏi làm thơ phú quốc ngữ Thơ phú nước ta dùng nhiều quốc ngữ, thực bắt đầu
từ đấy” [9, tr.301]
Nghệ thuật điêu khắc thời Trần được đánh giá là có bước tiến bộ, tinh xảo hơn so với thời Lý, trong đó có một số phù điêu khắc hình nhạc công biểu diễn mang phong cách Chiêm Thành Cách trang trí hoa dựa trên nghệ
thuật dân dụng
Âm nhạc Đại Việt thời Trần chịu ảnh hưởng của Ấn Độ, Chiêm Thành
và Trung Quốc Một số nhạc công bị bắt từ Chiêm Thành và Trung Quốc trong các cuộc chiến đã truyền nghề ca hát cho dân Đại Việt, càng ngày càng
phổ biến
Về giáo dục, thời nhà Trần, văn học rất được mở mang, Nho học cũng phát triển hơn so với thời Lý Ngoài Quốc tử giám có tại kinh đô từ đời nhà
Lý, nhà Trần cho lập thêm Quốc học viện để giảng Tứ Thư và Ngũ Kinh Tại
các lộ cũng cho mở trường học để dạy cho dân chúng Trước kia dưới triều nhà Lý, có mở những khoa thi tam trường để lấy cử nhân, nhưng các khoa thi
chỉ được mở ra khi nào triều đình cần người tài giỏi ra giúp nước chứ chưa
có mở định kỳ Năm 1232, vua Trần Thái Tông cho mở khoa thi thái học sinh để lấy tiến sĩ theo định kỳ cứ 7 năm thì có một kỳ thi Năm 1247, nhà vua lại cho đặt ra khảo thi tam khôi để lấy trạng nguyên, bảng nhãn và thám
hoa Lê Văn Hưu là người đầu tiên đậu bảng nhãn
Trang 14Trong 175 năm tồn tại, nhà Trần đã tổ chức 14 khoa thi (10 khoa chính thức và 4 khoa phụ), lấy 283 người đỗ Có 2 khoa thi năm 1256 và 1266 lấy
2 trạng nguyên là Kinh trạng nguyên và Trại trạng nguyên nên tổng số có 12
người đỗ đầu trong các kỳ thi
Về tôn giáo, vào đầu đời nhà Trần Phật giáo còn thịnh Các nhà vua đều sùng đạo cho xây chùa, đúc chuông, tạc tượng để phụng thờ khắp nơi Vua Nhân Tông còn sai sứ sang Trung Hoa để thỉnh kinh về truyền bá đạo Phật, và ông chính là ông tổ đầu tiên của thiền phái Trúc Lâm Nhưng cuối đời Trần, Phật giáo bị pha thêm các hình thức mê tín bùa chú cho nên ngày càng suy vi Về Lão giáo thì cũng được nhân dân ngưỡng mộ Do đó, nhà
Trần cũng cho mở những khảo thi tam giáo như đời nhà Lý
Năm 1277, Thượng hoàng Trần Thái Tông mất Mùa đông ngày 22 tháng Mười âm lịch năm sau (tức 8 tháng 11 năm 1278), Trần Thánh Tông nhường ngôi cho con trai là Thái tử Trần Khâm - tức Hoàng đế Trần Nhân Tông - và lên làm Thái thượng hoàng, với tôn hiệu là Quang Nghiêu Từ Hiếu Thái Thượng Hoàng Đế Thể theo phép tắc triều Trần, Thượng hoàng tiếp tục cùng Hoàng đế điều hành chính sự Trong bối cảnh Nguyên – Mông đang từng bước chuẩn bị tấn công Đại Việt, hai vua Trần đã đề ra các biện pháp khuyến khích phát triển nông nghiệp, thương mại, đồng thời đảm bảo sự ổn định và đoàn kết trong nước Khi thủ lĩnh người dân tộc Trịnh Giác Mật nổi dậy ở Đà Giang vào đầu năm 1280, hai vua ra lệnh cho Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật đi thuyết phục quân nổi dậy quy hàng Nhật Duật nhờ giỏi ngoại giao và am hiểu phong tục dân bản địa nên đã thu phục được Giác Mật mà "không tốn một mũi tên"[12, tr.222-223]
Từ năm 1278 đến 1281, Nhà Nguyên đã ba lần sai Lễ bộ thượng thư Sài Thung dụ Trần Nhân Tông đến chầu, nhưng vua Trần cự tuyệt [19, tr 202] Năm 1282, Thượng hoàng cử chú họ là Trần Di Ái thay mặt vua sang Nguyên Không thỏa mãn, Nhà Nguyên cử một số quan lại sang giám sát các
Trang 15địa phương của Đại Việt, nhưng đều bị hai vua Trần trục xuất Khoảng năm 1281–1282, Hốt Tất Liệt lập Trần Di Ái làm An Nam Quốc vương và sai Sài Thung đem 1 nghìn quân hộ tống Di Ái về nước [16, tr.78] Hai vua Trần đã sai quân chặn ở biên giới, đánh tan đội quân hộ tống của Nhà Nguyên và bắt được Di Ái, nhưng vẫn nghênh đón Sài Thung về Thăng Long Thất bại trong việc đưa Di Ái về Đại Việt đã khiến Sài Thung giận dữ đến mức khi
"vua Trần Nhân Tông sai Quang Khải đến sứ quán khoản tiếp Xuân [cách gọi khác của Sài Thung] nằm khểnh không ra, Quang Khải vào hẳn trong phòng, hắn cũng không dậy tiếp." [10, tr 188-189] Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn phải giả làm tu sĩ Phật giáo người Hán đến bắt chuyện, Sài Thung mới chịu tiếp
Sau vụ Trần Di Ái, quan hệ hai bên căng thẳng và đến cuối năm 1282, vua Nguyên một mặt cử nguyên soái Toa Đô từ Quảng Châu đánh Chiêm Thành, mặt khác sai Trấn Nam vương Thoát Hoan tập trung 50 vạn quân chuẩn bị “mượn đường đánh Chiêm” (trên thực tế là tiến công Đại Việt) Hai vua Trần lập tức bắt tay vào việc chuẩn bị tổ chức kháng chiến Tháng 10 âm lịch năm 1282, Thánh Tông và Nhân Tông phong Hưng Đạo vương làm Quốc công Tiết chế – tức tổng chỉ huy toàn bộ quân đội Đại Việt Hai tháng sau, Thượng hoàng mời các bô lão trong cả nước về điện Diên Hồng (Thăng
Long) để bàn kế đánh Nguyên Đại Việt sử ký toàn thư thuật lại rằng, khi
được Thượng hoàng hỏi có nên chống lại người Nguyên hay không, các bô
lão đã “cùng nói như từ một miệng: “Đánh!””[10, tr 188-189]
