1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Quản Trị Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Trên Địa Bàn Thành Phố

81 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 759,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT ACB NHTM cổ phần Á Châu BHTG Bảo hiểm tiền gửi CAR Capital Adequacy Ratio - Hệ số an toàn vốn CITAD Terminal Access Device for SBV Branch & Credit Inst

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG DUNG

QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2009

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG DUNG

QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Chuyên ngành: Kinh tế Tài chính – Ngân hàng

Mã số: 60.31.12

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS TRẦN TẤN LỘC

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “QUẢN TRỊ NGÂN

HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY” là công trình nghiên cứu khoa học của bản

thân Luận văn được hoàn thành sau quá trình học tập, nghiên cứu thực tiễn, kinh nghiệm bản thân và dưới sự hướng dẫn của Thầy TS Trần Tấn Lộc Luận văn này chưa được ai công

bố dưới bất kỳ hình thức nào

Tác giả

Nguyễn Thị Phương Dung

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang bìa phụ

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt

Danh mục các bảng, biểu đồ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính thiết thực của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Kết cấu của luận văn 3

CHƯƠNG 1 4

TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ 4

QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4

1.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4

1.1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại 4

1.1.2 Các loại hình ngân hàng thương mại 6

1.1.2.1 Căn cứ vào hình thức sở hữu 6

1.1.2.2 Căn cứ vào sản phẩm ngân hàng cung cấp cho khách hàng 6

1.1.2.3 Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động 7

1.1.3 Các sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng thương mại 7

1.2 TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 9

1.2.1 Khái niệm về quản trị và quản trị ngân hàng thương mại 9

1.2.1.1 Khái niệm về quản trị 9

1.2.1.2 Khái niệm về quản trị ngân hàng thương mại 10

1.2.2 Các chức năng của quản trị ngân hàng thương mại 11

Trang 5

1.2.2.2 Tổ chức 12

1.2.2.3 Lãnh đạo (điều khiển) 12

1.2.2.4 Phối hợp 13

1.2.2.5 Kiểm tra 13

1.2.3 Các lĩnh vực của quản trị ngân hàng thương mại 13

1.2.3.1 Quản trị tổng quát 13

1.2.3.2 Quản trị tài chính 14

1.2.3.3 Quản trị kinh doanh 14

1.2.3.4 Quản trị tiếp thị 14

1.2.3.5 Quản trị nhân sự 14

1.2.3.6 Quản trị tài sản Nợ - tài sản Có 14

1.2.3.7 Quản trị vốn tự có và sự an toàn của ngân hàng 15

1.2.3.8 Quản trị kết quả tài chính 15

1.2.3.9 Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng 15

1.3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NGUYÊN TẮC BASEL TRONG QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG 18

1.4 SUY THOÁI KINH TẾ TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ NHỮNG CẢNH BÁO CHO HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 21

1.4.1 Một số vấn đề về nợ dưới chuẩn 21

1.4.2 Ảnh hưởng của “Suy thoái cho vay dưới chuẩn Mỹ” đến thị trường tài chính quốc tế 22

1.4.3 Bài học đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam 23

KẾT LUẬN CHƯƠNG I 24

CHƯƠNG 2 25

THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 25

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 25

2.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 25

Trang 6

2.1.1 Những tác động của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu đến hệ thống

ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 25

2.1.2 Điều hành của Ngân hàng Nhà nước trước tình hình suy thoái kinh tế toàn cầu 26

2.2 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 31

2.2.1 Quản trị hoạt động huy động vốn 31

2.2.2 Quản trị hoạt động cho vay 34

2.2.3 Quản trị thanh khoản 38

2.2.3.1 Nguyên nhân phát sinh rủi ro thanh khoản ở các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 38

2.2.3.2 Quản trị rủi ro thanh khoản 40

2.2.4 Quản trị quy mô hoạt động 42

2.2.5 Quản trị nguồn vốn tự có 44

KẾT LUẬN CHƯƠNG II 48

CHƯƠNG 3 49

GIẢI PHÁP QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 49

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 49

3.1 GIẢI PHÁP TỪ PHÍA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC 49

3.1.1 Một số quan điểm về điều hành chính sách tiền tệ 49

3.1.1.1 Thận trọng khi đồng thời sử dụng nhiều công cụ điều hành chính sách tiền tệ 49

3.1.1.2 Phối hợp chặt chẽ chính sách tiền tệ với chính sách tỷ giá 50

3.1.1.3.Lãi suất là công cụ linh hoạt, đáng được cân nhắc để sử dụng nhất 51 3.1.1.4 Thay đổi quan điểm về chi phí phải trả cho việc điều hành

Trang 7

3.1.1.5 Ngoại tệ mua vào cần phải được sử dụng có hiệu quả 52

3.1.1.6 Nhận định đúng vai trò của thị trường tiền tệ để có hướng tác động thích hợp đến hoạt động của các thị trường 52

3.1.2 Giải pháp điều hành từ phía Ngân hàng Nhà nước 53

3.1.2.1 Hỗ trợ về thanh khoản 53

3.1.2.2 Qui định về tỷ lệ dự trữ, về vốn và các công cụ thanh tra 54

3.1.2.3 Tăng cường hệ thống kế toán, công khai thông tin và cơ sở pháp lý 55

3.1.2.4 Chuẩn bị tốt hơn cho tự do hóa tài chính 56

3.1.2.5 Chính sách bảo hiểm tiền gửi (BHTG) 57

3.2 GIẢI PHÁP TỪ PHÍA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN .57

3.2.1 Nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro 57

3.2.1.1 Biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng 58

3.2.1.2 Tăng cường quản lý thanh khoản 59

3.2.2 Hoàn thiện bộ máy giám sát 64

3.2.3 Hoàn thiện hệ thống văn bản 64

3.2.4 Giải pháp dự phòng 65

3.2.5 Nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin 65

3.2.6 Tuân thủ quy định của Nhà nước 66

3.2.7 Hoàn thiện quản trị nguồn nhân lực 66

3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ KHÁC 68

KẾT LUẬN CHƯƠNG III 69

KẾT LUẬN 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

Trang 8

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

ACB NHTM cổ phần Á Châu BHTG Bảo hiểm tiền gửi CAR Capital Adequacy Ratio - Hệ số an toàn vốn CITAD Terminal Access Device for SBV Branch & Credit Institution -

Thanh toán điện tử liên ngân hàng CSTT Chính sách tiền tệ

FDIC Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi Liên bang Mỹ KLB NHTM cổ phần Kiên Long

MNC Công ty đa quốc gia

NH Ngân hàng NHNN Ngân hàng Nhà nước NHTM NHTM

NHTMCP NHTM cổ phần NHTMNN NHTM Nhà nước NHTW Ngân hàng Trung ương OECD Organisation for Economic Co-operation anh Development -

Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế OMO Open Market Operation - Nghiệp vụ thị trường mở QTNHTM Quản trị ngân hàng thương mại

REPO Repurchase Agreement/Sale and Repurchase Agreement -

Hợp đồng mua lại SACOM NHTM cổ phần Sài Gòn Thương Tín SPE Special Các tổ chức tài chính chuyên biệt SWAP Nghiệp vụ hóa đổi ngoại tệ

TCB NHTM cổ phần Kỹ Thương TNHH Trách nhiệm hữu hạn

TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Bảng 2.1 Những dấu mốc thay đổi lãi suất cơ bản từ tháng 12/2005 - đến tháng

06/2008 Bảng 2.2 Những dấu mốc thay đổi lãi suất cơ bản từ tháng 06/2008 - đến tháng

12/2008 Bảng 2.3 Những dấu mốc thay đổi Lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc

Bảng 2.4 Tình hình huy động vốn qua các năm của một số NHTMCP

Bảng 2.5 Tình hình tăng trưởng tín dụng qua các năm của một số NHTMCP Bảng 2.6 Lợi nhuận trước thuế qua các năm của một số NHTMCP

Bảng 2.7 Tình hình tài sản qua các năm của một số NHTMCP

Bảng 2.8 Tình hình tăng vốn điều lệ qua các năm của một số NHTMCP

Biểu đồ 2.1 Diễn biến các lãi suất chủ chốt từ đầu năm 2008

Biểu đồ 2.2 Tình hình huy động vốn qua các năm của một số NHTMCP

Biểu đồ 2.3 Tình hình tăng trưởng tín dụng qua các năm của một số NHTMCP Biểu đồ 2.4 Lợi nhuận trước thuế qua các năm của một số NHTMCP

Biểu đồ 2.5 Tình hình tài sản qua các năm của một số NHTMCP

Biểu đồ 2.6 Tình hình tăng vốn điều lệ qua các năm của một số NHTMCP

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính thiết thực của đề tài

Kể từ khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường, vấn đề quản trị doanh nghiệp đã được đặt ra như một yêu cầu cấp thiết và quan trọng trong sự phát triển chung của nền kinh tế Quản trị doanh nghiệp tốt, sẽ đồng nghĩa với khả năng tiếp cận tài chính, đầu tư, nâng cao giá trị tăng trưởng lợi nhuận Đối với các ngân hàng, với đặc thù là hoạt động kinh doanh về tiền tệ, vấn đề quản trị lại càng có ý nghĩa đặc biệt hơn Công tác tổ chức và quản trị tại ngân hàng tác động trực tiếp đến giá trị của ngân hàng, khả năng tồn tại và phát triển trên thị trường Xét ở tầm vĩ

mô, công tác quản trị doanh nghiệp ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế, là thước đo cho sự phát triển của nền kinh tế của từng quốc gia Thực tế trong thời gian qua cho thấy các quốc gia có hệ thống tài chính ngân hàng phát triển vững mạnh đều là các quốc gia có nền kinh tế phát triển rất tốt và ngược lại

Trong những năm qua, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã có bước chuyển biến rõ rệt theo hướng tạo ra một thị trường mở cửa và có tính cạnh tranh cao hơn, thúc đẩy khu vực ngân hàng tăng trưởng cả về quy mô và loại hình hoạt động, thích ứng nhanh hơn với những tác động từ bên ngoài, từ đó có khả năng đóng góp nhiều hơn và chủ động hơn vào sự phát triển chung của nền kinh tế Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hệ thống ngân hàng Việt Nam cũng bộc lộ những yếu kém trong điều hành và hoạt động nghiệp vụ, đặc biệt là việc quản lý hoạt động của các NHTM với các loại hình sở hữu khác nhau Những yếu kém đó là khó tránh khỏi khi các lý thuyết cũng như kinh nghiệm về quản lý các NHTM trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở nước ta chưa được nghiên cứu đầy đủ

Vừa qua, cơn bão tài chính thế giới xảy ra đã làm cho đa số hệ thống ngân hàng của các nước rơi vào khó khăn Rõ ràng chúng ta đang phải đối mặt với một cuộc suy thoái không phải mang tính cục bộ địa phương mà thực sự là một cuộc suy thoái trên quy mô toàn cầu Năm 2008 qua đi đã để lại những ảnh hưởng không tốt đối với nhiều ngân hàng trên thế giới, trong đó có các NHTM Việt Nam của chúng

Trang 11

ta Năm 2009 và dự báo những năm sau đó sẽ là những năm hết sức khó khăn đối với các NHTM nói chung

Điều đó càng thúc đẩy chúng ta cần phải hết sức quan tâm để hình thành và phát triển một hệ thống NHTM hoạt động trong điều kiện ổn định, an toàn và có hiệu quả hơn nữa Để có được một hệ thống NHTM hoạt động trong điều kiện như thế, điều quan trọng nhất là phải có sự quản trị từ bên trong và xác lập trong thực tế

sự kiểm soát từ bên ngoài của hệ thống đó

Xuất phát từ đòi hỏi nói trên, quản trị và công việc quản trị của NHTM không chỉ mang ý nghĩa cấp bách mà còn là lâu dài, quyết định đến sự thành công hay thất bại của một định chế tài chính trung gian quan trọng vào bậc nhất này

Trong bối cảnh và với cách đặt vấn đề như trên, tôi chọn đề tài “QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY” để nghiên cứu Luận văn xin đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần giải quyết những vấn đề cấp thiết, đồng thời nâng cao hiệu quả của việc quản trị ngân hàng của các NHTM cổ phần trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là tập trung vào các nội dung sau:

- Nghiên cứu lý luận cơ bản về quản trị NHTM, nắm bắt được chức năng, vai trò và các lĩnh vực của quản trị NHTM

- Tìm hiểu và phân tích thực trạng quản trị NHTMCP trên địa bàn TP.HCM Trên cơ sở đó rút ra ưu điểm và hạn chế trong kết quả đạt được, phân tích các nguyên nhân dẫn đến hạn chế đó của quá trình quản trị NHTMCP trong giai đoạn hiện nay

- Đưa ra các giải pháp, đề xuất góp phần nâng cao hiệu quả quản trị NHTMCP trên địa bàn TP.HCM trong giai đoạn hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là xem xét thực trạng quản trị NHTMCP trên địa bàn TP.HCM trong giai đoạn hiện nay, đánh giá những mặt được

Trang 12

và chưa được để đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh hiệu quả quản trị NHTMCP trên địa bàn TP.HCM trong giai đoạn hiện nay

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã sử dụng phương pháp duy vật biện chứng kết hợp với lịch sử; phương pháp so sánh phân tích; phương pháp thống

kê kết hợp với các lý luận khoa học để làm rõ và xác định được bản chất vấn đề cần nghiên cứu từ đó đưa ra các đề xuất, giải pháp để giải quyết vấn đề

5 Kết cấu của luận văn

Bố cục của luận văn ngoài phần mở đầu và phần kết luận được bố trí gồm có

3 chương, cụ thể:

Chương 1: Tổng quan về ngân hàng thương mại và quản trị ngân hàng

thương mại

Chương 2: Thực trạng quản trị ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn

Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay

Chương 3: Giải pháp quản trị ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn

Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại

Có rất nhiều khái niệm về NHTM, nhưng tập trung lại NHTM là loại ngân hàng giao dịch trực tiếp với các công ty, xí nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân, bằng cách nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm, rồi sử dụng số vốn đó để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và cung ứng dịch vụ NH cho các đối tượng nói trên NHTM là loại NH có số lượng lớn và rất phổ biến trong nền kinh tế Sự có mặt của NHTM trong hầu hết các mặt hoạt động của nền kinh tế xã hội đã chứng minh rằng: Ở đâu có một hệ thống NHTM phát triển, thì ở đó sẽ có sự phát triển với tốc

độ cao của nền kinh tế

Đạo luật Ngân hàng của Cộng hòa Pháp 1941 đã chỉ rõ: NHTM là những cơ

sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức

ký thác, hoặc dưới các hình thức khác, và sử dụng nguồn lực đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính

Luật số 01/1997/QH10 Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam khẳng định:

“Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan” (Điều 10 Luật các tổ chức tín dụng)

Mới đây, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định số 59/2000/NĐ-CP ngày 16/07/2009, trong đó có định nghĩa: “NHTM là ngân hàng được thực hiện toàn

bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật” (Khoản 1 Điều 5 Chương I)

Qua các khái niệm trên ta có thể rút ra những nhận xét:

- NHTM là một loại hình doanh nghiệp, vì NHTM ra đời là để kinh doanh, mục đích hoạt động là vì lợi nhuận: Nói rằng NHTM là một doanh nghiệp bởi vì nó

Trang 14

có cơ cấu, tổ chức bộ máy như một doanh nghiệp bình đẳng trong quan hệ kinh tế với các doanh nghiệp khác, tự chủ về tài chính và phải có nghĩa vụ đóng thuế cho nhà nước như các doanh nghiệp khác

- NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt Nét đặc biệt của doanh nghiệp ngân hàng thể hiện ở các nội dung sau:

Œ Lĩnh vực kinh doanh của NH là tiền tệ, tín dụng và dịch vụ NH Đây là lĩnh vực “đặc biệt” vì trước hết nó liên quan trực tiếp đến tất cả các ngành, liên quan đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội và mặt khác; lĩnh vực tiền tệ - ngân hàng là lĩnh vực rất “nhạy cảm”, nó đòi hỏi một sự thận trọng trong điều hành hoạt động ngân hàng để tránh những thiệt hại cho nền kinh tế - xã hội

Œ Là một doanh nghiệp nhưng nguồn vốn chủ yếu mà NH sử dụng trong kinh doanh là vốn huy động từ bên ngoài, trong khi đó vốn riêng của ngân hàng lại chiếm tỷ trọng rất thấp trong tổng nguồn vốn kinh doanh

Œ Trong tổng tài sản của NH, tài sản hữu hình chiếm tỷ trọng rất thấp, mà chủ yếu là tài sản vô hình Nó tồn tại dưới hình thức các tài sản tài chính, chẳng hạn như các loại kỳ phiếu, trái phiếu, thương phiếu, cổ phiếu và các giấy tờ có giá trị khác

Œ Hoạt động kinh doanh của NHTM chịu sự chi phối rất lớn bởi chính sách tiền tệ của NHTW, một NHTM không thể mở rộng hoạt động kinh doanh khi NHTW đang áp dụng chính sách đóng băng tiền tệ, hạn chế lạm phát; và ngược lại

Do đó việc NH mở rộng hay thu hẹp hoạt động kinh doanh của mình đều phải chịu

sự chi phối bởi chính sách tiền tệ của NHTW

- NHTM là một trung gian tín dụng, đóng vai trò một tổ chức trung gian đứng

ra tập trung, huy động các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế (bao gồm tiền gửi tiết kiệm của các tầng lớp dân cư, tiền gửi của các đơn vị, tổ chức kinh tế, vv…), biến nó thành nguồn vốn tín dụng để cho vay (cấp tín dụng) đáp ứng các nhu cầu vốn kinh doanh và vốn đầu tư cho các ngành kinh tế, nhu cầu vốn tiêu dùng của xã hội Như vậy, có thể nói NHTM là nhịp cầu nối liền những chủ thể thừa vốn (các cá nhân có thu nhập nhưng chưa có nhu cầu sử dụng, các doanh

Trang 15

với các chủ thể thiếu vốn (những cá nhân phát sinh nhu cầu tiêu dùng nhưng thu nhập lại chưa cĩ hay các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế đang cần nhập vật tư, nguyên vật liệu nhưng chưa tiêu thụ được sản phẩm)

1.1.2 Các loại hình ngân hàng thương mại

Tùy theo gĩc độ tiếp cận, NHTM cĩ thể phân loại như sau:

1.1.2.1 Căn cứ vào hình thức sở hữu

- NHTM Nhà nước: là NHTM trong đĩ Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều

lệ NHTM Nhà nước bao gồm NHTM do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ và NHTM cổ phần do Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ

- NHTM cổ phần: là NHTM được tổ chức dưới hình thức cơng ty cổ phần

- NHTM liên doanh: là NHTM được thành lập tại Việt Nam, bằng vốn gĩp

của Bên Việt Nam và Bên nước ngồi trên cơ sở hợp đồng liên doanh NHTM liên doanh được thành lập dưới hình thức cơng ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) từ hai thành viên trở lên, là pháp nhân Việt Nam, cĩ trụ sở chính tại Việt Nam

- Chi nhánh NHTM nước ngồi: là NHTM được thành lập theo vốn và luật

pháp nước ngồi, được phép mở chi nhánh tại Việt Nam và chi nhánh này hoạt động theo luật pháp Việt Nam

- NHTM 100% vốn nước ngồi: Là NHTM được thành lập tại Việt Nam bằng

vốn của các chủ thể nước ngồi và hoạt động theo luật pháp Việt Nam

1.1.2.2 Căn cứ vào sản phẩm ngân hàng cung cấp cho khách hàng

Doanh nghiệp, tổ chức, kinh tế, hộ gia đình, cá nhân

Doanh nghiệp, tổ chức, kinh tế, hộ gia đình, cá nhân

Huy động vốn

Cấp tín dụng NGÂN

HÀNG

Trang 16

- Ngân hàng bán buôn: số lượng sản phẩm cung cấp cho khách hàng không

nhiều nhưng giá trị của từng sản phẩm là rất lớn Có 2 quan điểm về NH bán buôn: Một, NH bán buôn là NH mà khách hàng của NH này chủ yếu là các TCTD; hai,