1.2 Tiền đề lý luận cho sự hình thành những quan điểm của Trần Nhân Tông về chính trị, quân sự, ngoại giao, văn hóa và giáo dục
Tiền đề lý luận tư tưởng của Trần Nhân Tông có sự kế thừa trong việc tiếp thu những truyền thống văn hóa Việt Nam mà tập trung chủ yếu ở trong
tư tưởng về ý thức quốc gia, dân tộc, về tinh thần độc lập, tự chủ, tự cường
và tinh thần yêu nước bất diệt - Một trong những yếu tố tinh thần quý báu của dân tộc ta trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước.Nhưng chủ
Trang 16yếu đề hình thành nên tư tưởng của ông về chính trị, quân sự, ngoại giao, văn hóa và giáo dục là sự kế thừa và phát triển tử tưởng của Trần Nhân Tông và Tuệ Trung Thượng Sĩ
Về tư tưởng triết học của Trần Thái Tông:
Trần Thái Tông (1218-1277) tên thật là Trần Cảnh, là vị vua khai nghiệp nhà Trần Ông lên ngôi năm 1225 Năm 1258, với tài năng quân sự kiệt xuất ông đã dẫn dắt nhân dân Đại Việt chiến thắng vó ngựa xâm lược của quân Mông Cổ, bảo vệ nền hòa bình đất nước, xây dựng nền thái bình thịnh trị Dưới triều đại của ông, “chính trị, văn hóa, tôn giáo đều cực thịnh” Ông cũng chuyên tâm nghiên cứu Phật học và sùng mộ đạo Phật nhưng không xem thường cái học của các trường phái khác Học thuật nước nhà do
đó phát triển Ông là vị vua đỡ đầu việc phát triển Phật giáo Việt Nam, khiến cho Thiền học phát triển rực rỡ, và Thiền học cũng là yếu tố tư tưởng tiểu biểu trong tư tưởng triết học của Trần Thái Tông ảnh hưởng trực tiếp đến những quan điểm của Trần Nhân Tông về chính trị, quân sự, ngoại giao, văn hóa và giáo dục
Dưới ảnh hưởng của ông, Phật giáo thiền tông không chỉ tạo nên những giá trị tinh thần độc đáo trong sự phát triển đời sống văn hóa - tôn giáo Đại Việt thế kỷ XIII - XIV mà còn góp phần tích cực vào sự nghiệp bảo
vệ đất nước chống quân xâm lược Nguyên Mông và xây dựng nền hòa bình, thịnh vượng của triều đại nhà Trần Bên cạnh đó, tư tưởng Thiền định của Trần Thái Tông là cơ sở, nền tảng quan trọng cho sự ra đời, phát triển của dòng thiền Trúc Lâm - thành tựu rực rỡ nhất của Phật giáo thời Trần - hình thành và phát triển Trần Thái Tông đã kế thừa quan niệm bản thể thế giới là không của thiền học thời Lý: “Nguyên lai, tứ đại vốn là không, ngũ uẩn cũng chẳng có Từ không khởi ra hư vọng, từ hư vọng thành ra sắc tướng mà sắc tướng là từ cái chân không”; “Bốn núi chót vót muôn khóm xanh, Hiểu ra thì tất cả là hư vô, vạn vật là không” dẫn theo[14, tr.34] Bên cạnh khái niệm về
Trang 17tính không, Trần Thái Tông còn đưa ra các khái niệm “bản tính”, “chân tâm”, “bản tâm” để chỉ bản thể của thế giới: “Bản tính huyền ngưng, chân tâm trạm tịch, dứt tuyệt ý niệm về tròn khuyết, nếu không phải là người trí thì không truy cứu đến giềng mối của nó Nó không hợp, không tan, không mất, không còn… Vì nó không phải hữu cũng không phải vô, không đạo cũng không tục, nó độc tồn, siêu nhiên, ngoài nó không có gì khác, vì vậy nó
là tự tính kim cương” dẫn theo[21, tr.219-220]
Quan niệm chân tâm đồng nhất với tính không như trên của Trần Thái Tông có rất nhiều điểm đồng nhất với quan niệm về “đạo” của Lão Tử Điều này cũng được thể hiện rõ nét khi ông kế thừa quan điểm thiền học thời nhà
Lý, khi ông cho rằng tất cả mọi người đều có Phật tính, bất kỳ ai cũng có thể đạt được thành tự trong quá trình tu tập nếu họ thực sự tập trung và cố gắng:
“Nào biết bồ đề giác tính, ai nấy viên thành; hay đâu trí tuệ thiện căn, người người đều đủ Chẳng cứ đại ẩn tiểu ẩn; đâu nền tại gia xuất gia Chẳng nề tăng tục, chỉ cốt tỏ lòng; nào kể gái trai, cớ sao nề tướng? Người chưa hiểu chia bừa thành tam giáo; giác ngộ rồi cùng thấu một chữ tâm”dẫn theo[14, tr.50]
Trần Thái Tông đã đưa ra những giải thích từ quan niệm tâm không đồng nhất với Phật tính, đồng nhất với bản thể của vũ trụ, Trần Thái Tông đi tới những kiến giải nhận thức luận về thế giới sự vật, hiện tượng bên ngoài Ông cho rằng, sự xuất hiện của thế giới giả tượng là do niệm khởi, duyên hội, ngũ uẩn hợp thành Chân tâm vốn như gương, do vọng niệm mà trở nên
mờ tối, từ đó mà có thế giới giả tượng: “Pháp tính như như, không vướng mảy may niệm lự Chân tâm lặng lặng xưa nay vốn dứt bụi nhơ Chỉ vì bị che lấp nên vọng duyên mới khởi, ảo thể hiện thành” Do vậy, theo Trần Thái Tông, cần phải làm cho chân tâm trở lại tĩnh lặng, trong sáng để dập tắt vọng duyên, có vậy mới thấy được chân tính, bản thể