NH bán buôn là NH mà khách hàng chủ yếu của NH này là các công ty, xí nghiệp qui mô lớn, các tập đoàn kinh tế, tổng công ty

- Ngân hàng bán lẻ: số lượng sản phẩm mà NH cung cấp cho khách hàng rất

nhiều nhưng giá trị của từng sản phẩm thường không lớn, phần lớn NH này cho vay

để giải quyết vấn đề tiêu dùng hoặc sản xuất với quy mô nhỏ, hộ gia đình Vì vậy, khách hàng chủ yếu là cá nhân hoặc doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ

- Ngân hàng vừa bán buôn vừa bán lẻ: là NH thực hiện đồng thời các chức

năng của NH bán buôn và NH bán lẻ

1.1.2.3 Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động

- Ngân hàng chuyên doanh: chỉ hoạt động kinh doanh chuyên môn hóa trong

một lĩnh vực nào đó như công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, xuất nhập khẩu hoặc một vài nghiệp vụ của ngân hàng ví dụ như NH cầm cố bất động sản,

NH đầu tư bất động sản Do nhu cầu của khách hàng ngày càng đa dạng nên loại ngân hàng này đang có xu hướng chuyển sang kinh doanh tổng hợp để bảo toàn và thu hút khách hàng

- Ngân hàng đa năng, kinh doanh tổng hợp: là loại NH hoạt động ở mọi lĩnh

vực kinh tế và thực hiện bất kỳ nghiệp vụ nào được phép của một NHTM

1.1.3 Các sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng thương mại

Đối với NHTM Nhà nước những năm trước đây lựa chọn cho vay các doanh nghiệp nhà nước và những dự án có số vốn lớn theo chỉ định của Chính phủ nhưng đến nay hầu hết các NHTMNN vừa cung cấp dịch vụ bán buôn vừa dịch vụ NH bán

lẻ bằng việc phát triển và cung cấp ngày càng đa dạng bằng việc mở rộng mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch để dễ dàng tiếp cận với khách hàng là cá nhân, hộ gia đình, các doanh nghiệp nhỏ và vừa; áp dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động

NH như chương trình core banking, lắp đặt hệ thống máy ATM, phát hành các loại

Trang 17

tế, mở rộng dịch vụ chuyển tiền, thu đổi ngoại tệ, dịch vụ bảo hiểm, thuê mua tài sản, bảo lãnh tín dụng, bảo lãnh mở L/C, bảo lãnh dự thầu dịch vụ du lịch Đến nay, NHTMNN đã chiếm thị phần đáng kể trong dịch vụ NH bán lẻ

Đối với NHTMCP với ưu thế là bộ máy gọn nhẹ, chi phí thấp nên có thể cạnh tranh bằng lãi suất và phí dịch vụ, nhờ vậy trong những năm qua tổng nguồn vốn và dư nợ cho vay tăng trưởng nhanh chóng, chủ yếu nhằm vào các đối tượng là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ sản xuất kinh doanh ở các chợ, cho vay thế chấp, cho vay tiêu dùng như mua trả góp nhà đất, xe hơi, cho vay du học thị phần tín dụng ngày càng tăng Bên cạnh đó nhờ tăng trưởng nguồn vốn, một số NHTMCP đã cho vay hợp vốn với NHTMNN những dự án cho vay lớn, phát triển ứng dụng công nghệ hiện đại vào hoạt động NH với nhiều tiện ích khác nhau

Các dịch vụ truyền thống của ngân hàng: Bao gồm Thực hiện trao đổi ngoại tệ,

chiết khấu thương phiếu, nhận tiền gửi, bảo quản vật có giá, tài trợ các hoạt động của Chính phủ, cung cấp các tài khoản giao dịch, cung cấp dịch vụ ủy thác,…

Dịch vụ ngân hàng mới phát triển gần đây:

- Cho vay tiêu dùng; Quản lý tiền mặt; Dịch vụ thuê mua thiết bị; Cho vay tài trợ dự án; Bán các dịch vụ bảo hiểm; Cung cấp các kế hoạch hưu trí; Cung cấp dịch

vụ môi giới đầu tư chứng khoán; Cung cấp dịch vụ tương hỗ và trợ cấp; Cung cấp dịch vụ ngân hàng đầu tư và ngân hàng bán buôn; Bảo lãnh, thanh toán xuất nhập khẩu,…

- Phát triển dịch vụ thẻ (Thẻ ghi nợ nội địa, tín dụng nội địa, tín dụng quốc tế Visa/Master Card, Visa Electron/Master Card Electronic, thẻ thanh toán quốc tế Master Card Dynamic,…)

- Các sản phẩm mới về hàm lượng công nghệ cao như công nghệ ứng dụng phần mềm lõi Core Banking, là hạt nhân toàn bộ hệ thống của NH, nhằm hiện đại hoá giao dịch và quản lý tài khoản, thanh toán, có thể giao dịch nhiều sản phẩm ở bất kỳ điểm giao dịch nào của NH như khách hàng gửi tiền một nơi có thể rút tiền bất cứ chi nhánh nào của NH đó, dễ dàng thay đổi các sản phẩm dịch vụ mà không cần sửa thẳng vào code của chương trình, lập báo cáo quản trị, có thể thực hiện tới

Trang 18

1.000 giao dịch/ 1 giây, quản lý trên 50 triệu tài khoản, hỗ trợ giao dịch 24/24 giờ trong ngày.

- Những dịch vụ ngân hàng điện tử phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế trong điều kiện bùng nỗ thông tin như các dịch vụ: Phonebanking giao dịch NH qua điện thoại với tiện ích để kiểm tra tài khoản, chuyển tiền, hỏi thông tin về lãi suất và tỷ giá hối đoái Hệ thống Phone Banking mang đến cho khách hàng một tiện ích NH mới, khách hàng có thể mọi lúc – mọi nơi dùng điện thoại cố định, di động đều có thể nghe được các thông tin về sản phẩm dịch vụ NH, thông tin tài khoản cá nhân Internetbanking giao dịch NH trên Internet là một cách thức tiện lợi và an toàn, đi kèm với việc sử dụng Internet ngày càng gia tăng thì càng có nhiều NH sử dụng các trang Web để cung cấp sản phẩm và dịch vụ của mình hoặc tăng cường giao tiếp với khách hàng Home Banking là kênh phân phối dịch vụ của NH, cho phép khách hàng thực hiện hầu hết các giao dịch chuyển khoản tại nhà, văn phòng công ty, đi công tác nước ngoài,…hay bất kỳ nơi đâu có kết nối Internet mà không cần phải đến NH Mobilebanking giao dịch NH di động Ngày nay, ở hầu hết các các nước thị trường đang phát triển nhanh, người ta sẽ sử dụng điện thoại di động nhiều hơn điện thoại cố định Tất nhiên để các dịch vụ này phát triển thì phải trên nền tảng công nghệ tiên tiến

1.2 TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.2.1 Khái niệm về quản trị và quản trị ngân hàng thương mại

1.2.1.1 Khái niệm về quản trị

Quản trị là sự tác động của các chủ thể quản trị lên đối tượng quản trị nhằm đạt được các mục tiêu nhất định đã đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường kinh doanh

Qua khái niệm trên ta có một số nhận xét như sau:

- Quản trị là một quá trình chứ không phải là một hành vi nhất thời, trong đó

có sự hiện diện của chủ thể quản trị và đối tượng quản trị Chủ thể quản trị là người tạo ra các tác động quản trị, đối tượng quản trị là nơi tiếp nhận các tác động đó và

Trang 19

- Mục tiêu của quản trị là làm sao với một nguồn tài nguyên sẵn có chúng ta

có thể đạt được các mục tiêu với một hiệu quả cao nhất Mục tiêu này đặt ra không chỉ cho đối tượng quản trị mà còn cho chủ thể quản trị

- Công tác quản trị phải gắn liền với môi trường kinh doanh và phải dựa trên các thông tin chính xác về môi trường kinh doanh

- Quản trị vừa là khoa học vừa là một nghệ thuật Tính khoa học thể hiện ở chỗ: khi thực hiện công việc, nhà quản trị phải vận dụng các kiến thức tích lũy được

ở nhiều lĩnh vực khác nhau để tổ chức bộ máy điều hành, bố trí, sắp xếp công việc một cách hợp lý cũng như tuyển chọn nhân viên sao cho phù hợp với yêu cầu của công việc… Tuy nhiên kiến thức chỉ là cơ sở cho suy nghĩ, cho hành động của nhà quản trị; còn việc áp dụng các kiến thức đó vào thực tiễn như thế nào cho có hiệu quả thì đó lại là một nghệ thuật

1.2.1.2 Khái niệm về quản trị ngân hàng thương mại

Quản trị ngân hàng thương mại là việc thiết lập các chương trình hoạt động kinh doanh để đạt các mục đích, mục tiêu kinh doanh dài hạn và ngắn hạn của NH,

là việc xác định và điều hòa các nguồn tài nguyên để thực hiện chương trình, các mục tiêu kinh doanh, đó là việc tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra nhân viên của NH thực hiện chương trình, các mục tiêu đã đề ra

Từ các khái niệm trên, có thể rút ra một số nhận xét như sau:

Thứ nhất, QTNHTM đề cập đến việc thiết lập các mục tiêu kinh doanh của

NH và thời hạn để thực hiện các mục tiêu Mục tiêu tổng quát nhất là những mục tiêu thể hiện trong chiến lược kinh doanh của NH Chúng sẽ được cụ thể hóa thành các mục tiêu hành động cụ thể trong các kế hoạch mang tính tác nghiệp Sự liên kết các mục tiêu này thể hiện nội dung cơ bản các chương trình hoạt động của NH

Thứ hai, QTNHTM đề cập đến việc xác định các nguồn tài nguyên cho việc

thực hiện các mục tiêu, gồm lao động, tài chính, cơ sở vật chất, kỹ thuật công nghệ

Thứ ba, QTNHTM đề cập đến việc bố trí, phân bổ các nguồn tài nguyên vào

các khâu công việc để thực hiện các kế hoạch, các chương trình mục tiêu đã hoạch định

Trang 20

Thứ tư, QTNHTM đề cập đến hoạt động lãnh đạo của các cấp quản trị và

hoạt động kiểm tra của họ đối với hoạt động của các thuộc cấp, để đảm bảo rằng những mục tiêu, chương trình, kế hoạch đã được chọn đang và sẽ được hoàn thành Thứ năm, QTNHTM được xem là những chương trình hành động và vì vậy

người ta phải đề cập đến mục đích tự thân của nó Mục đích này là đảm bảo tạo được một môi trường lao động thuận lợi để phát huy tốt nhất các nổ lực và giảm thiểu những bất lợi, những bất mãn cá nhân… nhằm đạt được năng suất, chất lượng, hiệu quả Cái mà nhà quản trị mang lại chính là phần thặng dư mà NH có được nhờ tiến hành các hoạt động quản trị có hiệu quả, nhờ duy trì và tuân thủ nguyên tắc đạt được một kết quả tối đa với một chi phí tối thiểu Sự đạt được mức tối đa về kết quả tương ứng với một mức độ có hạn về nguồn lực là nhờ có được sự thống nhất, nhờ

sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cá nhân trong NH, nhờ sự phản ứng đúng đắn và kịp thời của nhà quản trị với những thay đổi của môi trường kinh doanh mang tính cạnh tranh

Thứ sáu, về thực chất QTNHTM là những hoạt động thống nhất phối hợp,

liên kết các cá nhân người lao động và các yếu tố vật chất trong các quá trình lao động, sản xuất và cung cấp các dịch vụ NH nhằm đạt được các mục đích, mục tiêu kinh doanh nhất định ở mỗi thời kỳ với phương châm an toàn và hao tổn ít nhất về nguồn lực

1.2.2 Các chức năng của quản trị ngân hàng thương mại

1.2.2.1 Hoạch định

Hoạch định là việc xác định mục tiêu mà NH phải đạt được trong từng khoảng thời gian nhất định Thực chất hoạch định chính là sự dự kiến những gì mình sẽ đạt được trong tương lai, đạt được mục tiêu gì và muốn đạt được mục tiêu

đó thì phải làm gì, khi nào làm và ai có thể làm công việc đó, sao cho công việc được hoàn thành với chi phí tối thiểu và thời gian bỏ ra là thấp nhất Như vậy, hoạch định bao gồm việc xác định các mục tiêu và việc lựa chọn chiến lược, sách lược để thực hiện mục tiêu đã xác định

Trang 21

Tất nhiên là với khả năng hiện có, con người khó có thể dự đoán chính xác những gì sẽ xảy ra trong tương lai, nhưng những dự đoán đó nhất thiết phải có để mỗi cá nhân thấy được hướng hành động của tập thể từ đó phát huy nỗ lực của bản thân để đạt đến mục tiêu đã đề ra Đây là vấn đề cơ bản nhất của quá trình quản trị

1.2.2.2 Tổ chức

Tổ chức là chức năng nhằm thiết kế các cơ cấu của NH Trong chức năng này nhà quản trị sẽ phải thực hiện các công việc sau:

- Nghiên cứu lại các công việc cần phải làm để đạt được mục tiêu

- Trên cơ sở các công việc phải làm đó, tổ chức các bộ phận để thực hiện công việc đó

- Bố trí người quản lý các bộ phận và các nhân viên của các bộ phận trên cơ sở gắn liền với khả năng của từng người với công việc, nhiệm vụ được giao

- Xác định các mối quan hệ giữa các bộ phận, các cấp quản trị khác nhau nhằm hỗ trợ nhau trong quá trình hoạt động trong việc thực hiện mục tiêu của NH

1.2.2.3 Lãnh đạo (điều khiển)

Lãnh đạo là quá trình mà nhà quản trị tác động lên hành vi của các đối tượng

bị quản trị một cách có chủ đích, có định hướng, làm sao cho họ tự nguyện nhiệt tình phấn đấu để đạt được mục tiêu đã xác định

Lãnh đạo bao gồm việc đưa ra các quyết định có tính nguyên tắc mà mọi người phải tuân theo và tổ chức thực hiện các quyết định đó, nhưng đồng thời nó phải tạo điều kiện cho mọi cá nhân phát huy được khả năng của mình trong hành vi tập thể

Phong cách lãnh đạo được cấu thành bởi ba yếu tố:

- Khả năng nhận thức được các động cơ cá nhân ở mỗi nhân viên trong những thời điểm khác nhau

- Khả năng khích lệ nhân viên tự nguyện làm việc với nỗ lực cao nhất

- Khả năng tạo ra một môi trường làm việc thân thiện, hiểu biết lẫn nhau, khơi dậy nhiệt tình cá nhân

Trang 22

Trên thực tế, để tác động đến các đối tượng quản trị, nhà quản trị có thể sử dụng các biện pháp giáo dục, hành chính và kinh tế

ra trong ngày với tất cả các cấp quản trị

1.2.2.5 Kiểm tra

Chức năng kiểm tra được thể hiện qua sự theo dõi của nhà quản trị về kết quả công việc của nhân viên Sự theo dõi này sẽ cung cấp cho nhà quản trị những thông tin cần thiết nhằm điều chỉnh các quyết định của mình cho phù hợp với thực tế, hoặc phát huy các quyết định đang có tác động tích cực, chuẩn bị cho các quyết định trong tương lai Công việc kiểm tra cần phải thực hiện thường xuyên, liên tục

và dựa trên hệ thống chỉ tiêu định hướng rõ rệt để lượng hóa các công việc một cách khoa học Các bước cơ bản của chức năng kiểm tra bao gồm:

- Theo dõi xem đối tượng quản trị đang hoạt động như thế nào, từ đó thu thập những thông tin về kết quả thực tế mà NH đã đạt được

- Đối chiếu các kết quả đó với mục tiêu đề ra ban đầu

- Tiến hành điều chỉnh, đảm bảo cho NH đi đúng quỹ đạo đã định trước

1.2.3 Các lĩnh vực của quản trị ngân hàng thương mại

1.2.3.1 Quản trị tổng quát

Có chức năng chủ yếu là thiết lập các bộ phận và đưa ra định hướng hoạt động cho tất cả các bộ phận trong một tổ chức Kế tiếp là xác định quyền hạn, trách nhiệm từng bộ phận và kiểm tra, giám sát công việc của các bộ phận đó Ngoài ra,

Trang 23

quản trị tổng quát còn có chức năng đối ngoại (giao tế): thiết lập các mối quan hệ với các ban ngành, cấp chủ quản…

1.2.3.2 Quản trị tài chính

Có chức năng hoạch định các nguồn tài chính của NH đảm bảo cho NH hoạt động bình thường Quản trị tài chính còn có chức năng chọn lựa và đưa ra các quyết định đầu tư sinh lời, đảm bảo khả năng thanh toán của NH

1.2.3.3 Quản trị kinh doanh

Thực hiện việc điều hành trực tiếp hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp NH Chức năng chủ yếu của quản trị sản xuất - kinh doanh là hoạch định sản phẩm, xác định chất lượng sản phẩm, đối tượng khách hàng và tiêu thụ sản phẩm

1.2.3.4 Quản trị tiếp thị

Đây là loại quản trị có vai trò quan trọng đối với sự thành bại của doanh nghiệp NH vì nó giúp doanh nghiệp đưa ra chiến lược kinh doanh đúng đắn nhất Quản trị tiếp thị xuất phát từ việc nghiên cứu thị trường mà doanh nghiệp NH đang thực hiện mục tiêu của mình, từ đó đưa ra các biện pháp duy trì thị trường, phát triển trị trường Quản trị tiếp thị bao gồm các công việc như nghiên cứu nhu cầu của khách hàng, nghiên cứu môi trường kinh doanh, sản phẩm, quảng cáo tổ chức việc đưa sản phẩm, dịch vụ đến người tiêu dùng nhanh nhất với chi phí thấp nhất

1.2.3.5 Quản trị nhân sự

Bao gồm công việc tuyển chọn, huấn luyện nhân viên và hoạch định các chương trình khai thác nguồn nhân viên và sử dụng nhân viên có hiệu quả nhất Ngoài ra, quản trị nhân sự còn đảm nhận việc định ra chế độ lương bổng và các chế

độ ưu đãi khác nhằm khích lệ nhân viên làm việc

1.2.3.6 Quản trị tài sản Nợ - tài sản Có

Là quản trị các nguồn vốn và việc sử dụng vốn của NH nhằm đảm bảo hiệu quả kinh tế cao nhất, hạn chế được rủi ro phát sinh trong kinh doanh Mục tiêu chủ yếu của quản trị tài sản Nợ - tài sản Có là khơi tăng các nguồn vốn huy động để đáp ứng nhu cầu kinh doanh, đồng thời tìm kiếm các lĩnh vực đầu tư có hiệu quả để vừa

Trang 24

mang lại lợi nhuận cao vừa chấp hành đúng các quy chế quản lý của Nhà nước và đảm bảo được khả năng thanh khoản của NH

1.2.3.7 Quản trị vốn tự có và sự an toàn của ngân hàng

Mục tiêu của lĩnh vực quản trị này là đảm bảo một mức vốn tự có tối thiểu trên tổng số vốn kinh doanh của NH Hệ số vốn tự có trên tài sản kinh doanh càng cao thì thì sự an toàn càng lớn

1.2.3.8 Quản trị kết quả tài chính

Là hoạch định các khoản chi tiêu và các khoản thu nhập do kinh doanh mang lại Trong đó phải đề ra các giải pháp nhằm tiết giảm chi phí cách hợp lý và tăng các khoản thu trong kinh doanh cho NH

1.2.3.9 Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng

Rủi ro có thể xuất hiện trong mọi ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh Nó là một yếu tố khách quan liên quan nên chúng ta không thể loại trừ được hết mà chỉ có thể hạn chế sự xuất hiện của nó và làm giảm đi những thiệt hại do chúng gây ra