Trang 18Trần Thái Tông tuân thủ nguyên lý căn bản của thiền học là “kiến tính thành Phật” Ông cho rằng, “người học đạo chỉ cốt thấy được bản tính”dẫn theo[14, tr.62] Theo nguyên tắc thiền học, Trần Thái Tông quan niệm, để kiến tính, thấy được bản tính Phật, thấy được chân tể, phải “cố thủ nội khán” (quay đầu nhìn vào bên trong), hướng vào tu tập nội tâm để thấy tính: “Nếu hay phản chiếu hồi quang, đều được rõ tính thành Phật”dẫn theo [14, tr.48] Như vậy, Trần Thái Tông tiếp tục xu hướng thiền học Vô Ngôn Thông, chú trọng việc chiêm nghiệm tính không là bản thể vũ trụ, là chân tể của vạn vật Khi quay đầu nhìn vào bên trong (nguyên tắc thanh lọc nội tâm), tu tập để cho tâm bình lặng, đạt tới trạng thái tâm không (dứt mọi niệm), là khi đó đã đạt tới cảnh giới Phật Do vậy, Phật tại tâm, không cần tìm kiếm đâu xa Càng tìm kiếm ở ngoại giới thì càng xa rời “quê hương” - xa rời Phật tính - bởi quá trình tìm kiếm ở ngoại giới đó sẽ bị lục căn, lục tặc (các giác quan) làm cho mê lầm:
“Mũi quyện mùi thơm, lưỡi tham vị ngọt, Mắt mờ vì sắc đẹp, tai mê tiếng hát hay
Mãi mãi làm khách phong trần trôi dạt, Ngày càng xa quê hương muôn vạn dặm đường” dẫn theo[14, tr.37]
Điểm qua một số tư tưởng thiền học căn bản của Trần Thái Tông trong Khóa hư lục, chúng ta thấy, những tư tưởng này của ông một mặt là sự tiếp nối tư tưởng thiền học của phái Vô Ngôn Thông dưới thời Lý, mặt khác là sự
lý giải cụ thể hơn và sâu sắc hơn các nguyên lý tư tưởng mang tính siêu hình của thiền học Nhờ đó, người học đạo dễ dàng tiếp cận tới chân lý thiền học hơn là những bài kệ súc tích mang tính yếu chỉ thiền dưới thời Lý Cũng do vậy, thiền học, qua cách diễn giải của Trần Thái Tông, trở nên gần gũi với nhận thức của người tu thiền và dân chúng Đó là đặc trưng tư tưởng thiền
học của Trần Thái Tông
Trang 19Ảnh hưởng của Tuệ Trung Thượng Sĩ đối với tư tưởng của Trần Nhân Tông:
Tuệ Trung Thượng Sĩ là một ngôi sao sáng trong nền tư tưởng thiền học Là thầy của vua Trần Nhân Tông, được vua Trần Thánh Tông đã hết sức kính trọng, tặng danh hiệu Thượng Sĩ, và gửi gắm con mình (Trần Nhân Tông) cho ông dạy dỗ Vua Trần Nhân Tông từng viết: " Một hôm tôi xin hỏi Ngài về "bổn phận của tông chỉ", Thượng Sĩ đáp: "Soi sáng lại chính mình là phận sự gốc, chẳng từ nơi khác mà được, (Phản quan tự kỷ bổn phận
sự, bất tùng tha đắc), nghe xong, tôi thông suốt được đường vào, bèn vén áo thờ Ngài làm thầy” dẫn theo[22, tr.59]
Tuệ Trung Thượng Sĩ tên thật là Trần Tung, được Thái Tông phong tước Hưng Ninh Vương, ông giữ trọng trách và vai trò to lớn không chỉ với triều đình mà đối với phật pháp ông cũng có một ví trí quan trọng Ông từng được triều đình tin tưởng giao phó cho việc giữ quân dân đất Hồng Lô Ngoài ra, ông từng hai lần tham gia chống giặc phương bắc, đều lập những chiến công hiển hách và được giữ chức tiết độ sứ, giữ cửa biển Thái Bình
Trần Nhân Tông là đệ tử nối giáo của Tuệ Trung Thượng Sĩ Tư tưởng
và sự giác ngộ phật pháp của Thượng Sĩ đã ảnh hưởng rất lớn tới một phật tử thuần thành, một bậc chân tu cẩn mật tinh tiến, vị tổ của phái Trúc Lâm Yên
Tử, và cũng là người gây dựng một nền Phật giáo thống nhất
Trần Nhân Tông đã thực hiện trọn vẹn cả hai trọng trách to lớn giữa đời và đạo Khi còn làm Vua, ông luôn quan tâm đến đời sống nhân dân, chăm lo tới việc hình thành, xây dựng và gìn giữ nền văn hóa, thuần phong
mĩ tục nước nhà Đương thời khi còn trị vì, bên cạnh việc triều chính, ông còn thể hiện rõ mình là một phật tử, thường đi chu du khắp các đạo, loại bỏ những ngôi đền thờ có dấu hiệu mê tín, không chính đáng, luôn thực hiện bố thí và ban phát lương thực, thuốc men cho dân thường Khi đất nước rơi vào lửa giáo chiến tranh, ông đã bộc lộ rõ phẩm chất của một vị vua anh hùng
Trang 20trên chiến trận, giàu lòng yêu nước thương dân, nhưng ẩn sâu trong những hành động của ông vẫn thầm nhuần tinh thần từ bi hỉ sả và trí tuệ của một người Phật tử Trần Nhân Tông rất tin tưởng vào luật nhân quả và nghiệp báo Tinh thần này nhà vua tiếp thu được từ Tuệ Trung Thượng Sĩ Có thể thấy rõ điều này qua câu chuyện được thuật lại trong Thượng Sĩ ngữ lục:
Nhân Tông hỏi: "Chúng sinh do nghiệp uống rượu ăn thịt, làm sao thoát khỏi tội báo?" Thượng Sĩ bảo: "Giả sử có người đứng quay lưng lại, chợt có vua đi qua sau lưng, người kia thình lình hoặc cầm vật gì ném trúng vua, người ấy có sợ không? Vua có giận chăng? Như thế nên biết, hai việc này không liên hệ gì nhau", Thượng Sĩ liền đọc kệ để dạy:
“Vô thường các pháp hạnh Tâm nghi tội liền sinh Xưa nay không một vật Chẳng giống cũng chẳng mầm Ngày ngày khi đối cảnh
Cảnh cảnh từ tâm sinh Tâm cảnh xưa nay không Chốn chốn Ba la mật”
Tôi lãnh hội ý chỉ hai bài tụng, giây lâu hỏi: "Tuy nhiên như thế, vấn
đề tội phước đâu đã rõ ràng" Thượng Sĩ lại dùng kệ giải rõ:
Ăn rau cùng ăn thịt Chúng sinh mỗi sở thuộc Xuân về trăm cỏ sinh Chỗ nào thấy tội phúc
Trang 21Tôi thưa: "Chỉ như giữ gìn giới hạnh trong sạch, không chút xao lãng lại thế nào?" Thượng Sĩ cười không đáp, tôi lại thỉnh cầu, ngài lại nói hai bài
kệ để ấn định:
Giữ giới cùng nhẫn nhục Chuốc tội chẳng chuốc phúc Muốn biết không tội phúc Chẳng giữ giới nhẫn nhục Như khi người leo cây Trong an tự cầu nguy Như người không leo cây Trăng gió có làm gì?
Ngài lại dặn nhỏ tôi: "Chớ bảo cho người không ra gì biết" dẫn theo [22, tr.59] Ở đây, người người không ra gì, không phải người tu, hay không hiểu đạo Chỉ có những người thấm nhuần được tư tưởng, chân lý nhân quả, giác ngộ được tinh thần Phật pháp mới có thể nói ra những lời như vậy Đứng trước nguy cơ chiến tranh, Trần Nhân Tông tuy đã lĩnh ngộ được tinh thần phật pháp những ông phải đứng trước sự lựa chọn, suy tính làm sao để khi chiến tranh xảy ra sự sát sinh được hạn chế ở mức tối đa nhất Bởi không chỉ đang là một vị Vua mà ông còn đang là một phật tử tu hành, khó lòng phá
vỡ giới đạo Chiến tranh là điều không ai muốn, bản thân ông cũng vậy, đều mong muốn một thế giới hòa bình, một cuộc sống ấm êm hạnh phúc cho mọi dân lành, chứ không ai mong muốn cảnh đầu rơi máu cháy, chia lìa người thân Người thấu hiểu được tâm thức là vấn đề quan trọng nhất để tránh khỏi nghiệp báo, có ý thức thì người ta sẽ chủ động được lời nói, hành động, suy nghĩ, ắt tránh được nghiệp báo bắt nguồn từ thân, khẩu và ý nghiệp Ý chính
là tâm vương Nếu chỉ có khẩu nghiệp và thân nghiệp tạo tác mà không khởi
Trang 22ý sát sinh, thì tội đó sẽ không đủ duyên để phải trả quả báo Không phải vô
cớ mà ngài đã hai lần lấy ý kiến của toàn quân và dân Một lần lấy ý kiến các tướng lĩnh tại Bình Than Và, một lần lấy ý kiến các bô lão đại diện cho toàn dân tại điện Diên Hồng Sau khi cả quân và dân đều thể hiện ý chí đồng tâm quyết đánh, ngài mới cho bày binh đánh giặc Như vậy, quân sĩ chỉ nói và hành động thì không phải chịu quả báo, còn ngài chỉ huy đánh cũng là vì dân tộc, vì độc lập tự do và hạnh phúc cho nhân dân, vì sự an lạc cho tất cả chúng sinh, chứ thực chất ngài không hề khởi tâm sát sinh, dù kẻ thù có là ai Câu chuyện Trần Nhân Tông bất đắc dĩ sai người đưa công chúa An Tư (em gái
út của Thánh Tông) đến cho Thoát Hoan cũng là muốn làm thư giãn nạn nước
Đến sự kiện năm 1306, vua Trần Nhân Tông gả con gái là công chúa Huyền Trân cho quốc vương Chiêm Thành là Chế Mân cũng có liên quan đến tấm lòng từ bi của ông Thái thượng hoàng Nhân Tông rất hiểu, nếu Chiêm Thành thuần phục, có quan hệ bang giao gần gũi thì Đại Việt có được chỗ dựa ở phía Nam vô cùng quan trọng Nếu lại xảy ra một cuộc chiến với phong kiến phương Bắc thì sẽ không phải lo nhiều đến việc phòng thủ phía Nam Đây là một tính toán lâu dài có tầm chiến lược cho dân tộc, cũng là để giữ hòa hiếu giữa hai nước, tránh không để có sinh mạng phải chết oan uổng
Nó thể hiện tấm lòng của bồ tát, chứ chẳng phải cái tâm của người thường
Trần Nhân Tông là người rất chú trọng đào tạo những thế hệ cho tương lai, cho cả đời và đạo Sự kiện ngài dạy vua Anh Tông có thể coi là một câu chuyện điển hình về sự giáo dục, tu tâm Sau khi được nhường ngôi, vua Anh Tông có lần do say rượu quên cả thiết triều đúng vào dịp ngài về kinh đô Ngài đã giáo huấn cho Anh Tông rất nghiêm khắc và may nhờ tài trí của Đoàn Nhữ Hài, vua mới được tha tội Sau khi Anh Tông đã thuần trở lại, Điều Ngự đã chấp thuận thụ bồ tát giới cho vua vào năm 1304 Đây là giới cao nhất của hàng cư sĩ tại gia Sự kiện thọ bồ tát giới của vua Anh Tông đã ảnh hưởng rất lớn tới đạo đức của các quan viên trong triều
Trang 23Ngoài ra, Trần Nhân Tông là người hết lòng lo cho tiền đồ của Phật giáo Ngay khi mới gặp Đồng Kiên Cương (sau là đệ nhị tổ Trúc Lâm Pháp Loa tôn giả) đến xin xuất gia, Điều Ngự đã nói: "Đứa bé này có đạo nhãn, sau này hẳn là bậc pháp khí" dẫn theo[22, tr.83], rồi chấp thuận cho làm đệ
tử và đặt tên là Thiện Lai Chỉ trong thời gian từ 1304 đến 1307, Pháp Loa đã được đào tạo từ một thiện nam trở thành một giảng sư Sau này, ông trở thành người kế đăng của phái Trúc Lâm, đồng thời là cột trụ của giáo hội
1.3 Trần Nhân Tông – cuộc đời và sự nghiệp
Trần Nhân Tông (1258 – 1308) tên khai sinh là Trần Khâm là
vị hoàng đế thứ ba của Hoàng triều Trần nước Đại Việt Ông trị vì từ ngày 8 tháng 11 năm 1278 đến ngày 16 tháng 4 năm 1293, sau đó làm Thái thượng hoàng cho đến khi qua đời Trần Nhân Tông được sử Việt đánh giá là một vị vua anh minh, đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển bền vững của Đại Việt cuối thế kỷ XIII, cũng như việc bảo vệ nền độc lập và mở rộng cương thổ đất nước Ngoài ra, ông cũng là một thiền sư lớn của Phật giáo Việt Nam thời trung đại
Là con trai trưởng của Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông đã được truyền ngôi vào tháng 11 năm 1278 lúc ông chưa đầy 20 tuổi Vị Hoàng
đế trẻ sớm phải đương đầu với hiểm họa xâm lược từ đế quốc Mông – Nguyên hùng mạnh ở phương Bắc Do vậy, ngay sau khi lên ngôi Trần Nhân Tông đã triển khai nhiều biện pháp nhằm nâng cao sức mạnh kinh tế và ổn định chính trị– xã hội của Đại Việt, đồng thời xây dựng quan hệ tích cực với nước láng giềng phía nam là Chiêm Thành Năm 1285, hoàng đế nhà
Nguyên Hốt Tất Liệt huy động một lực lượng lớn (theo Đại Việt sử ký toàn
thư là 50 vạn người) tấn công Đại Việt [10, tr186-188] Quân dân Đại Việt
ban đầu gặp nhiều tổn thất; nhưng dưới sự chỉ huy của vua Nhân Tông, Thượng hoàng Thánh Tông và Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo, người Việt đã dần dần xoay chuyển tình thế và đánh bật quân Nguyên ra khỏi đất