Kinh doanh NH là loại hình kinh doanh đặc biệt, và những rủi ro đối với hoạt động NH cũng vì thế mà mang tính đặc thù Bản chất của hoạt động kinh doanh luôn mang tính mạo hiểm nên bất kỳ nhà quản trị nào cũng quan tâm đến rủi ro Rủi

ro trong kinh doanh NH là những biến cố không mong đợi mà khi nó xảy ra sẽ dẫn đến sự tổn thất về tài sản của NH, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến Vì vậy

có thế nói bản chất hoạt động của một NHTM hiện nay là chấp nhận rủi ro và quản

lý rủi ro Trong bất kỳ giai đoạn kinh tế nào thì việc đối mặt với rủi ro của các NH

là điều không thể tránh khỏi

Cùng với sự ra đời hàng loạt của các NH hiện nay mà song hành với nó là không ít những rủi ro dẫn đến việc không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động của bản thân

NH đó mà còn có tác động đến cả nền kinh tế

Chính vì vậy việc nhìn nhận, đánh giá đúng về thực trạng các NH trong vấn

đề rủi ro thực sự rất quan trọng Trong lĩnh vực kinh doanh NH, rủi ro chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực sau: khả năng chi trả cho khách hàng, khả năng thu hồi nợ

Trang 25

trong cho vay và đầu tư chứng khoán, sự thay đổi của lãi suất và tỷ giá hối đoái, sự biến động của thu nhập…

Chúng ta có thể tìm hiểu rõ hơn về các loại rủi ro mà NH thường xuyên mắc phải để rõ hơn về vấn đề này.Trong NH thường có các loại rủi ro sau:

¾ Rủi ro tín dụng: là

- Tổn thất tiềm tàng vốn có được tạo ra khi NH cấp tín dụng

- Những thiệt hại, mất mát mà NH gánh chịu do người vay vốn hay người sử dụng vốn không trả đúng hạn, không thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng tín dụng vì bất kể lý do gì

¾ Rủi ro thanh khoản:

Là khả năng NH không đáp ứng được các cam kết khi đến hạn thanh toán bởi thiếu tiền (tài sản nợ) để tài trợ cho các hoạt động sử dụng vốn (tài sản có) do lạm phát, mức lãi suất thực không hấp dẫn hoặc người gửi tiền rút tiền ồ ạt…; hay bởi quản lý chênh lệch kỳ hạn giữa tài sản có và tài sản nợ yếu kém, đầu tư vào các tài sản có tính thanh khoản kém như trái phiếu của các công ty phát hành…

¾ Rủi ro tỷ giá:

Rủi ro tỷ giá là một trong những rủi ro thị trường chính trong hoạt động NH

Tỷ giá của các đồng ngoại tế biến đổi không ngừng dẫn đến việc kinh doanh ngoại hối cũng luôn tiềm ẩn rất nhiều rủi ro Những rủi ro này có thể phát sinh thông qua các hoạt động khi NH giao dịch các đồng tiền nước ngoài nhằm phục vụ cho khách hàng hoặc cho chính bản thân mình Vì vậy bị ảnh hưởng từ loại rủi ro này không chỉ là phía NH mà con cả đối với khách hàng Tùy thuộc vào quy mô hoạt động và quan điểm của Ban lãnh đạo của NH, mỗi NH có mức độ rủi ro ngoại hối khác nhau

và do đó có phương pháp quản lý rủi ro ngoại hối khác nhau

¾ Rủi ro lãi suất:

Là loại rủi ro do biến động của lãi suất Thường xuất hiện đối với những nguồn vốn huy động dài hạn Khi lãi suất thị trường giảm, NH sẽ bị thiệt do đã huy động nguồn dài hạn với lãi suất cao Khi lãi suất thị trường tăng, người gửi tiền sẽ lựa chọn đầu tư vào lĩnh vực khác vì lãi suất cao hơn lãi suất gửi tiền tại NH

Trang 26

Rủi ro lãi suất xuất hiện khi có sự không cân xứng về kỳ hạn giữa TSC và TSN; Do các NH áp dụng các loại lãi suất khác nhau trong quá trình huy động vốn

và cho vay: Trường hợp NH huy động vốn với lãi suất cố định nhưng cho vay, đầu

tư với lãi suất biến đổi Khi lãi suất giảm, rủi ro lãi suất sẽ xuất hiện vì chi phí lãi phải trả lớn hơn lãi thu được, làm giảm lợi nhuận; Ngược lại, khi NH huy động vốn với lãi suất biến đổi nhưng cho vay, đầu tư với lãi suất cố định Khi lãi suất tăng, rủi

ro lãi suất sẽ xuất hiện vì chi phí lãi phải trả lớn hơn lãi thu được; Do có sự không phù hợp về khối lượng, thời hạn giữa nguồn vốn huy động với việc sử dụng nguồn vốn đó để cho vay; Do tỷ lệ lạm phát dự kiến không phù hợp với tỷ lệ lạm phát thực

tế làm cho vốn của NH không được bảo toàn sau khi cho vay; Ngoài ra, khi lãi suất thị trường thay đổi, NH còn có thể gặp rủi ro giảm giá trị tài sản

¾ Rủi ro tác nghiệp (rủi ro hoạt động): các nguồn khởi phát rủi ro hoạt động gồm có:

- Quy trình: là rủi ro do ban hành các quy định, chính sách, vi phạm các quy định của Pháp luật hoặc các chính sách không mang lại hiệu quả trong quá trình hoạt động

- Công nghệ: sập hệ thống, lỗi phần mềm chương trình…

- Nhân viên: các nhân sự chủ chốt và mức độ thay thế, lỗi sơ suất, lừa đảo, rửa tiền, vi phạm bảo mật…

- Quan hệ khách hàng: sự không hài lòng với hoạt động của NH, bất đồng trong thoả thuận hợp đồng…

- Tài sản: an toàn, an ninh, các tình huống nằm ngoài khả năng kiểm soát (force majors)…

- Bên ngoài: lừa đảo, thị trường suy sụp, chiến tranh…

¾ Rủi ro thị trường: là sự không chắc chắn bắt nguồn từ những thay đổi về giá

cả trên thị trường như lãi suất, tỷ giá hối đoái, định giá

Trang 27

1.3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NGUYÊN TẮC BASEL TRONG QUẢN TRỊ

NGÂN HÀNG

Hiệp ước Basel II quy định các quy tắc giám sát, quản trị và hướng dẫn quản

lý rủi ro đối với các NH Quá trình giám sát và quản trị này không những nhằm mục đích khẳng định việc các NH duy trì một mức vốn phù hợp đối với toàn bộ những rủi ro trong hoạt động kinh doanh mà còn khuyến khích các NH phát triển và sử dụng các kỹ thuật để quản lý rủi ro tốt hơn

Ủy ban Basel đã đưa ra 4 quy tắc cơ bản giám sát và quản trị NH gồm:

- Các NH phải có một quy trình đánh giá mức vốn an toàn tương ứng với cơ cấu rủi ro của NH và một chiến lược để duy trì mức vốn của mình;

- Các cơ quan quản lý phải liên tục xem xét và đánh giá hệ thống xác định vốn

an toàn của nội bộ các NH cũng như khả năng giám sát và tuân thủ của họ đối với quy định về tỷ lệ vốn tối thiểu đồng thời các cơ quan quản lý cũng phải có biện pháp can thiệp thích đáng nếu họ không hài lòng về kết quả đánh giá;

- Các cơ quan quản lý phải yêu cầu các NH hoạt động với mức vốn cao hơn mức vốn an toan tối thiểu và phải có khả năng bắt các NH duy trì mức vốn cao hơn mức tối thiểu;

- Các cơ quan quản lý phải sớm can thiệp nhằm ngăn chặn vốn của NH tụt xuống thấp hơn mức yêu cầu và phải yêu cầu NH có biện pháp sửa chữa kịp thời nếu mức vốn an toàn không được khôi phục và duy trì

Hiện nay, các nước OECD và một số thị trường mới nổi đều áp dụng Hiệp ước Basel II nhằm mục tiêu đảm bảo cho sự an toàn và hiệu quả của hệ thống tài chính Hiệp ước này ra đời dựa trên việc điều chỉnh Hiệp ước Basel I và bắt đầu áp dụng từ năm 2006 Chỉnh sửa quan trọng trong Basel II là việc không áp dụng một phương pháp, một hệ thống đánh giá duy nhất cho tất cả các NH với quy mô khác nhau và mức độ đa dạng hóa hoạt động khác nhau Trước đây Basel I bị chỉ trích là

“one size fits all”, tức là áp dụng một cách cứng nhắc một thang điểm hệ số duy nhất cho nhiều loại tài sản, cho nhiều NH khác nhau

Trang 28

Như vậy, nhìn vào Chỉ thị 03 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) về hạn chế cầm cố cho vay chứng khoán, có vẻ như chỉ thị này đang áp dụng quy tắc “one size fits all”: dùng một chỉ số 3% tổng dư nợ cho tất cả các NH, dù đó là NH rất lớn có vốn hàng ngàn tỉ đồng hay NH vốn chỉ vài chục đến vài trăm tỉ Đấy là chưa kể mỗi

NH áp dụng một hệ thống quản trị rủi ro khác nhau, khả năng chịu đựng rủi ro, mức

độ đa dạng hóa hoạt động khác nhau Liệu đây có phải là cách thức mà hệ thống NH Việt Nam hội nhập hiệu quả với sân chơi thế giới?

Ai cũng thấy mức 3% đối với tổng dư nợ của một NH lớn tất nhiên phải lớn hơn nhiều lần mức 3% của một NH thường thường bậc trung Chỉ thị này vì vậy đã dựng nên một rào cản không nhỏ để một số NH nhỏ có thể đa dạng hóa sản phẩm tín dụng, làm hạn chế khả năng đáp ứng nhu cầu khách hàng, và tập trung ưu thế đó chỉ vào một số NH lớn Một chính sách ra đời tuy nhằm bảo đảm an toàn của toàn

hệ thống nhưng vô hình trung làm thiệt hại cho một số nhóm lợi ích và làm lợi cho một số nhóm lợi ích khác, liệu có mang lại lợi ích cho toàn hệ thống như dự định ban đầu của NHNN?