Trang 24nước Sau đó, hai vua Trần và Hưng Đạo vương tiếp tục lãnh đạo dân Việt đánh bại một cuộc xâm lược khác của Mông – Nguyên vào năm 1287
Trần Nhân Tông lên ngôi trong lúc nền độc lập Đại Việt bị đe dọa trầm trọng.Ở phương Bắc, Nguyên–Mông đã chinh phục hầu hết Nam Tống và bắt đầu dòm ngó Đại Việt “Ngay sau khi ông đăng quang, vua Nguyên là Hốt Tất Liệt cử Lễ bộ Thượng thư Sài Thung sang Đại Việt, lấy cớ Nhân Tông
"không xin mệnh mà tự lập" (nghĩa là tự xưng làm vua mà không chịu xin phép "thiên triều" Nguyên) để ép vua Trần sang triều kiến” Trần Nhân Tông đã đối đãi tử tế với Sài Thung, nhưng kiên quyết không sang chầu Thung đành đi tay không về nước” [10, tr.185-186].Trần Nhân Tông lại sai Trịnh Đình Toản và Đỗ Quốc Kế sang cống nạp nhà Nguyên Tháng 12 năm
1279, Hốt Tất Liệt giam cầm Đình Toản ở thành Đại Đô, rồi ép Quốc Kế đi cùng một phái bộ mới của Sài Thung sang dụ Đại Việt.Trần Nhân Tông vẫn không nhân nhượng, mặc dù Thung đã dọa nạt rằng nếu không sang chầu, "thì hãy sửa sang thành trì của ngươi, để đợi sự phán xét"[19, tr 200]
Đứng trước hiểm họa xâm lược từ Mông Cổ, Ông đã có nhiều nỗ lực nhằm phát triển kinh tế, đảm bảo sự ổn định và đoàn kết trong nước Tháng 1
âm lịch năm 1280, ông ra lệnh hợp nhất hệ thống đo lường để thúc đẩy thương mại trên toàn quốc Ngoài ra, ông khuyến khích nông dân tăng
cường sản xuất, và nhờ vậy, Đại Việt đã "được mùa to, lúa ruộng ở hương Trà Kiều thuộc Khoái Lộ một giò hai bông" (theo Đại Việt sử ký toàn thư)
vào tháng 10 âm lịch năm 1280[12, tr 221-222] Mùa xuân năm 1284, Hoàng đế lại sai vét sông Tô Lịch nhằm biến sông này thành trục giao thông chính của kinh đô [10, tr 188-189]
Trên phương diện chính trị – xã hội, tháng 2 âm lịch năm 1280, Trần Nhân Tông cho điều tra và cập nhật dân số, đồng thời giải quyết nhanh các
khiếu nại oan sai của người dân Đại Việt sử ký toàn thư thuật lại, Chi hậu
cục thủ Đỗ Khắc Chung có người em tên Đỗ Thiên Hư từng kiện cáo một người; dù Thiên Hư trái về cả tình lẫn lý nhưng viên quan xử án tỏ ra bênh
Trang 25vực Người bị kiện thấy vua Trần Nhân Tông đang đi ngoài thành, bèn đón
và kêu oan Nhà vua phán: "Đó là do sợ mà né tránh Khắc Chung đấy", rồi
cử ngay Chánh chưởng Nội thư hỏa là Trần Hùng Thao kiêm chức Kiểm pháp quan để điều tra lại, cuối cùng Thiên Hư phải nhận sai Sử quan nhà Hậu Lê Ngô Sĩ Liên có nhận định về việc làm của vua Trần Nhân Tông:
“Người kiện có điều oan uổng mà được dễ dàng kêu bày, hình quan để chậm
án, không thấy có lời trách hỏi, hoạn quan nội thần lạm cử làm pháp quan, vua làm việc này có ba lầm lỗi kèm theo, nhưng như vậy thì dân tình được thấu lên trên Việc cai trị kẻ dưới thà sai để khoan thứ để cho án kiện đọng lại được xử ngay, cũng thấy được lòng trung hậu của vua” [10, tr 186-186]
Cũng trong năm 1280, thủ lĩnh người Ngưu Hống tại Đà Giang là Trịnh Giác Mật nổi dậy, Trần Nhân Tông sai Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật đi thuyết phục phiến quân quy hàng Trần Nhật Duật nhờ khéo ngoại giao và hiểu biết văn hóa dân bản địa nên đã thu phục được Giác Mật mà không phải giao chiến Chiêu Văn vương đưa cả nhà Giác Mật vào chầu Trần Nhân Tông.Nhà vua hết mục khen ngợi Nhật Duật, sau này tha Giác Mật
và gia đình về Đà Giang [12, tr 222-223] Từ đây, Ngưu Hống thần phục Đại Việt cho đến khi nổi dậy vào mùa đông năm 1329 thời Trần Hiến Tông
Về quan chế, vua Trần Nhân Tông đã đặt ra một số chức quan mới: Hàn lâm viện học sĩ phụng chỉ (1282), Tả hữu bộc xạ (1283) [3, tr 350]
Về giáo dục, năm 1281, Trần Nhân Tông dựng nhà học ở phủ Thiên Trường (đất phát tích của hoàng triều, nay thuộc Nam Định) Tuy nhiên, nhà vua vẫn theo lệ cũ, cấm các chiến sĩ hiệu quân Thiên Thuộc được vào học[10, tr 187] Cũng từ đầu đời vua Nhân Tông, chữ Quốc ngữ bắt đầu
được sử dụng rộng rãi trong các tác phẩm thơ văn ở Đại Việt Theo Đại Việt
sử ký toàn thư, dưới trướng Nhân Tông có Hình bộ Thượng thư Nguyễn
Thuyên thạo thơ phú Quốc ngữ; năm 1282, khi có cá sấu tới sông Hồng, hoàng đế sai Nguyễn Thuyên làm văn tế cá sấu thả xuống sông Sau này cá
Trang 26sấu bỏ đi, nhà vua cho là Nguyễn Thuyên có tài như Hàn Dũ, mới đổi gọi
"An Nam Quốc vương", Lê Mục làm "Hàn lâm học sĩ" và Lê Tuân làm
"Thượng thư", rồi lại sai Sài Thung đem 1 nghìn quân hộ tống nhóm Di Ái
về bản quốc Vua Nhân Tông đã huy động lực lượng chặn đánh ở ải Nam Quan và bắt giữ nhóm Di Ái, song vẫn nghênh đón Sài Thung về Thăng Long[17, tr 28-30] Thất bại của việc lập Di Ái làm vua bù nhìn Đại Việt đã khiến Sài Thung tức giận đến mức khi "vua sai Quang Khải đến sứ quán khoản tiếp Xuân (cách gọi khác của Sài Thung)nằm khểnh không ra, Quang Khải vào hẳn trong phòng, hắn cũng không dậy tiếp" Phải đến khi Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đóng giả làm một tăng sĩ Trung Hoa đi vào sứ quán, Thung mới chịu tiếp [10, tr 188-189]
Tháng 9 – 11 năm 1282, nhà Nguyên một mặt cử tướng Toa Đô từ Quảng Châu tấn công Chiêm Thành, mặt khác lại sai Trần Nam vương Thoát Hoang tập trung 50 vạn quân chuẩn bị "mượn đường đánh Chiêm" (mà thực chất là xâm lược Đại Việt).Vào tháng 11, Trần Nhân Tông mở Hội nghị Bình Than để thảo luận với bá quan về phương án tổ chức kháng chiến Viết về hội nghị này, sử sách có đề cập việc phục chức Nhân Huệ vương Trần Khánh
Dư, một tướng có tài, trước đã được Trần Thánh Tông phong làm Thiên tử
nghĩa nam, sau bị đoạt hết quan tước, tịch biên tài sản vì tội thông dâm
với Công chúa Thiên Thụy Khi thuyền Nhân Tông đỗ trên bến Bình Than, nhà vua nhìn thấy một chiếc thuyền lớn chở than củi, người lái đội nón lá,
Trang 27mặc áo ngắn Ông nhận ra ngay là Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư Nhà vua sai nội thị chèo thuyền đuổi theo, dẫn Trần Khánh Dư đến yết kiến Vua Nhân Tông xuống chiếu tha tội Khánh Dư, phục chức Phó Đô tướng
quân Đại Việt sử ký toàn thư chép: "Vua ban cho áo ngự, cho ngồi các hàng
dưới các vương, trên các công hầu, cùng bàn việc nước, nhiều điều hợp ý vua" [10, tr.188-189] Sau, Hưng Đạo vương giao cho Khánh Dư trấn giữ Vân Đồn, lập công lớn đánh bại đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ
Cũng tại hội nghị này, Trần Nhân Tông thấy Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản còn nhỏ, không cho dự việc nước Quốc Toản phẫn kích, bóp nát quả cam trong tay, rồi lui về huy động hàng nghìn thân quyến và gia nô, sửa sang khí giới, thuyền chiến và dựng lá cờ thêu 6 chữ: "Phá cường địch, báo hoàng ân" (Phá giặc mạnh, báo ơn vua) Trong cuộc chiến chống Nguyên năm
1285, Quốc Toản chiến đấu rất hăng, luôn đi đầu trận tuyến đánh quân
Nguyên.Theo An Nam truyện của Nguyên sử, Quốc Toản tử trận ở sông Như
Nguyệt trên đường truy kích bại binh Nguyên vào tháng 5 âm lịch năm 1285.Đại Sử Việt Kí toàn thư kể vua Nhân Tông đích thân viết văn tế, lại truy tặng tước vương [10, tr 188-189]
Tháng 10 âm lịch năm 1283, Trần Nhân Tông phong Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn làm Quốc công Tiết chế thống lĩnh chư quân, đồng thời tuyển các quân hiệu có năng lực, chia nhau chỉ huy các đơn vị quân đội.Cùng với Hưng Đạo vương, Nhân Tông đã trực tiếp chỉ đạo các hoạt động huấn luyện, diễn tập của lục quân và thủy quân Tháng 10 năm 1284, triều đình chia quân trấn giữ các địa bàn quan trọng trong cả nước Bên cạnh đó, Nhân Tông vẫn cử một số sứ giả mang lễ vật đi xin Thoát Hoan "hoãn binh" trong nửa cuối năm 1284[10, tr 188-189]
Không những đương đầu với người Mông Cổ, Trần Nhân Tông đã xây dựng mối quan hệ tích cực với nước Chiêm Thành ở phía Nam.Tháng 12 năm 1282, ông đã gửi 2 vạn quân cùng 500 chiến thuyền sang hỗ trợ người Chiêm chặn đánh cánh quân Nguyên của Toa Đô Nhưng trong các văn thư
Trang 28gửi cho người Nguyên, Trần Nhân Tông một mực phủ nhận hành động này[18, tr 125-127]
Sau khi đẩy lùi các cuộc xâm lược của người Mông Cổ, Trần Nhân Tông đã khôi phục được sự hưng thịnh của Đại Việt đồng thời thực thi phương sách ngoại giao vừa mềm dẻo, vừa cứng rắn với nhà Nguyên Năm
1293, ông truyền ngôi cho Thái tử Trần Thuyên (tức vua Trần Anh Tông) và lên làm Thái thượng hoàng Sau đó Nhân Tông xuất gia tu hành theo đạo Phậtvà lấy hiệu Trúc Lâm Đại sĩ ; nhưng ông vẫn tham gia điều hành chính
sự, đánh dẹp quân Ai Lao xâm phạm biên giới và mở rộng bờ cõi về phương Nam bằng phương pháp ngoại giao
Trần Nhân Tông cũng chính là vị tổ sáng lập Thiền phái Trúc Lâm, một dòng thiền Phật giáo mang bản sắc văn hóa Việt Nam và tinh thần nhập thế Năm 1299 Trần Nhân Tông chính thức tu thiền tại núi Yên Tử (nay thuộc Quang Ninh), tại đây Trần Nhân Tông đã khai sáng ra dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử mang đậm cốt cách, bản sắc, bản lĩnh trí tuệ Việt Nam; năm
1208 Trần Nhân Tông băng hà tại Am Ngọa Vân thuộc núi Yên Tử Trần Nhân Tông đã để lại cho hậu thế một hệ tư tưởng hết sức có giá trị và có ý nghĩa về nhiều mặt về chính trị, quân sự, ngoại giao, văn hóa, giáo dục cho hậu bối
xã hội độc lập, thống nhất, đặc trưng của xã hội Việt Nam, nó là yếu tố kết
Trang 29dính sức mạnh và ý chí độc lập tự cường của toàn dân tộc, không phân biệt giai cấp, địa vị xã hội từ hoàng tộc cho đến dân thường, nó góp phần to lớn vào việc xây dựng nên một Đại Việt thống nhất, có nền văn hóa độc lập với mục đích chống lại sự đồng hóa củathù trong giặc ngoài, mà trước mắt chính
là quân xâm lược Nguyên Mông.Một mặt khác, những quan điểm của Trần Nhân Tông về chính trị , quân sự, ngoại giao, văn hóa và giáo dục còn khơi nguồn cho tinh thần đoàn kết, chấn an lòng dân, đề cao tinh thần độc lập, tự chủ, toàn vẹn lãnh thổ, nó bảo vệ được lợi ích của triều đại nhà Trần, giải quyết được những mâu thuẫn trong nhân dân và các tầng lớp xã hội Việt Nam đương thời Đó là mâu thuẫn giữa hàng ngũ nho sĩ với tầng lớp quý tộc tôn thất nhà Trần, là mâu thuẫn giữa tầng lớp thống trị với tầng lớp nông nô…
Những quan điểm của Trần Nhân Tông về chính trị, quân sự, ngoại giao, văn hóa và giáo dục là thành quả của sự tiếp thu, kế thừa có chọn lọc những tinh hoa trong tư tưởng triết học, tôn giáo, văn hóa của các thế hệ đi trước: đầu tiên, sự kế thừa ấy được thể hiện trong sự tiếp thu truyền thống văn hóa Việt Nam mà tập trung chủ yếu ở trong tư tưởng về ý thức quốc gia, dân tộc, về tinh thần độc lập, tự chủ, tự cường và tinh thần yêu nước bất diệt