Câu trả lời có thể thấy ngay: tính cào bằng không đáng có trong chính sách chẳng những hạn chế năng lực cạnh tranh của NH nhỏ mà còn đẩy rủi ro toàn hệ thống tập trung vào một số ít NH lớn; đi ngược với xu hướng đa dạng hóa sản phẩm

và lợi thế cạnh tranh của hệ thống tài chính hiện đại Chính sự điều chỉnh của Basel

II là để hướng tới đảm bảo cho hệ thống tài chính hiện đại phát triển bền vững hơn

Thay cho tinh thần của Chỉ thị 03 và nếu như áp dụng theo Basel II, NHNN chỉ cần yêu cầu các NH phân loại, định mức tín nhiệm và rủi ro của tài sản NH (bao gồm các khoản vay), cho phép các NH chọn lựa phương thức đánh giá rủi ro và quản trị rủi ro phù hợp (trong số nhiều phương pháp do Basel II đề xuất), với điều kiện phải báo cáo cách đánh giá, phương thức quản trị phù hợp để NHNN thông qua

và giám sát Bên cạnh đó, theo tinh thần Basel II, cần yêu cầu các NH phải minh bạch, công khai các thông tin về các rủi ro mình đang gặp phải, cấu trúc vốn của

NH và mức độ dự phòng, cũng như khả năng đầy đủ vốn (capital adequacy) để đáp

Trang 29

phần trăm “cứng” như kiểu 3% trên tổng dư nợ, mà là một tỷ lệ phần trăm vốn dự phòng cần có trên các tài sản có rủi ro, tức là phần tài sản đã được điều chỉnh cho hệ

số rủi ro của chúng, chính là ta đang hướng đến mục tiêu đảm bảo tính “an toàn” mà

“vẫn hiệu quả” của hệ thống tài chính, thay vì an toàn nhưng thiếu sức cạnh tranh

Điều hành NH thời hội nhập nên dựa vào những trụ cột cơ bản theo tinh thần của Hiệp ước Basel II, đó là khuyến khích tính chủ động, giám sát và minh bạch thông tin Theo đó, các NHTM tự chọn cách thức tính toán, đo lường rủi ro cho mình, thiết lập chương trình quản trị rủi ro riêng (dựa trên một số phương pháp hiện đại, được dùng rộng rãi nhưng “vừa sức” với khả năng ứng dụng của NH Việt Nam cũng như khả năng giám sát của NHNN), rồi gửi bản đề xuất ấy cho NHNN NHNN

sẽ xem xét, có các điều chỉnh cần thiết, rồi xem đó là một bản hợp đồng ghi nhớ mà NHTM phải tuân thủ, NHNN sẽ định kỳ yêu cầu báo cáo, kiểm tra giám sát việc tuân thủ bản hợp đồng ấy

Mặt khác, chính NHTM phải gia tăng tính minh bạch trong các báo cáo của mình, “trình bày” cho công chúng rõ hơn về những rủi ro mà mình chấp nhận, các cách thức quản trị, mức độ vốn dự phòng của mình cho các rủi ro Chính điều này

sẽ tạo ra một “kỷ luật thị trường” cho các NH, nếu NH hoạt động quá rủi ro thì tự động cổ đông sẽ “trừng phạt” bằng cách bán cổ phiếu đi, hạng mức tín nhiệm của

NH sẽ thấp, và NH khác sẽ nhăm nhe “nuốt chửng” NH đó Nếu ai lo ngại rằng NH dạng cổ phần nông thôn mà cũng cho vay chứng khoán, rủi có chuyện gì thì sao, thì đây chính là câu trả lời: “Nếu NH cho vay quá rủi ro, đến khi gặp “chuyện gì”, thì trong điều kiện hiện nay, sẽ có NH khác tìm cách mua lại NH có vấn đề đó với “giá rẻ”, rồi tái cấu trúc lại NH đó” Có khi chính điều này lại còn làm tăng tính hiệu quả của hệ thống NH

Đương nhiên, luật chơi mới của Basel II cũng có nhiều khó khăn trong áp dụng ở những nước đang phát triển, vấn đề là nên sáng tạo theo kiểu áp dụng tư tưởng mà giảm bớt phần kỹ thuật (các mô hình phức tạp mà Basel II đề ra), trong quá trình điều hành Thiết nghĩ, để áp dụng tư tưởng của Basel II, không nhất thiết phải cần những mô hình quá phức tạp mà có thể có cách vận dụng đơn giản hơn

Trang 30

trong trường hợp Việt Nam Chính các NHTM sẽ là người tư vấn tốt nhất cho NHNN trong vấn đề này

1.4 SUY THOÁI KINH TẾ TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ NHỮNG CẢNH

BÁO CHO HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

Trước hết, vụ phá sản của NH Lehman Brothers, vụ mua lại Merrill Lynch

và nguy cơ sụp đổ của tập đoàn tài chính Bảo hiểm AIG đã làm rung rinh hệ thống tài chính Mỹ và tác động của nó làm lung lay thị trường tài chính thế giới Tất cả đều được quy kết là do hậu quả của việc cho vay dưới chuẩn của thị trường Bất động sản Mỹ

1.4.1 Một số vấn đề về nợ dưới chuẩn

Từ nhiều năm qua, các NH đầu tư Mỹ đã nới lỏng tối đa chính sách tín dụng cho các công ty và cá nhân mua bất động sản trả chậm Rồi đến việc tiến hành chiến dịch cắt giảm lãi suất xuống những mức thấp kỷ lục để thúc đẩy kinh tế tăng trưởng Điều đó đã làm nảy sinh ra những dòng vốn vay giá rẻ và gia tăng một lớn người đi vay tiền Trên thực tế, vốn vay rẻ sẽ làm mất đi ý thức phòng ngừa rủi ro của người

đi vay Giả dụ rằng bạn đi vay tiền và sau đó lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính, bạn sẽ dễ dàng trong việc định giá lại tài sản để tiếp tục một khoản vay mới nhằm chi trả cho các khoản vay mà bạn phải trả Bên cạnh đó, việc cung cấp tín dụng dễ dàng như: không cần tài sản thế chấp, tỷ lệ trả trước rất thấp, mặc dù đang trong tình trạng thất nghiệp, hoạt động cho vay này thực sự không đáp ứng đầy đủ những tiêu chuẩn để được cấp tín dụng nhưng vẫn được vay đã làm gia tăng rủi ro cho các NH Người vay tiền mua nhà sẽ cho vay để dùng tiền cho thuê trả lãi vay cho NH, và khi bất động sản tăng giá họ sẽ được hưởng lợi Về phía NH, tuy hình thức cho vay này rủi ro rất lớn, nhưng các NH vẫn chấp nhận để đổi lại một mức lãi suất rất cao Mặt khác, các công ty tài chính cũng thực hiện hình thức cho vay này một cách rộng rãi và chuyển rủi ro qua NH và nhà đầu tư thông qua một một sản phẩm tài chính gọi là “Mua lại các khoản nợ hay khoản phải thu”

Các công ty tài chính bán các khoản phải thu cho NH với một mức chiết

Trang 31

khoán hóa các khoản phải thu, nghĩa là phát hành các chứng khoán để vay tiền với mức lãi suất rất cao Rõ ràng là rủi ro chồng rủi ro, và đương nhiên là các chứng khoán có mức độ xếp hạng tín nhiệm càng thấp thì tỷ suất sinh lợi càng cao, thậm chí có chứng khoán không được xếp hạng tín nhiệm nhưng vẫn được nhà đầu tư trên toàn thế giới chấp nhận do lãi suất siêu hạng

Một lượng vốn đầu tư khổng lồ trên thế giới đã đổ vào thị trường bất động sản Mỹ và khi thị trường này đóng băng vào giữa năm 2007, các vụ đổ vỡ dây chuyền đã xảy ra Các nhà đầu tư bất động sản vay tiền không đủ khả năng trả lãi vay, bất động sản không bán được, chứng khoán phát hành trên các khoản phải thu này sụt giá thê thảm, các NH không đủ khả năng chi trả các khoản nợ lâm vào tình trạng phá sản

Sản phẩm tài chính hiện đại nhưng nhiều rủi ro này chính là nguyên nhân cho cuộc suy thoái tài chính cho vay dưới chuẩn mà nước Mỹ đang phải đương đầu

1.4.2 Ảnh hưởng của “Suy thoái cho vay dưới chuẩn Mỹ” đến thị trường tài

chính quốc tế

Thứ nhất, sau số phận của Lehman Brothers và Merrill Lynch là NH tiết kiệm lớn nhất nước Mỹ là Washington Mutual Inc đã sụp đổ và bị Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi liên bang Mỹ (FDIC) tiếp quản NH này cũng sẽ phải bán các khoản vốn huy động của mình lại cho JPMorgan Chase Các NH UBS Citi, Bear Steans, Morgan Stanley, Freddie Mac, Fannie Mae đều gánh chịu các khoản lỗ nặng nề với tổng số lên tới hàng trăm tỷ USD Và tiếp theo sau là các NH lớn của Châu Âu như: Fortis của Bỉ, Bradford &BingleyPlc của Anh

Thứ hai, cuộc suy thoái từ thị trường tài chính - tiền tệ sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến thị trường hàng hóa Việc đổ vỡ và khó khăn của hàng loạt các NH hàng đầu của Mỹ sẽ tạo một sức ép năng nề lên thị trường vốn cung cấp cho hệ thống doanh nghiệp Mỹ, các MNC mà hoạt động của chúng mang tính toàn cầu Cuộc suy thoái này sẽ không dừng chân ở Mỹ mà sẽ lan rộng đến nền kinh tế thế giới

Thứ ba, sự đổ vỡ hàng loạt của các NH và công ty tài chính Mỹ sẽ gây nên

sự suy thoái niềm tin mang tính toàn cầu, điều này làm cho làn sóng bán tháo chứng

Trang 32

khoán trở nên lan rộng Hàng loạt đối tác cung cấp vốn cho các NH và công ty tài chính kể cả các cổ đông của các tổ chức này có thể chịu các khoản tổn thất nặng nề Đặc biệt, việc thanh lý tài sản của các tổ chức này sẽ vô cùng khó khăn và làm giá chứng khoán càng thêm suy giảm Các nhà đầu tư nắm giữ trái phiếu và cho vay hoặc các hợp đồng phái sinh sẽ chịu các khoản lỗ lớn