- Một trong những yếu tố tinh thần quý báu của dân tộc ta trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước Những quan điểm đó của Trần Nhân Tông còn là sự chọn lọc, chắt chiu những tư tưởng chính trị, đạo đức vi nhân sinh tiêu biểu nhất của Nho giáo, Phật giáo và Đạo Giáo; là sự tiếp thu kế thừa những triết lý ưu việt, tinh túy về thiền của ba trường phái nổi tiếng ở triều đại nhà Lý là Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Thảo Đường, Vô Ngôn Thông Quan trọng nhất chính là sự tiếp thu trực tiếp tư tưởng triết học của Trần Thái Thông và Tuệ Trung Thượng Sĩ để chắt lọc, kiến tạo nên một sự nghiệp vẻ vang của bản thân Trần Nhân Tông nói riêng và của quân dân Đại Việt nói chung
Trang 30Chương 2: MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CỦA TRẦN NHÂN TÔNG TRONG VẤN ĐỀ CHÍNH TRỊ, QUÂN SỰ,VĂN HÓA VÀ GIÁO DỤC
2.1 Quan điểm của Trần Nhân Tông về chính trị ,quân sự và ngoại giao
Thời Trần Nhân Tông ở ngôi hoàng đế, dân tộc ta phải đương đầu với một kẻ thù hung hãn nhất của thời đại: Giặc Mông - Nguyên Trong vòng nửa thế kỷ, bộ tộc Mông Thát đã mở rộng chiến tranh xâm lược và làm chủ nhiều vùng đất đai rộng lớn ở hai lục địa Á - Âu, lập nên một đế chế kéo dài từ bờ Hắc Hải đến Thái Bình Dương Thế nhưng cả ba lần xâm lược Đại Việt, đội quân "bách chiến bách thắng" đó đều bị đánh bại, trong đó có hai lần diễn ra dưới thời Trần Nhân Tông
Được sự chỉ dẫn của Thái Thuợng Hoàng Trần Thánh Tông và sự phò trợ của Trần Hưng Đạo, vua Trần Nhân Tông đã lãnh đạo nhân dân đánh đuổi quân Mông - Nguyên ra khỏi bờ cõi Đại Việt.Các quan điểm khẳng khái của ông về chính trị ngoại giao đại diện cho toàn thể nhân dân Đại Việt nhỏ
bé mà quật cường Những quan điểm này còn giữ mãi giá trị về sau, là những bài học xương máu cho con cháu về cách yêu dân, dựa vào dân
2.1.1 Quan điểm của Trần Nhân Tông về chính trị
Trần Nhân Tông đăng quang ngôi vị Hoàng đế nhà Trần khi Đại Việt vừa trải qua cuộc chiến tranh tàn khốc với đế chế Mông – Nguyên, nguy cơ bành trướng, xâm lược của tập đoàn phong kiến phương Bắc nhằm rửa hận nỗi nhục thất bại năm xưa là hoàn toàn hiện hữu, cùng với đó là nhiệm vụ ổn định, tái thiết, phục hội và phát triển đất nước sau cuộc chiến đặt ra đối với vị vua trẻ tuổi Trần Khâm Trước hoàn cảnh lịch sử đó, bằng tài năng, trí tuệ, sức trẻ và sự nhạy cảm chính trị sắc bén với thời cuộc, Trần Nhân Tông chủ trương ổn định tình hình chính trị - xã hội trong nước, đặt vấn đề bảo vệ nền độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc phải được đặt lên hàng đầu, không nhân nhượng dưới mọi hình thức
Trang 31Một là , quan điểm giữ vững độc lập chủ quyền dân tộc: Minh chứng
rõ nhất là trong mối quan hệ bang giao với Thiên Triều phương Bắc lúc này
do Hốt Tất Liệt trị vì , Chẳng là, sau thất bại cay đắng và nhục nhã trước quân dân Đại Việt trong cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ nhất năm 1258, nhà Nguyên mang trong mình nỗi uất hận thâm thù với Đại Việt, nhân lúc vua Trần Nhân Tông đăng quang ngôi vị mà không sang thỉnh mệnh “Thiên triều” (tức nhà Nguyên) mà tự lập là phạm tội “bất trung”, “phản loạn”, lợi dụng cơ hội bẩn thỉu này, Nguyên Thế Tổ (tức Hốt tất Liệt) sai một bộ bậu sậu do Thượng thư bộ Lễ là Sài Thung dẫn đầu sang Đại Việt kiếm cớ trách hỏi, nhiễu sự, chúng yêu càu quốc vương của Đại Việt phải đích thân đem theo “người vàng, mắt ngọc” sang chầu cống bằng không hãy đợi sự phán xét của cái gọi là “Thiên triều” “Nếu quả không thể đến chầu được thì hãy đồn vàng thay cho thân mình, dùng hai ngọc trai thay cho mắt mình cùng với hiền sĩ, phương kỷ tử đệ hai người và hai loại thơ mỗi thứ 2 người để thay cho thổ dân Nếu không thể, thì hãy sửa sang thành trì của người, để đợi sự phán xét”
Trước những lời lẽ hăm dọa của kẻ thù, với trí tuệ và bản lĩnh chính trị vững vàng của một lãnh tụ quốc gia, Trần Nhân Tông kiên quyết thẳng thừng
từ chối, sẵn sàng đương đầu trực tiếp với kẻ thù để bảo vệ sự độc lập, tự chủ
và danh dự của quốc gia Không dừng lại ở đó, với mưu đồ quyết xâm lược Đại Việt để rửa nỗi nhục, nhà Nguyên tiếp tục âm mưu “mượn đường” của Đại Việt để tấn công Chiêm Thành nhưng thực chất là chúng muốn tiến hành thực hiện một âm mưu kép, một mũi tên chúng hai đích là hoàn tất quá trình xâm lược Đại Việt và Chiêm Thành để bành trướng, mở rộng lãnh thổ ra toàn bộ khu vực Đông Á Trước âm mưa dơ bẩn của kẻ thù, Trần Nhân Tông một lần nữa kiên quyết từ chối, một mặt ông khéo léo viết thư nêu rõ lý do nhằm trấn an nhà Nguyên rằng: “Từ nước tôi đến Chiêm Thành, đường thủy, đường bộ đều không tiện cả”, mặt khác Trần Nhân Tông đã bí mật ra lệnh gửi 2 vạn quân và 500 chiến thuyền chi viện cho Chiêm Thành trong cuộc
Trang 32chiến đấu chống lại sự xâm lược của nhà Nguyên Đồng thời, Trần Nhân Tông nhận định cuộc chiến đấu chống lại quân đội Mông – Nguyên là điều kiện không thể tránh khỏi, ông cùng với nhân dân cả nước ra sức chuẩn bị sẵn sàng mọi điều kiện đối phó với vó ngựa xâm lăng của kẻ thù đang đến rất gần
Hai là, Trần Nhân tông chủ trương xây dựng một chính quyền “thân
dân” ( nghĩa là gần dân, trọng dân, lắng nghe ý kiến của dân) như lời của Tiết Chế, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đã đúc kết “Khoan thư sức dân
để làm kế bền gốc, sâu rễ, đó là thượng sách giữ nước”dẫn theo[13, tr 183] Mục đích là nhằm khơi dậy và phát huy tối đa trí tuệ và sức mạnh của quần chúng nhân dân, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trên dưới đồng lòng với hào khí “Đông A” (tức hào khí nhà Trần ngàn năm bất diệt “Mùa