Vậy, có thể thấy rằng suy thoái cho vay dưới chuẩn Mỹ đã ảnh hưởng không nhỏ đến thị trường tài chính quốc tế

1.4.3 Bài học đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam

Từ cuộc suy thoái tín dụng dưới chuẩn của Mỹ với những tác hại của nó có thể rút ra những bài học rất hữu ích cho hoạt động tín dụng của các NHTM Việt Nam nói chung và hoạt động cho vay bất động sản nói riêng:

Thứ nhất, cần kiểm soát rủi ro của hoạt động cho vay bất động sản thông

qua tỷ lệ cho vay bất động sản tối đa trên tổng dư nợ Có thể thấy rằng trong thời gian qua, hoạt động cho vay bất động sản của các NHTM Việt Nam tuy có chặt chẽ (vay phải có tài sản thế chấp, có chứng minh thu nhập, và tỷ lệ cho vay bất động sản không lớn) nhưng vẫn có một số NH nhỏ xé rào cần phải cảnh báo Khi thị trường chứng khoán chựng lại, dòng vốn đầu tư chuyển hướng sang Bất động sản có thể làm gia tăng nguy cơ này Theo tinh thần Basel II, các NH nên tự thiết lập cho mình một tỷ lệ cho vay bất động sản tối đa trên tổng dư nợ nhằm tự bảo vệ mình và bảo

vệ cả hệ thống

Thứ hai, cần có một tổ chức xếp hạng chuyên nghiệp và uy tín trong xếp

hạng tín nhiệm các loại chứng khoán, bao gồm cả chứng khoán vốn và chứng khoán

nợ Để hạn chế rủi ro cho các nhà đầu tư, cần thiết phải có một tổ chức xếp hạng chuyên nghiệp và uy tín trong xếp hạng tín nhiệm các loại chứng khoán Đặc biệt là trong quá trình phát triển của thị trường tài chính, các sản phẩm phái sinh tín dụng như chứng khoán hóa các khoản phải thu sẽ xuất hiện trong tương lai vì bên cạnh yếu tố rủi ro, sản phẩm này vẫn có những lợi ích không thể phủ nhận như cải thiện dòng tiền của các DN, đẩy nhanh vòng quay các khoản phải thu, chuyên nghiệp hóa

Trang 33

việc thu tiền,… Việc xếp hạng tín nhiệm sẽ là một kênh thông tin hữu ích cho các nhà đầu tư về mức độ rủi ro của loại chứng khoán này

Thứ ba, cần lưu ý nguyên tắc của phân tích tín dụng là hướng vào rủi ro thấp

thay vì tiềm năng cao Đối với hoạt động tín dụng dài hạn như cho vay đầu tư bất động sản, đòi hỏi các nhà cung cấp tín dụng phải có những phân tích chi tiết hơn và

có tầm chiến lược dài hạn hơn Phân tích tín dụng trong trường hợp này bao gồm các dự án vay, dòng tiền và đặc biệt quan trọng là xác định độ lớn của thu nhập ổn định (sustainable earning power) Đây là nguồn chủ yếu bảo đảm cho khả năng thanh toán nợ trong dài hạn của người đi vay

KẾT LUẬN CHƯƠNG I

Chương I đã khái quát về NHTM và quản trị NHTM Đặc biệt tập trung các chức năng và lĩnh vực của quản trị NHTM Trong chương này, tác giả đã trình bày một số nguyên tắc Basel về quản trị NH, bài học rút ra cho hệ thống NH Việt Nam trước suy thoái kinh tế toàn cầu hiện nay Để làm rõ cơ sở lý luận, sau đây chúng ta hãy xem xét thực trạng quản trị NHTMCP tại Việt Nam trong giai đoạn suy thoái kinh tế toàn cầu được trình bày trong Chương II

Trang 34

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

2.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TRÊN

ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1.1 Những tác động của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu đến hệ thống ngân

hàng thương mại cổ phần trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Suy thoái cho thấy những yếu kém của hệ thống tài chính toàn cầu, và tại mỗi nước, các nhược điểm đều được bộc lộ với nhiều khía cạnh khác nhau, cụ thể tại Việt Nam như đã nêu ở trên Mức độ liên thông giữa hệ thống NH Việt Nam với thị trường tài chính bên ngoài và với NH Mỹ sẽ gặp khó khăn; Trong ngắn hạn, do tác động trực tiếp của suy thoái kinh tế, phần lớn các NH phải điều chỉnh kế hoạch lợi nhuận, thậm chí sẵn sàng đối mặt với nguy cơ thua lỗ; nợ xấu tăng lên, đặc biệt trong lĩnh vực BĐS; nên hệ thống NH tài chính Việt Nam có nguy cơ bị ảnh hưởng trong một vài năm; Khả năng giao dịch NH, tài chính quốc tế sẽ giảm, ảnh hưởng đến nợ vay ngắn hạn của Việt Nam tại các NH và doanh nghiệp

Các NHTM đã không thực hiện chính sách quản lý rủi ro thanh khoản một cách khoa học và bài bản Do tính chất hệ thống đặc biệt chặt chẽ của ngành trong quan hệ vốn giữa các NH, chỉ cần một vài NH mất khả năng thanh khoản sẽ gây hiệu ứng dây chuyền, nhanh chóng lan toả trong toàn hệ thống NH, và đẩy các NH vào cuộc đua tăng lãi suất để thu hút vốn Sự sụt giảm mạnh giá cổ phiếu của NH trong thời gian qua, có nguyên nhân từ việc nhà đầu tư nhận thấy rằng suy thoái thanh khoản đang hoặc sắp xảy ra với NH Nguyên nhân gây nên sự sụt giảm mạnh

cổ phiếu của các NHTMCP, đặc biệt là hàng loạt NHTMCP nhỏ cũng xuất phát từ vấn đề thanh khoản Do tính lỏng của tài sản không ổn định, NH có thể mất khả năng thanh khoản nếu chỉ số tín nhiệm tín dụng của NH này giảm sút, đối mặt với tình trạng lượng tiền ra ồ ạt không dự kiến được trước NH cũng đối mặt với rủi ro

Trang 35

thanh khoản nếu thị trường hoạt động của NH này có nguy cơ mất khả năng thanh khoản

2.1.2 Điều hành của Ngân hàng Nhà nước trước tình hình suy thoái kinh tế

toàn cầu

Chính sách tiền tệ từ việc thắt chặt vào nửa đầu năm 2008 đã chuyển sang nới lỏng một cách thận trọng những tháng cuối năm Đi cùng với quá trình này là tần suất điều chỉnh các công cụ điều hành chưa từng có của NHNN, tập trung đối với các công cụ điều hành như lãi suất (lãi suất cơ bản, tái cấp vốn, chiết khấu), tỷ

lệ dự trữ bắt buộc và biên độ tỷ giá

Tính chung cả năm, NHNN đã 3 lần tăng và 5 lần giảm lãi suất cơ bản (Xem biểu đồ 2.1) Lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu cũng có tần suất điều chỉnh tương ứng Tỷ lệ dự trữ bắt buộc có 1 lần tăng trong tháng 2, 4 lần giảm trong 3 tháng cuối năm (2 lần giảm đối với dự trữ bằng ngoại tệ) Lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc có 5 lần điều chỉnh (3 lần tăng, 2 lần giảm)

Biểu đồ 2.1: Diễn biến các lãi suất chủ chốt từ đầu năm 2008

(Nguồn: Website Ngân hàng Nhà nước)

Trang 36

Cơ chế điều hành tỷ giá cũng ghi nhận những điều chỉnh chưa từng có trong lịch sử Biên độ có 3 lần nới rộng, từ +/-0,75% lên +/-3%; tỷ giá bình quân liên NH

có 2 lần điều chỉnh mạnh, vào tháng 6 và cuối tháng 12

Một công cụ được NHNN sử dụng đến, cũng là một sự kiện nổi bật trong năm 2008, là đợt phát hành 20.300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc (17/3) Đi cùng với kế hoạch này, nhà điều hành đã 2 lần điều chỉnh lãi suất cho tín phiếu, 1 lần tăng từ 7,8% lên 13%, tháng 12 giảm xuống còn 4,5%

Một năm mà diễn biến kinh tế hàm chứa cả hai thái cực nóng và lạnh, sự chuyển đổi giữa hai thái cực này cũng diễn ra hết sức nhanh chóng

Trong điều kiện đó, việc điều hành CSTT đã trở thành tâm điểm chú ý của công luận, và trong bối cảnh đó cũng chứng minh một điều rằng, khi nền kinh tế biến động thì những quyết định trong điều kiện bình thường được coi là "hành chính" đã trở thành biện pháp "can thiệp" cần thiết

Vấn đề là nó được sử dụng trong hoàn cảnh nào, thời điểm nào và liều lượng ra sao?

Trong 6 tháng đầu năm, áp lực lạm phát gia tăng mang tính toàn cầu, cùng với những bất ổn trên thị trường tài chính thế giới, tình hình kinh tế trong nước cũng diễn biến hết sức phức tạp

Thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, ba công cụ: lãi suất, dự trữ bắt buộc và thị trường mở được sử dụng đồng thời cùng với những quy định siết chặt thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản… đã tác động mạnh đến thị trường Và phản ứng của thị trường cũng thật mạnh mẽ: các hoạt động cho vay gần như co cụm lại, lãi suất tăng vọt, luồng tiền gửi trở lên bất ổn, thị trường bất động sản đang ở trong cơn sốt bỗng đóng băng và trở nên lạnh giá, thị trường vàng như con ngựa bất kham, giá cả hàng hoá thì tăng vọt… CSTT bộc lộ thật rõ sức mạnh của nó

Trước tình hình đó, trong tháng 2 và tháng 3, NHNN đã tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc và mở rộng diện tiền gửi phải dự trữ bắt buộc ở tất cả các kỳ hạn (trước đây chỉ có tiền gửi dưới 24 tháng phải dự trữ bắt buộc), phát hành tín phiếu bắt buộc

Trang 37

- Ngày 16/01/2008, tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc lên 1% (Quyết định NHNN)

187/QĐ Ngày 30/01/2008, điều chỉnh tăng các loại lãi suất: Lãi suất cơ bản tăng 0,5%, tái cấp vốn tăng 1,0%, lãi suất chiết khấu tăng 1,5% (Quyết định 305/QĐ-NHNN)

- Ngày 13/2/2008, thông báo về việc phát hành tín phiếu bắt buộc, thực hiện vào ngày 17/3, với tổng giá trị tín phiếu phát hành là 20.300 tỷ đồng, kỳ hạn là 364 ngày, lãi suất là 7,8%/năm (Quyết định 346/QĐ-NHNN)

Cả ba giải pháp trên đều hướng tới mục tiêu rút bớt tiền trong lưu thông về Các giải pháp sau đó cũng không kém phần quyết liệt Theo Quyết định 305/QĐ-NHNN ngày 30/01/2008, lãi suất cơ bản sau 25 tháng giữ ổn định ở mức 8,25%/năm tăng lên 0,5%/năm, chuyển sang mức 8,75%/năm Sau hơn 3 tháng thực hiện, đến 19/5/2008, lãi suất cơ bản vọt lên 12%/năm và chưa đầy 1 tháng sau, ngày 11/6/2008, Quyết định 1317/QĐ-NHNN của NHNN đã nâng thêm 2% đưa lãi suất

cơ bản lên mức 14%/năm (Xem bảng 2.1)

Bảng 2.1: Những dấu mốc thay đổi lãi suất cơ bản từ 12/2005 - đến 06/2008

Lãi suất Quyết định Ngày thực hiện

14%/năm 1317/QĐ-NHNN ngày 10/6/2008 11/06/2008 12%/năm 1099/QĐ-NHNN ngày 16/5/2008 19/05/2008 8,75%/năm 305/QĐ-NHNN ngày 30/1/2008 01/02/2008 8,25%/năm 1746/QĐ-NHNN ngày 1/12/2005 01/12/2005

(Nguồn: Tổng hợp các Quyết định của NHNN)

Trong điều kiện tiền quá nhiều trong lưu thông thì việc sử dụng các công cụ CSTT để giảm lượng tiền thừa là hoàn toàn đúng xét cả về lý thuyết lẫn thực tiễn

Sự can thiệp quyết liệt của NHNN cho thấy được chính kiến cũng như sự quyết tâm của toàn hệ thống NH trong việc kiềm chế lạm phát Tuy nhiên, một tình huống khó lường phải thừa nhận rằng là các NHTM đã không phản ứng kịp thời trước việc thắt chặt CSTT nên vẫn tiếp tục đẩy mạnh tín dụng, cùng với việc quản lý thanh khoản

Trang 38

của các NHTM còn bất cập đã gây nên tình trạng thiếu khả năng thanh khoản tại

nhiều NH

Trước diễn biến thị trường như vậy, NHNN đã kịp thời tăng tính thanh khoản cho thị trường bằng cách bơm mạnh tiền qua nghiệp vụ thị trường mở (OMO), chuyển từ đấu thầu lãi suất sang đầu thầu khối lượng, tăng cường thanh tra, giám sát hoạt động tín dụng của các NHTM, thắt chặt điều kiện mở chi nhánh

Tuy nhiên, các biện pháp chính sách trên chưa ngăn chặn được đà tăng lãi suất huy động và mở rộng tín dụng của các NHTM, do vậy buộc NHNN phải quy định trần lãi suất huy động tiền gửi của các NHTM không được vượt quá 12% Giải pháp trên đã có tác động nhanh chóng, tích cực “giảm đà tăng lãi suất huy động của các NHTM” chỉ trong vài ngày

Bước tiếp theo để tiếp tục tạo sự bình ổn thị trường bền vững qua cú “sốc” tháng 3, tháng 5, NHNN thực hiện cơ chế điều hành lãi suất mới, theo đó quy định các NHTM cho vay nền kinh tế không vượt quá 150% lãi suất cơ bản và mức lãi suất cơ bản được điều chỉnh từ mức 12%/năm lên 14%/năm

Quy định này phù hợp với Bộ luật Dân sự hiện nay, đó như là một liệu pháp mạnh mang tính tình thế đã có tác động ổn định lãi suất và tăng trưởng tín dụng đã chậm lại từ tháng 5 cho đến hết năm

Một diễn biến bất lợi khác trên thị trường ngoại hối trong tháng 5/2008 là với mức thâm hụt thương mại lớn, lạm phát tăng cao, cộng với những thông tin thất thiệt đánh giá về khả năng thanh toán ngoại tệ quốc gia đã làm thay đổi hành vi của của các nhà đầu tư trên thị trường làm cho tỷ giá đảo chiều

Để bình ổn thị trường ngoại hối, NHNN đã thực hiện hàng loạt biện pháp, như nới rộng biên độ tỷ giá từ ±1% lên mức ±2% tạo sự linh hoạt tỷ giá sát với cung

- cầu thị trường; thực hiện mở rộng đối tượng bán ngoại tệ cho các NHTM, việc can thiệp dựa vào trạng thái ngoại tệ của các NHTM trong ngày, thực hiện minh bạch các thông tin về dự trữ ngoại hối Các biện pháp này đã đáp ứng được các kỳ vọng của thị trường, trên cơ sở đó tạo dựng lòng tin của thị trường với NHNN

Trang 39

Trong tình hình kinh tế thế giới như vậy, mặc dù những tháng cuối năm 2008 mức độ ảnh hưởng của cuộc suy thoái tài chính toàn cầu đến nền kinh tế Việt Nam, nhất là thị trường tài chính Việt Nam còn nhỏ, song để ngăn chặn ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu và giảm áp lực lạm phát vẫn diễn ra ở Việt Nam đến tận tháng 9, NHNN đã phải tiếp tục áp dụng một số biện pháp hỗ trợ thị trường như nâng lãi suất tín phiếu bắt buộc, trả lãi cho tiền gửi dự trữ bắt buộc bằng VND…

Để kích thích kinh tế chống lại nguy cơ giảm phát, bắt đầu từ tháng 10, các loại lãi suất chỉ đạo đã liên tục được hạ xuống theo một lộ trình thích hợp Lãi suất

cơ bản từ mức 14%/năm sau 4 lần hạ đến cuối năm còn 8,5%, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn cũng được hạ tương ứng, biên độ dao động tỷ giá được nâng từ

từ +/-2% lên +/- 3%

Hành động này nhằm tạo sự hợp lý giữa các công cụ CSTT, giảm một phần chi phí hoạt động cho các NHTM, để các NHTM có điều kiện hạ lãi suất cho vay hỗ trợ cho các doanh nghiệp duy trì và mở rộng sản xuất, khuyến khích xuất khẩu trong điều kiện kinh tế thế giới suy thoái

- Lãi suất cơ bản giảm xuống từ 14%/năm còn 8,5%/năm (Xem bảng 2.2)

Bảng 2.2: Những dấu mốc thay đổi lãi suất cơ bản từ 06/2008 - đến 12/2008

Lãi suất Quyết định Ngày thực hiện

7%/năm 172/QĐ-NHNN ngày 23/01/2009 01/04/2009 8.5%/năm 3161/QĐ-NHNN ngày 19/12/2008 22/12/2008 10%/năm 2948/QĐ-NHNN ngày 03/12/2008 05/12/2008 11%/năm 2808/QĐ NHNN ngày 20/11/2008 21/11/2008 12%/năm 2559/QĐ-NHNN ngày 3/11/2008 05/11/2008 13%/năm 2316/QĐ-NHNN ngày 20/10/2008 21/10/2008 14%/năm 1317/QĐ-NHNN ngày 10/6/2008 11/06/2008

(Nguồn: Tổng hợp các Quyết định của NHNN)

- Lãi suất trả cho dự trữ bắt buộc thì lần lượt tăng lên: 3,5%/năm; 5%/năm; 10%/năm, sau đó giảm nhưng với tốc độ giảm chậm (Xem bảng 2.3)

Trang 40

Bảng 2.3: Những dấu mốc thay đổi Lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc

Lãi suất DTBB Quyết định Ngày thực hiện

8,5%/năm 3162/QĐ-NHNN ngày 19/12/2008 22/12/2008 9%/năm 2950/QĐ-NHNN ngày 3/12/2008 5/12/2008 10%/năm 2321/QĐ-NHNN ngày 20/10/2008 21/10/2008 5,0%/năm 2133/QĐ-NHNN ngày 25/9/2008 01/10/2008 3,5%/năm 1907/QĐ-NHNN ngày 29/8/2008 01/09/2008

(Nguồn: Tổng hợp các Quyết định của NHNN)

Cho đến cuối tháng 12/2008, tình hình kinh tế có dấu hiệu khả quan hơn, hoạt động NH đang khởi sắc trở lại, huy động vốn và cho vay đang bắt đầu trở về với nhịp độ bình thường, lãi suất không còn đóng vai trò gần như tuyệt đối trong việc hướng dẫn khách hàng có nguồn tiền gửi…

2.2 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN

TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

2.2.1 Quản trị hoạt động huy động vốn

Nhiều năm qua (trước năm 2008), môi trường kinh tế cùng với nền chính trị

ổn định, nền kinh tế phát triển một cách căn bản vững chắc và có chuyển hướng theo chiều sâu, nền tài chính quốc gia ổn định, lạm phát được kiểm soát, tỷ giá tương đối ổn định, đời sống người dân có chiều hướng được nâng cao, tỷ lệ tiết kiệm ngày càng có xu hướng gia tăng mạnh Sự phát triển của hệ thống NH đã thúc đẩy thị trường tiền tệ phát triển, tạo ra môi trường mới và những kênh huy động quan trọng cho phát triển kinh tế, NHNN đã chỉ đạo các TCTD tăng cường các hình thức huy động vốn với nhiều loại kỳ hạn khác nhau, mở rộng mạng lưới huy động vốn và sử dụng nhiều hình thức đa dạng như phát hành trái phiếu, kỳ phiếu NH

Tuy nhiên với các NHTM, điều kiện kinh doanh thuận lợi trong những năm gần đây đã làm nảy sinh tư tưởng chủ quan, tăng trưởng tín dụng quá nóng trong khi

Ngày đăng: 11/09/2021, 20:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w