hạ, tháng Tư, đại xá thiên hạ Những nơi bị binh lửa, cướp phá thì miễn toàn phần tô dịch, các nơi khác thì miễn giảm theo mức độ khác nhau” [11, tr.92] Theo Trần Nhân Tông, sức mạnh tổng hợp của một quốc gia không phụ thuộc vào một dòng họ, một vương triều, một giai cấp, tầng lớp hay một nhóm người mà là sức mạnh của toàn dân tộc cho dù, không có sự phân biệt giàu nghèo, sang hèn hay địa vị chính trị, xã hội “Mỗi khi nhà vua ra chơi đâu, trông thấy gia đồng các vương hầu ở ngoài tất gọi rõ tên và hỏi “Chủ mi làm gì?” Nhà vua thường răn bảo vệ sĩ không được quát mắng gia đồng, lại bảo với các hầu cận rằng: “Ngày thường thì bao nhiêu người hầu hạ xung quanh, đến khi nước nhà gặp hoạn nạn, thì chỉ thấy có bọn ấy thôi”[12,tr.540] Điều đó cho thấy cách nhìn người và dùng người của vua Trần Nhân Tông hết sức nhân văn, cao cả, thật đáng khâm phục và tự hào
Thực vậy, dưới triều đại nhà Trần, đặc biệt là triều đại vua Trần Nhân Tông nhân tài Đại Việt “trăm hoa đua nở” với rất nhiều tấm gương anh dũng sáng ngời, làm rạng rỡ non sông Đại Việt, tiêu biểu như Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn (thiên tài quân sự của Việt Nam và thế giới) với câu trả lời khẳng khái “Bệ hạ chém đầu tôi rồi hãy hàng” và tâm nguyện “ …Dẫu
Trang 33cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói tong da ngựa, ta cũng vui lòng…”, Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật với quyết tâm “Dốc hết lòng trung để báo đến quân Thượng với lời thề son sắc “Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc”, Trần Quang Khải, Trần Khánh
Dư, Nguyễn Thuyên (hay Hàn Thuyên)… tức những người thuộc tầng lớp quý tộc, cho đến những anh hùng thuộc tâng lớp bình dân như Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Khoái… và hàng nô tỳ như Yết Kiêu, Dã Tượng cũng một lòng
xả thân vì nước, vì dân như lời của Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải đã viết trong bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư:
“Chương Dương cướp giáo giặc, Hàm Tử bắt quân thù
Thái bình nên gắng sức, Non nước ấy ngàn thu”
Để phát huy tinh thần, trí tuệ và sức mạnh tập thể của nhân dân cả nước, vua Trần Nhân Tông cùng với Thượng hoàng Trần Thánh Tông cho
mở Hội nghị các bô lão toàn quốc tại điện Diên Hồng để bàn kế sách đánh giặc Đây được coi như Hội nghị dân chủ đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam, thể hiện tầm nhìn và trí tuệ của Đức Vua Trần Nhân Tông trong công cuộc lãnh đạo và quản trị quốc gia Khi được hỏi thế giặc rất mạnh vậy ta nên hàng hay đánh? Câu trả lời nhận được là tất cả các bô lão đều đồng thanh
hô lớn “Đánh!”, “Muôn người cùng nói như một miệng sinh ra” [13,tr.222]
Tư tưởng “thân dân” của vua Trần Nhân Tông và vương triều Trần tiếp tục được các triều đại phòng kiến Việt Nam sau này kế thừa và phát huy như nhà hậu Lê với quan điểm “Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân” và thời đại Hồ Chí Minh với tuyên ngôn “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong” là sợi chỉ đỏ xuyên suốt chiều dài lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam
Trang 34Ba là, chính sách dùng người của Trần Nhân Tông là vô cùng sáng
suốt Việc Trần Nhân Tông giao cho Hưng Đạo vương chỉ huy trực tiếp toàn quân, hoặc trọng dụng các tướng lĩnh tài năng dù họ có lỗi lầm trong quá khứ như Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư được giao làm Phó tướng, phụ trách toàn bộ thủy quân; hoặc như Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật tuổi đời còn rất trẻ vẫn được cử trông coi cả một vùng Tây Bắc rộng lớn.Nhà sử học đời Lê là Ngô Sĩ Liên nhận xét: "Tôi từng thấy các danh tướng nhà Trần như Hưng Đạo Vương thì học vấn tỏ ra ở bài hịch, Phạm Điện Súy (tức Phạm Ngũ Lão - TG) thì học vấn biểu hiện ở câu thơ, không chỉ có chuyện về nghề
võ Thế mà dùng binh tinh diệu, hễ đánh là thắng, đã tấn công là chiếm được, người xưa cũng không một ai vượt nổi các ông Đủ biết, nhà Trần dùng người, vốn căn cứ vào tài năng của họ để trao trách nhiệm”[10, tr 189] Còn
Lê Quý Đôn tỏ ra hết sức thán phục: "Nhà Trần đãi ngộ sĩ phu rộng rãi mà không bó buộc, hòa nhã mà có lễ độ, cho nên nhân vật trong một thời có chí khí tự lập, hào hiệp cao siêu, vững vàng vượt qua thói thường, làm rạng
rỡ trong sử sách, trên không thẹn hổ với trời, dưới không thẹn với đất Ôi như thế, người đời sau còn có thể theo kịp thế nào được” [5, tr 258-259]
Bốn là, Trần Nhân Tông thi hành những ứng xử ngoại giao vừa mềm
dẻo, vừa cứng rắn với triều Nguyên trước, trong và sau chiến tranh Trong cuộc chiến tranh năm 1285, khi quân Nguyên sắp vào nước ta, Trần Nhân Tông cho sứ đưa thư đến Thoát Hoan, từ chối việc cho mượn đường Đại Việt đánh Champa: "Từ nước tôi đến Champa, đường thủy đường bộ đều không tiện” [5, tr 258-259];hoặc nhắc tới Tờ chiếu năm 1261 của Hốt Tất Liệt:
"Trước đây, được vâng thánh chiếu nói rằng: „Sắc riêng cho quân ta (quân Nguyên - TG) không vào bờ cõi nhà ngươi‟, thế mà nay thấy ở Ung châu doanh trạm cầu đường nối nhau san sát ”[23] Phương sách ngoại giao của Trần Nhân Tông không cản được chính sách xâm lược của triều Nguyên, nhưng nó có tác dụng giúp triều Trần có thêm thời gian chuẩn bị để ứng phó với chiến tranh mà biết trước sẽ diễn ra; mặt khác, nó góp phần quán